Vài điểm ngộ nhận đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất qua bài
phát biểu của ông Lê Phụng trên báo Saigon Times ở Úc
Ghi chú
:
Cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền
Quang tại Hà Nội đầu tháng 4 năm nay gây chấn động trong dư luận quốc tế
cũng như trong Cộng đồng Người Việt hải ngoại. Vì vậy, Phòng Thông tin
Phật giáo Quốc tế đã giới thiệu một số nhận định quốc tế qua Thông cáo Báo
chí ngày 14.5.2003. Trong Cộng đồng hải ngoại nhiều bài báo viết lên sự
kiện ấy với nhiều quan điểm khác nhau. Người Phật tử Việt Nam rất trân
trọng đối với những bài viết này, vì được tiếp cận những ý kiến và nhận
định nói lên ngưỡng vọng của người Việt trước hiện tình của đất nước.
Chúng tôi nhận thấy có ba loạt nhận định về biến cố gặp gỡ nói trên : bất
ngờ, ưu tư và đánh phá. Nhận định bất ngờ vì biến cố lạ chưa từng xẩy đối
với một chế độ xưa nay chỉ sử dụng bạo lực và đàn áp. Nhận định ưu tư vì
từ biến cố kia tiên liệu những tiến trình mới thoát ly chế độ độc tài toàn
trị, và chuyển hóa thời cuộc bế tắc tại Việt Nam. Nhận định đánh phá, thì
đây là những cá nhân hay thế lực đen chuyên ném đá giấu tay trong bất cứ
hiện tượng nào xẩy ra từ nhiều chục năm qua, mà bản chất các bài viết ấy
chưa bao giờ là một nhận định có căn bản học, vì bản chất các bài viết này
thể hiện thứ chủ nghĩa hư vô. Chủ nghĩa hư vô tàn phá mọi sự, mọi người,
mọi lý tưởng, ngoại trừ tàn phá chính nó. Hai nhận định đầu, ít hay nhiều
đưa ra những phân tích, ý kiến, quan điểm cần được lưu tâm cho cuộc thảo
luận dân chủ. Tuy nhiên trong một số bài, do thiếu thông tin, mắc nhiều
ngộ nhận. Còn loại nhận định đánh phá thứ ba dùng để tranh cãi khi trà dư
tửu hậu, không đáng tranh luận.
Ngày 2.6 vừa qua,
ông Hữu Nguyên (Nguyễn Hữu Chi) trong tòa soạn báo Saigon Times ở Úc gửi
thư sang Paris cho ông Võ Văn Ái, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, lời
lẽ như sau :
"Kính thưa Ông,
"Trong thời gian
mấy chục năm qua, anh em chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ tinh thần đấu tranh
bất khuất vừa bảo vệ Ðạo vừa bảo vệ Ðời của quý vị lãnh đạo cũng như quý
Phật tử trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ðặc biệt trong đó có
vai trò quan trọng của Ông, bà Ỷ Lan cũng như quý Phòng Thông tin Phật
giáo Quốc tế.
"Chính vì tấm lòng
quý trọng đặc biệt đó nên tôi xin gửi đến Ông một vài suy nghĩ qua bài
Phỏng vấn Ông Lê Phụng do Saigon Times Úc châu thực hiện cách đây 2 tuần.
Rất mong Ông với tấm lòng bao dung và rộng lượng, sẽ có những đóng góp
giúp chúng tôi hiểu rõ hơn.
"Trân trọng kính
chúc Ông vui mạnh và gặp nhiều duyên may.
"Hữu Nguyên"
Dưới đây là thư
hồi đáp của ông Võ Văn Ái :
Paris, ngày
7.6.2003
Thưa Ông Hữu
Nguyên,
Xin cám ơn thư ông
gửi hôm 2.6 kèm theo bài phỏng vấn ông Lê Phụng đăng trên quý báo Saigon
Times ở Úc với lời đề xuất mong tôi "có những đóng góp giúp chúng tôi hiểu
rõ hơn".
Ðể khỏi phụ sự ân
cần cởi mở của ông, tôi xin đánh một số mốc tham khảo, phụ đính vào các ý
kiến ông Lê Phụng đưa ra. Chứ không là sự trả lời hay tranh luận. Ấy cũng
vì qua bài phỏng vấn, ông Lê Phụng chỉ nói lên quan niệm của ông ấy đối
với Cộng sản, rồi khuyên bảo Phật giáo phải cảnh giác. Trong sinh hoạt dân
chủ, chúng ta cần đọc, suy gẫm các ý kiến và quan điểm của ông Phụng. Qua
thư này, nếu tôi có thắc mắc một vài luận điểm nào của ông Phụng, thì cũng
chỉ là việc so chiếu giữa những điều ông Phụng giả định với thực tại đối
chứng mà ông Lê Phụng dùng để biện luận.
Tám mốc tham khảo
cùng các điểm ngộ nhận mà tôi muốn trình bày là :
1. GHPGVNTN không là sản phẩm chính trị
Nói đến Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất, phía cộng sản xem đây là một phong trào
Phật giáo ở miền Nam cũ thời Việt Nam Cộng hòa. Một số người không cộng
sản thì cho rằng Giáo hội này ra đời năm 1964. Hai cách nhìn ấy chưa chính
xác, nên dễ đưa tới những nhận định phiến diện hoặc ngộ nhận. Thực tế là
phải nhìn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong tổng thể lịch sử
2000 năm Phật giáo Việt Nam, vốn xuyên suốt qua thời gian và không gian
của một nền đạo lý thấm nhuần dân tộc. Yếu tố Phật giáo ngoại nhập từ các
thế kỷ bản lề đầu Tây lịch đã hòa quyện với nền tín ngưỡng bản địa làm nên
một đạo Phật đặc thù Việt Nam khi so chiếu với các nền Phật giáo tại các
nước láng giềng.
