Phòng
Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất
B.P. 63 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45
98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail :
ubcv.ibib@buddhist.com
__________________________________________________________
THÔNG
CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 19.3.2003
Ðài Á châu Tự do phỏng vấn
Dân biểu Quốc hội Âu châu ký tên đòi trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích
Huyền Quang, Thích Quảng Ðộ và viết bài về Hiện tình Phật giáo miền Bắc
Lời
giới thieu :
Tuần lễ vừa qua, hầu hết các Ðài Quốc tế có chương trình Việt ngữ phát
thanh về Việt Nam, như BBC, Ðài Á châu Tự do, RFI, VOA... đều loan tải
rộng rãi các biến cố Phật giáo kể từ khi Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền
Quang đến Hà Nội giải phẫu. Riêng trên Ðài Á châu Tự do có hai chương
trình đặc biệt đào sâu vấn đề Phật giáo : Ngày 17.3.03, phát bài "Hiện
tình Phật giáo miền Bắc" của Trần Phổ Minh trong chương trình buổi sáng
lúc 6 giờ 30 (giờ Việt Nam), qua ngày 19.3.03 ký giả Ỷ Lan phỏng vấn 3 Dân
biểu Quốc hội Âu châu - ông Bernd Posselt, bà Patricia McKenna và ông
Matti Wuori - để tìm hiểu vì sao Quốc hội Âu châu đã tận tình quan tâm đến
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất qua yêu sách đòi Hà Nội trả tự do
cho Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, đề
xuất việc Phái đoàn Quốc hội Âu châu về Việt Nam thăm viếng nhị vị Hòa
thượng. Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin ghi chép lại hai tài
liệu này để cung cấp cho các cơ quan truyền thông, báo chí và đồng bào
trong cộng đồng hải ngoại.
PTTPGQT
Hiện tình Phật giáo miền Bắc
(Ðài Á
châu Tự do phát thanh ngày 17.3.2003)
Vừa qua một sự kiện Phật
giáo tại Việt Nam đáng cho khách bàng quang lưu tâm, đấy là việc Ðại lão
Hòa thượng Thích Huyền Quang ra Hà Nội giải phẫu. Sau 21 năm bị quản thúc
tại quận Nghĩa Hành ở Quảng Ngãi, không được bước ra nửa bước khỏi nơi tù
đày. Công an bao vây, canh gát. Thế mà nay lại được cơ quan công quyền chỉ
định ra Hà Nội chữa bệnh. Sự kiện này đang trở thành biến cố.
Dù các bác sĩ ở bệnh viện
Quảng Ngãi đề xuất nên vào Saigon giải phẫu, ý Hòa thượng Huyền Quang cũng
muốn thế. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản không chấp thuận, lại chỉ định chữa
trị ở Hà Nội, và phải viết giấy cam đoan trở về nơi quản thúc ở Quảng Ngãi
sau khi xong việc. Ðiều này nói lên một sự thực, là Ðại lão Hòa thượng Xử
lý Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vẫn ở trong
tình trạng tù đày, quản chế kể từ năm 1982. Trái với lời tuyên bố thường
xuyên của Nhà cầm quyền Hà Nội tại LHQ hay với các chính phủ Âu Mỹ, rằng
Hòa thượng không hề bị bắt giữ và vẫn tự do sinh hoạt động tôn giáo tại
Quảng Ngãi.
Thế rồi Hòa thượng đi Hà
Nội. Ðương nhiên là do áp lực quốc tế ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ đòi
hỏi trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ,
nên nhà cầm quyền Hà Nội không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước tình trạng sức
khỏe trầm trọng của Ðại lão Hòa thượng. Như vậy, chúng ta có thể rút ngay
một lời kết luận : Cuộc tranh đấu kiên trì trên lĩnh vực quốc tế của người
Việt hải ngoại là cần thiết, quan trọng và hữu hiệu trong việc giải thoát
các tù nhân vì lương thức, tù nhân chính trị, tù nhân vì bất đồng chính
kiến tại Việt Nam. Giải thoát họ là cứu sống những mạng người trước những
chủ trương tiêu diệt con người. Cứu sống những mạng người như thế, cũng là
cứu sống Quyền con người, Quyền dân sự, làm nền tảng cho việc thiết lập
một xã hội dân chủ.
