- Chương III
(tt)
-oOo-
NHỮNG
VẤN ÐỀ LIÊN HỆ ÐẾN KOSAMBÌ
Các Ðại Vương nước Magadha và Kosala, những nhà
cai trị hùng cường nhất đương thời, đều là thân hữu
của đức Phật Gotama và con số tín đồ của ngài đã lên đến
vài ngàn người. Ngài cảm thấy thời cơ đã thuận lợi để
thiết lập quan hệ với vua Udena ngự tại Kosambì (Kiều-thưởng-di)
đang cai trị vương quốc Vamsà ở giữa sông Hằng và sông
Yamunà (Diệm-mâu-na).
Ðức Phật đã nghe nhiều người nói nên biết rõ
vị vua này: ngài đã an cư mùa mưa 521 trước CN tại Sumsumàragiri
(Núi Cá Sấu), quê hương của bộ tộc Bhagga thuộc vương
quốc vua Udena và ngài biết thủ đô của Vamsà ở Kosambì
(khoảng 55km về phía tây nam Allahabàd ngày nay) do nhiều chuyến
du hành. Nhờ sự hào hiệp của một số thương nhân từ Kosambì
đã đi nghe bậc Ðạo Sư thuyết Pháp tại Sàvatthi và đã dành
các lâm viên để ngài sử dụng ở tỉnh nhà, nên Tăng chúng có
nơi cư trú ổn định và số môn đồ đông đảo ở Kosambì.
Ðặc biệt nhất là tinh xá Lâm Viên của trưởng
giả Ghosita (Cù-sư-la), vị đệ nhất phú gia ở Kosambì vừa là
chủ tịch nghiệp đoàn vừa là chủ ngân khố hoàng gia, bấy
giờ đã phát triển thành một trung tâm tu học rất hoạt động.
Như vậy địa thế đã có vẻ sẵn sàng để việc truyền giáo
mở rộng và vì vậy đức Phật lại đến Kosambì một lần
nữa vào năm 520 để giáo giới chư Tăng suốt mùa mưa ấy và
cũng để thuyết phục vua Udena theo Giáo Pháp.
Lần thử nghiệm ấy đã thất bại. Nhà vua Vamsà
là người có đầu óc thế tục nên không buồn chất vấn về
những gì xảy ra sau thời hiện tại này và nhà vua tránh gặp
bậc đại Ðạo Sư. Nhà vua đã chán ngán những tranh luận về
tôn giáo giữa các vương hậu của ông là Sàmàvati và Màgandiyà,
một quý phi ông vừa mới rước về. Vương hậu Samàvati là
một tín nữ của đức Phật, trong lúc Màgandiya lại chống đối
ngài. Nàng không từ bỏ một việc gì nhằm bôi nhọ danh dự
của người tình địch sùng đạo Phật này với nhà vua. Bằng
cách phao tin là vương hậu Sàmàvatì thường ngắm nhìn đức
Phật qua cửa sổ cung thất bà khi ngài đi khất thực ngang qua
đó, nàng khơi dậy lòng ghen tức trong trí vua Udena khiến ông
ra lệnh lấy gạch bít kín cửa sổ của bà.
Sau đó nàng lại cố dùng nhiều kế hoạch ám
chỉ vương hậu Sàmàvatì là kẻ cừu địch đang bí mật lập
mưu sát hại mạng vua. Mặc dù vua không tin nàng hẳn, ông vẫn
đa nghi, nên hình như ông đã bắt vương hậu Sàmàvatì phải
chịu một hình phạt thử thách. Ông nhắm một mũi tên bắn vào
bà, nhưng mũi tên hụt mất. Một thời gian sau bà chết trong
một trận hỏa hoạn ở khu hậu cung của phi tần. Nhà vua phát
giác rằng nàng Màgandiyà đã gây ra đám cháy nên trước tiên
ông bắt tội các quyến thuộc đồng mưu của nàng và sau đó
chính nàng Màgandiyà phải chịu chết thảm.
Ác cảm của nhà vua đối với vấn đề tôn giáo
không ngăn cản được các hậu phi quan tâm vào đạo. Có lần,
khi vua Udena đi ngủ sau một chuyến du ngoạn đến rừng Udaka
gần Kosambì, các phi tần nắm lấy cơ hội này đi nghe Pháp do
Tỳ-kheo Pindola (Tần-đầu-lô) thuyết giảng. Khi vua thức dậy,
ông nổi trận lôi đình và đe dọa cho ném vị Tỳ-kheo ấy vào
ổ kiến lửa (Jàt 497), một lời đe dọa mà ông đã có thể
thi hành nếu không vì sự thực tôn giả Pindola là nam tử của
vị Bà-la-môn triều đình, quốc sư Bhàradvàja thân tín mà ông
không muốn làm mất lòng.
