Kỷ Yếu
Thượng Tọa THÍCH MINH
PHÁT
(1956 – 1996)
---o0o---
“Quảy dép về Tây chốn nghĩ ngơi,
Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời,
Huyễn thân trả lại nơi trần thế,
Giả biệt hôm nay có mấy lời…”
Thay lời tựa
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa
hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành
vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
Những bài văn, thơ, kệ… tưởng niệm của chư vị Tôn đức, chư vị pháp
huynh, pháp hữu, môn đồ… được ghi lại trong tập “Kỷ Yếu” này cho chúng
ta thấy rõ hình ảnh đẹp của một Sa di Minh Phát thời niên thiếu; đặc
biệt là nổi bậc hơn là công hạnh đạo đức ấy đã tăng trưởng vượt bực
trong suốt hai mươi mốt năm hiện thân là một vị Tỳ kheo trong giáo pháp.
Dù
tại Thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh miền Tây, miền Ðông, miền Trung,
kể cả một số tỉnh miền Bắc xa xôi… nơi nào có nhơn duyên xây dựng chùa
chiền, trùng tu Tam Bảo, tổ chức an cư kiết hạ, khai đàn truyền giới hay
thiên tai địa ách, hỏa hoạn, lũ lụt, bão lụt v.v… là nơi đó Thầy Minh
Phát luôn luôn có mặt và hoan hỷ trong mọi trường hợp.
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát và chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật
tử quen biết xa gần đều rất khó quên: Nơi các Ðại giới đàn, Thầy là vị
dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chuẩn tế trong những lễ
ngày hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong
lòng đại chúng; nơi các bệnh nhân, Thầy là vị lượng y kỳ diệu, với một
chai nước mát Thầy đọc vài câu kinh ngắn chú nguyện, người bệnh mang về
uống là có thể hết bệnh (đã có nhiều người bệnh nhờ uống những chai nước
mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi
cần - Thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
Ngoài ra Thầy còn có một đặc tính gần như thiên phú, hay nói theo nhà
Phật thì do thầy tu tập, tích tụ trong nhiều kiếp, đó là khả năng nghe
và trùng tuyên Pháp ngữ - nơi nào có đại lễ, chư Tôn đức xướng Pháp ngữ…
Thầy được nghe qua một lần là ngay sau đó, Thầy có thể lặp lại không
thiếu sót. Ðồng thời, dù về mặc văn hóa phổ thông Thầy học không nhiều,
nhưng Thầy có khả năng biên soạn một kinh sách về Nghi lễ, luật giới,
tiểu truyện v.v… Ðặc sắc nhất là Thầy có thể xuất khẩu thành thơ trong
mọi trường hợp, đem lại sự an vui bá tánh trên đường hoằng hóa.
Hành trạng Thầy Minh Phát đã cho chúng ta cảm nhận giá trị tinh hoa kỳ
diệu của dòng thời gian như lời dạy của Ðức Phật trong kinh Pháp Cú (câu
115):
Ai sống một trăm năm
Không thấy pháp tối thượng
Không bằng sống một ngày
Thấy được pháp tối thượng.
Về
thọ mạng huyễn thân, Thầy Minh Phát hiện hữu với chúng ta không lâu -
bốn mươi mốt năm - nhưng mỗi thời khắc đi qua là một hạt chuỗi ngọc long
lanh của công đức và trí tuệ được tích tụ. Cho nên dù thời gian kiếp
sống có ngắn ngủi vô thường nhưng Thầy đã tận dụng không bỏ phí “một
điều thiện nhỏ” và như chúng ta đã chứng kiến, với công hạnh “ban vui
cứu khổ”, tâm nguyện của Thầy đã làm cho dòng thời gian như ngừng lại,
thường trụ và hình ảnh Thầy Minh Phát hiền hòa, từ ái luôn gần gũi như
sống mãi, hằng hữu trong lòng người con Phật xuất gia và tại gia chúng
ta.
