- Chương
IV (tt)
-oOo-
II.- ÐỜI SỐNG CỦA TỲ-KHEO
Vì Tăng chúng của đức Phật thuộc về
phong trào Sa-môn thành lập vào thế kỷ thứ sáu trước CN
như một hình thức thay thế tế lễ của Bà-la-môn giáo, nên
hiển nhiên là hội chúng này mang những đặc tính của
nếp sống Sa-môn: độc cư (không kết hôn), không tài sản,
du hành không nhà cửa, sống nhờ khất thực. Tuy nhiên, các
Giới Luật cần phải được thiết lập liên hệ đến các
vấn đề trên, hoặc trước kia chưa được ấn định rõ ràng
trong các giáo phái Sa-môn cũ, hoặc đối với các vấn đề
trên, Giáo hội đức Phật theo một đường lối khác
biệt.
Những lời giáo huấn của đức Phật về hành
vi thái độ của chư Tăng không chỉ chứa đựng trong Luật
Tạng (Vinaya Pitaka), mà xuyên suốt Kinh Tạng Pàli. Ngay
khi về già, đức Phật cũng không ngừng quan tâm huấn
luyện chư Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni nỗ lực đoạn trừ tham ái
là nguyên nhân khổ đau và giáo hóa chư vị trong cách xử
thế chân chánh giữa đời. Vì tin rằng dư luận có thiện
cảm thuận lợi của quần chúng là điều quan trọng đối
với việc truyền bá Giáo Pháp, nên ngài luôn sẵn sàng thay
đổi hoặc hủy bỏ những quy luật gây nên những phê bình
bất lợi.
Một ví dụ điển hình là lời ngài dạy về
phép lịch sự lúc hắt hơi. Có lần, đang lúc ngài thuyết
giảng, ngài hắt hơi và bị quấy rối vì chư Tăng làm gián
đoạn bài Pháp của ngài với lời chúc lành: "Kính
chúc Thế Tôn trường thọ!". Do đó ngài bảo về
sau chư vị đừng dùng câu nói này hoặc đáp lại nó nữa.
Tuy thế, chẳng bao lâu, lại hóa ra là giới cư sĩ tại gia
thốt lời chúc lành một vị Tỳ-kheo hắt hơi tưởng rằng
vị ấy bất lịch sự không biết đáp lễ. Vì vậy đức
Phật rút lui lệnh ấy và cho phép chư Tăng đáp lại lời
chúc lành với câu tùy hỉ thường lệ: "Chúc quý
vị trường thọ!. (Cv 5. 33. 3)
Lúc nào ngài cũng sẵn sàng nhận những lời
đề nghị đặt các điều luật mới dù chúng phát xuất
từ phía nào đi nữa. Quả thật, ngoài chư Tăng, còn nhiều
cư sĩ tại gia, bao gồm vua Bimbisàra, y sĩ Jìvaka, ông Anàthapindika,
và bà Visàkhà giúp ngài thành lập Giới Luật của Giáo
hội bằng cách đưa ra những đề nghị hợp lý.
Theo lời đề nghị của y sĩ Jìvaka, người
được vua Bimbisàra chỉ định làm y sĩ chính thức của Tăng
chúng, những ai bị bệnh phong cùi, mụt nhọt, chốc lở,
lao phổi và động kinh đều không được phép gia nhập Giáo
hội (Mv 1. 39). Bằng cách này những người mắc bệnh trên
bị ngăn cấm xuất gia với mục đích được y sĩ Jìvaka
chữa trị miễn phí! Các nguyên nhân khác không được
chấp nhận xuất gia là trường hợp những người thiếu
nam căn (Mv 1. 61), người lưỡng tính (Mv 1. 68), người què
chân, cụt tay, mặt mày méo mó, lưng gù, lùn hoặc có bướu
cổ, chân khập khễnh, già yếu, mù, điếc hay người bị
bệnh phù voi, giun chỉ do muỗi truyền bệnh đặc biệt ở
các vùng trồng lúa (Mv 1. 71). Các luật lệ này nhằm bảo
đảm Giáo hội khỏi trở thành nhà dưỡng bệnh cho những
người mất khả năng ở ngoài xã hội.
Cũng bị ngăn cấm xuất gia là đám binh sĩ
hiện đang phục vụ nhà vua, đám tù nhân trốn trại hoặc
bị đội cảnh vệ truy nã, những kẻ bị trừng phạt
bằng roi gậy, bị đóng dấu sắt nung và đám nô lệ (Mv 1.
40. 7). Ngoài ra luật không cấm hẳn, song không xem người
lớn tuổi gia nhập Giáo hội là thuận lợi vì người già
hiếm khi có đủ các đức tính cần thiết cho một Tỳ-kheo
(AN 5. 59. 60) .
Khi truyền giới xuất gia, đức Phật cũng không
quan tâm đến số phận của gia đình họ, cho dù vị giới
tử là người đang cấp dưỡng gia đình. Ngài xem chuyện
tất nhiên là đại gia đình sẽ chăm sóc người "sương
phụ của Tỳ-kheo" và bầy con trẻ. Nếu không, gia đình
ấy cũng phải chịu đựng nỗi khó khăn. Theo sự đánh giá
của ngài, những nỗi gian lao vất vả thoáng qua trong gia đình
chẳng đáng kể gì so với giá trị giải thoát vĩnh cửu.