Sự có mặt của Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền
Quang ở Hà nội hé mở cho khách bàng quan nhìn rõ vào hiện tình Phật giáo
tại miền Bắc, mà lâu nay ít ai biết tới. Trong cuộc điện đàm với cơ sở
Phật giáo của Giáo hội ở Paris, Hòa thượng cho biết : "Ở trong Nam chúng
ta không biết gì nhiều về Phật tử ở miền Bắc. Nhưng trái lại ở miền Bắc,
Phật tử theo dõi, trông chờ và hiểu biết rất nhiều về Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất của chúng ta". Có một vị cư sĩ ở Hà Nội đến thăm, ông
đọc thuộc lòng cho Hòa thượng nghe các văn kiện của Giáo hội Phật giáo
Việt Nam Thống nhất, các Thông điệp, như Thông điệp Xuân, Thông điệp Phật
Ðản, Thông điệp Vu Lan, v.v... của nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và
Thích Quảng Ðộ. Vị cư sĩ này còn nhận xét với Hòa thượng là, "Phật giáo ở
trong Nam phát triển và hùng lực quá, ngoài Bắc chúng con không được như
vậy !".
Nhìn về quá khứ, hai điều cần biết để hiểu
thêm về Phật giáo ở phía Bắc đất nước :
Thứ nhất là, Phật giáo du
nhập Việt Nam từ 2000 năm qua, Giao châu, Thăng Long là cái nôi của Phật
giáo Việt Nam. Cho nên, khối lượng Phật giáo đồ cơ bản ở miền Bắc rất
đông.
Thứ hai là, trước khi đất
nước ta bị Hiệp định Genève năm 54 chia cắt, thì Phật giáo là một khối
thống nhất từ Bắc chí Nam. Năm 1951, có cuộc Hội nghị thống nhất Phật giáo
tại chùa Từ Ðàm ở Huế, quy tụ 6 tập đoàn Tăng Ni và Cư sĩ Phật giáo ba
miền Bắc, Trung, Nam, để thành lập tổ chức Phật giáo toàn quốc gọi là
"Tổng hội Phật giáo Việt Nam". Thời ấy, dụ số 10 của ông Bảo Ðại không
công nhận Phật giáo như một giáo hội tôn giáo, vì Phật giáo bị xem như một
hội đoàn, như hội đoàn thể thao, hội đoàn đua ngựa không hơn không kém.
Cho đến khi cuộc tranh đấu cho tự do tín ngưỡng của Phật giáo đồ năm 1963
thành công, thì Dụ này mới bị hủy bỏ. Từ đó Phật giáo mới được mang danh
xưng truyền thống của một "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất" và phát
triển mạnh mẽ trong tất cả các giới, các cơ cấu xã hội tại miền Nam cũ.
Trái lại ở miền Bắc, thì
khi chính quyền cộng sản tiếp thu và thiết lập sau Hiệp định Genève năm
54, thì tổ chức "Tổng hội Phật giáo Việt Nam" bị giải thể. Qua năm 1957,
Ðảng cho thành lập "Hội Phật giáo Thống nhất" (lại Hội chứ không là Giáo
hội, vô hình trung quy chiếu theo Dụ số 10 của thời thực dân) để làm công
cụ chính trị, tạo tiền đề cho tổ chức Phật giáo Quốc doanh sau này. Từ đó
sinh hoạt tôn giáo của Phật giáo miền Bắc trì trệ, tiêu vong.
Mấy năm vừa qua, Phật giáo
miền Bắc mới bắt đầu lấy lại sinh khí, nhờ được tiếp xúc với khối Phật
giáo ở Miền Nam. Một ví dụ điển hình, là vào tháng 7 năm 2000 khi Nhà nước
dự tính cưỡng chiếm Chùa Một Cột, thì chư Tăng và Phật tử ở Hà Nội đã phản
ứng kịch liệt, Các Hòa thượng, Thượng tọa trụ trì Chùa Một Cột viết thư
gửi Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, xin can thiệp. Dù
chưa có quan hệ hữu cơ giữa Phật giáo hai miền, thế nhưng Phật giáo miền
Bắc vẫn tin tưởng vào uy tín và sự lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất. Năm ấy, Viện Hóa Ðạo liền mở cuộc vận động quốc tế, đưa
đến kết quả là chư Tăng không bị trục xuất và Chùa Một Cột không bị quốc
doanh hóa.