Như vậy, nếu chúng ta sống một trăm năm, mà chúng ta chỉ biết sống ích
kỷ cho riêng mình hoặc bỏ phí thời gian trôi qua trong những việc dễ
duôi, vô ích thì dòng thời gian nhiều đó trở thành không nghĩa và tiêu
tan như mây khói. Ngược lại, chúng ta sống dù một ngày, một tháng, một
năm, mười năm, hay đôi ba mươi năm v.v… mà chúng ta sống không chấp thủ,
không ích kỷ cho riêng mình, mỗi giờ phút trôi qua, chúng ta biết tận
dụng làm thiện sự, đem lợi lạc cho nhân sinh thì nhất định dòng thời
gian đó, dù ngắn cũng trở nên dài, đẹp, bất tử trong lòng mọi người và
tự thể nó trở nên thiên thu.
Cuộc đời Thầy Minh Phát là tấm gương sáng về tinh thần “Vô ngã vị tha,
lợi lạc quần sanh”. Trong vòng sanh diệt tương đối, cuộc đời Thầy có
phần ngắn ngủi nhưng công đức tràn đầy vô lượng, xứng đáng với tấm lòng
mọi người đã tôn vinh, tưởng niệm, thương kính, đưa tiễn… trong ngày
tang lễ; xứng đáng được Giáo Hội Trung Ương và Thành Hội Phật Giáo truy
phong – cung an Thầy vào hàng Giáo phẩm Phật giáo Việt Nam, tại buổi lễ
tưởng niệm ngày 10-5-1996 Giáo hội và Thành hội Phật giáo đã công bố
quyết định tấn phong Ðại Ðức Thích Minh Phát lên hàng Giáo phẩm Thượng
Tọa. Tiễn đưa Giác linh Thầy hội nhập cõi vĩnh hằng “Thượng phẩm thượng
sanh” của chư Bồ tát.
Tập “Kỷ Yếu” này được thực hiện bằng tất cả những tấm lòng của chư vị
tông phong pháp lữ, huynh đệ pháp hữu và môn đồ tứ chúng, Phật tử gần xa
bày tỏ đạo tình trân quý một cuộc đời đã hiến dâng trọn vẹn cho đạo pháp
dân tộc và chúng sanh.
Nhân dịp cúng lễ Tuần chung thất, Ban biên tập “Kỷ Yếu” đề nghị tôi viết
Lời Tựa cho tập sách, thể hiện tình “Linh Sơn cốt nhục” tôi có đôi lời
tưởng niệm… trân trọng kính mời chư vị Tôn Ðức Tăng Ni, huynh đệ pháp
hữu và Phật tử hãy cùng đọc và tưởng nhớ hình ảnh Thầy Thích Minh Phát
thân thương.
Mùa An Cư Phật lịch 2540
Phó Ban kiêm Ủy Viên Văn Hóa
Thành Hội Phật Giáo
Thượng Tọa Thích Giác Toàn
Phần I
Trích lục những vần lưu bút
Chùa Ðông Hưng
Thủ Thiêm – Saigon
Xem quyển kỷ niệm nầy có cảm tưởng:
- Trước dẫn lời thế tục:
“Khen ai kiếp trước có tu, kiếp nầy xe kiệu võng dù nghinh ngang.”
Áp dùng ở đây:
- Tỳ kheo Thích Minh
Phát kiếp trước có tu, nên kiếp nầy gặp Phật Pháp, gặp Minh sư và
Thiện-Hữu Tri-Thức.
- Ðể lời rất mừng, rất
khen và rất khuyến khích cố gắng tu hành đi tới đạo quả Bồ đề để hoằng
pháp lợi sanh, báo Phật Ân đức.
- Cảnh sách Quy Sơn Tổ
nói: “Ðời trước có căn lành, nay mới cảm đặng báo tốt lạ như vậy./.
Hành Trụ đề
(Lúc uống trà khuya 12
giờ trong thất (ngày 11/7/Mậu ngọ (14/8/1978.)
Nam Mô A Di Ðà
Phật
Ta chẳng phiền ai nếu họ phiền,
Vì ta có mặt mới là duyên,
Nếu không ta, có ai phiền trách,
Gió thổi hư không giữa đất liền.
Ta chẳng não loạn với một ai,
Có thêm thân, có nghiệp theo hoài,
Khen chê thương ghét đầy vơi mãi,
Xả hết cho đời khỏi trả vay.
Ngày xưa pháp hội có hai người,
Tranh cãi buồn phiền chuyện hổ ngươi,
Một vị phương trời lo phướn động,
Một người cãi lại gió bay thôi.
Huệ Năng nhìn thấy trong câu chuyện,
Biết được ra khuyên một ít lời,
Phướn không gió cớ chi lay động,
Chỉ có tâm mình chịu nổi trôi.