Ở đây chưa phải
lúc trình bày các sắc thái đặc thù ấy. Việc tôi muốn lưu ý là sự thống
nhất thành giáo hội của Phật giáo Việt Nam đã xuất hiện vào thế kỷ thứ X
Tây lịch, dưới thời Ðinh, khi chức Tăng Thống lần đầu tiên được phong
tặng. Ngày nay, bằng cứ vào ý chí truyền thừa nền Phật giáo dân tộc phát
huy mười thế kỷ trước, nhưng bị cuộc nội chiến kéo dài thời Trịnh Nguyễn
rồi tiếp đến Tây phương xâm lược khiến xã hội Việt Nam đảo điên và Phật
giáo cũng bị ảnh hưởng trầm chìm theo, cũng như y cứ vào luật pháp thời
cận đại, thì một tổ chức Phật giáo có tính pháp lý và thống nhất Bắc,
Trung, Nam đã ra đời tại Ðại hội Phật giáo toàn quốc tổ chức ở chùa Từ
Ðàm, Huế, năm 1951 với sự tham dự của 3 tập đoàn Tăng, Ni và 3 tập đoàn Cư
sĩ ba miền. Thời đó, đất nước chưa bị Hiệp định Genève chia cắt thành hai
chế độ Nam Bắc. Ðại hội ấy là cuộc tập hợp trí tuệ lớn lao nhất của những
bộ óc ưu tú Phật giáo, từ giới Sơn môn (Tăng, Ni) đến Cư sĩ, được đào
luyện qua phong trào Chấn hưng Phật giáo khởi phát vào những năm 20. Tổ
chức ra đời mang tên "Tổng hội Phật giáo Việt Nam", tiền thân của "Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất". Sở dĩ gọi tổng hội mà không gọi Giáo
hội là bởi Dụ số 10 dưới thời Pháp thuộc xem Phật giáo như một hội đoàn,
không công nhận tư cách giáo hội như trường hợp Giáo hội Công giáo. Sau
cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng thành công cuối năm 1963, Dụ này mới
bị hủy bỏ đối với Phật giáo vào tháng 5.1964. Từ đó và qua Ðại hội Phật
giáo tại thủ đô Saigon đầu năm 1964, danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất mới lấy lại tư cách công đồng tôn giáo của mình. Hiểu được tính
nhất quán lịch sử và tính thống nhất toàn quốc của Phật giáo Việt Nam như
thế, thì mới không vướng mắc các mưu toan thời sự, những thiên kiến nhất
thời hay cục bộ, khi nhận định về một tôn giáo có truyền thống lâu đời.
2. Tôn giáo và Chính quyền
Việc gặp gỡ giữa
Thủ tướng Phan Văn Khải và Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang tại Hà Nội
ngày 2.4.2003 được giới quan sát Tây phương đánh giá như một biến cố chính
trị lớn, do bản thân Hòa thượng bị quản chế suốt 21 năm qua và Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất do ngài lãnh đạo bị đàn áp khốc liệt. Kẻ đàn
áp bỗng dưng hội kiến công khai với kẻ bị đàn áp (tôi chỉ bàn về mặt biểu
tượng, không đề cập chuyện âm mưu). Ai không sửng sốt ngạc nhiên ?
Thế nhưng trong
thực tại Việt Nam, thì chuyện tiếp kiến giữa lãnh đạo chính trị với lãnh
đạo tôn giáo không lạ gì, vì là điều từng xẩy với Giáo hội Công giáo. Biết
bao lần Chủ tịch Nước, Thủ tướng hay Tổng Bí thư Ðảng tiếp Hội đồng Giám
mục là cơ quan tối cao của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Cao hơn nữa, biết
bao lần Tòa thánh Vatican gửi đại diện đến gặp lãnh đạo Cộng sản ở Hà Nội.
Cho nên, việc gặp gỡ trao đổi là chuyện bình thường trong xu thế thế giới
ngày nay. Vấn đề quan tâm là sau các cuộc tiếp xúc như thế tình trạng tự
do tôn giáo thăng tiến hay thụt lùi, và các đối tác phản ứng ra sao trước
hiện trạng. Do có liên hệ trực tiếp và thường xuyên với nhà cầm quyền Cộng
sản gần 30 năm qua, nhưng ít nghe ai đặt vấn đề hay nghi ngờ Hội đồng Giám
mục đi nước đôi hoặc bắt tay với Cộng sản. Chỉ mới gần đây, một số tín hữu
trách vì sao Hội đồng Giám mục hay Tòa thánh Vatican không công khai lên
tiếng bênh vực cho Linh mục Nguyễn Văn Lý khi ngài bị tuyên xử 15 năm tù
vì đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo ? Nhưng cũng chẳng có ai minh
chứng rằng trong các cuộc tiếp xúc kín đáo với nhà cầm quyền Cộng sản,
những vấn đề tế nhị này không được đặt ra bên cạnh những yêu sách khác
nhằm cởi trói cho Giáo hội Công giáo ? Thành ra vấn đề tế nhị còn trong
vòng tế nhị. Thư này không đủ thẩm quyền hay hiểu biết để đào sâu, mà chỉ
nêu các mặt hiện tượng.
3. Âm mưu và thực tại
Ai cũng hiểu lề
thói trong các nước cộng sản vốn nặng lễ nghi tuyên truyền. Tại Hoa lục,
Liên xô cũ, Ðông Âu cũ, Việt Nam... có cả một Vụ quốc tế chuyên tiếp rước
khách nước ngoài hay đối tác giai đoạn. Vụ này tổ chức đại yến, đưa đi xem
kịch nghệ, hướng dẫn tham quan lăng lãnh tụ, và các thắng cảnh... Nhất
nhất đều xuống chương trình tỉ mỉ để khoa trương lên báo chí nhằm tuyên
truyền quốc tế hay trong dân chúng.
Ðây chỉ là chuyện râu ria.
Chính yếu vẫn là nội dung trao đổi, bàn thảo trong cuộc gặp gỡ. Muốn đánh
giá đúng nội dung sự việc, thì nên đi vào sự việc chính yếu, thay vì lý
luận loanh quanh ở mặt râu ria. Mà nội dung sự việc trong chuyến ra Hà Nội
của Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, từ chữa bệnh đến gặp gỡ, đều
được phản ảnh trung thực trên các Thông cáo báo chí cấp thời do Phòng
Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành từ Paris.
Kể từ khi Ðại lão Hòa thượng
Thích Huyền Quang lâm trọng bệnh ở Quảng Ngãi vào giữa tháng 2.2003 cho
tới chuyến viếng thăm Saigon gần đây, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã
phát hành 24 thông cáo báo chí bằng 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Việt để cung
cấp tin tức diễn tiến cho thế giới và người Việt, song song với 8 cuộc vận
động hỗ trợ tại Quốc hội Âu châu, Quốc hội Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Những
thông cáo này là nguồn thông tin chính, mà giới quan sát, truyền thông và
báo chí Tây phương căn cứ để nhận định hay bình luận trong thời gian qua.
Các tin cung cấp ấy sở dĩ dồn dập, chi tiết và cập nhật, là nhờ đường dây
liên lạc trực tiếp và thường xuyên giữa Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền
Quang và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế. Kể cả sự kiện ba vị Tăng sĩ
tháp tùng Ðại lão Hòa thượng bị một số áp lực phải rời Hà Nội vào cuối
tháng 3, là do tin của Phòng chúng tôi loan tải. Chứ không như ông Lê
Phụng hiểu là do Tạp chí Giáo hội Châu Á, thuộc Giáo hội Công giáo ở Paris
cung cấp. Chính tạp chí này dẫn tin của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế.