Khi tuổi càng cao, vua Udena càng trở nên khoan dung
hơn đối với đạo Phật, có lẽ vì lý do chính trị, bởi Giáo
Pháp đến thời này đã biến thành một yếu tố chính trị
ngay trong vương quốc Vamsà, và có lẽ vì chính Bồ Ðề Vương
tử (Bodhi rajà) con ruột ông cũng đã trở thành người
hộ trì đức Phật. Vấn đề động lực nào có thể khiến
cho một nam nhân cường tráng phải chịu khép mình vào sự rèn
luyện bản thân đã có lần thúc giục ông đi tìm cho ra
Tỳ-kheo Pindola và vị này giải thích cho nhà vua nghe sự ô
nhiễm của tham dục, của sắc thân và của các nhận thức giác
quan, cùng ích lợi của sự tự điều phục bản thân (S. 35.
127).
Rất lâu về sau, khi đức Phật đã diệt độ,
vua Udena cho phép các phi tần được nghe Giáo Pháp do Trưởng lão
Ànanda thuyết giảng tại ngự viên Udaka. Nhưng khi họ tâu trình
ông số y phục mà họ đã cúng dường vị tôn giả này, ông
lại bực mình. Ông băn khoăn tự hỏi phải chăng tôn giả Ànanda
có ý muốn bắt đầu toan tính việc hưởng vật chất, và
mặc dù đã cao tuổi, ông cũng không quản ngại nỗi nhọc
nhằn phải ngự ra khỏi cung để đối chất với vị Tỳ-kheo
này (Cv 11. 1. 12-14).
Khi đức Phật Gotama đến Kosambì năm 520 trước
CN, mọi việc kể trên đều nằm trong tương lai. Tuy thế, sự
thờ ơ của nhà vua đối với Tăng chúng thật rõ ràng và ông
tỏ ra thiếu tin tưởng về đạo hạnh thấp kém của số
Tỳ-kheo ở địa phương ấy. Ðức Phật đã phải ngượng
mặt biết bao khi thấy Tỳ-kheo Sàgata nằm say bí tỉ trước
cổng thành Kosambì! Lúc đi khất thực, vị này đã uống ở
mỗi nhà một chén nhỏ rượu dừa. Quả thật cảnh tượng
chẳng vinh quang chút nào khi các Tỳ-kheo phải khiêng bạn đồng
đạo say mèm trở về tinh xá, và chắc chắn là kèm theo những
lời bình phẩm châm biếm từ đám thị dân. Sự kiện này
tạo cơ hội cho đức Phật ban hành lệnh cấm Tăng chúng uống
rượu (Sv 51.1). Sau đó ngài ra điều luật hễ Sa-di nào bị phát
giác uống rượu sẽ bị bác bỏ quyền thọ cụ túc giới. (Mv
1.60)
Nếu ngày nay ta phải tin theo Luận tạng, thì được
biết chính cái ghè nước rửa tại nhà vệ sinh - ở Á Châu, nước
được dùng vào mục đích giống như ta dùng giấy ngày nay
- đã suýt gây chia rẽ trong Giáo hội. Một Tỳ-kheo ở
tinh xá Ghosita tại Kosambì đã để lại cái ghè bên ngoài nhà
vệ sinh tập thể mà không đổ hết phần nước còn sót trong
ghè, đó là một lỗi lầm vi phạm phép vệ sinh chung. Luật
tạng (Mv.10) kể tiếp phần sau của câu chuyện này. Vị
Tỳ-kheo sơ ý ấy, khi bị một vị đồng Phạm hạnh khiển trách,
đã tuyên bố rằng vị ấy không xem việc bất cẩn của mình
là phạm giới. Hội đồng Tăng chúng họp lại giải quyết
vấn đề này nhận thấy vị ấy can tội bất cẩn và tạm đình
chỉ việc tu tập. Nhưng vị Tỳ-kheo bị xử kỷ luật kia lại
có nhiều thân hữu và đồ đệ trong đám Tăng chúng địa phương
ủng hộ - và thế là có hai nhóm Tỳ-kheo chủ trương hai quan
điểm khác nhau về tính cách hợp pháp của lệnh tạm đình
chỉ tu tập kia. Sự việc đến tình trạng này được trình lên
bậc Ðạo Sư.
Trong lúc ấy, hai nhóm Tỳ-kheo đã công khai xung đột
nhau và thậm chí đánh nhau trước mặt đám cư sĩ tại gia. Ðức
Phật phải khẩn thiết kêu gọi Tăng chúng:
"Này các Tỳ-kheo, nếu một Giáo Hội chia rẽ
(trong quan điểm) nếu Giáo Hội ấy không cư xử đúng theo
giới luật, nếu có chuyện bất hòa, chư vị phải ngồi
xuống họp lại và cùng suy xét: dẫu sao tối thiểu chúng ta cũng
cương quyết không đối xử bất xứng với nhau trong hành động
và ngôn ngữ - Chúng ta cương quyết không gây sự đánh
nhau!". (Mv 10. 2.1)
Lời khuyến cáo này chỉ đủ công hiệu để
việc đấm đá thô bạo chấm dứt, song những lời tranh cãi
vẫn tiếp tục không ngừng.