Ðiển hình cho thái độ không khoan nhượng
của ngài là lời ngài tán thán Tỳ-kheo Sangàmaji (mà sau này
chư Tăng phổ thành thi kệ). Tỳ-kheo Sangàmaji đã đến Sàvatthi
yết kiến đức Thế Tôn, và khi nghe được tin này, vợ cũ
của vị này cũng vội vã đến Sàvatthi với đứa con thơ
của họ. Trong khi vị Tỳ-kheo đang ngồi nghỉ trưa dưới
gốc cây ở Jetavana, bà vợ đi đến gần bảo: "Này
Sa-môn, hãy săn sóc thiếp và con thơ của hai ta!". Nhưng
Tỳ-kheo Sangàmaji không nhúc nhích! Lần thứ hai, rồi thứ
ba, bà vợ nói với vị ấy cũng không kết quả gì. Giận
dữ, bà vợ đặt đứa con xuống chân vị này và bảo, "Này
Sa-môn, con trai của ngài đây, ít ra cũng phải săn sóc lấy
nó chứ!". Rồi nàng bỏ đi, nhưng sau khi bước ra
được một khoảng đường, nàng quay trở lại và thấy
vị Tỳ-kheo không nhìn đến con cũng không nói gì với nó
cả, nàng liền đến tìm con và buồn bã lui về. Ðức
Phật nghe kể "thái độ không thích hợp ấy" của
người vợ, liền nhận xét:
Khi nàng đến, chẳng thấy hân hoan,
Nàng bỏ đi, người chẳng thấy buồn,
Thắng giả là người dứt hệ lụy,
Người này ta gọi Bà-la-môn (Ud 1. 8)
Người gia nhập Giáo hội phải quan tâm đến
cha mẹ mình nhiều hơn đối với vợ con. Ðây là một sự
nhượng bộ mà vua Suddhodana đã nhận được từ con ngài,
vị lãnh đạo mới của một Giáo hội, sau khi vương tôn Ràhula
xuất gia làm Sa-di, theo đó không ai được gia nhập Giáo
hội mà không có ý cha mẹ thỏa thuận (Mv 1. 54. 6). Luật này
áp dụng cho cả nam lẫn nữ (Mv 1. 76. 1). Nếu phụ nữ có
chồng, thì phải được sự đồng ý của chồng (Cv 10. 17.
1).
Trong lúc ban đầu, đức Phật truyền giới cho
một người xin xuất gia làm Tỳ-kheo với câu: "Này
Tỳ-kheo, đến đây, Pháp được khéo giảng, hãy sống đời
Phạm hạnh (thanh tịnh) để đạt sự diệt khổ" (ví
dụ trường hợp các tôn giả Sàriputta và Moggallàna trong Ðại
Phẩm: Mv 1. 24. 5); về sau ngài ra lệnh cho cách gia nhập Tăng
chúng phải theo hai giai đoạn: trước tiên bằng lễ xuất
gia, thọ tiểu giới (pabbajjà) nghĩa là giã từ thế
tục, vị ấy được nhận vào hàng ngũ Sa-môn, và trở thành
Sa-di (Sàmanera) trong Giáo hội đức Phật, rồi sau
bằng lễ thọ cụ túc giới (upasampadà), vị ấy được
các quyền lợi của một Tỳ-kheo trọn vẹn (Bhikkhu). Tuổi
tối thiểu để xuất gia (làm Sa-di) là mười lăm (Mv 150), và
tuổi tối thiểu để thọ cụ túc giới (làm Tỳ-kheo) là
hai mươi (Mv 1. 49. 6); tuổi được tính từ lúc thọ thai.
(Mv 1. 75)
Không có một khoảng cách đặc biệt nào được
chỉ định giữa sự thọ giới Sa-di hay thọ cụ túc giới
theo các nguồn Kinh Ðiển, trừ điểm người xin xuất gia trước
kia thuộc một giáo phái khác. Vì đức Phật cho rằng người
như vậy sẽ cần một thời gian để dứt bỏ mọi tín ngưỡng
và tập quán tu hành cũ, nên ngài bắt buộc một thời gian
thử thách bốn tháng đối với trường hợp ấy (Mv 1. 38),
suốt thời gian này, vị ấy được Tăng chúng quan sát xem có
thích hợp hay không. Nhưng không có thời gian thử thách
nếu vị xin xuất gia trước kia là du sĩ khổ hạnh bện tóc
(jatila) hay nếu vị ấy thuộc bộ tộc Thích-ca (Sakiya)
(Mv 1. 38. 11). Việc ưu đãi các vị khổ hạnh jatila có
lẽ là do trước kia đức Phật từng làm vị khách đặc
biệt của họ, và ngài nhớ ơn vị lãnh đạo giáo phái jatila
này là Uruvela-kassapa.
Cách tiến hành lễ thọ giới Sa-di cũng đơn
giản, được miêu tả trong Luật Tạng như sau (Mv 1. 54 .3):
Giới tử cạo sạch râu tóc và đắp y vàng, thường các y
này được cúng dường. Vừa quỳ xuống dưới chân một
Tỳ-kheo giới sư, vị ấy chắp tay đảnh lễ và đọc câu:
Ðệ tử quy y Phật,
Ðệ tử quy y Pháp,
Ðệ tử quy y Tăng.
Câu này được lập lại ba lần.
Vị trưởng lão không cần đáp lại, vì im
lặng nghĩa là bằng lòng. Nguyên tắc đạo đức dành cho
Sa-di bao gồm không phải tất cả bản liệt kê hai trăm hai
mươi bảy (227) giới theo Pàtimokkha, mà chỉ mười (10)
giới cấm. Chẳng bao lâu việc Sa-di chính thức nhận mười
điều luật này trước mặt hội chúng trở thành thông
lệ.
Cách thức tiến hành lễ cụ túc giới (upasampadà)
trịnh trọng hơn nhiều. Việc ấy đòi hỏi sự hiện diện
của ít nhất là mười Tỳ-kheo (Mv 1. 31. 2), tất cả đều
là các trưởng lão thượng tọa (Thera) mười tuổi
hạ an cư. Bên ngoài vùng "Trung Nguyên", khó tìm đủ
hội chúng mười Tỳ-kheo để hành lễ, nên chỉ cần năm
vị là đủ làm các chứng minh sư.
Ðiều kiện thọ cụ túc giới là vị Sa-di tìm
được một vị Trưởng lão làm giám hộ hay giáo thọ (upajjhàya)
(Mv 1. 25. 7) đề nghị với Tăng chúng cho Sa-di ấy thọ cụ
túc giới. Nếu hội chúng bày tỏ sự đồng ý bằng cách
im lặng, vị giới tử bước đến trước hội chúng quỳ
gối, hai tay chắp lại và thưa: "Bạch chư tôn giả,
đệ tử thỉnh cầu chư tôn giả cho phép thọ cụ túc
giới, ước mong chư Tôn giả từ bi nâng đỡ đệ tử lên".