Ðể hiểu chính xác các sự vụ,
cần theo dõi, phân tích những sự việc biến chuyển từng ngày, nhiều lúc bất
ngờ khó ai hiểu nỗi. Tuy đại thể vẫn phải đánh giá cao các áp lực quốc tế
là chìa khóa đổi thay thái độ của nhà cầm quyền Hà Nội. Ðại cương áp lực
ấy diễn ra qua 5 sự kiện :
-
thứ nhất là nhiều yêu sách áp lực tại các cuộc gặp gỡ thường kỳ về
vấn đề nhân quyền giữa Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu với Hà Nội ;
-
thứ hai là bản Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tố cáo
Hà Nội vi phạm nhân quyền và tôn giáo, công bố hôm 31.3.03 ;
-
thứ ba là bức thư ngày 17.3.03 của 31 Dân biểu Quốc hội Âu châu đại
biểu cho các chính đảng lớn gửi Hà Nội yêu sách trả tự do cho Nhị vị Hòa
thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ ;
-
thứ tư là bức thư đề ngày 3.4.03 của 37 Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ
đại biểu cho hai đảng Cộng hòa và Dân chủ gửi Hà Nội yêu sách trả tự do
cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ ; và
-
thứ năm là qua sự kiện hy hữu, khi thì ở bệnh viện khi thì tại một
ngôi chùa, các Ðại sứ quán Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu minh nhiên đến thăm
Hòa thượng Thích Huyền Quang, một nhà lãnh đạo tôn giáo còn ở tù, như một
xác tín vừa quan tâm vừa hậu thuẫn của thế giới.
Các áp lực này không phải tự
nhiên mà có. Nó là kết quả sau hàng chục năm vận động quốc tế của cơ sở
Quê Mẹ, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam và Phòng Thông tin Phật
giáo Quốc tế. Năm áp lực dồn dập trên đây xẩy ra trong thời gian Ðại lão
Hòa thượng Thích Huyền Quang chữa bệnh ở Hà Nội đã mở ra bước ngoặt mới
đưa tới những sự việc mà ai cũng biết. Những sự việc này không thể lý luận
đơn thuần kiểu "cộng sản âm mưu". Dù rằng cộng sản luôn âm mưu. Thực tế
chính trị từ cổ chí kim, có chính quyền nào không "âm mưu" (hiểu theo
nghĩa tốt hay nghĩa xấu, nghĩa phục vụ bè đảng hay nghĩa phục vụ nhân
quần) để bảo vệ quyền lực hay sự tồn tại chính trị của mình ? Nhưng âm mưu
nào rồi cũng bị ràng buộc vào tương quan thế giới, bắt âm mưu phải đổi
thay theo thời thế dưới ngọn cuồng lưu của áp lực quốc tế. Cho nên lý luận
theo điệu đổ tội "cộng sản âm mưu" chỉ giải thích được nửa vấn đề bên phía
đối phương ta chống đối. Song lại xem thường phía ta bênh vực.
Xem phía ta bênh
vực như một nạn nhân bị động, chẳng có sáng kiến hay động thủ gì hữu hiệu.
Hầu như phản ứng Pavlov ấy đã vĩnh viễn thành quán tính : đề cao chống
Cộng, nhưng mọi động thủ của người không Cộng sản đều bị đánh giá thấp,
xem như con cá dưới cần câu. Ðây chính là phản ứng theo dòng bị động, vừa
úy phục đối phương vừa tự khinh rẽ mình.
Sự kiện đổi thay
biến hiện vào hai ba tuần lễ cuối tháng 3 sang đầu tháng 4 ấy chứng minh
cho hiệu năng của áp lực quốc tế tôi trình bày trên đây. Có sự kiện 3 Tăng
sĩ Phật giáo bị áp lực rời Hà Nội, có sự kiện Hòa thượng Thích Huyền Quang
muốn về Quảng Ngãi nhưng nhà ga không bán vé, mà nhiều người ngầm hiểu như
mưu toan cưỡng ép quản chế Hòa thượng tại Hà Nội. Tuy nhiên, từ các sự
kiện bế tắc này, cần theo dõi những diễn biến tiếp theo của chúng. Ba vị
Tăng sĩ tự nguyện rời Hà Nội xuôi Nam, chứ các vị không bị dẫn độ. Họ có
thể ở lại Hà Nội nếu họ muốn, dù áp lực khủng khiếp đến đâu. Bởi vì họ có
vũ khí chiến đấu của họ, chẳng hạn như tuyệt thực để đánh động dư luận thế
giới, nếu quả thực vị lãnh đạo của họ bị lâm nguy, bị uy hiếp, hoặc họ
quyết tâm bảo vệ Giáo hội của họ.
Nhìn tinh một chút
là hiểu, chẳng cần phải giả thuyết này kia kia nọ. Hòa thượng Thích Huyền
Quang vừa nhập viện ở Hà Nội, là ông Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Mặt trận Tổ
quốc, đến vấn an ngay. Lần gặp này cũng như lần mời gặp thứ hai tại trụ sở
Mặt trận, Hòa thượng Thích Huyền Quang luôn chất vấn hai sự kiện. Một là
vì sao giam giữ không lý do, không xét xử bản thân Hòa thượng cũng như Hòa
thượng Thích Quảng Ðộ ? Hai là vì sao đàn áp quy mô và không cho Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất sinh hoạt tôn giáo ? Mặt trận không giải đáp
cũng như không quyền hạn giải quyết vấn đề, nên Hòa thượng Thích Huyền
Quang yêu sách gặp cơ quan chính quyền cao nhất để xử lý một vấn đề tồn
đọng gần ba mươi năm. Từ yêu sách đề ra đến cuộc gặp gỡ ông Phan Văn Khải,
nhà cầm quyền Hà Nội trải qua một thời khoảng lúng túng. Sự lúng túng biểu
lộ bằng áp lực chống đối Phái đoàn Phật giáo. Ba vị Tăng sĩ rời Hà Nội vì
cuộc đối thoại với một cơ quan công cụ là Mặt trận Tổ quốc chẳng đi đến
đâu.
Thế nhưng trong
khi ấy, áp lực quốc tế tiếp tục gia tăng, tất cả thế giới chú mục vào Hòa
thượng Thích Huyền Quang ở Hà Nội, nhờ các bản tin của Phòng Thông tin
Phật giáo Quốc tế không ngừng báo động. Và thế là cuộc hội kiến đột ngột
với Thủ tướng Phan Văn Khải được Hà Nội tổ chức nhằm xoa dịu dư luận quốc
tế đang hậu thuẫn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ông Lê Phụng chỉ
mới thấy khía cạnh "âm mưu" của cộng sản, nhưng ông chưa nhận ra tính chất
bị động của Hà Nội trước sức ép quốc tế đang cường tập.
4. Một giả định phi thực tại
Do quá ưu tư cho
công cuộc đấu tranh, hoặc do định kiến nào đó, ông Lê Phụng cũng như một
vài ý kiến đây đó trong Cộng đồng đã đơn giản hóa tiến trình giải trừ Pháp
nạn của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
vào một giả định theo mô thức dễ dãi nhưng tùy tiện : "Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chuẩn bị sáp nhật vào Giáo hội Phật giáo
Việt Nam"
(còn
gọi là Giáo hội Phật giáo quốc doanh hay Giáo hội Phật giáo Nhà nước do
Ðảng cộng sản đưa ra làm công cụ cho Ðảng năm 1981).