Một thời gian sau, đức Phật được một trong các
vị Tỳ-kheo ôn hòa thỉnh cầu xoa dịu nhóm Tỳ-kheo đang tranh
cãi về vấn đề giới luật ấy thêm một lần nữa.
Thấy rằng không thể nào thuyết phục cho đám này
biết cư xử hợp lẽ phải, đức Phật cắt ngang mọi người:
"Thôi đủ rồi, này các Tỳ-kheo, không được đấu
tranh, không khẩu tranh, không cạnh tranh, không luận tranh gì
nữa cả!". Song các Tỳ-kheo ấy đang cuồng nộ đến
nỗi lệnh của đức Phật cũng thành vô hiệu lực. Một vị
trong đám nọ còn la to lên một cách hỗn xược: "Xin
bậc Ðạo Sư hãy kham nhẫn và ngồi xuống đây an nhiên tự
tại. Còn cuộc đấu tranh, khẩu tranh, cạnh tranh, luận tranh này
là việc của chúng đệ tử!" (Mv 10. 2. 2)
Cố làm ngơ trước sự vô lễ này, đức Phật
kể cho các Tỳ-kheo một câu chuyện dài có tính cách cảnh giác,
song việc này cũng không có kết quả gì. Quá chán nản và
buồn rầu, đức Phật rời bỏ hội chúng ấy ra đi. (Mv 10. 2.
20)
Vào khoảng cuối mùa mưa (520 trước CN) đức
Phật lại du hành, vượt qua làng Bàlakalonakàra, ở Ðông Trúc
Lâm, ngài gặp các Tỳ-kheo Anuruddha, Kimbila và Nandiya, những
vị thể hiện một bức tranh thân hữu hòa hợp tuyệt diệu: "Con
đã từ bỏ ý muốn riêng của mình để sống tùy thuận ý
muốn của hai vị kia. Chúng con có thân khác nhau nhưng cùng
chung một tâm". Tôn giả Anuruddha tuyên bố với bậc Ðạo
Sư và hai vị kia đồng ý. (Mv 10.4 = MN 128)
Ðức Phật trải qua mùa mưa gió thứ mười của
sự nghiệp giáo hóa (519) tại rừng Pàrileyya gần Kosambì, nơi
có nhiều đàn voi hoang dã. Ðược vài đồ đệ thân tín hộ
tống, ngài chuyên tâm vào thiền định. Ngài cần độc cư
một lần nữa (Mv 10.4-6) để tìm trong an tịnh một giải pháp
cho cuộc xung đột ở Kosambì, một cuộc xung đột đe dọa luôn
cả sự hòa hợp của Tăng chúng.
Giải pháp ấy chợt đến như một kết quả của
nhiều hoàn cảnh mới, trong khi đức Phật đang cư trú vào
khoảng cuối năm 519 sang năm 518 tại Kỳ Viên ở Sàvatthi. Các
Tỳ-kheo ở Kosambì đã gây chuyện bất hòa tranh cãi dữ dội
trong suốt mười tám tháng từ khi ngài rời kinh thành ấy đến
độ các cư sĩ tại gia cung cấp lương thực cho Tăng chúng cũng
mất hết kiên nhẫn. Họ quyết định không đảnh lễ và hộ
trì các Tỳ-kheo nữa, khiến cho Tăng chúng ở thành Kosambì
phải đối đầu với các vấn đề lương thực rất gay gắt.
Do đó cả hai nhóm Tỳ-kheo phải vội vã gửi các phái đoàn đại
diện đến yết kiến bậc Ðạo Sư ở Sàvatthi, thỉnh cầu ngài
hòa giải mối tranh chấp theo quyết định của ngài.
Phương pháp tiến hành công việc của đức Phật
chứng tỏ trí thông minh và tài khéo léo của ngài. Khi đám
bạn của vị Tỳ-kheo bị đình chỉ tu tập đã giải thích
rằng nay vị ấy đã nhận thấy lỗi của mình, đức Phật
bảo chư vị phục hồi chức vụ của vị ấy. Khi việc này đã
làm xong, ngài đàm đạo với đám Tỳ-kheo trước đây đã đưa
ra lệnh đình chỉ. Ngài giải thích cho chư vị biết lý do
phục hồi chức vụ trên, và giảng rõ rằng việc vị Tỳ-kheo
nhận lỗi trong quá khứ chứng tỏ tính cách hợp pháp của hành
động đình chỉ kia. Rồi ngài bảo chư vị từ nay nhìn nhận
sự phục hồi chức vụ vừa nêu. Ðiều này cũng được thực
hiện: bằng cách im lặng (nghĩa là: không nêu ý kiến phản đối)
hội chúng công nhận vị Tỳ-kheo gia nhập Giáo đoàn lại như
cũ. Sự hòa hợp bề ngoài đã được tái lập (Mv 10. 5. 11-
14). Mỗi phe đều đắc thắng ở điểm mà họ xem là quan
trọng nhất -- không có phe nào mất thể diện cả!