Nếu câu ấy được lập lại lần thứ ba mà không ai
đưa ra phản đối gì, thì một vị trong số các trưởng lão
hiện diện phát biểu:
"Bạch chư Tôn giả, xin chư vị nghe tôi.
Sa-di này (nêu tên) thỉnh cầu thọ cụ túc giới từ Tôn
giả (nêu tên), chủ tọa hội chúng, Sa-di ấy đã xin thọ
giới qua Tôn giả giám hộ (nêu tên). Nếu hội chúng thấy
việc này là phải, xin hội chúng truyền giới cho vị ấy
qua Tôn giả giám hộ trên. Ðây là đề nghị chính thức
của tôi". (Mv 1. 29. 2f)
Trong buổi sơ khai của Tăng Già, hình như nếu
lời đề nghị này được lập lại ba lần mà không ai
phản đối thì lễ thọ cụ túc giới hoàn tất. Về sau
buổi lễ thọ giới kéo dài thêm theo thủ tục là vị Sa-di
trước kia đã được chất vấn riêng (Mv 1. 76. 3), nay lại
phải xác nhận tính chất của mình phù hợp với sự thọ
cụ túc giới bằng cách công khai đáp lại các câu hỏi.
Vị chủ tọa hội chúng Tỳ-kheo hỏi vị Sa-di:
"- Giới tử có mắc các bệnh như phong,
mụt nhọt, chốc lở, lao phổi, động kinh không?
- Giới
tử có phải là nam nhân không? (Nghĩa là không phải loại
người thiếu nam căn, và là người, chứ không phải loài Nàga
- rắn thần - đội lốt người)
- Giới
tử có phải là người được tự do không?
- Giới
tử không mắc nợ nần gì chứ?
- Giới
tử không phải đang phục vụ đức vua chứ?
- Giới
tử đã được tròn hai mươi tuổi rồi?
- Giới
tử có bình bát khất thực và các y cà-sa rồi?
- Giới
tử tên họ gì?
- Vị
trưởng lão tên họ gì?"
Nếu Sa-di đáp lại mọi câu hỏi trên một cách
thỏa đáng, việc thọ cụ túc giới làm Tỳ-kheo của vị này
được chấp nhận đúng pháp. Cho đến ngày nay, Tăng chúng
đức Phật đều được thọ giới theo thể thức trên.
Ðối với một Tỳ-kheo trẻ, việc tìm được
một vị Trưởng lão giám hộ tốt thực là quan trọng vì
vị ấy phải tùy thuộc vào sự hướng dẫn tu tập của
thầy mình ít nhất trong năm năm (Mv 1. 53. 4), nhưng theo lệ
thường phải mười năm (Mv 1. 53. 3). Còn những Tỳ-kheo kém
trí tuệ phải được thầy giám hộ hướng dẫn suốt đời
(Mv 15. 3. 4 ff). Mối tương quan giữa bổn sư giám hộ và đệ
tử cũng như quan hệ cha con, họ phải đối đãi nhã nhặn
và chăm sóc lẫn nhau (Mv 1. 32. 1). Bao lâu còn sống trong
một tinh xá, Tỳ-kheo trẻ phải ở chung một tịnh thất
với bổn sư giám hộ và làm phận sự như một Tỳ-kheo
thị giả đối với thầy. (Mv 1. 25. 8-24)
Mười năm sau khi thọ giới Tỳ-kheo, vị ấy
thành một trưởng lão (Thera) và tự mình có khả năng
huấn luyện các Tỳ-kheo trẻ với tư cách giám hộ (Mv 1.
32. 1), vừa là thành viên của hội đồng Tăng chúng. Sau hai
mươi năm khoác y cà-sa, vị ấy trở thành một đại trưởng
lão (Mahàthera).
Trái với việc gia nhập Giáo hội diễn ra đầy
đủ các hình thức vừa trình bày như trên, việc từ giã
Giáo hội diễn ra không kèn không trống gì cả. Chỉ cần
cởi bỏ chiếc y vàng là đủ. Một vài vị xem biện pháp này
như một sự chống đối, đó là trường hợp Tỳ-kheo
Sarabha, bất mãn với Pháp (Dhamma) (AN 3. 64) và Tỳ-kheo
Sunakkhatta tuyên bố rằng đức Phật không có tri
kiến thù thắng của bậc siêu nhân và Giáo Pháp ngài không
phải là sự khám phá chân lý thực tại, mà chỉ là điều
do suy luận tác thành, và tự ý sáng tạo. (MN 12. 2)
Tuy nhiên, thông thường, việc hoàn tục là vì
lý do cá nhân. Về phương diện xã hội, không có gì sĩ
nhục liên hệ đến việc rời bỏ Giáo hội, và một
Tỳ-kheo hoàn tục được phép tái gia nhập Tăng chúng, song
đối với vị này, cần phải làm lễ thọ giới lần nữa
theo đúng nguyên tắc. Chuyện kể rằng Tỳ-kheo Citta gia
nhập Giáo hội bốn lần, sau khi rời bỏ hội chúng ba lần
như vậy nhưng vị ấy vẫn trở thành bậc A-la-hán và
chứng đắc cứu cánh Niết-bàn (AN 6. 60 & DN 9. 56)
. Tuy thế, đối với những vị đã chuyển từ
Giáo hội đức Phật qua một giáo phái khác thì không thể
được quyền đổi ý và tái gia nhập Tăng già lần nữa.
(Mv 1. 25. 3)
Sau khi xuất gia, nguồn gốc giai cấp gia tộc
của vị Tỳ-kheo không còn quan trọng nữa: quả thực
giống như các sông lớn Gangà, Yamunà, Aciràvati, Sarabhù và
Mahì đều mất danh tánh khi chúng đổ vào biển cả, cũng
vậy, mọi người trong bốn giai cấp đều mất danh tánh
trong Giáo hội đức Phật và từ đó về sau được gọi là
Sa-môn Thích tử (AN 8. 19). Tỳ-kheo là một thành viên
của một hội chúng Sa-môn không giai cấp.