Giả định này bất chấp một thực tế kéo dài ba thập kỷ. Ðó là hàng Giáo phẩm
Phật giáo bị tù đày, quản chế sau năm 1975, điển hình là Ðại lão Hòa
thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, cũng như
Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất bị cấm chỉ hoạt động, nguyên do vì không chịu tham
gia, không công nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Ðảng Cộng sản thiết
lập năm 1981. Lập trường bất biến của các ngài là đòi hỏi phục hồi quyền
sinh hoạt và pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ðây là
vấn đề trung tâm và căn bản. Dù giả định rằng có chuyện sáp nhập giữa hệ
phái này với hệ phái kia, chấn chỉnh nội bộ theo công thức này công thức
nọ, thì cũng phải hiểu rằng các việc ấy là chuyện nội bộ của Phật giáo. Và
chuyện nội bộ này phải do chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử hoạch định, thông
qua Ðại hội Phật giáo toàn quốc, mà không thể có sự xen lấn của chính trị
hay nhà đương quyền. Tôi đã giải thích điều quan yếu này qua cuộc phỏng
vấn gần đây của đài BBC.
Nếu hiểu rõ danh
xưng và tiến trình lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất như
tôi trình bày ở điều Một trên đây, thì sẽ không đơn giản hóa vấn đề Phật
giáo một cách dễ dãi và tùy tiện như thế. Hẳn nhiên đã có những nỗ lực
giải thích hay vận động của cá nhân này cá nhân kia cho tiến trình "sáp
nhập" nói trên. Song nỗ lực ấy chỉ có tính cách cá nhân, cục bộ, một
chiều, dù nhìn dưới góc độ tự phát hay do âm mưu của Ðảng cộng sản. Tuyệt
đối không là chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng
như của toàn khối Phật giáo đồ thầm lặng ở trong nước.
5. Một giả định dựng trên không tưởng
Ða số các ý kiến
ông Lê Phụng đưa ra qua bài phỏng vấn đều căn cứ vào sự giả định theo luận
điểm của ông, hơn là nhận thức rút từ thực tại của sự việc. Ðiều nguy hiểm
là khi giả định ấy được trình bày theo thể phán quyết, thì nguy cơ thấy rõ
là gieo rắc hoang mang, ngộ nhận trong lòng người đọc, khi người đọc này
không nắm đủ các dữ kiện thông tin để đoán định.
Xin đơn cử vài ví
dụ. Chẳng hạn ông Phụng phát biểu : "Tuy
hiện tại, chúng tôi chưa biết rõ nội dung trò chuyện của 3 buổi gặp gỡ
giữa hai vị Hòa thượng"
(tức Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ, người viết chú). Thế
nhưng dù "chưa biết rõ nội dung", ông Phụng vẫn đoan quyết sau hai
chữ "có lẽ" : "Và có lẽ, trong 2 lần gặp trước, HT Thích Huyền Quang đã
gặp khó khăn trong việc thuyết phục HT Thích Quảng Ðộ". Ðoan quyết như
thế là đưa ra một thông tin sai lạc, khi tự thân ông Phụng "chưa biết rõ
nội dung". Dù với thành tâm nào, dù vô tình hay cố ý, một thông tin
"có sự bất đồng
quan điểm giữa hai Hòa thượng" mà trong thực tế chẳng ai thấy, sẽ bị hiểu
như ý đồ gây ly gián.
Thực tế dễ hiểu
hơn nhiều. Cơ cấu tổ chức của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất gồm hai Viện Tăng Thống và Viện Hóa
Ðạo. Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang lãnh đạo Viện Tăng Thống, Hòa
thượng Thích Quảng Ðộ lãnh đạo Viện Hóa Ðạo. Việc bàn thảo Phật sự và
thông tin qua lại giữa hai Viện là điều phối hợp thường xuyên trong nội bộ
một giáo hội. Có gì phải thuyết phục nhau ? Chẳng nên nhìn sự việc như kẻ
trong đêm khuya lầm tưởng sợi dây là con rắn.
Sau cuộc hội kiến
với giới chức cao cấp ở Hà Nội, Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang tuyên
bố với nhà đương quyền ý định vào Saigon gặp Hòa thượng Thích Quảng Ðộ. Ðể
chứng tỏ có khai mào đối thoại với Phật giáo trên công luận, hẳn nhiên
luật chơi bắt Hà Nội phải để cho hai Hòa thượng gặp nhau. Lại nữa, tại các
cuộc gặp gỡ dù với nhà cầm quyền Hà Nội hay các nhà ngoại giao Hoa Kỳ,
Liên hiệp Âu châu, Hòa thượng Thích Huyền Quang luôn nhắc đến trường hợp
quản chế bất hợp pháp Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo.
Thế thì, không thể nào hiểu khác hơn về ba lần gặp gỡ giữa hai nhà lãnh
đạo Phật giáo là để chia sẻ thông tin về những diễn biến của tình hình
mới, mà người bị quản chế khắt khe tại Thanh Minh Thiền viện không có điều
kiện theo dõi, ngoài các thông báo của Hòa thượng Xử lý Thường vụ Viện
Tăng Thống. Một vấn đề đơn giản, song giả định không khớp với thực tại có
thể gây hoang mang dư luận.
Một giả định khác
khi ông Lê Phụng phát biểu : "Tôi e ngại, có thể Hoa Kỳ cũng đang bắt
tay với Cộng sản, để tìm cách thuyết phục HT Thích Huyền Quang và các vị
lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chấp thuận giải pháp "sát
nhập 2 Giáo hội" do Cộng sản vạch ra (phải viết sáp nhập mới đúng,
người viết chú). Bằng không, thử hỏi lý do gì, những lời trao đổi giữa
môt bà tổng lãnh sự Mỹ với HT Thích Huyền Quang lại không được công bố ?
Và như vậy ta có thể kết luận, những chuyến viếng thăm HT Thích Huyền
Quang của đại sứ và lãnh sự Mỹ trong thời gian gần đây đã không còn thuần
túy là thăm viếng xã giao, mà có mưu đồ chính trị...".
Có thể ông Phụng
quên những quy tắc ngoại giao đã hiện hữu từ nghìn xưa. Quy tắc ấy, là
không bao giờ các nhà ngoại giao tiết lộ nội dung các cuộc tiếp xúc riêng,
hay các cuộc đàm phán chưa ngã ngũ. Chỉ khi nào hai bên đúc kết thành hiệp
ước, thì văn bản mới được công bố. Chuyện chưa xa mấy, là các cuộc tiếp
xúc giữa ông Kissinger với giới lãnh đạo Bắc Kinh trước khi có Hiệp ước
Thượng Hải, hay các cuộc gặp gỡ tại Paris giữa hai ông Kissinger và Lê Ðức
Thọ trước khi Hiệp định Paris ký kết, có bao giờ được công bố thời ấy đâu.
Quy tắc ngoại giao nó là thế, dù trong thế giới cộng sản hay trong thế
giới tự do.