Trong mặt quần chúng Phật giáo thì như thế,
song trên mặt tổ chức do Ðảng và Nhà nước điều hành, thì chưa có phát
triển hay tiến bộ gì. Ðiều này có thể thấy rõ qua kỳ Ðại hội Phật giáo của
Nhà nước lần thứ 5 tại Hà Nội hồi tháng 12.2002. Tại đây người ta chỉ nghe
được các báo cáo sinh hoạt và Phật sự ở các tỉnh ở phía Nam. Tuyệt nhiên
chẳng có báo cáo gì phấn khởi tại miền Bắc. Một sự kiện khá tiêu biểu
khác, là trong cuốn "Niên giám Giáo hội Phật giáo Việt Nam" do Nhà xuất
bản Tôn giáo in ở Hà Nội năm 2000, ta chỉ thấy các cơ sở, chùa chiền Phật
giáo ở TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai ra đến Khánh Hòa, Bình Ðịnh và Tây nguyên.
Không có dấu vết cơ sở hay chùa viện nào ở các tỉnh phía Bắc.
Mấy ví dụ như thế đủ để
kết luận rằng, chế độ độc tài toàn trị ở đâu, tôn giáo ở đó bị tiêu diệt,
ở đó đạo lý và truyền thống dân tộc bị suy đồi. Cho nên, một dấu hiệu đáng
mừng khi ta nghe Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang nói rằng : "Ra đi
chữa bệnh, tưởng thui thủi một mình nơi đất lạ, không ngờ tinh thần Phật
tử đất Bắc rất cao đối với Thầy Tổ của Giáo hội. Nhất là sự kiện họ chú
tâm theo dõi, đọc sách Phật giáo trước tác ở miền Nam, học thuộc lòng các
văn kiện, Thông điệp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất".
Do đó, khách bàng quang
bỗng lóe lên chút hy vọng là Nhà cầm quyền Hà Nội sẽ lợi dụng sự có mặt ở
Hà Nội của Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang mà gặp gỡ tìm hiểu về nền
Phật giáo đích thực của dân tộc, để biến chính sách đàn áp tôn giáo thành
chính sách tôn trọng tự do sinh hoạt tôn giáo và phục hồi quyền sinh hoạt
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Có như thế, may ra mới chận
đứng cuộc suy đồi đạo lý, cản ngăn các tệ nạn xã hội, để chữa trị từ gốc
cho công cuộc tân kiến thiết quốc gia.
Trần Phổ Minh
D
Ký giả Ỷ Lan phỏng vấn 3 Dân biểu Quốc hội Âu châu ký
tên chung với 31 Dân biểu đòi trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền
Quang và Thích Quảng Ðộ
(Ðài Á châu Tự do phát thanh ngày
19.3.2003)
Toàn thế giới đang ngước nhìn về Irak và chờ
đợi cuộc chiến tranh chưa biết xẩy ra giờ nào. Tuy nhiên, sự kiện này
không có nghĩa là chính giới Tây phương quên lãng vấn đề Việt Nam nói
chung và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nói riêng. Tuần trước,
Phái đoàn Liên hiệp Âu châu và đại diện Ðại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã
đến thăm Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang tại bệnh viện K. Tiếp theo
còn có cuộc họp cấp cao giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và
Phái đoàn Liên hiệp Âu châu ngay giữa thủ đô Hà Nội. Ðiều chưa hề xẩy ra
từ 28 năm qua. Phía Liên hiệp Âu châu do Ðại sứ Fréderic Baron cầm đầu
cùng với đại diện các Ðại sứ quán Anh, Áo, Hòa Lan, Pháp, Phần Lan, Thụy
điển và Ý.