Tuy nhiên, các Tỳ-kheo ở Kosambì vẫn tiếp tục
sinh sự tranh chấp mãi. Suốt ba mươi lăm năm còn lại trong đời
ngài, đức Phật không bao giờ đến an cư mùa mưa ở Kosambì
hay bất cứ nơi nào trong vương quốc Vamsà của vua Udena lần nào
nữa.
THẬP
NIÊN HOẰNG PHÁP THỨ HAI
Sau thập niên đầu tiên đức Phật hoằng Pháp, tài
liệu lịch sử trong Kinh Tạng Pàli trở nên rời rạc ít ỏi,
không phải vì thiếu thông tin tổng quát - tất cả hơn ba mươi
tập trong Kinh tạng và Luật tạng và Luận tạng chứa đầy tài
liệu. Song Tam Tạng gồm phần lớn các câu chuyện và bài kinh
mang tính đức dục trí dục giải thích các quan điểm giáo lý,
mà hầu như không có một chi tiết lịch sử nào cả. Ngoài ra,
thập niên đầu tiên đánh dấu rõ ràng địa điểm hoạt động
của đức Phật. Từ đó về sau những nơi chốn ấy cứ tái
diễn trùng lập, khiến cho dấu tích của bậc Ðạo Sư bị
lẫn lộn nên khó phân biệt.
Một ví dụ về câu chuyện không có hiệu quả
về phương diện lịch sử tuy nhiên lại minh họa đời sống
của đức Phật cùng sự tự tin của ngài, là câu chuyện sau
đây có thể ghi vào năm thứ mười một ngài hoằng Pháp:
Trong lúc đi khất thực, đức Phật đến vùng lân
cận làng Ekanàla phía nam Ràjagaha, vừa đúng lúc Bà-la-môn hào
phú Bhàradvàja đang phân phát cơm sữa cho nông dân ăn sáng. Ðức
Phật lặng lẽ nhập bọn và đợi xem thử ngài có được chia
phần cơm không.
Bhàradvàja: Tôi cày và gieo, rồi sau khi xong việc,
tôi mới ăn. Này Sa-môn, ngài cũng phải cày và gieo, rồi ngài
mới được nhận phần cơm.
Ðức Phật: Này Bà-la-môn, ta cũng cày và gieo,
rồi khi ta làm xong, ta mới ăn.
Bhàradvàja: Chúng tôi không thấy Ðạo Sư Gotama dùng
cái ách hay cái cày, tuy nhiên ngài lại bảo như thế?
Ðức Phật: Ta gieo hạt giống chánh tín, cây cày
là trí tuệ, tinh tấn là đôi bò kéo cày, thành quả lao động
của ta là trạng thái Bất Tử . Bất cứ ai làm xong việc ấy,
sẽ được giải thoát khổ đau.
Nhưng đến khi Bà-la-môn Bhàradvàja cúng dường đức
Phật một chén cơm sữa, đức Phật lại chối từ. Một tặng
vật nhận được do tài hùng biện hoa mỹ không phải là món
khất thực chân chánh và không đem lại phước đức gì cho thí
chủ. Tuy nhiên, vị Bà-la-môn không lấy chén cơm lại, vì không
xứng đáng với phẩm cách của vị ấy nếu phải ăn một món
đã bị chối từ hoặc đem cho các nông dân, nên vị ấy đổ
xuống con suối gần đó.
Cách dùng ảnh dụ người gieo hạt rất thích
hợp với hoàn cảnh Bà-la-môn Bhàradvàja thật có hiệu quả
tức thì. Những hạt giống bằng lời mà đức Phật đã gieo vào
tâm vị Bà-la-môn đến lúc chín muồi, vị ấy được Giáo Pháp
cảm hóa và trở thành Tỳ-kheo (SN 7.2.1)
Năm 517 là một năm đói kém. Theo lời mời của
một Bà-la-môn cư sĩ, đức Phật cùng vài đệ tử hộ tống
đến an cư mùa mưa gần Verañ jà, một nơi gần phía nam thành
Sàvatthi (Sv Par 1. 1. 9) Hội đồng xã đã phát phiếu khẩu
phần cho dân chúng đang bị nạn đói, nên món khất thực khó
kiếm đến nỗi nhiều khi các Tỳ-kheo phải mang bát không trở
về. May mắn thay vài nhà buôn ngựa từ Bắc Ấn cũng vừa đến
ở tại Verañ ja với bầy ngựa nên họ cho các Tỳ-kheo một ít
cám bột mì. Khi tôn giả Ànanda đem đến mời đức Phật món
ăn này, ngài bình thản tuyên bố một ngày kia tình thế sẽ
trở lại tốt đẹp hơn (Sv Par 1. 2. 1).