Ngày nay, Hoa Kỳ
là siêu cường duy nhất trên thế giới, họ có viễn kiến chính trị ở cấp hành
tinh, chứ không riêng gì ở năm châu trái đất. Hoa Kỳ đâu phải chư hầu của
Hà Nội để nhận chỉ thị làm công tác "thuyết phục HT Thích Huyền
Quang..." như ông Phụng nghĩ.
Ông Phụng có định
kiến hay suy xét vội vàng ? Ðiều chắc chắn là kết luận của ông không rút
ra từ thực tế và thực tại của nền chính trị Việt Nam và thế giới. Huống
chi, nội dung chính yếu, dù đại cương, các cuộc gặp gỡ giữa Ðại lão Hòa
thượng Thích Huyền Quang và ông Ðại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội và bà Tổng Lãnh sự
tại Saigon, đều được Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế nêu rõ qua các bản
thông cáo báo chí.
Hay là lời nói của
người Việt chưa được ông Phụng tin bằng lời nói của người ngoại quốc ?
Ðiều đáng buồn là
đa số người Việt tuy khẩu phục và đề cao Bốn Ngàn Năm Văn Hiến, song lòng
họ vẫn chưa tâm phục hay tin tưởng vào người cùng nòi giống trên mọi lĩnh
vực. Những gì người Việt làm được thường biến thành đề tài chế giễu, ganh
tị, hơn là được tán đồng, tiếp tay và hậu thuẫn. Ở điểm này, chúng ta thua
người Hoa, người Nhật. Nó chứng tỏ đang có một cuộc khủng hoảng tâm thức
và văn hóa trầm trọng trong cộng đồng dân tộc. Cho nên cuộc phân công hợp
tác chưa thành.
6. Thóat ly não trạng bị động
Riêng các lời khen
hay chê của ông Lê Phụng đối với cá nhân tôi, tôi xin cám ơn. Mục đích thư
này không nhằm tán thưởng hay phản bác những khen chê. Hơn lúc nào hết,
chúng ta cần lắng nghe ý kiến của nhau như một tiến trình thực hiện dân
chủ. Chúng ta tranh luận chứ không tranh cãi. Chê đúng thì sửa. Khen sai
thì cảnh giác. Tuy nhiên, khi có chỗ ngộ nhận, thì phải phát biểu để mở
đầu đối thoại. Sau đây là mấy điều ông Lê Phụng ngộ nhận khi trích dẫn các
câu tôi viết :
Nguyên trong Thông
cáo báo chí ngày 14.5.2003, để người Việt có thêm dữ kiện chúng tôi dịch
một số dư luận quốc tế bàn về cuộc gặp gỡ ở Hà Nội giữa Thủ tướng Phan Văn
Khải và Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo. Gồm có bài bình luận đăng trên nhật
báo Le Monde ở Paris ngày 19.4, Thông cáo báo chí của tổ chức Ân xá Quốc
tế ngày 10.4, Tạp chí Giáo hội Á châu của Giáo hội Công giáo số ra ngày
16.4, cuộc phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer trên Ðài phát thanh Úc ngày 20.4,
và bài viết trong nước của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang. Kèm theo là bài tôi
nhận định và giới thiệu ngắn về biến cố mới cùng các tài liệu nói trên.
Những ý kiến bất đồng của ông Phụng đối với tôi rút từ bài này. Như đã
nói, ở đây tôi chỉ nêu các điểm ông Phụng ngộ nhận mà thôi.
Ông Phụng phát
biểu : " GS Ái cho rằng cộng đồng người Việt hải ngoại cần xét lại não
trạng ù lì theo phản ứng bị động...". Lập lại như thế là không trung
thực với lời tôi viết. Tôi không hề võ đoán gán cho toàn thể cộng đồng
mang não trạng ù lì theo phản ứng bị động. Câu tôi viết như thế này : "Trong
phạm vi cộng đồng hải ngoại, cần xét lại não trạng ù lì theo phản ứng bị
động...",
nghĩa là khi bàn
tới cộng đồng ta đang sinh hoạt ở hải ngoại, thì "cần xét lại não trạng ù
lì theo phản ứng bị động" của một số người. Trong văn ngữ của tôi không có
chuyện toàn thể cộng đồng mang não trạng ấy. Ông Phụng trích dẫn tôi nhưng
vô tình ông biến tướng ý nghĩa vì ham lo tăng cường cho lý luận riêng biệt
của ông nên mắc phải ngộ nhận.
Một ngộ nhận
khác cũng do trích dẫn tôi nhưng biến tướng ý nghĩa để tăng cường cho lý
luận riêng biệt của ông khi ông phát ngôn : "Tôi
cũng không đồng ý với GS Ái khi ông viết là chúng ta "chẳng có kế hoạch
hay phương thức gì hữu hiệu để nhân quyền hóa chế độ, dân chủ hóa xã hội
Việt Nam. Một số phát biểu của chúng ta chỉ tràn trề nằm đọng mỗi sáng
trên Internet như những lời nói suông, tuy cực kỳ phẫn nộ và quyết liệt".
Ông
Phụng dùng chữ "chúng ta" để ám chỉ toàn thể cộng đồng, cốt gán cho tôi
lời tố cáo võ đoán là cộng đồng hải ngoại chẳng có kế hoạch hay phương
thức gì hữu hiệu để nhân quyền hóa chế độ, dân chủ hóa xã hội Việt Nam !
Tôi không hề có ý kiến, định kiến hay thành kiến như thế bao giờ. Câu tôi
viết như thế này : "Theo
dòng phản ứng ấy (tức dòng phản ứng bị động theo não trạng ù lì), vô hình
trung chúng ta "bằng lòng" để yên cho Cộng sản tiếp tục giam nhốt một Cao
Tăng nơi xó góc Quảng Ngãi, vô hình trung "nghĩ rằng" nếu Hòa thượng còn
bị giam nhốt thì ta càng có cớ, còn mạnh miệng tố cáo Cộng sản vi phạm
nhân quyền ?! Nhưng lại chẳng có kế hoạch hay phương thức gì hữu hiệu để
nhân quyền hóa chế độ, dân chủ hóa xã hội Việt Nam. Một số phát biểu của
chúng ta chỉ tràn trề nằm đọng mỗi sáng trên Internet như những lời nói
suông, tuy cực kỳ phẫn nộ và quyết liệt".
Câu viết chỉ
nhắm vào những ai theo dòng phản ứng bị động của một não trạng ù lì, mà
trong thực tế có một thiểu số người chống đối việc Hòa thượng Thích Huyền
Quang gặp gỡ giới chức cộng sản. Tôi phê bình lối suy nghĩ cục bộ của
thiểu số người này, vì họ chỉ bông lơn suông nhưng chẳng có kế hoạch hay
phương thức gì hữu hiệu để nhân quyền hóa chế độ, dân chủ hóa xã hội Việt
Nam.
Giết nhau tàn
khốc, chiến tranh nhau dữ dội như Pháp và Việt Minh, Hoa Kỳ và Hà Nội, rồi
cũng kết thúc trên bàn hội nghị. Xưa nay lịch sử thế giới đều tái diễn sơ
đồ ấy, khi bên này không đủ sức tiêu diệt toàn bộ bên kia.