Hôm thứ hai, 17 tháng 3, lại đến lượt 31 Dân
biểu đại diện các khuynh hướng chính trị tại Quốc hội Âu châu viết thư cho
Chủ tịch Trần Ðức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải, Tổng bí thư Nông Ðức
Mạnh và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, yêu sách trả tự do cho Ðại lão
Hòa thượng Thích Huyền Quang, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, và Hòa
thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất. Các vị Dân biểu Quốc hội Âu châu viết trong thư rằng : "
Nghĩa cử (trả tự do) này của quý ngài mang tầm quan trọng lớn lao. Một
nghĩa cử đóng góp cho việc thiết lập những quan hệ tin cậy và cộng tác gữa
Việt Nam và Liên hiệp Âu châu". Bức thư cũng xác định : " Ủy viên Ðối
ngoại của Liên hiệp Âu châu, ông Chris Patten, gần đây đã lên tiếng rằng
"chẳng có tội gì có thể viện dẫn để giam cầm hay quản chế hai Hòa
thượng, chưa kể điều phải quan tâm đến tuổi già của hai ngài".
Chúng tôi đồng quan điểm với ông Patten, nếu gọi là "tội phạm", thì
nhị vị Hòa thượng chỉ có "tội" không ngừng đòi hỏi một cách ôn hòa cho
nhân quyền và tự do tôn giáo được khẳng định trong "Công ước Quốc tế về
Các quyền Dân sự và Chính trị" mà Việt Nam ký kết tham gia năm 1982, cũng
là năm quý Ngài bắt giam Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang". Ngoài việc
đòi hỏi trả tự do cho hai Hòa thượng Phật giáo, 31 Dân biểu đề xuất việc
về Việt Nam thăm viếng hai Hòa thượng để "chứng kiến tận mắt sức khỏe và
tình trạng của hai ngài".
Trong danh sách các vị ký tên thuộc 10 quốc
gia Âu châu, người ta nhận thấy đủ sắc thái chính trị từ tả sang hữu, như
Ðảng Xã hội, Ðảng Bình dân Âu châu, Ðảng Tự do Dân chủ và Cải cách Âu
châu, Ðảng Xanh, Ðảng Cấp tiến Liên quốc Hợp đoàn, và Ðảng Âu châu Thống
nhất.
Ðặc biệt có chữ ký của ông Daniel Cohn-Bendit, Ðồng chủ tịch Ðảng Xanh, là
cựu lãnh tụ phong trào sinh viên ở Paris năm 1968. Ông thuộc phe tả phản
chiến, hậu thuẫn cho Hà Nội trước năm 1975. Nhưng sang năm 1978, ông tham
gia hậu thuẫn chiến dịch "Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam" ra biển Ðông vớt
người Vượt Biển, do Cơ sở Quê Mẹ phát động, và nay hỗ trợ Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất. Trường hợp bà Patricia McKenna, Phó trưởng phái
đoàn Ðặc trách quan hệ với các nước thuộc Hiệp hội Ðông Nam Á (ASEAN),
tháng 9 năm ngoái bà về Hà Nội điều tra tình hình tôn giáo với Phái đoàn
Liên hiệp Âu châu, và đã tố cáo tình trạng bưng bít, độc tài, không có tự
do ngôn luận, tự do lập hội tại Việt Nam.
Ông Võ Văn Ái, Giám đốc Phòng Thông tin Phật
giáo Quốc tế, phát ngôn nhân của Viện Hóa Ðạo, đã bình luận về bức thư này
như sau : "21 năm tù dành cho hai vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo
Việt Nam là quá đáng. Nhất là khi ngưỡng vọng của nhị vị Hòa thượng chỉ
mong thấy "Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị" mà Hà Nội ký
kết tham gia được thi hành tại Việt Nam. Qua bức thư của Quốc hội Âu châu,
chúng tôi cảm thấy nỗ lực và ý chí của Cộng đồng thế giới đang toàn tâm
vận động trả tự do cho Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng
Ðộ ".
Ðể tìm hiểu lý do vì sao các Dân biểu Quốc
hội Âu châu lên tiếng hậu thuẫn cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất, chúng tôi đã gọi điện thoại viễn liên sang Ðức, sang Ái Nhĩ Lan và
sang Phần Lan để phỏng vấn Dân biểu Bernd Posselt, bà Dân biểu Patricia
McKenna, và Dân biểu Matti Wuori.