Năm 515 trước CN, Ràhula, con trai của bậc Ðạo Sư,
đã được hai mươi tuổi (kể từ lúc thụ thai) và đã đến
độ tuổi tối thiểu để một Sa-di được thọ đại giới
Tỳ-kheo. Sau khi đức Phật đã an cư mùa mưa ở tinh xá Jetavana
gần Sàvatthi, một hôm ngài bảo Sa-di Ràhula cùng đi với ngài
vào trong Rừng Người Mù và Ràhula sẵn sàng đồng ý. (MN 147)
Cũng như lệ thường trong trường hợp con của các
người cha vĩ đại, Ràhula là người có cá tính không rõ
rệt. Các khuynh hướng hơi thiên về nói phóng đại và thêu
dệt theo tưởng tượng, một đặc điểm có thể biểu lộ năng
khiếu tường thuật truyện văn chương, đã bị trục xuất ra
khỏi trí chàng thiếu niên ở tuổi mười lăm, như một "hình
thức nói dối" (MN 61), và ngay cả cảm tưởng tự tin
do niềm thích thú về vẻ mặt khôi ngô của mình cũng bị
tẩy sạch luôn (MN 62). Ràhula không có được một chút phong cách
thanh lịch, tài năng ngoại giao và uy lực thuyết phục như thân
phụ, chứ đừng nói gì đến vẻ mặt rực sáng đầy kỳ
diệu của ngài. Nhưng quả thật, làm thế nào chàng có thể phát
triển được những đặc tính như vậy, những đặc tính chỉ
có thể tăng trưởng khi phải đương đầu với cuộc sống
thế gian?
Ðược dưỡng dục từ tuổi lên chín trong một
cộng đồng Tăng chúng chỉ toàn nam giới, lại được trưởng
lão Sàriputta và đức Phật huấn luyện chuyên tâm thiền quán
về giải thoát và tuân thủ lý tưởng tu tập bản thân của
một Tỳ-kheo, nên chàng không thể hưởng thời kỳ ấu thơ
theo thói vui chơi. Không được phép phát triển các năng
khiếu và chỉ được dưỡng dục theo một đường lối phát
triển hạn hẹp, chàng đã trở thành một người đầy đủ trí
tuệ kiến thức, nhưng sẵn sàng chấp nhận giáo huấn và
chịu phục tòng: những đức tính duy nhất chàng được phép
phát triển là tinh cần và tuân thủ giới luật tu hành thật
nghiêm khắc. Như mọi người đều đồng ý, chàng là một
thanh niên thông minh khả ái, nhưng không có gì khác hơn thế
nữa.
Mối tương quan giữa đức Phật và Sa-di Ràhula đầy
tin cẩn và thiện cảm, song không thân ái hoặc mật thiết, vì
điều này theo quan điểm đức Phật có nghĩa là tạo nên một
mối ràng buộc nội tâm có thể gây khổ đau. Vì vậy cũng
dễ hiểu, Kinh Ðiển quả thực đã không tường thuật những
cuộc nói chuyện riêng tư giữa hai cha con: các kinh Giáo Giới Ràhula
cũng không khác gì về hình thức với những kinh bậc Ðạo Sư
giảng cho chúng Tỳ-kheo cả.
Ví dụ sau đây là lời ngài dạy Sa-di Ràhula khi
hai vị cùng ngồi dưới gốc cây trong Rừng Người Mù. Bài
kinh liên hệ đến phương pháp phòng hộ bản thân khỏi bị xúc
động do các nhận thức giác quan:
-- Này Ràhula, con nghĩ thế nào? Con mắt, hình
sắc, nhãn thức là thường hằng hay vô thường?
-- Bạch Thế Tôn, vô thường.
-- Thế tai, mũi, lưỡi, thân (xúc giác) và tâm hay
ý (cơ quan tư duy) cùng các pháp và thức tương ứng với chúng
là thường hằng hay vô thường?
-- Bạch Thế Tôn, vô thường.
-- Cái gì vô thường thì khổ hay lạc?
-- Bạch Thế Tôn, khổ.
-- Vậy có hợp lý chăng khi nghĩ đến những gì vô
thường, khổ đau, chịu biến hoại như sau: "Cái này là
của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?".
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Này Ràhula, khi một vị đa văn đệ tử nhận
thức điều này, vị ấy yếm ly các căn, các pháp và các
thức tương ứng (nghĩa là vị ấy không để cho mình tham đắm
chúng). Do vậy, vị ấy ly tham và giải thoát cùng chấm dứt tái
sanh. (MN 147, giản lược)
Ngay khi phụ thân thuyết giảng, Sa-di Ràhula lãnh
hội ý nghĩa uyên thâm của giáo lý và các lậu hoặc (àsava)
đưa đến tái sanh đau khổ đều tan biến dần khỏi tâm vị
ấy. Như vậy, vị ấy cũng trở thành một bậc A-la-hán nữa.
