Chùa
Pháp Hoa xưa và nay(1)
Thích Viên Trí
Đạo Phật đã truyền vào
Việt Nam hơn 20 thế kỷ. Trong chuỗi dài lịch sử đó, đạo Phật đã hòa nhập
hẳn vào dòng sinh mệnh của dân tộc. Trong những đêm dài tối tăm bị nô lệ,
đô hộ bởi ngoại bang, bị thống trị bởi những thế lực phi nhân và phản dân
tộc, đạo Phật luôn luôn đứng về phía khối đại dân tộc, cùng chia ngọt sẻ
bùi, vinh quang và tủi nhục, đem tinh thần vô úy, đại hùng, đại lực, đại
từ bi đứng lên cứu nguy, mang lại an vui, niềm tin yêu và lẽ sống. Do đó,
đạo Phật đã ảnh hưởng sâu đậm đến phong tục, tập quán, truyền thống văn
hóa và đạo đức của dân tộc Việt Nam.
Mái chùa che
chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn
đời của tổ tông.
(Huyền
Không)
Hình ảnh mái chùa, tiếng
chuông chiều, lời kinh khuya sớm là hình ảnh thân thương, gần gũi, không
thể thiếu trong sinh hoạt của tuyệt đại đa số người Việt Nam,
Quê tôi có gió
bốn mùa,
Có trăng giữa
tháng, có chùa quanh năm...
Mai nầy tôi bỏ
quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió,
chao ôi bỏ chùa
(Nguyễn
Bính)
Sau biến cố 1975, một số
đông đảo người Việt đến định cư ở nước ngoài. Ngoài việc cần phải có một
chỗ để tu học, chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa ngoại cảnh mà lúc nào cũng
bị cuốn hút, tác động bởi cuộc sống vật chất xa hoa nhưng xem nhẹ tinh
thần nhân bản và giá trị đạo đức như cuộc sống tại các nước Tây phương
hiện tại, còn cần phải có một nơi để gìn giữ phong tục, tập quán của Tổ
tiên, duy trì đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc, việc phải có
một ngôi chùa cho những người Phật tử tại đây là nhu cầu khẩn cấp và cần
thiết. Chính vì vậy mà ngôi chùa Pháp Hoa được thành lập tại Nam Úc.
Chùa Pháp Hoa ban đầu
(1978) chỉ là một ngôi nhà nhỏ được “biến gia vi tự” tại số 83 Addison
Road khu Rosewater do sự khởi xướng của một số cư sĩ Phật Tử nhiệt tâm như
quý ông: Nguyễn Văn Tươi (Hội trưởng), Hoàng Văn Thìn, Bùi Văn Ba, Nguyễn
Văn Gấm, Nguyễn Thu Phong, Lương Hồng Sơn... quý bà Ngô Thị Kiểu và Bùi
Thị Ngân Bình....Ngôi chùa đã được thành lập, Phật tử ngày càng quy tụ về
đông thì cần phải có một vị Tăng làm trụ trì và hướng dẫn Phật tử tu học
hằng ngày cũng lại là một nhu cầu không thể thiếu nữa. Vì vậy, Hội đã bảo
lãnh lúc bấy giờ là Thượng tọa Thích Như Huệ(2) từ Nhật
Bản qua để hoằng Pháp tại đây qua sự giới thiệu của Đại đức Thích Như Điển
tại Tây Đức.Vì “cải gia vi tự”, nên ngôi chùa này quá chật
hẹp (chứa khoảng 30 người) so với nhu cầu tu học của đông đảo Phật tử tại
đây, nhất là trong các ngày lễ lớn có cả hàng trăm người tham dự.