Dẫu sao đi nữa, nguồn gốc xã hội của vị
ấy cũng không phải hoàn toàn bị quên lãng. Kinh Ðiển Pàli
nhắc đến tên của nhiều Tỳ-kheo kèm theo nghề nghiệp
của cha vị ấy hoặc của chính vị ấy trước kia: ví dụ
Citta, con người quản tượng; Sàti, con người đánh cá;
Tissa, con người giữ cửa; Dhaniya, người thợ gốm; Arittha,
người huấn luyện chim ưng; Suppiya, người khiêng xác;
Sunita, người quét đường v.v..., ta có thể lập một danh sách
dài những tên như trên. Thông thường, chứ không phải bao
giờ cũng vậy, những biệt hiệu thêm vào dùng để phân
biệt người mang tên họ này với những vị khác trùng tên.
Nhưng không có trường hợp nào các nguồn gốc sinh trưởng
hèn kém ngăn cản vị Tỳ-kheo trở thành xuất sắc trong Giáo
hội; ví dụ nhà chuyên môn Giới Luật Upàli đã từng là
thợ cắt tóc. Các Tỳ-kheo thuộc các giai cấp ít ưu đãi cũng
đắc Thánh quả A-la-hán dễ dàng hoặc khó khăn không khác
gì các vị xuất thân từ gia đình trưởng giả quý tộc. Sự
nhiếp phục tham, sân, si đòi hỏi nhiều đức tính khác
với những đức tính người ta đạt được ở trường
học và trường đời.
Thâm niên (hạ lạp) hợp với nghi lễ được
định bằng năm tháng xuất gia, điều này được tính theo
số mùa an cư (vassa) mà vị Tỳ-kheo đã sống trong Giáo
hội. Một Tỳ-kheo ít tuổi hạ phải đảnh lễ các vị niên
trưởng và dành cho các vị ấy những chỗ ngồi tốt nhất
cùng món khất thực ngon nhất (Cv 6. 6. 4). Tuy thế, thứ tự
theo thâm niên được bỏ qua trong trường hợp xếp hàng đợi
trước nhà vệ sinh công cọng sau vụ một Tỳ-kheo, vì đã
nhường chỗ cho các vị trưởng lão, đã ngất xỉu do kết
quả sự dồn nén nhu cầu bức bách của mình (Cv 8. 10. 1).
Thâm niên cũng không quan trọng gì đối với giới tại gia
- tất cả mọi Tỳ-kheo đều bình đẳng bề ngoài.
Một giới căn bản của mọi Sa-môn là sống
nghèo khó, không tài sản, nhưng theo thời gian, đức Phật
đã nhiều lần nhượng bộ về phương diện này đối với
chúng đệ tử. Về sở hữu cá nhân, lúc đầu vị Tỳ-kheo
chỉ được phép có tám món: ba y, một bình bát khất
thực, một dao cạo, một cây kim, một dây đai và cái lọc
nước. Ba y này gồm y trong hay y dưới, y trên và y ngoài,
thuở ban sơ y phải được làm bằng các tấm giẻ rách do các
Tỳ-kheo thâu lượm được từ các đống rác hay nghĩa địa
thiêu xác, vì thế thỉnh thoảng phát sinh chứng bệnh ngoài
da (Thag 207). Về sau, đức Phật cho phép chư Tăng mặc các y
được cúng dường (Mv 8. 1. 35). Mãi đến ngày nay, Tăng chúng
đắp y được chắp lại bằng những miếng vải vuông để
giảm giá trị loại vải ấy.
Giày dép không phải là vật dụng của một
Tỳ-kheo thời nguyên thủy, và ít nhất trong các năm đầu
tiên hành đạo, đức Phật đi chân trần. Về sau, Tăng chúng
được phép mang loại dép đơn giản (Mv 5. 1. 30). Ngoài ra,
chư vị cũng được phép mang khăn len quàng vai và mền đắp
(Mv 8. 1. 36), cuối cùng lại được dùng cả cái quạt muỗi
và dù che mưa nắng khi ở trong khuôn viên của tinh xá (Cv 5.
23).
Ðức Phật cũng ban hành các luật lệ về vệ
sinh cá nhân. Các Tỳ-kheo được thích thú vì đổi thay
nếp sống từ những đám tu khổ hạnh có đặc điểm là
để chất dơ bẩn bám quanh mình và kiêng kỵ mọi hình
thức chú trọng đến thân xác, xem đây là cách giữ giới
tu tập chứng tỏ sự khinh thường của họ đối với thế
gian. Còn chư Tăng được phép tắm rửa như người đời
bằng cách dội nước lên mình hằng ngày. Chư vị được
phép tắm ao hồ ít hơn, có lẽ vì sự thiếu tự chủ dễ
dàng phát sinh khi các Tỳ-kheo trẻ tắm chung với nhau. Một
cọng cây nimba (Azadirachta indica, Margosa) được dùng để
chùi răng cho sạch. Ðầu cọng được nhai nát làm thành
một bàn chải nhỏ chà xát vào răng (CV 5. 31). Gỗ nimba
mùi vị đắng chát có công hiệu cầm máu.
Các Giới Luật về việc đi khất thực và tiêu
thụ các món khất thực có rất nhiều chi tiết, nhưng cũng
phóng khoáng trên căn bản. Chuyến đi khất thực bao giờ cũng
diễn ra buổi sáng. Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm
từ nhà này sang nhà khác, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng
đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt
vào bình bát không. Chỉ những thức ăn đã được nấu
sẵn mới có thể nhận, chứ không phải là các vật liệu
để làm thành món ăn. Nếu chưa đủ dùng, chư vị tiếp
tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh. Chư vị không
được phép bỏ sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá
ở các thị trấn phồn thịnh: các gia chủ giàu hay nghèo
đều phải được tạo cơ hội đồng đẳng để đạt công
đức phước nghiệp và chư Tỳ-kheo cũng không muốn gây
cảm tưởng là chư vị ham thích những khu phố giàu có vì
thức ăn ngon hơn.