Bà kia ông nọ người xa lạ,
Mà giận làm chi giữa cuộc đời,
Chẳng có vinh thì đâu có nhục,
Ðể lòng sầu não giữa đầy vơi.
Mái chùa từ buổi vui tình Phật,
Cắt tóc chia tay chẳng nợ đời,
Cơm Phật rau dưa qua ngày tháng,
Buồn chi lời nói của người đời.
Xả hết cho lòng không vướng bận,
Quên đi cho sạch chẳng chiều mơi,
Ai thương ai ghét đều là bạn,
Lời lẽ khen chê cũng thế thôi.
Giữ vẹn từ bi thêm hỷ xả,
Vào ra ba cõi mặc vui chơi.
1992
Thích Minh Phát
Nam Mô A Di Ðà
Phật.
Chày kình tiếng nhẹ buông
Lòng con mãi lo buồn
Mong sao tròn nhân Phật
Ðể ngày tháng qua xuông
Hoàng hôn chiều mưa rơi
Mồ hoang khắp trong đời
Mờ sương lòng không nơi
Hết thời.
Nghĩ ngợi
Bao nhiêu duyên nghiệp người ơi!
Bao nhiêu oan trái trong đời viễn ly.
Xin tròn quả phước hôm ni.
Ngày nay cho đến một khi đạo thành.
Thích Minh Phát
Nam Mô A Di Ðà
Phật.
Xin hoan hỷ giữa chợ đời đen trắng
Chốn phiền ba bao mưa nắng dập dồn
Từ có thân này thành chuyện sớm hôm
Rồi ngày tháng buộc ràng thêm thắt chặt
Giữa thế hệ muôn chuyện ai cũng mặc
Miễn tâm tư hằng mãi nụ cười vui
Cho lòng luôn hòa thuận giữa ngọt bùi
Ðể tạo dựng vuông tròn trong lẽ sống
Muốn tất cả mọi người luôn tự trọng
Muốn thân thương giữa bao cảnh khóc cười
Muốn dung hòa cho sự được mười mươi
Muốn tùy hỷ giữa đất trời tang lệ
Ðời đã có rồi không thôi thì kệ
Kiếp nhân sinh bao thế hệ qua rồi
Nghiệp đa mang đeo đuổi kiếp con người
Thân tứ đại cũng tùy dòng luân tục.
Niệm Di Ðà điều phục lại thân tâm
Thoát trần ai trong sáng tợ trăng rằm
Hầu trở lại tròn đầy ba la mật.
Thích Minh Phát
Nam Mô A Di Ðà
Phật.
Sự lý đua nhau giữa chợ đời
Ai người thong thả mặc vui chơi
Gặp nhau hoan hỷ lòng thông cảm
Cho vẹn lòng thương ở với đời.
Cho vẹn lòng thương ở với đời.
Biển trần lặn hụp mãi đua bơi
Nếu không cảnh tỉnh quay đầu lại
Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời.
Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời.
Nơi miền khổ thú mặc vui chơi
Quê xưa cảnh cũ chừng quay lại
Thôi đến liên bang cũng kịp thời
Thôi đến liên bang cũng kịp thời
Nơi miền Phật độ được thảnh thơi
Sanh già đau chết không còn nữa
Niệm Phật nhìn trăng chẳng nợ đời.
Thích Minh Phát
Ðời sống tăng nhàn vui nước non
Yên hà bạn lữ nguyện vuông tròn
Liễu xanh tùng biếc xuân thu mặc
An lạc hạnh tu chẳng mất còn.
Thích Minh Phát
Phần II
Tiểu sử và các điếu văn
trong tang lễ
CÁO PHÓ
- THƯỜNG TRỰC BAN TRỊ SỰ
THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP.HCM
- BAN ÐẠI DIỆN PHẬT GIÁO
QUẬN 10
- BAN QUẢN TRỊ TỔ ÐÌNH
ẤN QUANG
- CÙNG MÔN ÐỒ PHÁP QUYẾN
Kính báo tin đến Chư tôn
Giáo Phậm, Ðại Ðức Tăng, Ni, Cư sĩ Phật tử
Thượng Tọa
THÍCH MINH PHÁT
- ỦY VIÊN TIỂU BAN TỪ
THIỆN XÃ HỘI THPG – TP.HCM.