Để đáp ứng nhu cầu Phật
sự ngày càng phát triển, Thượng tọa Thích Như Huệ đã triệu tập cuộc họp để
lấy ý kiến chung về việc mua đất xây chùa và được đa số Phật tử rất hoan
nghinh đồng thời cung thỉnh Thượng tọa làm trưởng ban kiến thiết. Sau một
thời gian tìm kiếm không lâu, giấc mơ ấy trở thành sự thật, Thượng tọa đã
mua một lô đất diện tích 5000m2 tại số 20 Butler Avenue khu Pennington,
nằm cách trung tâm thành phố Adelaide - thủ phủ của tiểu bang Nam Úc 10km
về hướng Tây Bắc để tạo lập nên ngôi chùa Pháp Hoa hôm nay.
Lễ đặt viên đá đầu tiên
xây dựng chùa vào ngày 19/03/1984 (tức ngày 17/02 năm Giáp Tý). Toàn bộ
đồ-án do chính Hòa Thượng phát họa và đề nghị vẽ kiểu. Sau 5 năm xây dựng,
chùa được khánh thành vào ngày 23/12/1989 (tức ngày 26/11 năm Kỷ Tỵ)
Kiến trúc ngôi chùa được
kết hợp giữa hai nền văn hóa Đông - Tây; rộng và thấp, mang ý nghĩa hội
nhập, trang trí các hoa văn uốn cong, mềm mại mang ý nghĩa truyền thống
văn hóa Việt Nam. Tổng thể cấu trúc ngôi chùa chia làm 5 phần: Cổng tam
quan, Chánh điện, Tổ đường, Pháp Xá và Đoàn quán Gia đình Phật tử.
1/ Cổng Tam quan:
cổng Tam quan hiện nay vừa mới được tái thiết vào đầu năm nay (2004). Cổng
này cao đẹp hơn nhiều so với cổng trước. Cổng được sơn màu vàng mang ý
nghĩa cao quý, sang trọng. Kiến trúc cổng có liên hệ trực tiếp đến lịch sử
thời kỳ Hội An Nam Phật học hội ra đời vào những thập niên ba mươi của thế
kỷ XX, và đấy cũng chính là hình ảnh rập khuôn cổng Tam quan của ngôi chùa
Pháp Bảo tại đô thị cổ Hội An, Quảng Nam, Việt Nam, nơi mà Hòa thượng
Thích Như Huệ đã trụ trì, gắn bó cuc đời của mình với việcphục vụ giáo hi,
đấu tranh cho đạo Pháp và dân tc trong thời gian tại Việt Nam.
Qua khỏi cổng Tam quan,
trước khi đến chánh Điện là một sân rộng, ở giữa có tượng đài Quan Âm lộ
thiên bằng đá hoa cương, nét mặt từ bi, diệu hiền đứng trên tòa sen cao5m7
(tính luôn cả chân đế), tay trái kiết ấn Vô Úy, tay phải cầm Tịnh bình.
Hai bên tam cấp bước lên chánh điện có hai con sư tử bằng đá cẩm thạch
trông rất oai vệ. Bên trái là ngôi miếu nhỏ thờ thập loại cô hồn, Bên
phải của tiền đình là bãi đậu xe.
2/Chánh điện:
Tượng, Pháp cụ, Pháp khí trong chánh điện hiện nay đã được thay đổi mới
gần như hoàn toàn sau lần Pháp nạn vào ngày 26/6/2003. Chánh điện chia làm
3 gian: gian giữa là Đại Hùng Bảo Điện. Từ ngoài nhìn vào ở giữa, trên cao
có treo một tấm hoành phi sơn son thiếp vàng viết 4 chữ theo lối đại tự: “Giác
Hoàng Thùy Phạm”, bên phải là tấm hoành phi mang chữ “Bát
Nhã Hoa Khai” và bên trái là tấm hoành phi mang chữ “Bồ Đề
Quả Thục”. Bên dưới là các tấm phù điêu mang hình tứ linh long,
lân, quy, phụng, cặp đèn Quang minh và hai bên có hai câu đối chữ Hán:
·
PHÁP THUYẾT BỒ ĐỀ HIỆN KHỞI CHƠN NHƯ THỊ TƯỚNG THỊ QUẢ
THỊ NHÂN HÀM THANH TỊNH.