Với ý đồ nào
chăng nữa, nhưng khi giới nắm quyền sinh sát trong tay là nhà cầm quyền Hà
Nội chấp nhận thương thảo là bắt đầu một tiến trình thay đổi, nhượng bộ.
Nhượng bộ để làm gì, lại là chuyện khác. Âm mưu là chuyện thông thường của
phe có quyền bính. Mưu lược cũng lại là chuyện đương nhiên bên phe đối
tác. Chẳng có gì mới lạ dưới vòm trời. Hơn nhau chăng là ở quyền biến, ở
tính chính nghĩa, ở khả lực chuyển hóa thời cơ. Nếu ta khôn khéo biết
không hóa cái hiện hữu của đối phương như tổ tiên ta đã thực
chứng qua trường kỳ lịch sử, thì đối phương mới quy phục trước thực hữu
của ta. Các vua và anh hùng thời Ðinh, Lê, Lý, Trần, rồi Lê Lợi và Nguyễn
Trãi đều sử dụng kế sách ấy trong những hoàn cảnh đất nước bị treo lơ lửng
trên sợi tơ.
Ông Phụng có
thói quen bình phương "một bộ phận" thành "toàn thể cộng đồng", biến "một
số người" thành "chúng ta" trong nghĩa mọi người, để dễ bề áp đảo những
luận chứng ông không ưa. Ví như ông biến câu viết của tôi :
"Một
số phát biểu của chúng ta chỉ tràn trề nằm đọng mỗi sáng trên
Internet...",
thành câu viết của ông : "Theo
tôi, những lời phát biểu phẫn nộ và quyết liệt của chúng ta tràn trề trên
Internet".
Dù rằng ông công
nhận ý kiến của tôi khi viết tiếp : "có "nằm đọng như những lời nói
suông" hay không cũng còn tùy người nói là ai và người đọc là ai".
Người nói, Người đọc là ai ? Người nói hay người đọc thuộc
"não trạng ù lì
theo phản ứng bị động", hay thuộc một Cộng đồng đấu tranh có kế hoạch và
chiến lược ? Lập luận các câu viết của tôi không ra ngoài ý mà ông Phụng
thừa nhận, thế nhưng vẫn bị ông chỉ trích.
Thiển kiến tôi là
nên dè dặt khi sử dụng chữ "chúng ta" theo điệu "nhân dân" của cộng sản.
Có quyền bính trong tay, điệu thức "chúng ta" hay "nhân dân" như thế chỉ
đưa tới việc giết người vô tội. Và khi chưa có quyền lực thì vu oan giá
họa.
Ông Lê Phụng vô
hiệu hóa ngữ nghĩa của tôi như thế này : "GS
Ái viết : "Cho nên vấn đề không là "Cộng sản đang âm mưu gì, gian trá như
thế nào ?, mà là ta làm gì thích ứng để vô hiệu hóa mọi âm mưu ?" Ðọc đến
đây tôi ngạc nhiên thấy, nếu chúng ta không chịu tìm hiểu CS âm mưu gì,
gian trá như thế nào thì làm sao ta có thể biết cách "làm gì thích ứng để
vô hiệu hóa mọi âm mưu" của chúng ?".
Xin ông Lê Phụng
chịu khó đọc lại câu tôi viết lần hai, ắt ông sẽ đồng tình với tôi ngay.
Một kẻ biết thích ứng để vô hiệu hóa mọi âm mưu, hẳn nhiên kẻ ấy phải biết
như hai lần hai là bốn về nguyên ủy, mục tiêu cùng hoạt động của âm mưu ấy
chứ ? Nếu không thì vô hiệu hóa cái gì ? Ðương nhiên khi viết câu ấy, tôi
chủ tâm hướng tới một số người, không lớn lắm đâu, đã từ gần 30 năm nay
không ngớt ngồi "tìm hiểu" Cộng sản âm mưu gì, gian trá như thế nào, hay
rõ hơn là chỉ tố cáo suông Cộng sản gian trá, Cộng sản âm mưu, mà chẳng có
hành động hay kế hoạch gì vô hiệu hóa âm mưu của Cộng sản. Vì mãi mãi họ
còn nằm trong thời kỳ "tìm hiểu", chứ chưa bước qua giai đoạn "hiểu rồi"
để xăn tay hành động. Dù họ chỉ là thiểu số, lại là thiểu số tụ thủ bàng
quan, nhưng họ cũng là một hiện tượng chính trị. Cho nên, người dân chủ
chúng ta không thể bỏ qua để không tranh luận ý kiến.
7. Ðối sách mới giải quyết hiện trạng
Báo Saigon Times
đặt câu hỏi : "Trong bản Thông Cáo Báo Chí, GS Võ Văn Ái viết : "Cuộc
gặp gỡ Phan Văn Khải - Thích Huyền Quang ở Hà Nội điển hình cho sự thoái
trào của chế độ độc tài toàn trị trước cao trào Dân chủ thế giới. Nếu
người Việt hải ngoại nhắm tiếp viện cho tiến trình dân chủ này, thì phải
tốc quyết khai lộ bằng Ðối sách mới, vừa thù ứng vừa hữu hiệu, làm yếu tố
trọng đại để chuyển động và chuyển hóa thời cơ cho quê hương Việt Nam."
Ông nghĩ sao về nhận định này ?"
Ông Lê Phụng đáp
như một lời trách rằng : "Ðọc đoạn GS Ái viết, quả tình, tôi không hiểu
người Việt hải ngoại phải làm thế nào để "tốc quyết khai lộ bằng Ðối sách
mới, vừa thù ứng vừa hữu hiệu"? Ngạc nhiên hơn nữa là tôi cũng không hề
thấy GS Ái vạch ra nội dung của Ðối sách mới là như thế nào?".
Lời trách này tôi
xin nhận.
Xin ông Phụng hiểu
cho rằng, tài cách mấy, chẳng ai có thể khai triển một Ðối sách mới
trong một bài có tính nhận định và giới thiệu các dư luận quốc tế mà Phòng
thông tin Phật giáo Quốc tế thực hiện qua bản thông cáo báo chí ngày
14.5.2003. Huống chi những điều đề cập thuần túy gióng lên một vấn nạn,
bộc lộ một ưu tư, đưa ra một nhận định để mong cầu các nhân sĩ, những vị
thiện tri thức cùng nhau suy tư hầu tìm ra một giải pháp mới trước một
biến động mới.