- ỦY VIÊN TỪ THIỆN XÃ
HỘI BAN DIỆN PG - QUẬN 10
- PHÓ BAN QUẢN TRỊ TỔ
ÐÌNH ẤN QUANG.
- PHÓ GIÁM ÐỐC ÐẠI TÒNG
LÂM PHẬT GIÁO
- TRỤ TRÌ CHÙA PHỤNG SƠN
- QUẬN 11
- TRỤ TRÌ CHÙA VIÊN GIÁC
- QUẬN TÂN BÌNH.
Sau một thời gian lâm
bịnh, mặc dù được các bác sĩ Ðông, Tây y đã tận tình chữa trị, nhưng vì
sức yếu, Thượng Tọa đã thu thần viên tịch vào lúc 06 giờ 40 ngày 21/3
năm Bính tý (8/5/1996).
Trụ thế:
41 năm
Hạ lạp: 21
năm
LỄ
NHẬP QUAN sẽ chính thức cử hành lúc 18 giờ 00 ngày 21/3 năm Bính tý
(8/5/1996) tại Tổ Ðình Ấn Quang, số 243 Sư Vạn Hạnh Quận 10.
LỄ DI
QUAN và HỎA TÁNG tại Bình Hưng Hòa – Bình Chánh lúc 07 giờ 30 ngày 26/3
năm Bính tý (13/5/1996).
Kính
mong Chư tôn Giáo Phẩm, Ðại Ðức Tăng, Ni, Phật tử hoan hỷ quang lâm Tổ
Ðình Ấn Quang trợ tiến Giác linh cố Thượng Tọa cao đăng Phật quốc và
tiễn đưa kim quan Thượng Tọa đến nơi hỏa táng thật đông đủ và thập phần
viên mãn.
NAY CÁO PHÓ
TM. Ban Quản
Trị Tổ Ðình Ấn Quang
Cùng Môn đồ
pháp quyến
TT. Thích Minh Thành
TM. Thường
Trực Ban Trị Sự THPG TP.HCM
Trưởng Ban
Tổ Chức Tang Lễ
TT. Thích Trí Quảng
DANH SÁCH BAN TỔ CHỨC TANG LỄ
CỐ THƯỢNG TỌA THÍCH MINH
PHÁT
- Ủy Viên Tiểu Ban Từ
Thiện Xã Hội THPG – TP.HCM.
- Ủy Viên Từ Thiện Xã
Hội Ban Ðại Diện Phật Giáo, Quận 10
- Phó Ban Quản Trị Tổ
Ðình Ấn Quang - Quận 10
- Phó Giám Ðốc Ðại Tòng
Lâm Phật Giáo - Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Trụ Trì Chùa Phụng Sơn
- Quận 11.
- Trụ Trì Chùa Viên Giác
- Quận Tận Bình.
I.
Ban Chứng Minh:
Hòa Thượng Thích Trí
Tịnh
Hòa Thượng Thích Thiện
Hòa
Hòa Thượng Thích Ðạt Hảo
Hòa Thượng Thích Từ Nhơn
Hòa Thượng Thích Thiện
Trì.
II.
Ban Tổ Chức Lễ Tang:
Trưởng Ban: Thượng Tọa
Thích Trí Quảng
Phó Ban: Thượng
Tọa Thích Minh Thành
Thượng Tọa Thích Nhật Quang
Thượng Tọa Thích Thiện Nhơn
Thượng Tọa Thích Thiện Tánh
Ông Trần Ngọc Bảo - chủ tịch UBMTTQ - Quận 10
Ủy Viên:
Thượng Tọa Thích Minh Cảnh
Thượng Tọa Thích
Tịnh Hạnh
Thượng Tọa Thích An Ngộ
Thượng Tọa Thích Như Tín
Ni Sư Thích Nữ Như Hoa
Ni Sư Thích Nữ Như Hòa
Ni Sư Thích Nữ Như Ấn
Ni Sư Thích Nữ Như Ngọc
Ni Sư Thích Nữ Như Hải
Ni Sư Thích Nữ Như Dung
Ni Sư Thích Nữ Như Quang
Ni Sư Thích Nữ Phước Hiển.
III.