Quan niệm này chẳng bao lâu đã tạo lợi thế
là không phải chỉ riêng vị Tỳ-kheo, người nhận thực
phẩm, được lợi ích vì món cúng dường mà thí chủ cũng
được hưởng công đức (puñ ñ a) từ đó, nên đã
đem lại kết quả tốt bảo đảm sự cung cấp thực phẩm
đầy đủ, vì thế Tăng chúng ít khi bị đói. Quan niệm này
cũng cho các Tỳ-kheo có dịp bày tỏ sự bất bình trước
một đệ tử tại gia cư xử khiếm nhã đối với Tăng chúng
bằng cách "úp ngược bình bát", nghĩa là không
nhận vật bố thí kia. Bằng cách này Tăng chúng tước
khỏi người bị phạt ấy cơ hội làm thiện nghiệp (kamma)
cho mình qua việc bố thí.
Một dấu hiệu cho thấy đức Phật có trí
tuệ sáng suốt thực tiễn là ngài không cương quyết đòi
chư Tỳ-kheo ăn toàn rau quả một cách nghiêm khắc. Chư vị
chỉ phải từ chối các món cá thịt khi chư vị có lý do
nghĩ rằng con vật ấy đã bị sát hại hay đánh bắt để
dành riêng cho chư vị. (Mv 6. 31. 14)
Lòng từ bi mà mỗi người đệ tử Phật đều
phải bày tỏ đối với muôn loài đòi hỏi vị ấy giảm
sự tiêu thụ món thịt đến mức tối thiểu. Về phương
diện khác, thật khó cho vị Tỳ-kheo giữ giới cấm hoàn toàn
kiêng thịt, vì Tăng chúng không tự nấu cho mình ăn và các
tinh xá cũng không có nhà bếp, nên chư vị sống nhờ vào các
thực phẩm cúng dường. Một Tỳ-kheo phải ăn bất cứ
thứ gì được đặt vào bình bát. Có câu chuyện trong Kinh
Ðiển nói về Tỳ-kheo Mahàkassapa ăn cả lóng tay thối của
một người phong cùi rớt vào bình bát của ngài! (Thag
1054-56). Dầu cho nhiều thí chủ cúng dường nhiều loại
thức ăn khác nhau, một Tỳ-kheo cũng tự bắt buộc phải
nhận tất cả. Do đó không lạ gì bệnh đau bao tử và tiêu
chảy hay huyết lỵ là các chứng thông thường trong Tăng chúng,
quả thực đó là căn bệnh nghề nghiệp. Hoặc bất ngờ
nhồi nhét nhiều thứ vào bao tử cũng chẳng ích lợi gì
cho sức khỏe cả.
Một cách thư giản khiến đời sống Tỳ-kheo
được thoải mái dễ chịu là đức Phật chấp nhận lời
mời của các gia chủ bảo trợ và cho phép chư Tăng cũng làm
như vậy. Tại nhà thí chủ, chư vị cũng thọ dụng thức
ăn trong bình bát. Buổi ăn phải được dùng trước ngọ,
bởi vì Tăng chúng không được phép ăn sau buổi trưa, và
buổi thọ trai thường chấm dứt bằng một bài thuyết
giảng cho gia chủ. Những thức gì còn lại trong bình bát
được đặt ra ngoài ở chỗ đất cát cho súc vật ăn và bình
bát được rửa sạch với nước dội lên.
Nếp sống hằng ngày của chư Tăng không được
phép đổi thay nhiều. Tiếp theo sau việc vệ sinh buổi sáng
là đi khất thực, thông thường bao gồm luôn cả việc thăm
viếng một số gia đình đặc biệt nào đó do các cư sĩ
sắp đặt. Các chuyến đi khất thực đôi lúc cũng gây nên
những xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí
chủ là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân
tâm phải được tăng cường là điều rất cần thiết
trong lúc khất thực, như bậc Ðạo Sư đã nhấn mạnh:
"Ở đây vào buổi sáng vị Tỳ-kheo đã đắp
y, mang thượng y và bình bát đi vào làng khất thực. Nhưng
thân, khẩu, ý của vị ấy không được chế ngự. Vị ấy
thấy một phụ nữ trong làng kia ăn mặc hở hang, không kín
đáo, nên tâm vị ấy bị tham dục làm uế nhiễm. Do đó, này
các Tỳ-kheo, chư vị phải tu tập như vầy: chỉ khi nào thân
được điều phục, thực hành chánh niệm và phòng hộ các
căn thì ta mới đi vào làng khất thực". (SN 20. 10,
giản lược)
Khi đi khất thực về, chư Tăng dùng bữa ở
cuối làng dưới bóng cây. Ðó là bữa ăn duy nhất trong ngày.
Sau đó, chư vị lại đi đến một nơi khác, vì Tăng chúng
thời nguyên thủy rất xem trọng truyền thống du hành của
đời Sa-môn. Khi sức nóng buổi trưa quá gay gắt khiến chư
vị không thể nào tiếp tục di chuyển được thì thời
gian nghỉ ngơi một lát tiếp sau đó có thể dùng để hành
thiền hay ngủ trưa. Về buổi chiều, chuyến du hành tiếp
tục đến một nơi gần thôn xóm định cư và nhóm Tỳ-kheo
ở lại đó ban đêm. Buổi xế chiều là thời kỳ đàm
luận Chánh Pháp cùng giáo giới Tỳ-kheo và buổi tối dành
cho thiền định.
Suốt thời kỳ gió mùa từ tháng sáu đến tháng
chín chư Tăng sống một nơi cố định. Theo luật của đức
Phật, luật này xác nhận một tập tục cổ sơ của đời
Sa-môn, chư vị phải trú mưa (vassa) trong nhà (Mv 3. 12.
6). Chư vị có thể lựa chọn cách tự mình xây một am
thất trú mưa hay ở trong một tinh xá sẵn có.
Vũ kỳ an cư kéo dài ba tháng trong thời gian
bốn tháng gió mùa, bắt đầu từ ngày rằm tháng Àsàlha
(khoảng tháng sáu - bảy), song cũng cho phép bất kỳ một
Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng vào ngày rằm
khoảng tháng bảy - tám (Mv 3. 2. 2). Việc đình chỉ du hành
chấm dứt vào ngày rằm tháng thứ ba tức tháng Àssina
(tháng chín - mười), hoặc những vị nào khởi sự chậm hơn
một tháng, thì chấm dứt vào tháng Kattikà (tháng mười
- mười một). Các đại hội tổ chức lễ sám hối Bố-tát
(Uposatha) đặc biệt trọng thể, tức lễ Tự Tứ (Pavàranà)
kết thúc vũ kỳ an cư. Lập tức ngay sau đó, các Tỳ-kheo
được công bố hoàn tất các phận sự trong Giới Luật,
lại khởi hành các cuộc du hóa như cũ.