Có lẽ cũng chinh năm 515, trong lúc đức Phật đang
an cư mùa mưa tại Jetavana gần Sàvatthi, hoặc có lẽ vào một
dịp nào đó ngài đến viếng thủ đô nước Kosala, đức
Phật đã tạo mối giao hữu thân tín với nữ đệ tử đại
phú gia Visàkhà (Tỳ-xá-khư). Hơn một thập niên trước, tiểu
thư Visàkhà mới lên bảy đã hội ngộ đức Phật khi còn
sống cùng cha mẹ ở Bhaddiya (trong nước Anga). Suốt thời gian
ấy, nhiều sự kiện xảy ra đến với đời nàng. Ông Dhanañ
jaya, phụ thân nàng đã cùng gia đình dời đến Sàketa và tại
đây, cô con gái xinh đẹp của ông đã lọt mắt xanh của đám
người mai mối cho gia đình phú thương Migàra, người đang tìm
một tân nương cho cậu quý tử Punnavaddhana. Cuộc hôn nhân thành
tựu, từ đó Visàkhà sống tại Sàvatthi với chồng, và nàng
sinh được nhiều con.
Giữa các nữ thí chủ của Tăng chúng, Visàkhà
chiếm địa vị đệ nhất. Bà cúng dường chư Tỳ-kheo áo mưa,
thực phẩm dành cho những vị sắp đi xa hoặc mới đến, chăm
sóc người bệnh, cùng các thứ thực phẩm dược liệu (Mv
8.15.7). Tinh xá quan trọng do bà cống hiến hào phóng là nơi thành
lập "Ðông Viên Trùng Các" (pubbàràma) sau này
nổi tiếng ở ngoài đông môn kinh thành Sàvatthi.
Khi đức Phật an trú trong tinh xá này, bà Visàkhà
thường yết kiến nhiều lần để được ngài an ủi sau
những chuyện đau buồn. Có một lần bà đã thua kiện: Vua
Pasenadi Kosala làm chánh án đã xử thiệt hại về phần bà. Ðang
giữa trưa nóng bức, một thời điểm không thích hợp để xin
yết kiến, bà đi tìm cho ra đức Phật và kể hết mọi việc
với ngài. Ðức Phật đầy đủ trí tuệ đã không bênh bỏ
phe nào cả, chỉ khuyên bà những lời lẽ đầy triết lý này:
Buộc ràng đau khổ biết chừng nào!
Ðiều phục tự thân: lạc tối cao
Ràng buộc là gây nhiều khổ não,
Thoát ly triền phược khó làm sao!
(Ud 2.9)
Một lần khác nhiều năm sau, bà lại đến phi
thời xin yết kiến đức Phật, cả người và tóc đều ướt
đẫm. Bà thưa với ngài rằng một cháu gái yêu quý của bà
vừa mất, và vì thế bà ướt đẫm cả người (do lễ tẩy
trần sau khi dự đám táng). Bậc Ðạo Sư đáp:
-- Này Visàkhà, bà ước muốn sinh nhiều con cháu
bằng dân số ở Sàvatthi chăng?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Thế có bao nhiêu người chết mỗi ngày
ở Sàvatthi?
-- Bạch Thế Tôn, có lẽ mười người hoặc tám
chín người -- ít nhất cũng mỗi người một ngày. Chẳng
thiếu gì người chết tại Sàvatthi.
-- Này Visàkhà, bà nghĩ thế nào, vậy có bao giờ
bà khỏi bị ướt tóc tai áo quần chăng?
-- Bạch Thế Tôn, chắc chắn là không. Con đã quá
nhiều khổ đau với bầy con cháu đông đúc này rồi.
-- Này Visàkhà, ta nói cho bà rõ, bất cứ ai có
một trăm vật yêu quý sẽ có một trăm mối khổ sầu, ai có
chín mươi, tám mươi, năm mươi, hai mươi, mười, năm, hai vật
yêu quý sẽ có chừng ấy mối khổ sầu. Nhưng hễ ai không có
vật gì yêu quý thì không có khổ sầu. Ta nói cho bà rõ,
những người ấy thoát sầu não, ly tham dục:
Tất cả nỗi sầu khổ, khóc than
Thiên hình vạn trạng giữa trần gian
Phát sinh từ vật mình yêu quý,
Không có gì thân, khổ chẳng mang.
Vậy người hạnh phúc, thoát ưu bi,
Sống giữa trần không luyến ái gì,
Nếu ước mong mình không khổ não,
Ở đời không có vật yêu vì.
(Ud 8. 8, giản lược)
Trong thời kỳ tiếp theo sau đó, đức Phật an cư
mùa mưa ở Kapilavatthu (514 trước CN), tại Àlavi phía bắc
Benares (513), tại Ràjagaha (512 và 509) và ở vùng núi Càlika (chưa
xác định được vị trí) (511, 510), không có điều gì quan
trọng về phương diện lịch sử được ghi lại. Chỉ trong năm
508, trở về sau, đức Phật chọn nhiều tinh xá ở Sàvatthi để
trú mưa thường xuyên, là năm lại có vài việc đáng ghi nhớ.