Các Tiểu Ban:
1. Tiểu Ban Nghi Lễ
HT. Thích Nhật Thiện
ÐÐ. Thích Lệ Trang
2. Tiểu Ban Nội Dung
TT. Thích Minh Thành
TT Thích Thiện Nhơn
ÐÐ Thích Lệ Trang
3. Tiểu Ban Thư Ký
TT Thích Minh Thông (Nha
Trang)
ÐÐ Thích Như Thọ
ÐÐ Thích Tắc Ngộ
4. Tiểu Ban Tiếp Tân
Chư Tăng:
TT. Thích Minh Cảnh
TT. Thích Phổ Chiếu
TT. Thiện Thông
Chư Ni:
NS. Thích Nữ Như Quang
NS. Thích Nữ Như Ngọc
NS. Chùa Diệu Ðức – Long
Hoa
Phật Tử:
Ðh. Minh Thiện
Phật tử Ban Hoằng Pháp
Ban Hộ Niệm Tổ Ðình Ấn
Quang
5. Tiểu Ban Tiếp Lễ
NS. Thích Nữ Tịnh Ðức
NS. Thích Nữ Như Hải
Chư Ni Các Chùa Từ
Nghiêm, Phước Hải, Vạn Hạnh, Thiền Ðức.
6. Tiểu Ban Xướng
Ngôn
TT. Thích Chơn Thanh
ÐÐ. Thích Chơn Thành
ÐÐ. Thích Nhật Hỷ
7. Tiểu Ban Thủ Quỹ
ÐÐ Thích Thiện Hảo
ÐÐ Thích Thiện Phát
8. Tiểu Ban Trần
Thiết
ÐÐ. Thích Minh Chiếu
ÐÐ. Thích Thiện Hậu
Cư Sĩ Tổ Ðình Ấn Quang
9. Tiểu Ban Trật Tự
TT. Thích Như Tín
ÐÐ. Thích Thiện Ngộ
Chư Tăng Các Chùa Giác
Ngộ
10. Tiểu Ban Trai
Soạn
Chư Ni Chùa Dược Sư
11. Tiểu Ban Hành
Ðường
Chư Ni Các Chùa Từ
Nghiêm, Viên Quang, Vạn Hạnh, Phước Hải, Phước Hiền, Kim Liên, Thiền
Ðức.
12. Tiểu Ban Hương
Ðăng Chung Cổ
Chúng Chùa Ấn Quang
13. Tiểu Ban Hầu Kim
Quang
ÐÐ. Thích Tắc Ngộ
ÐÐ. Thích Minh Lương
ÐÐ. Thích Quảng Phước
14. Tiểu Ban Âm Thanh
Ánh Sáng
Minh Lực, Lệ Tâm
Anh Thanh
15. Tiểu Ban Y Tế
Diệu Hiền, Diệu Tâm, Bác
sĩ Mai
16. Tiểu Ban Hiếu Ðồ
Quảng Tâm, Quảng Chơn,
Quản Chánh, Quảng Phước, Quảng Huệ, Quảng Thanh, Quảng Thân.
17. Tiểu Ban Thủ Kho
Ban Tri Khách Chùa Ấn
Quang
18. Tiểu Ban Vận
Chuyển
Ban Tri Khách Phối Hợp
Ban Trật Tự
19. Tiểu Ban Thị Giả
Chúng Chùa Ấn Quang
20. Tiểu Ban Vệ Sinh
Thầy Tuệ Không
21. Tiểu Ban Giữ Xe
Phường 9 - Quận 10 phụ
trách.
BAN TỔ
CHỨC TANG LỄ.
Chương Trình Tang Lễ
Cố Thượng Tọa THÍCH MINH
PHÁT
Ngày 21-3 ÂL
(8-5-1996)
18 giờ: Lễ nhập quan
20 giờ:
Luân phiên tụng niệm.