Từ thành phố Munchen ở miền nam Ðức, Dân biểu
Bernd Posselt thuộc đảng Thiên chúa giáo Xã hội Thống nhất, trả lời qua
đường dây viễn liên như sau :
Bernd Posselt
: Tôi nghĩ
rằng Việt Nam là một đối tác rất quan trọng của Liên hiệp Âu châu, và ngày
càng trở nên quan trọng. Nhưng để trở thành một đối tác thực sự trong
tương lai, điều vô cùng quan trọng là tôn trọng nhân quyền, làm nền tảng
cho cuộc cộng tác. Chúng tôi nghĩ rằng, một trong những lĩnh vực quan
trọng của nhân quyền, là tự do tôn giáo. Chúng tôi cũng quan niệm, tự do
tôn giáo bị uy hiếp khi những nhân vật tôn giáo như Ðại lão Hòa thượng
lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Hòa thượng Viện trưởng
Viện Hóa Ðạo không được tự do đi đứng hay tiếp tục các sinh hoạt tôn giáo.
Ỷ Lan :
Phải chăng đây là lần đầu tiên ông, hay Liên hiệp Âu
châu, nêu lên trường hợp của các nhà lãnh đạo Phật giáo ?
Bernd Posselt
: Chúng tôi
đã nhiều lần lên tiếng cho các Hòa thượng Phật giáo. Tôi nghĩ rằng trong
cuộc hỗ tương cộng tác, cần được thấy những tiến triển cụ thể cho những
nhân vật xuất chúng này, mà quả thực họ rất nổi danh tại Âu châu. Hai Hòa
thượng chính là những vị Ðại sứ tuyệt vời của dân tộc Việt Nam. Tôi cũng
nghĩ rằng, đây là cuộc thử nghiệm rất quan trọng về những cải cách và đổi
mới tại Việt Nam nếu như hai vị được trả tự do.
Sau đây là ý kiến phát biểu từ Ái Nhĩ Lan của
Dân biểu Patricia McKenna. Bà thuộc Ðảng Xanh và giữ chức Phó trưởng phái
đoàn Ðặc trách quan hệ với các nước thuộc Hiệp hội Ðông Nam Á tại Quốc hội
Âu châu :
Ỷ Lan :
Xin chào bà McKenna. Ái Nhĩ Lan rất có duyên với Việt
Nam. Từ năm 1978, Giải Nobel Hòa bình của Ái Nhĩ Lan là bà Maired Corrigan
Maguire đã đề cử hai Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ làm
ứng viên giải Nobel Hòa bình. Bây giờ, cùng với 30 dân biểu khác, bà vừa
ký chung thư gửi nhà cầm quyền Việt Nam yêu sách trả tự do cho hai Hòa
thượng. Ðiều gì thúc đẩy bà tham gia việc này ?
McKenna :
Chúng tôi vô cùng quan tâm tới hoàn cảnh của hai Hòa
thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ. Hai ngài đều bị giam cầm không
lý do từ năm 1982. Thật quá dài cho những kẻ bị cầm tù, sự thể ấy trái
chống với mọi Công ước quốc tế về Nhân quyền.
Năm ngoái tôi đến Việt
Nam với Phái đoàn Quốc hội Âu châu nhân cuộc họp với các dân biểu thuộc
Hiệp hội Ðông Nam Á. Một trong những yêu sách của chúng tôi là gặp thăm
Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, mong mỏi vào Thành phố Hồ Chí Minh diện kiến
ngài. Ít nhất một cuộc gặp gỡ như thế sẽ làm cho chúng tôi yên tâm về hoàn
cảnh và sức khỏe của ngài. Ðáng tiếc, yêu sách của chúng tôi không được
đáp ứng.