Một sự kiện đáng chú ý của năm ấy là việc
giáo hóa tướng cướp gây kinh hoàng Angulimàla (Người Ðeo Vòng
Ngón Tay), sở dĩ được gọi như vậy vì tướng cướp ấy đã
làm cho mình một xâu chuỗi đeo cổ bằng các lóng tay của
những người bị y giết. Y là con của Bà-la-môn Gagga giữ
một chức vụ tại triều đình vua nước Kosala và đã tiếp
thu một nền học vấn uyên bác tại đại học Takkasìla. Với
trí thông minh điêu luyện, y tránh né mọi cuộc săn lùng nên
mọi quân tuần tra mật thám mà vua Pasenadi truyền theo dõi y đều
trở về tay không. Angulimàla được bà mẹ đồng tình báo cho
y biết mọi hoạt động của quân đội cảnh vệ.
Làm một đạo tặc trên xa lộ, có lẽ lãnh tụ
của một bọn cướp rình rập khách lữ hành và các đoàn xe
chở hàng, Angulimàla là một phần tử trong nhóm tội phạm nghiêm
trọng nhất ở cổ Ấn Ðộ. Trong các thôn làng vào thế kỷ
thứ sáu trước CN, quần chúng sống an ổn, "mọi nhà đều
mở cửa" như tục ngữ thường nói, tội phạm rất
hiếm hoi. Song ở thành thị, tội phạm lại nhiều hơn. Các
vụ cướp phá không xảy ra thường xuyên vì các nhà giàu có tài
sản đáng cướp bóc luôn được đám gia nhân canh giữ suốt
ngày đêm. Thông thường hơn là chuyện một gia nhân biến mất
cùng vài đồ vật quý giá của chủ nhưng việc này cũng chỉ
có giới hạn nhỏ vì đa số tôi tớ sống với gia đình họ
ngay trong nhà chủ hay gần nhà chủ khiến cho việc đào tẩu khó
thực hiện.
Ðánh cướp bằng vũ khí là cách có triển vọng
kiếm nhiều tiền mau nhất, do vậy đó là cách thông thường
nhất, mặc dù tội phạm này đe dọa cả ngành thương mại
lẫn tài sản quốc gia nên đã bị đe dọa lại bằng các hình
phạt nặng như chặt tay chân, làm mù mắt, đâm cọc qua người,
bóp cổ hoặc chém đầu.
Ðức Phật đã làm ngơ trước mọi lời cảnh giác
khi ngài khởi hành từ Sàvatthi tiến vào khu vực bất an vì
Angulimàla trú ẩn. Chẳng mấy chốc ngài gặp tướng cướp, y
đầy kinh ngạc về sự can đảm của vị khất sĩ lang thang
đơn độc này. Mẫu đối thoại giữa hai người như đã được
lưu truyền trong Kinh Tạng (MN 86)có lẽ là chuyện sáng tác về
sau, lại càng có vẻ như vậy vì được kể theo thể kệ. Song
sự thật vẫn có chuyện Angulimàla sau cùng xin đức Phật
nhận y vào Giáo đoàn và đức Phật lập tức nhận lời. Cả
hai vị trở về Sàvatthi với tư cách Ðạo Sư và đệ tử,
rồi cùng an trú trong tinh xá Kỳ Viên của ông Cấp Cô Ðộc.
Dẫu ta hết lòng ngưỡng mộ uy lực thuyết phục
của đức Phật, thì sự chuyển tâm hối cải của Angulimàla cũng
có vẻ hơi quá đột ngột nên khó tin được đó là một sự
cảm hóa thuần túy tôn giáo. Sự chuyển hướng vội vã cải tà
quy chánh này có vẻ hợp lý hơn nếu ta giả sử rằng tướng
cướp Angulimàla muốn tránh hình phạt bằng cách gia nhập Tăng
đoàn, vì mọi giáo phái đều khỏi chịu lệ thuộc vào quyền
xét xử của pháp luật thế gian. Ðại Vương Pasenadi cũng
hiếu kỳ muốn thấy tên tội phạm trước kia ông đã truy lùng
suốt một thời gian rất dài mà không đạt kết quả gì. Trong
một chuyến chiêm bái tinh xá Kỳ Viên, nhà vua đàm đạo với
Tỳ-kheo Angulimàla nay đã cạo trọc đầu, đắp y vàng làm
một Sa-môn Thích tử.
Nếu vua Pasenadi có thể tha thứ cho tướng cướp
được hàng phục cách này thì dân chúng Sàvatthi muốn báo thù,
lại suy nghĩ cách khác. Trong khi Tỳ-kheo Angulimàla đi khất
thực trong kinh thành, họ ném đá vào vị ấy, gây thương tích
trầm trọng. Mình đầy máu, y bị rách và bình bát bị vỡ,
vị ấy đến yết kiến đức Phật ở tinh xá Jetavana và được
ngài khuyên nhủ: "Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Con đang
thọ lãnh ngay trong đời hiện tại quả báo của các ác
nghiệp, bằng không con sẽ phải chịu nhiều khổ đau rất lâu
dài trong địa ngục"(MN 86). Song Tỳ-kheo Angulimàla cũng
không sống được lâu trong Giáo hội. Vị ấy từ trần sớm,
có lẽ là do kết quả của một vụ dân chúng tấn công lần
thứ hai.