Ngày 22-3 ÂL
(9-5-1996)
07 giờ:
Luân phiên tụng niệm
08 giờ: Lễ thành phục
09 giờ: Lễ
cúng ngọ
10 giờ: Tiến Sư
11 giờ: Thọ trai
14 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
18 giờ: Khai kinh
20 giờ: Luân phiên tụng
niệm
Ngày 23-3 ÂL
(10-5-1996)
07 giờ:
Luân phiên tụng niệm
08 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
09 giờ:
Cúng ngọ
10 giờ: Tiến Sư
11 giờ: Thọ trai
14 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
20 giờ: Luân phiên tụng
niệm
Ngày 24-3 ÂL
(11-5-1996)
07 giờ:
Luân phiên tụng niệm
08 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
09 giờ:
Cúng ngọ
10 giờ: Tiến Sư
11 giờ: Thọ trai
14 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
20 giờ: Luân phiên tụng
niệm
Ngày 25-3 ÂL
(12-5-1996)
07 giờ:
Luân phiên tụng niệm
08 giờ: Lễ thành phục
09 giờ:
Cúng ngọ
10 giờ: Tiến Sư
11 giờ: Thọ trai
14 giờ: Các phái đoàn
phúng viếng
18 giờ: Khai kinh
20 giờ: Luân phiên tụng
niệm
Ngày 26 – 3 ÂL
(13-5-1996)
07 giờ: Lễ di quan (có
chương trình riêng).
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO
VIỆT NAM
HỘI ÐỒNG CHỨNG MINH
Số; 003/QÐ/HÐCM
TP. Hồ Chính Minh,
ngày 10 tháng 5 năm 1996
QUYẾT ÐỊNH
VỀ VIỆC TRUY PHONG CỐ ÐẠI
ÐỨC THÍCH MINH PHÁT
LÊN HÀNG GIÁO PHẨM THƯỢNG
TỌA
Thay
mặt Hội Ðồng Chứng Minh kiêm Phó Chủ Tịch Thường Trực Hội Ðồng Trị Sự
GHPGVN
- Căn cứ quyết định số
83 – BT ngày 29/12/1981 của Bộ Trưởng Tổng Thư ký HÐBT về việc cho phép
thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam;
- Căn cứ nghị quyết đại
hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam, ngày 4/11/1992 tại Hà Hội;
- Căn cứ điều 41, 42
chương IX Nội quy Ban Tăng sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam về
việc truy phong giáo phẩm;
- Xét đề nghị của Ban
Trị Sự Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh;
- Xét công lao đóng góp
tích cực cho Phật sự Giáo Hội;
Quyết Ðịnh
Ðiều I:
Nay
truy phong cố Ðại Ðức Thích Minh Phát, Ủy viên Ban Từ thiện Xã hội Trung
Ương, Ủy viên Tiểu ban Từ thiện Xã hội Thành hội Phật Giáo TP. HCM, lên
hàng Giáo Phẩm Thượng Tọa, kể từ ngày ký quyết định này.
Ðiều II:
Ban
Thường Trực Hội đồng Trị sự, Ban Tăng sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP. HCM có trách nhiệm thi hành
quyết định này.
TM. HÐ CHỨNG
MINH
Kiêm P. CHỦ
TỊCH H. Ð. TRỊ SỰ GHPGVN
HT. THÍCH
THIỆN HÀO
Nơi nhận:
Như điều II “để thi
hành”.
UBND, BTG, MTTQ TP.HCM “
kính tường”.
Lưu VP1-VP2.
Tiểu Sử
Cố Thượng Tọa Thích Minh
Phát
(1956 – 1996)
- Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội
TW. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
- Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội
Thành Hội Phật Giáo TP. HCM.
- Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội
Ban Ðại Diện Phật Giáo Q. 10
- Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm
Phật Giáo - Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Trụ Trì Chùa Viên Chùa
Viên Giác – Q. Tân Bình.
- Trụ Trì Chùa Phụng Sơn –
Q.11
I) Thân Thế:
Thượng Tọa thế danh Lê Nhựt Nguyên,
pháp danh Nguyên Ðức, pháp
hiệu Minh
Phát. Sinh ngày 20 tháng
06 năm 1956 (Bính Thân) tại Chợ Lớn (nay là Quận 10, TP. Hồ Chí Minh).
Phụ thân là ông Lê Thành An, mẫu thân là bà Trương Thị Ba, song thân đều
đã từ trần. Thượng Tọa được bảy anh chị em, Thượng Tọa là người thứ tư
trong gia đình.
II) Thời Gian Xuất Gia
Học Ðạo:
Ðược sinh ra trong một gia đình nhân hậu, đời đời kính tin Tam Bảo và
sẳn túc duyên nên vừa biết đòi ăn là Thượng Tọa đã ăn chay; lại gia đình
may được ở gần chùa nên Thượng Tọa thường theo mẹ sang chùa lạy Phật.