Hiện nay, Hòa thượng
Thích Huyền Quang 86 tuổi, sức khỏe suy yếu, điều kiện giam giữ khắc khe
chẳng giúp gì cho sự phục hồi sức khỏe. Ðặc biệt là nhiều năm trường ngài
không được chăm sóc thuốc men. Trường hợp Hòa thượng Thích Quảng Ðộ vừa
được đề cử làm ứng viên Giải Nobel Hòa bình năm 2003, ngài cũng đã 75
tuổi, một lão ông rồi. Chúng tôi vô cùng quan tâm đến họ, không riêng ở
Quốc hội Âu châu, mà ngay cả ông Ủy viên Ðối ngoại của Liên hiệp Âu châu,
Chris Patten, cũng vừa tuyên bố rằng, "chẳng có tội gì có thể viện dẫn
để giam cầm hay quản chế hai Hòa thượng, chưa kể điều phải quan tâm đến
tuổi già của hai ngài". Ðối với tôi, "tội" chính yếu của hai Hòa
thượng là đã kêu gọi cho tự do tôn giáo và nhân quyền. Chúng ta cần nhớ
Công ước Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc bảo vệ cho mọi cá nhân được biểu tỏ
quyền tự do tôn giáo và duy trì các quyền con người. Chúng tôi cảm thấy đã
đến lúc trả tự do cho hai Hòa thượng. Cộng đồng quốc tế phải được đến thăm
viếng để kiểm tra sức khỏe và hoàn cảnh của các ngài.
Hồi Phái đoàn Liên hiệp
Âu châu đến Việt Nam, chúng tôi có cảm tưởng rằng, Việt Nam muốn có quan
hệ hữu hảo và tin cậy với Liên hiệp Âu châu. Phần chúng tôi, chúng tôi
cũng cảm thấy yêu sách trả tự do và cuộc viếng thăm hai Hòa thượng mà
chúng tôi đề xuất, là sự hỗ tương minh chứng cho chúng tôi mối quan hệ
được xây dựng trên lòng tin cậy và sự cộng tác.
Ỷ Lan :
Vậy thì bà có sẵn sàng lên đường đi Việt Nam thăm viếng
hai Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Ðộ khi hoàn cảnh cho phép ?
McKenna :
Ðương nhiên là chúng tôi sẵn sàng. Năm ngoái, Phái đoàn
chúng tôi vô cùng bất mãn việc không được gặp Hòa thượng Thích Quảng Ðộ. Ở
đây cần nói rõ là, chúng tôi không muốn áp đặt các quyền mà Quốc hội Âu
châu được làm, hay tuyên dương Quốc hội Âu châu là người bảo vệ cho Nhân
quyền, hoặc tố cáo các quốc gia khác chẳng hiểu biết gì về Nhân quyền.
Nhưng sự kiện thực tế là hai Hòa thượng quá cao tuổi, họ bị giam giữ trong
những điều kiện khắc nghiệt, sức khỏe họ có vấn đề trầm trọng, mà lại bị
giam cầm không xét xử. Giam giữ người quá lâu mà không cho biết lý do,
không xét xử như thế, là trái chống với luật pháp quốc tế. Vì lý do ấy mà
chúng tôi mong đến Việt Nam gặp nhị vị Hòa thượng để thăm sức khỏe và tìm
hiểu hiện trạng của hai ngài.
Nếu nhà cầm quyền Việt
Nam thấy chẳng có gì phải giấu giếm, chẳng có gì phải lo ngại, sợ hãi, tất
nhiên họ phải tạo cơ hội cho chúng tôi viếng thăm hai Hòa thượng.
Ỷ Lan :
Xin cảm ơn bà McKenna. Chúng tôi hy vọng bức thư của
Quốc hội Âu châu sẽ có ảnh hưởng tốt như bà mong muốn, và đưa đến việc trả
tự do cho hai nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam.
McKenna :
Vâng, tôi thực tình mong ước như thế, nhất là khi ta
biết rằng Hòa thượng Thích Quảng Ðộ được đề cử làm ứng viên giải Nobel Hòa
bình năm 2003 này. Thật là hi hữu nếu nhà cầm quyền Việt Nam nhận ra thanh
danh to lớn truy tặng cho vị Cao tăng này, chỉ nói riêng sự kiện Hòa
thượng được đề cử vào một giải đầy thanh thế như Giải Nobel Hòa bình mà
thôi.
Cuối cùng là cuộc phỏng
vấn Luật sư Dân biểu Matti Wuori tại Phần Lan ở Bắc Âu.