Dĩ nhiên tập tục an cư mùa mưa không chỉ có
lý do cổ truyền mà còn có lý do thực tiễn nữa. Khi trời
đổ mưa ào ạt và các con sông tràn bờ nhập vào những dòng
nước màu nâu tuôn róc rách, khi đường sá chìm trong bùn
lầy và những mảnh đất không ngập nước làm thành nơi
trú ẩn cho rắn rết, bọ cạp, thì việc du hành và cắm
lều ngoài trời hầu như không thể thực hiện được. Hơn
nữa, khí ẩm bốc hơi trong thời gió mùa tạo nên những
tai hại khác cho sức khỏe, và nếu một Tỳ-kheo bị bệnh,
thì dễ săn sóc vị ấy tại một tinh xá hơn là lúc di
chuyển.
Tục lệ an cư mùa mưa còn có lợi cho Tăng chúng
theo nhiều cách. Trong suốt những tháng du hành theo ý riêng
của mỗi người, có thể là một vài Tỳ-kheo nào đó trở
thành buông lung trong nếp sinh hoạt. Vũ kỳ an cư diễn ra dưới
cặp mắt canh phòng của các bạn đồng Phạm hạnh khác
buộc các Tỳ-kheo phải chú tâm đến quy luật xử thế và
theo đúng nguyên tắc. Mùa an cư còn tăng cường mối tình
cảm giữa Tăng chúng thuộc về một cộng đồng lớn.
Cuộc sống chung ở một nơi và cùng học tập lời dạy
của bậc Ðạo Sư, sự trao đổi kinh nghiệm và kiến thức
đưa đến sự thiết lập các mối quan hệ thân hữu có giá
trị giáo dục được đức Phật đánh giá cao:
"Quả thật tất cả đời sống đồng
Phạm hạnh của Tăng chúng cốt yếu ở tình thân hữu
giữa những người thích thú điều thiện, ở tình đồng
bạn, đồng chí hướng. Một Tỳ-kheo làm bạn với điều
thiện, là người bạn giao du, người đồng chí hướng, có
triển vọng tu tập và làm sung mãn Bát Chi Thánh Ðạo để
giải thoát cho đồng bạn cũng như bản thân vị ấy". (SN
3. 18)
Không phải chỉ một nửa, mà là toàn thể đời
sống Giới Luật của vị Tỳ-kheo nằm trong mối thân
thiện với một bạn đồng tu đang nỗ lực hướng về
cứu cánh chung. Dẫu là đã dứt bỏ mọi dây ràng buộc
với thế gian, các Tỳ-kheo không phải là không có những liên
hệ giữa người và người: thế giới của chư vị là Giáo
hội, các người láng giềng là các bạn đồng Phạm hạnh.
Có lần đức Phật thấy một Tỳ-kheo bị bệnh huyết lỵ,
nằm bơ vơ giữa đống phân dơ không ai chăm sóc, ngài và
trưởng lão Ànanda cùng đến bảo dưỡng vị ấy. Rồi ngài
gọi Tăng chúng vùng ấy đến và khuyến giáo: "Này các
Tỳ-kheo, chư vị không có cha mẹ chăm sóc mình. Vậy nếu
chư vị không chăm sóc nhau, thì ta thử hỏi, ai sẽ làm
việc ấy? Này các Tỳ-kheo, bất cứ ai trong chư vị muốn
chăm sóc ta (nếu ta bị bệnh), thì vị ấy phải chăm sóc
người bạn đồng Phạm hạnh bị bệnh". (Mv 8. 26.
3)
Việc an cư mùa mưa cũng quan trọng đối với
kiến thức về Giáo Pháp của chư Tăng. Giữa hội chúng
Tỳ-kheo, chư vị đọc lại các kinh (sutta: bài thuyết
giảng) của đức Phật và học hỏi những lời dạy mới
của ngài. Việc trao đổi kiến thức bằng cách "nghe
kinh" không chỉ giới hạn vào mùa an cư, nhưng nó được
thuận lợi hơn nhờ việc chung sống một thời gian ngắn
của một hội chúng Tỳ-kheo đông đảo hơn tại một địa
điểm. Chắc hẳn Giáo Pháp (Dhamma) sẽ không được
truyền tụng đến thời đại chúng ta trong hình thức chính
xác như ngày nay nếu Tăng chúng thời xưa không có cơ hội
duyệt lại toàn thể lời giáo huấn của đức Phật và
chuyển đạt đến các Tỳ-kheo trẻ hơn qua các mùa an cư
(vassa) hằng năm ấy.
Tất nhiên chính đức Phật cũng giữ tục lệ
vũ kỳ an cư này. Một Tập Sớ (Manorathapùrani, 2. 4. 5 II)
làm bản liệt kê các địa điểm ngài đã an cư mùa mưa gió
trong suốt cả quãng đời hành đạo của ngài.
Bản này có thể không hoàn toàn trung thực, và
trong một trường hợp (năm thứ bảy), một mẫu chuyện
thần kỳ được đưa vào để lấp đầy một kẽ hở trong
kiến thức. Tuy thế, đối với một người viết lịch sử
cuộc đời sự nghiệp đức Phật, nó thật sự ích lợi như
một vật hướng dẫn khiến vị ấy có thể lập bản thứ
tự niên đại cho vài sự kiện khác không được ghi năm tháng.
|
Năm
trước CN |
Năm
truyền đạo |
An cư mùa mưa
tại |
Ghi chú |
|
528
527-525
524
523
522
521
520
519
518
517
516
515
514
513
512
511-510
509
508-485
484 |
1
2-4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18-19
20
21-44
45 |
Isipatana
Ràjagaha
(Veluvana)
Vesàli (chỉ 8 ngày,
số còn lại ở Ràjagaha).