·
HOA KHAI BÁT NHÃ THỔ XUẤT VI DIỆU HƯƠNG VI TƯỜNG VI THOẠI
BIẾN TRANG NGHIÊM.
Tạm dịch:
Pháp giảng (Đạo)
Bồ đề hiển bày tướng chân như, quả đó nhân đó đều thanh tịnh
Hoa nở (Lý) Bát
nhã tỏa rng hương vi diệu, lành này tốt này khắp trang nghiêm.
Phía đối diện của Bảo
Điện treo ba tấm hoành phi. Tấm ở giữa mang chữ “Từ Vân Vĩnh Hộ”,
tấm bên phải mang chữ “Pháp Vũ Huân Triêm”, tấm bên trái
mang chữ “Hải Chúng Đồng Vinh” và hai trụ cột giữa là treo
câu đối bằng tiếng Việt;
·
Đất úc châu gặp cơ duyên tia nắng từ quang lừng cửa Phật
·
Nước Việt Nam nhuần chân lý tấm lòng Phật Pháp tỏa năm
châu
(HT
Thích Như Huệ)
Chánh điện thiết 5 án thờ.
Án giữa thờ kim thân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng, mạ vàng, ngồi
kiết già trên tòa sen cao 3m8 (tính luôn đài sen và chân đế), bên trái thờ
tượng Đức Địa Tạng, và tượng Đức Già Lam, bên phải thờ tượng Quán Thế Âm
và tượng Đức Vi Đà Thiên Tướng.
Gian bên trái của chánh
điện để trống Bát Nhã và thờ di ảnh Hương linh, gian bên phải để Đại hồng
chung, kinh tụng hằng ngày và thờ các hủ tro cốt của người quá cố.
3/ Tổ đường và hậu
liêu: gồm 3 phần: Gian ở giữa là Tổ Đường, chính giữa tôn trí tôn
tượng Sơ Tổ Đông Đ Bồ Đề Đạt Ma. Bên dưới là nơi thờ long vị chư Tôn Túc
Tiền Bối hữu công, hai bên có hai câu đối:
Pháp bổn vô
pháp thị vi chân thật pháp
Hoa tợ không hoa
cố tri bất biến hoa
Bên phải Tổ
Đường treo một tấm liểng mang chữ:
Như Lai chánh
giác giác bị thế gian
Huệ nhựt thường
minh minh cùng lai tế
Bên trái là tấm
liểng mang bốn chữ: “Huệ Mạng Khả Kế”(3).
Gian bên phải gồm văn
phòng Ban Trị Sự, phòng khách, tịnh liêu Hòa thượng Phương Trượng, Tăng xá,
và hiện tại đang đặt văn phòng Hội Chủ GHPGVNTN/HN tại UĐL-TTL
4/ Pháp Xá:
Nối liền với hậu liêu là Pháp xá, Pháp xá là khu đa dụng được dùng khi
thuyết Pháp, thọ bát quan trai, hội họp, thọ trai..... gồm một hội trường
lớn chứa được khoảng 300 chỗ ngồi,một phòng ngủ tập thể nam, một phòng ngủ
tập thể nữ, một phòng dành riêng cho người bệnh, phòng cho khách vãng lai,
một nhà bếp lớn cho đại chúng và khu nhà vệ sinh tập thể.
5/ Đoàn quán:
Bên ngoài, phía sau Pháp xá, bên mặt là Đoàn Quán Gia Đình Phật Tử Pháp
Hoa, là nơi sinh hoạt của thanh thiếu niên, bên trái là kho lớn chứa vật
thường trụ.
Chùa Pháp Hoa, ngôi chùa
đầu tiên của người Việt tại tiểu bang South Australia có một đạo tràng lớn
không phải chỉ dành riêng cho người Việt mà cho cả người ngoại quốc tập
trung tu học, tìm hiểu đạo Phật và còn là một đóng góp lớn lao của người
Việt vào chính sách đa văn hóa của quốc gia Úc Đại Lợi. Trải qua hơn hai
mươi năm, ngôi chùa Pháp Hoa đã khẳng định được tầm vóc và uy tín của nó.