Tuy nhiên nói cho
cùng kỳ lý, thì bản thân bài nhận định và giới thiệu ngắn ngủi ấy, tự nó
cũng có thể tìm ra dư ý của Ðối sách mới như một thứ huyền ngoại
chi âm (âm thanh ngoài dây đàn), nếu muốn. Ðó là, trước Quốc nạn ngày nay,
đại cương đang có 2 lối suy nghĩ mà tôi trình bày trong bài viết : "Gần
ba mươi năm qua, hai luận điểm thường xuyên cất lên, trước bất cứ biến
động nào, đã không còn thù ứng với xu thế thế giới ngày nay. Một luận điểm
cho rằng, Cộng sản đang âm mưu, đang gian trá, đang giăng bẫy để khuất
phục Phật giáo Việt Nam
(hàm ý ta không
nên chơi với qủy, còn giải quyết ra sao thì không lý tới) ? Luận điểm
khác thì lại chủ trương, Ðảng và Nhà nước đã thay đổi chính sách tôn giáo,
ta nên đáp ứng mà cộng tác". Ðương nhiên tôi không hỗ trợ hai luận
điểm lỗi thời này. Vì vậy mới nhận định là phải thoát ly hai cung cách thô
thiển và bất lực ấy, phải thay đổi cách nhìn, cách hành động, nghĩa là
phải có một Ðối sách mới trước tình hình Việt Nam vào năm 2003, mà
cũng là trước xu thế ngày nay của thế giới.
Ðối sách mới ấy
rõ rành như thế nào, cần có sự đóng góp suy nghĩ, nghiên cứu, kết thành và
thực hiện của một cộng đồng trí tuệ, mà một bài giới thiệu ngắn chưa thể
khai triển. Tuy đại quan, tôi thấy hướng khai lộ của một Ðối sách mới
phải dựa trên chủ lực Việt Nam và viện lực quốc tế, mà tôi nhấn mạnh qua
câu : "Ðối sách mới dựa trên cơ sở truyền thống dân tộc song hành với
tương quan lực lượng của thế giới". Ðối sách chỉ mới và chỉ hữu hiệu
khi giải quyết được từng nan đề một, trong vô số nan đề biến hiện trước
mắt đòi hỏi những anh hùng tạo thời thế giải quyết. Hiểu cách ấy, thì
Ðối sách mới là một Thời thức giải quyết từng nan đề, chứ không
là một ý thức hệ tuy đồ sộ nhưng đã bị đóng khung và cách ly với
thực tiễn.
Vậy trong khi
chờ đợi Cộng đồng trí tuệ của dân tộc hình thành Ðối sách mới chi li như
một kế hoạch hay chương trình chính trị, tôi có thể xác định vị trí của
Ðối sách mới đứng ngoài hai luận điểm dẫn thượng (tố cáo suông hay bó thân
về với triều đình).
8. Hòa hợp hòa giải và Tổng thống Ngô Ðình Diệm
Cũng trong chiều
hướng giải thích những biến động lịch sử theo giả định hoặc cảm quan riêng
của mình, có vài khẳng định của ông Lê Phụng cần xét lại theo thực tại
Việt Nam. Ví dụ ông Phụng khẳng định : "Kinh
nghiệm đấu tranh với Cộng sản suốt nửa thế kỷ qua tại Việt Nam đã cho
chúng ta thấy bất cứ khi nào người quốc gia, hay các đảng phái chính trị,
các thế lực tôn giáo, chấp nhận hòa hợp hòa giải với Cộng sản trong tình
dân tộc là không sớm thì muộn, Cộng sản sẽ tiêu diệt họ".
Theo chỗ tôi biết,
thì hòa
hợp hòa giải là lá bài chính trị do Hà Nội tung ra vào cuối thập niên 60,
khi Bắc Việt gặp khó trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị ở Paris.
Chủ trương hòa hợp hòa giải của cộng sản nhắm trấn áp và tiêu diệt các thế
lực khác họ. Mục tiêu hòa hợp hòa giải của cộng sản nhắm đề cao con bài
chủ của Hà Nội lúc bấy giờ là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trên
mặt chiến lược, đồng thời nhắm thu hút giới tả khuynh và đối lập không
cộng sản ở miền Nam trên mặt chiến thuật.
Thiển kiến tôi
là "Người quốc gia hay các đảng phái chính trị, các thế lực tôn giáo",
mà ông Phụng dẫn cử, chưa bao giờ ý thức đến hòa hợp hòa giải như một tình
tự dân tộc hay một thủ thuật chính trị, thì làm sao xẩy ra chuyện ông
Phụng kết luận "kinh nghiệm cho thấy" : "bất cứ khi nào (...) chấp nhận
hòa hợp hòa giải với Cộng sản... là không sớm thì muộn, Cộng sản sẽ tiêu
diệt họ" ? Nói rõ hơn, là người quốc gia không có kinh nghiệm đó, vì
họ không hề chủ trương điều này. Thành ra sự giả định của ông Phụng không
xây dựng trên bằng chứng chính trị hay lịch sử. Do đó ông chẳng cần phải
thuyết phục dài dòng về vấn đề hòa hợp hòa giải, là một âm mưu chính trị
giai đoạn của Cộng sản.
Không phải vì
"người quốc gia chấp nhận hòa hợp hòa giải với Cộng sản" nên bị Cộng
sản tiêu diệt suốt hành trình chiến đấu từ 1945 đến 1975 như ông Phụng
nói. Người quốc gia thua trận là vì chia rẽ do nạn bè phái, và vì chủ
trương chống cộng theo phương cách "phải giết tới người cộng sản cuối
cùng". Chuyện chia rẽ giữa các đảng phái quốc gia với nhau kể từ năm 1945
không còn là một bí mật. Lối châm biếm của một số người khi diễu rằng ba
người Việt ngồi với nhau là sinh ra năm đảng, chẳng xa với sự thực là bao.
Nhiều vị lãnh tụ các đảng phái quốc gia chân chính cũng đã viết rõ điều
này trong nhiều cuốn hồi ký mà họ là nhân chứng sống.
Mặt khác, điều
đáng tiếc là nếu người quốc gia sớm ý thức để đi bước trước người cộng
sản, chủ động đề cao tình tự dân tộc, dùng hòa hợp hòa giải như một nội
dung hay bản chất chính trị, một phương thức tâm công, có thể người quốc
gia đã chiếm thế thượng phong. Cùng một chiêu thức, song tùy mục tiêu, tùy
tâm can người thực hành, mà công dụng khác đi. Nếu người quốc gia chủ
trương như thế, tất phải gia công diệt chất Cộng trong tâm người cộng sản,
để gia tăng chất Việt, thay vì giết người cộng sản. Tháng tư năm 1975 là
cuộc thất bại thảm não của chủ trương chống Cộng "giết tới người cộng sản
cuối cùng". Người Việt dân tộc có nên lập lại thất bại này trong những
động thủ tương lai ? Hay kế thừa kế sách trí tuệ của tiền nhân đồng lúc
khế hợp với tư trào tiến bộ của nhân loại ở thế kỷ XXI ?
Ông Lê Phụng
chưa thuyết phục tôi khi ông phát biểu : "Tôi
nghĩ chúng ta phải biết ơn Tổng thống Ngô Ðình Diệm, vì nếu Ngài không
chống lại việc tổng tuyển cử vào năm 1956-57, thì tôi dám chắc, Cộng sản
đã nhuộm đỏ Miền Nam ngay từ thời gian đó, chứ không phải đợi đến 1975".