Ỷ Lan :
Xin cám ơn ông đã nhận lời phỏng vấn của Ðài Á châu Tự
do. Thưa ông Wuori, cùng với 30 dân biểu khác, ông vừa ký chung thư gửi
nhà cầm quyền Việt Nam yêu sách trả tự do cho hai Hòa thượng Thích Huyền
Quang và Thích Quảng Ðộ. Ðiều gì thúc đẩy ông tham gia việc này ?
Matti Wuori :
Hai Hòa thượng là những gương mặt sáng giá, đại
biểu cho những trường hợp nhân quyền bị vi phạm, do đó làm cho Quốc hội Âu
châu tận tình quan tâm. Chúng tôi cũng thường xuyên theo dõi tình hình
nhân quyền và tôn giáo tại Trung quốc và Việt Nam.
Ỷ Lan :
Thường thường khi các dân biểu Quốc hội Âu châu, Liên
Hiệp Quốc, hoặc các chính phủ Tây phương lên tiếng về các vi phạm nhân
quyền, như bức thư vừa nói, nhà cầm quyền Việt Nam trả lời rằng đây là
chuyện nội bộ quốc gia, mà cộng đồng thế giới không được quyền xâm phạm.
Ông có đồng ý với luận điểm này không ?
Matti Wuori :
Không. Hẳn nhiên là tôi không đồng ý. Ðây là sự
phản đối rất quen thuộc, thường xuyên được đưa ra. Trong khi chúng ta phải
hậu thuẫn cho sự đa dạng của các nền văn hóa, thì chúng ta cũng phải nhấn
mạnh khía cạnh phổ quát căn bản của nhân quyền. Không thể nại cớ chủ quyền
quốc gia, để chống lại những phê phán hay sự can thiệp của thế giới bên
ngoài. Mỗi quốc gia dân tộc đều phải tuân thủ một số nguyên tắc và tiêu
chuẩn phổ cập của nhân loại, là điều hoàn toàn hiển nhiên.
Ỷ Lan :
Ông là một luật sư nổi danh trên lĩnh vực nhân quyền,
nên tôi xin được hỏi một câu về pháp lý nhân quyền. Tại Việt Nam nhiều nhà
ly khai chính trị hay tôn giáo bị bắt và bị xử dưới tội danh "xâm phạm an
ninh quốc gia", là những hoạt động bị xem như phá hoại lợi ích của Ðảng và
Nhà nước. Họ đã lãnh những án tù nặng nề, mà còn bị liệt vào tội hình sự.
Kết quả là Việt Nam thường tuyên bố trên các diễn đàn quốc tế rằng :
"Không có tù nhân chính trị tại Việt Nam, chỉ có những người bị kết án vì
vi phạm luật pháp". Một quan điểm như thế có đúng đắn không ?
Matti Wuori :
Hẳn nhiên là không đúng. Ðây chỉ là sự chống chế
nông cạn. Thứ luận điệu mà chúng ta thường phải đương đầu ở Châu Mỹ La
tinh, ở Châu Phi và nhiều quốc gia Châu Á. Quan điểm này chẳng có giá trị
gì. Các nhà ly khai này là những tù nhân chính trị thực thụ, bao lâu những
quan điểm chính trị về nhân quyền của họ bị vi phạm.
Ỷ Lan :
Xin trở lại với bức thư gửi Ðảng và Nhà nước Việt Nam
mà ông cùng với 30 dân biểu khác yêu sách trả tự do cho Ðại lão Hòa thượng
Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Ðộ. Nếu Việt Nam chấp nhận thi
hành, thì ông có thấy đây sẽ là dấu hiệu chứng tỏ có thay đổi về chính
sách nhân quyền tại Việt Nam không ?
Matti Wuori :
Ðây là dấu hiệu đầy triển vọng. Nhưng chúng ta đừng
quên là phải tiếp tục không ngừng trong việc vận động. Viết và gửi một bức
thư đi, chưa đủ thấm vào đâu. Chúng ta phải liên tục quan tâm, chú mục vào
Việt Nam cũng như vào các quốc gia khác trên thế giới.
Ỷ Lan :
Xin cám ơn Dân biểu Matti Wuori.
---o0o---
| Thư Mục Thông Cáo Báo Chí |
--- o0o ---
Cập nhật
ngày: 03-04-2003