Núi Mankula
Cõi Trời 33 (Tam
Thập Tam Thiên)
Sumsumàragiri
(Núi Cá Sấu)
Kosambì
Pàrileyya
Nàlà
Veranja
Núi Càlika
Sàvatthi
(Jetavana)
Kapilavatthu
Àlavì
Ràjagaha
Núi Càlika
Ràjagaha
Sàvatthi
Vesàli |
Sànàth gần
Benares.
Ðịa điểm không
rõ.
Huyền thoại
Thành phố của bộ tộc Bhaggas ở vương quốc Vamsa
Làng gần Kosambì
Làng ở Magadha,
gần Gayà.
Phía nam Sàvatthi.
Ðịa điểm không
rõ.
85 km ở phía
bắc Benares
(chưa được xác nhận)
(xem 516)
|
III.- CÁC TINH XÁ
Trong buổi sơ khai Giáo hội, ta có thể phân
biệt hai loại tinh xá: các khu nhà lá do chính các Tỳ-kheo
thành lập (àvàsa) là loại nhà phải hủy bỏ sau mùa
mưa, và các tinh xá được cúng dường (àràma) sẵn sàng
để chư Tăng sử dụng quanh năm.
Các khu vực nhà lá àvàsa được dựng lên
vào đầu mùa mưa gió. Việc này được thực hiện bằng cách
đánh dấu vài địa điểm đặc biệt trong vùng như đồi núi,
các cây kỳ dị, đường sá, sông lạch v.v... và nối liền
nhau theo một hàng dài tưởng tượng. Các Tỳ-kheo thời ấy
đồng ý xem khu vực nằm trong ranh giới này (sìmà) là
trú xứ tạm thời của mình (Mv 2. 6). Chu vi của vùng này không
được quá ba do tuần (yojanas: 30 km) (Mv 2. 7. 1).
Tăng chúng xây thảo am trong mỗi vùng cũng thành
lập một Giáo hội (sangha) cho mùa an cư trú mưa, và
cử hành lễ Bố-tát cùng các hội nghị tham luận khác.
Khuôn viên của một tinh xá mùa mưa như thế
phải là một địa điểm không bị ảnh hưởng lũ lụt, cũng
không quá xa thôn làng là nơi có thể đến khất thực. Các
am thất do chính các Tỳ-kheo xây chỉ cao vừa đủ để
ngồi xổm, và dài vừa đủ để nằm xuống. Vài cây sào
dễ uốn được bẻ cong để hai đầu có thể đóng xuống
đất thành một hàng. Các vòng cung ấy được kết liền
bằng các cây sào nằm ngang và mái vòm thành hình từ đó
được che phủ bằng lá, cỏ hay cói, thế là xong.
Khi Tỳ-kheo Dhaniya vốn quen nghề làm đồ gốm
bằng đất sét trước kia, đã tự xây cho mình một căn
lều hình bán cầu bằng đất sét rồi nung lửa bên trong,
tạo nên một kiểu lều gạch vững chắc, đức
Phật không đồng ý và ra lệnh hủy bỏ nó đi (Sv 2. 1-2).
Ngài không chỉ muốn cấm tục lệ đốt lửa giết hại
nhiều sinh vật nhỏ trong tương lai, mà có lẽ ngài còn
muốn ngăn cản Tỳ-kheo Dhaniya biến nơi ấy thành một trú
xứ vĩnh viễn, vì vị ấy đã ở đó gần một năm ròng.
Một số vị Tỳ-kheo khôn ngoan hơn Dhaniya đã
xây lều trên sườn núi Isigili (Thánh Sơn, gần Ràjagaha) và
hạ chúng xuống sau mùa mưa (Sv 2. 1). Ngày nay chúng ta khá
ngần ngại khi dùng từ "tinh xá" (vihàra) dành
cho loại lều lá, cói, quá sơ sài, dễ hư hại ấy, song đó
chính là từ được dùng trong Kinh Tạng Pàli.
Danh từ "tinh xá" hình như áp dụng thích
hợp hơn với loại lâm viên (àràma) mà các nhà bảo
trợ giàu sang tặng cho Giáo hội bằng cách công khai hiến
chúng làm trú xứ của chư Tăng. Ranh giới của một lâm viên
tinh xá như vậy đôi khi trồng hoa, song thường là xoài,
được đánh dấu bằng một hàng rào tre, bụi gai hay cái hào
nhỏ.
Trước tiên, các vị thí chủ hình như chỉ cúng
dường đất rồi để đó cho chư Tăng tự xây dựng các
lều trú mưa. Về sau các thí chủ cũng cho người xây tinh xá
và các giảng đường, phòng họp. Ðặc biệt là các giảng
đường ấy theo thời gian tiến triển dần thành những
kiểu kiến trúc vững chắc hơn với các kèo cột gỗ thay sào
tre, song vẫn giữ mái vòng cung như cũ.
Ngày nay chúng ta biết được hình dạng chúng
ra sao do các hang động ở Ajanta, Nàsik, Kanheri, Junnar, Kàrla,
và Bhaja về phía Tây Ấn, các hang động này bắt chước mái
vòng cung của thời nguyên thủy và làm sườn đá rất tinh
xảo giống hệt sườn các nhà gỗ ngày nay đã bị hư
hoại. Các hang động ở Nàsik và Kàrla thậm chí còn tái
tạo các nồi đá kiểu nồi đất mà người xưa đã dựng
các cột gỗ vào trong đó để tránh sự tàn phá của mối
mọt.
Việc xây dựng các kiểu nhà vững chắc như
vậy cứ tăng dần, có kết quả là một số Tỳ-kheo vẫn
ở lại trong tinh xá sau khi mùa mưa chấm dứt. Ðức Phật
không cấm điều này, mặc dù ngài không hài lòng với
những cách tự tách rời ra khỏi nếp sống của Sa-môn như
vậy. Song chính ngài cũng chấp nhận một tục lệ khác cứ
len lỏi vào, đó là thường an cư mùa mưa ở cùng một địa
điểm và ưu tiên chọn cùng một tinh xá như cũ. Ngoại
trừ năm 484, ngài an cư mùa mưa tại Vesàli, còn từ năm 508
trước CN trở về sau, ngài luôn luôn trú mưa trong các tinh
xá (vihàra) ở Sàvatthi.