Biết ơn lãnh tụ
của mình là một tình cảm cao quý đáng khen. Nhưng không thể vì vậy mà bóp
méo thời cuộc. Cái "dám chắc" của ông Phụng không chắc chút nào. Sự thật
lịch sử là do Hoa Kỳ thời ấy dùng miền Nam như một tiền đồn chống Cộng để
ngăn Trung Cộng bành trướng xuống vùng Ðông Nam Á, nên chẳng lý thú gì
việc tổ chức Tổng tuyển cử vào năm 1956 tuy được ghi trong Hiệp định
Genève 1954 nhưng không bắt buộc.
Do áp lực Hoa kỳ,
mà ông Ðại sứ Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Chương tuyên bố ở Hoa Thịnh Ðốn
hôm 12.12.1955 là sẽ không có Tổng tuyển cử ở Việt Nam năm 56 như quy
định. Ông Chương vừa xướng ngôn hôm trước, là hôm sau Chính phủ Hoa Kỳ vỗ
tay ủng hộ. Phải chờ tới 4 tháng nữa, vào ngày 6.4.1956 tại Saigon, Chính
phủ Việt Nam Cộng hòa mới công khai phủ nhận Tổng tuyển cử. Thế nhưng gần
một năm trước đó, trái với lập trường trên, ngày 16.7.1955, ông Ngô Ðình
Diệm tuyên bố rằng : Tuy Việt Nam Cộng hòa không ký kết Hiệp định Genève
nên không bị ràng buộc, nhưng vẫn trung thành với chính sách hòa bình và
sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử vào năm 1956 nếu có tự do bầu cử. Vì vậy
ông Hồ Chí Minh mới ngỏ lời đáp ứng vào ngày 10.8.1955, kêu gọi hiệp
thương Nam Bắc và hứa thi hành tự do bầu cử.
Nếu tin vào cách
lý luận của ông Phụng, là nhờ không có Tổng tuyển cử năm 1956 (không phải
1956-1957 như ông Phụng viết), Cộng sản đã không chiếm được Miền Nam thời
gian đó và phải chờ tới năm 1975, thì ông Lê Phụng nên biết ơn Hoa Kỳ mới
phải lẽ.
Thời cuộc năm 1956
không cho phép hai phe Cộng (miền Bắc) và Chống Cộng (miền Nam) nghĩ tới
việc thực hiện Tổng tuyển cử như một ưu tiên hàng đầu. Vì cả hai bên đang
tranh thủ giải quyết những việc khẩn khác, nói như người Pháp là đang "cần
đánh đòn nhiều con mèo khác" (avoir bien d'autres chats à fouetter).
Tại miền Nam thì
một chính quyền non yếu mới xây dựng, hết lo vận động truất phế Bảo Ðại,
đến lo thanh toán các giáo phái Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Ðài, và các đảng
quốc gia đối lập với đảng cầm quyền.
Tại miền Bắc thì
dân chúng đang phẫn uất vụ tàn sát người vô tội trong Cải cách Ruộng đất,
nhóm văn nghệ sĩ, trí thức Nhân Văn - Giai phẩm nổi lên đòi tự do sáng
tác, nông dân nổi loạn ở Quỳnh Lưu, v.v.... Ngoài tình hình nguy kịch nội
bộ như thế, một cuộc khủng hoảng trầm trọng đang gây rạn vỡ phong trào
Cộng sản quốc tế xẩy ra tại Mẫu quốc Liên xô của Hà Nội. Ðó là vụ
Khrouchtchev hạ bệ Staline tại Ðại hội Ðảng lần thứ XX vào cuối tháng 2
năm 1956. Vài tháng sau, thợ thuyền Ba Lan nổi lên chống chính quyền cộng
sản ở Poznan, lan nhanh sang nhiều thành phố khác cuối tháng 6. Qua tháng
9, đến lượt lực lượng kháng chiến Hung Gia Lợi nổi lên chống Liên xô ở thủ
đô Budapest và nhiều nơi, thợ thuyền chiếm nhiều thị trấn, văn nghệ sĩ,
trí thức Hung đòi tự do, bãi bỏ học tiếng Nga... Xe tăng, máy bay Liên xô
can thiệp tàn sát các ổ kháng chiến và xâm chiếm Budapest vào tháng 11 năm
ấy. Nước môi hở răng lạnh của ông Hồ là Trung quốc cũng đang rối loạn suốt
1955 đến 1957 với các xáo động long trời qua chiến dịch phê phán Hồ Phong,
chiến dịch Bách gia tranh minh, Bách hoa tề phong nhằm tiêu diệt phái hữu,
đồng thời tiêu diệt phái cộng sản không tuân phục Mao, đưa tới hiện trạng
Bách gia cô minh và Nhất hoa độc phóng sau đó...
Công tâm mà nhận
xét, thì việc xâm chiếm miền Nam của chế độ cộng sản miền Bắc đã mang mầm
mống từ chế độ Toàn quyền của ông Ngô Ðình Diệm biểu hiện qua Quốc hội lập
hiến ra đời đầu tháng 3 năm 1956 và qua Hiến pháp ban hành tháng 9 cùng
năm tại Saigon. Một chế độ mà Hành pháp lấn áp Lập pháp. Quốc hội năm 1956
tại miền Nam tái diễn cái Quốc hội năm 1946 của Việt Minh ở Hà Nội. Khác
nhau ở hai tiến trình Quốc Cộng, nhưng mang cùng bản chất Ðảng trị, không
có đại biểu cho toàn dân, không chấp nhận đối lập dù là đối lập xây dựng.
Với câu viết bất
hủ trong Hiến pháp "Tổng thống lãnh đạo quốc dân" hay câu khẳng định trên
môi Tổng thống Ngô Ðình Diệm "Hiến pháp là tôi", thì đó là nền Quân chủ
Cộng hòa chứ đâu phải Việt Nam Cộng hòa ? Hành pháp không còn thừa hành
dân ý, thì dân chủ tan tành. Giới sĩ phu và chính trị gia thức thời lâm
cảnh buông tay sống thừa theo điệu "gặp thời thế thế thời phải thế". Chính
đó là mầm mống cho chế độ Cộng sản Bắc Việt xích hóa miền Nam.
Gần sáu mươi năm
qua, Nam hay Bắc, chế độ tuy có khác nhưng chính quyền đều đẻ ra trên mũi
súng. Hoàn cảnh khách quan của một thế giới bị lệ thuộc vào hai siêu
cường, hoàn cảnh nội tại thì giới lãnh đạo độc tài và không mưu lược, nên
vương đạo chưa xuất hiện. Ðó là bi kịch Việt Nam, mãi đến hôm nay chưa kết
thúc. Tôi nghĩ tới vương đạo theo nghĩa của Mạnh Tử : "Lấy sức mạnh giả
làm điều nhân là bá, bá thì phải có nước lớn. Lấy đức mà làm điều nhân gọi
là vương, vương không cần nước lớn".