Có thể nói rằng, nơi đây chính là nơi kết tinh tinh thần văn hóa dân tộc
Việt Nam tại Nam Úc nói chung và Phật giáo tại đây nói riêng thông qua
những ngày lễ hội, Tết cổ truyền và những khóa tu học.
Hình ảnh ngôi chùa, mái
ngói cong, Đức Phật từ bi, tiếng chuông âm vang trầm bỗng, Chư Tăng, Ni,
Phật tử.....tập trung về tu học, sinh hoạt trao đổi lẫn nhau đã, đang và
sẽ mãi mãi tồn tại, phát triển theo thời gian. Vào cửa chùa, con người
không chỉ làm vơi đi những nỗi khổ đau phiền mun, mà còn để có cơ hội gợi
lại chút tình quê hương Việt Nam, góp phần vào đời sống văn hóa hiền lành
vào cuộc sống hiện tại.
Bị chú:
(1) Bài này được tóm lược
và bổ sung thêm từ bài Đạo hữu Tâm Lễ viết vào năm 2002.
(2) Hòa thượng Thích Như
Huệ tự Giải Trí, hiệu Trí Thông, thuộc đời Pháp thứ 41 dòng Lâm Tế chánh
tông và là thế hệ thứ 8 thuc môn phái Chúc Thánh. Hòa Thượng người làng
Cẩm Phô, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc còn ở Việt Nam, Hòa thượng đã
từng lãnh đạo giáo hội như: Chủ tịch ủy Ban Tranh Đấu Bảo Vệ Phật Giáo
tỉnh Quảng Nam (1963). Tuyên Úy Trưởng trong ngành Tuyên Úy Phật Giáo Quân
lực VNCH, Giảng sư Tổng hi Phật Giáo Trung Phần, sáng lập viên và giám đốc
trường Trung tiểu học Bồ Đề tại Hội An.......còn nhiều chức vụ quan trọng
khác.
(3)
Câu này của HT Thích Trí Giác, Trưởng Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh, trụ trì
chùa Tam Thai tại Đà Nẵng gởi chúc mừng TT Thích Như Huệ được suy tôn lên
Hòa thượng.
__________________
Phap
Hoa Temple
Summary Notes by Dr. Tran
My-Van, AM
Buddhism was introduced to
Vietnam in the first century. It has been alive since then, despite the
country’s ups and downs. Throughout this long period, Buddhism has been an
integral part of Vietnamese society. In times of hardship, suffering and
oppression by foreign rulers, the Buddhist religion has often stood by the
side of the people. In the spirit of compassion, tolerance and striving
for salvation, Buddhism has left its influence in the national traditions,
customs and culture of the Vietnamese. The image of the Buddhist temple
filled with Buddha statues, the sounds of evening bells and at times the
ringing of gongs, remains dear in the hearts of its followers. One is
reminded of the following stanza, by Nguyen Binh who expressed his
heartache when having to depart from his beloved pagoda, a familiar sight:
My country has four
seasons.
The moon only shines in
mid month; the pagoda stays open all year round.
Once I leave my country.
Leaving behind the moon
and the wind, but leaving the pagoda, I can’t.
1975 was a turning point
in the political and cultural history of the overseas Vietnamese. In the
wake of the take over of the South by Communist forces, a great number of
Vietnamese fled their country in search of freedom and a brighter future.
A few of them made their way to South Australia after having been accepted
as refugees by the government of Australia in 1977. This marked the
beginning of their journey to create a Buddhist temple in Adelaide.