Các tinh xá được cúng dường này nêu ra một
vấn đề vì chư Tăng và Giáo hội đã tuyên thệ sống nghèo
khó. Tinh xá đầu tiên mà Giáo hội nhận là Veluvana
(Trúc Lâm) gần Ràjagaha, đã được Ðại vương Bimbisàra cúng
dường với một nghi lễ trọng thể dâng lên "Hội
chúng Tỳ-kheo có đức Phật dẫn đầu" (Mv 1. 22.
18). Song đối với đức Phật, việc giữ gìn tài sản
thật gây lắm phiền nhiễu, ngài đã biết rõ qua kinh
nghiệm, cho nên trong trường hợp tinh xá Jetavana (Kỳ
Viên) ở Sàvatthi, ngài muốn rằng ông Anàthapindika phải
tặng nó cho Giáo hội trong bốn phương trời, hiện tại và
tương lai nữa, mà không cần nghi lễ chuyển giao tài sản
(Cv 6. 9). Như vậy, Jetavana và các tinh xá khác đều là
những vật cho mượn vĩnh viễn, Giáo hội có quyền sử
dụng, trong lúc thí chủ chịu các phí tổn bảo trì. Một
số thí chủ thuê nhiều người làm vườn và nghệ nhân đặc
biệt để bảo tồn vùng đất và nhà cửa trong ấy. (Mv 6.
15. 4)
Một số thí chủ có lẽ đã hy vọng chư Tăng
ít ra cũng giúp vào việc thành lập và chăm sóc lâm viên
tinh xá, song đức Phật không cho phép điều này. Một người
làm vườn phải phá bỏ các loại cây không cần thiết,
song một Tỳ-kheo lại không thích hợp với việc đốn cây,
tàn hại cây cỏ. Hơn nữa việc làm vườn bao hàm niềm hy
vọng được mùa gặt hái, điều ấy trói buộc tinh thần vào
thế tục. Tuy nhiên, phận sự của Tỳ-kheo là chuyên tâm
giải thoát khổ đau và không thể xao lãng vì bất cứ
việc gì, cho dầu đó chỉ là niềm vui khi nhìn thấy công
việc phát triển do đôi tay mình.
Về vấn đề có bao nhiêu tinh xá trong thời đức
Phật, chúng ta chỉ có thể đưa ra câu giải đáp phỏng
chừng. Lời phát biểu của một vị luận sư cho rằng
cuối đời bậc Ðạo Sư, chỉ riêng tại Ràjagaha đã có mười
tám tinh xá (vihàra), không được kiểm chứng. Ở vùng
"Trung Nguyên", chắc chắn đã có mười tinh xá vĩnh
viễn được cúng dường. Tất cả đều ở gần hoặc ở
trong các thành thị quan trọng và hầu như đều được
biết qua tên vị thí chủ:
* Ở vương quốc Magadha: Tại Ràjagaha:
1) Tinh xá Veluvana (Trúc Lâm) do vua Bimbisàra
tặng.
2) Jivakàmbavana (Vườn Xoài Jìvaka) do Jìvaka,
ngự y thường trực của nhà vua vừa là y sĩ chính thức
của Giáo hội đức Phật cúng dường.
* Ở vương quốc Kosala: Tại Sàvatthi:
3) Jetavana ([ Vương tử ] Kỳ-đà-Lâm)
hay Ànathapindik-àràma ([Trưởng giả] Cấp Cô Ðộc Viên):
được vị đại phú thương Ànathapin-dika mua từ Vương
tử Jeta và dành cho Giáo hội sử dụng. Ðó là tinh xá
được đức Phật ưa thích.
4) Pubbàràma (Ðông Viên Tinh Xá) do nữ
thí chủ thành tín Visàkhà cúng dường.
5) Ràjakàràma (Vương Lâm hay Ngự Viên)
một tinh xá của Tỳ-kheo-ni do vua Pasenadi thiết lập dành
cho công chúa Sumana, em gái vua đã trở thành Tỳ-kheo-ni.
* Ở vương quốc Vamsà:
6) Ghositàràma (Lâm Viên Ghosita) do vị phú
thương có tên ấy cúng dường.
7) Kukkutàràma (Lâm Viên Kukkutàràma: Kê
Viên) do vị phú thương có tên ấy cúng dường, ít khi được
đức Phật thăm viếng, nhưng thường được Tỳ-kheo Ànanda
đến.
8) Pavàrikambavana (Vườn Xoài của Pàvàrika):
vị thí chủ này cũng là phú thương, bạn của Ghosita và
Kukkuta.
9) Badarikàràma (Lâm Viên Badarika) cách
Kosambì khoảng 5km, có lẽ chỉ được đức Phật đến
viếng một lần.
* Ở các nước Cộng hòa:
10) Ambapàlivana (Vườn Xoài của Ambapàli):
tặng vật do người kỹ nữ sang trọng có tên ấy cúng dường
chỉ một thời gian ngắn trước khi đức Phật viên tịch.
Vesàli là thủ đô của nước cộng hòa duy nhất có thể
tự hào xây được một tinh xá thường trú dành cho Giáo
hội.
Nhờ sự chỉ dẫn của dân chúng địa phương (từ lâu đã theo Ấn Ðộ giáo) và công trình của các nhà khảo cổ học, những tinh xá quan trọng nhất trong số này đã được xác định vị trí. Tại Ràjagaha (Ràjgir) chúng ta có thể đến viếng tinh xá Veluvana, các nền nhà của tinh xá Jìvaka; gần Sàvatthi (Maheth) ta có thể viếng tinh xá Jetavana; và gần Kosambì (Kosam), ta có thể viếng lâm viên Ghosita - thật là một kinh nghiệm gây xúc động về sự vô thường của vạn vật. Những nơi ngày xưa đức Phật từng cư trú, thuyết Pháp và tiếp kiến các quốc vương, những nơi đã tiếp diễn cuộc sống của chư Tăng qua hàng thế kỷ, ngày nay chẳng còn gì ngoài sự im lặng và nỗi quạnh hiu. Ðã được ban quan sát khảo cổ của Cộng hòa Ấn Ðộ chăm sóc, song thiếu vắng đời sống tu tập, các khuôn viên tinh xá thời đức Phật nằm trơ trọi hoang phế và tiêu điều dưới nắng mưa.