Việc giáo hóa tướng cướp Angulimàla đã gây
tiếng vang lớn ra ngoài và càng tăng uy tín của đức Phật. Ðiều
này khơi dậy lòng ganh tỵ của các nhóm Sa-môn khác bị giảm
sút phần tặng vật cúng dường, nên họ xem xét nhiều mưu
kế hạ uy tín đức Phật. Họ tìm được một công cụ lợi
hại ở nữ khất sĩ Sundarì, họ thuyết phục cô ấy thường
xuyên lai vãng tinh xá Jetavana càng nhiều càng tốt và lộ diện
cho càng nhiều người thấy càng hay. Cô ấy làm như lời họ
bảo, rồi sau một thời gian, cô ấy bị đám người ủng hộ
kia giết chết và chôn vội xác vào tinh xá Jetavana. Ngay liền
sau vụ này, các Sa-môn ác hạnh loan tin Sundarì thất lạc và có
lẽ được tìm ra xác chết trong tinh xá Kỳ Viên.
Chỉ chốc lát tử thi được phát hiện trong một
hố ở Kỳ Viên và được mang về Sàvatthi, tại đây bọn sát
nhân đã lớn tiếng la ó: "Này mọi người hãy nhìn xem
hành động của đám đồ đệ Sa-môn Thích Tử! Bọn chúng
thật vô tàm vô quý, phá giới, độc ác, dối trá, bất tịnh.
Làm sao một người đàn ông lại có thể giết đàn bà sau khi
hành lạc!". Lời vu cáo này không phải là không có
kết quả, vì nó được lập lại nhiều lần và các Tỳ-kheo
phải chịu một thời gian khó khăn lúc đi khất thực.
Ðức Phật phản ứng lại giống như ngài đã làm
tại Ràjagaha, khi ngài bị gọi là "người gây cảnh góa
bụa cho phụ nữ" và "bắt cóc nam nhi". Ngài
dạy cho các Tỳ-kheo một đoạn kệ để phản công lại đám
người lăng mạ:
Ðịa ngục cho phần kẻ dối gian
Và người không nhận việc mình làm,
Cả hai, khi chết đều đồng đẳng
Hành nghiệp đời sau hạ liệt tràn.
(Ud 4.8 - Dhp.306)
Về việc này, không có bằng chứng vô tội và
phục hồi danh dự chư Tăng trước quần chúng, song chẳng mấy
chốc niềm tin tưởng rằng Giáo hội đức Phật không liên
hệ gì đến vụ mưu sát này lan truyền rất nhanh.
Năm thứ hai mươi mốt (508 trước CN) trong cuộc
đời hoằng Pháp đem lại cho đức Phật nhiều niềm an vui vì
em họ ngài, tôn giả Ànanda, nhận chức vụ phụ tá thường
trực kiêm thị giả (upatthàka) hầu cận riêng của ngài.
Bậc Ðạo Sư, lúc này năm mươi sáu tuổi, đã mỏi mệt vì
những thay đổi thường xuyên đám nhân sự hầu cận quanh ngài,
đặc biệt là giữa nhiều Tỳ-kheo và Sa-di đã phục vụ ngài
theo mỗi khả năng riêng biệt như chư vị Nàgasamàla, Nàgita,
Upavàna, Sunakkhatta, Cunda, Sàgata, Ràdha, và Meghiya..., mà không có
ai thực hành nhiệm vụ hoàn toàn cẩn trọng cả.
Khi ngài hỏi các Trưởng lão xem thử ai muốn đảm
trách phận sự này, chính tôn giả Ànanda đầy thiện ý sẵn sàng
cống hiến phần mình. Ðể tránh mọi điều nghi kỵ là tôn
giả đảm trách công việc này vì lợi ích cá nhân, tôn giả
Ànanda thỉnh cầu đức Phật đừng bao giờ ban cho tôn giả
thực phẩm hay y phục cúng dường ngài, bậc thượng thủ Tăng
chúng, cũng không đem tôn giả theo ngài khi được thỉnh mời
thọ trai, song phải thuyết giảng cho tôn giả nội dung các bài
kinh đức Phật đã giảng trong lúc vị này vắng mặt. Ðức
Phật đồng ý mọi điểm nêu trên.
Suốt hai mươi lăm năm, tôn giả Ànanda ở cạnh
bậc Ðạo Sư, trung thành tận tụy như hình với bóng (Thag
1039-45). Tôn giả chuẩn bị chỗ nằm nghỉ ban đêm cho ngài,
mang nước hầu ngài, rửa bình bát, bảo vệ cho ngài khỏi bị
đám người tò mò đột nhập quấy rầy, hoặc đưa những khách
quý vào trình diện ngài, và thông báo cho ngài các sự kiện
hằng ngày, cứ thế mãi cho đến khi bậc Ðạo Sư diệt độ
(483 trước CN), các công việc ấy không còn cần thiết nữa.