The Phap Hoa Temple -
The first Vietnamese
Buddhist temple in South Australia, the Phap Hoa, which is situated on 20
Butler Avenue, Pennington had a very humble origin. It was all about
responding to the spiritual needs of Vietnamese migrants in SA. Thus the
idea of establishing a Buddhist worship house was fermented by a small
group of dedicated Vietnamese, mostly Buddhists, under the leadership of
Nguyen van Tuoi. In 1978 they turned a small house at No 83 Addison Road,
Rose Water, into their first ‘temple’, which soon attracted many
visitors. At their invitation and through the introduction of Venerable
Nhu Dien in Germany, Venerable Nhu Hue who at the time was living in Japan
accepted to come to South Australia to direct the temple.
The Rose Water temple
could only cater for 30 people at the most, whereby the number of
followers and visitors grew with time. This situation led to a further
search for a better and larger place to establish a permanent temple.
Venerable Nhu Hue undertook to consult many Buddhists about buying a piece
of land for the construction of a temple. Their response was more than
positive, as they also requested Venerable Nhu Hue lead the committee to
oversee the whole project. As the fortunes would have it, the Buddhists’
dream came true when Venerable Nhu Hue was able to purchase a 5000 square
metre of land at 20 Butler Avenue, Pennington only 10 kms from the city of
Adelaide. The money for this came mostly from donations.
A vast amount of work was
required to get the temple started. Venerable Nhu Hue was entrusted with
the architectural plans and work regarding the building of the temple.
The Foundation Stone
Laying Ceremony took place on 19 March 1984 in the presence of government
officials, representatives of Buddhist Order and Buddhist followers. It
took five years for the construction of the temple to be complete. On 23
December 1989, the Inauguration of the Phap Hoa temple took place.
In an effort to
encapsulate a blend between East and West traditions the overall structure
of Phap Hoa temple is divided into five parts:
The Three
Entrance Gate. This gate was only built this year (2004). It
is a replica of the gate of the Temple Phap Bao in Hoi An.
This
was the temple where, prior to his fleeing from Vietnam, Venerable Nhu Hue
had resided, led and dedicated his time to the Buddhist Order, and
teachings. The new gate for Phap Hoa Temple certainly enhances the
landscape of the surrounding, and is also a sweet reminder of Vietnam.
On the ground leading to
the main entrance to the temple there is the platform with statue
dedicated to Avalokitesvara Bodhisattva. There is also a little shrine on
the left dedicated to the Wandering Souls.
The Main Buddha
Hall. All the objects of worship, decorations, Bodhisattva and
Saint Statues are virtually new items. Sadly, an incident (26 June 2003)
caused by an insane man inflicted much destruction to its old items.
There are Five Altars in
the Main Hall. The middle is devoted to Lord Sakamuni Buddha. On his left
are for Ksitigarta Bodhisattva and the Temple Guard; On his right are for
Avalokitesvara Bodhisattva and Dharma Guardian.
Religious Hall
and Retreat Area. Part of the Religious Hall is dedicated to
the worship of. Bodhi Dharma the First Patriarch. The retreat area serves
as the abode of the Most Venerable Nhu Hue, and the Temple Office and
Secretariat, including Office of the President of the United Vietnamese
Australian Buddhist Congress of Australia and New Zealand
Hall of all
Activities. This large multi purpose place has a big kitchen
and a capacity to take up to 300 seats. This place also has separate
accommodation for men and women. There are rooms for the sick and
temporary accommodation.
Community
Hall.
Phap Hoa
Temple under the leadership of Most Venerable Nhu Hue has become not only
a place for worship, spiritual training and reflecting over Buddhist
teachings. It has also served the wider community as many non -
Vietnamese are visiting the temple in greater and greater numbers. The
temple has increasingly attracted many teachers and students in their
study of religion. It has also become an important part of the Australian
multicultural landscape and a significant place of worship for the South
Australian Vietnamese Community.
1 Hoi An , a
central town in Vietnam, which in the 16th century acted as
a thriving international port, where many nationalities shared the
town’s commercial success.
---o0o---
Trở về Trang Chùa Pháp Hoa
--- o0o ---
Cập nhật
ngày: 01-07-2004