Nhờ đó mà hạt giống Bồ Ðề ngày càng phát triển.
Năm 1964, Thượng Tọa được song thân cho xuất gia học đạo với cố Hòa
Thượng Thích Thiện Hòa, viện chủ Tổ Ðình Ấn Quang – Giám Ðốc Phật Học
Ðường Nam Việt. Kể từ đó, hôm sớm kệ kinh siêng năng hành đạo, Thượng
Tọa cùng với sư huynh Minh Thành giữ chức thị giả hầu cận Hòa Thượng Bổn
Sư; Nhờ gần gũi chư vị Cao Tăng Tôn đức nên chủng trí vô sư nhiều đời
huân tập nhân đây là tăng trưởng.
Năm 1971, Thượng Tọa thọ giới Sa Di với cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ tại
giới đàn Tu viện Quảng Ðức (Thủ Ðức).
Năm 1975, Với hạnh nguyện sâu dầy, oai nghi đĩnh đạc, đáng làm pháp khí
Ðại thừa, Thượng Tọa được Hòa Thượng Bổn Sư cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ
Tát tại giới đàn chùa Pháp Giới (Cầu Tre – Tân Bình) do cố Hòa Thượng
Thích Hành Trụ làm Ðường Ðầu Hòa Thượng.
III) Thời Kỳ Hóa Ðạo:
Năm 1974, khi Hội Ðồng Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc
được thành lập, Thượng Tọa được cử làm chức Phó Tổng Quản Sự, kiêm chức
Tri khố Tổ Ðình Ấn Quang, chăm lo công việc ăn ở cho đại chúng một cách
chu toàn cho đến ngày viên tịch.
Năm 1976, vâng lệnh Hòa Thượng Bổn Sư và theo sự tha thiết thỉnh cầu của
Phật tử chùa Viên Giác, Thượng Tọa kiêm nhậm chức Trụ Trì chùa Viên Giác
- Quận Tân Bình; và nơi đây cũng chính là nơi thế độ chúng đệ tử Ưu Bà
Tắc xuất gia.
Năm 1978, sau khi Hòa Thượng Bổn Sư viên tịch, Thượng Tọa được cử làm
chức Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Cũng năm này, Thượng Tọa xây dựng chùa Viên Dung ở xã Linh Ðông, huyện
Thủ Ðức trên phần đất do Phật tử Diệu Hạnh dâng cúng, là nơi tiếp nhận
chúng đệ tử Ưu Bà Di xuất gia.
Năm 1992, theo lời thỉnh cầu của Hòa Thượng Phước Quang - Trụ trì chùa
Phụng Sơn, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh đã bổ nhiệm Thượng Tọa về
trụ trì chùa Phụng Sơn.
Năm 1993, Sau khi Ðại Hội Phật Giáo toàn quốc kỳ III, Thành Hội Phật
Giáo TP. Hồ Chí Minh lần thứ IV, Thượng Tọa được mời làm Ủy Viên Ban Từ
Thiện Xã Hội Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ủy Viên Tiểu Ban Từ
Thiện Xã Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh và Ủy Viên Ban Từ Thiện Xã Hội
Phật Giáo Quận 10.
Sau ngày 19 tháng 09 năm Quý Dậu, Hòa Thượng Tổng Quản Sự Tổ Ðình Ấn
Quang viên tịch, Thượng Tọa là một trong bốn Thượng Tọa lãnh đạo của Tổ
Ðình Ấn Quang, và ThượngTọa đã đảm nhận chức Phó Ban Quản Trị kiêm Tri
Sự điều hành mọi sinh hoạt của Tổ Ðình cho đến ngày viên tịch.
Bằng giới đức trang nghiêm thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm biểu tượng
nơi quy hướng cho Tăng Ni và Phật tử, trong những thập niên 1975-1995,
Thượng Tọa đã từng đảm nhận các chức vụ Phó Ban Kiến Ðàn, Dẫn Thỉnh Sư
trong các Ðại giới đàn để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni, Phật tử.
Qua đó từng hàng giới tử đạo thể trang nghiêm, giới đức thanh tịnh trở
thành người hữu ích cho đạo pháp và cho xã hội.
Trong sự nghiệp kế thừa đạo mạch, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức,
Thượng Tọa đã thế độ cho hơn một trăm Tăng Ni xuất gia tu học và hàng
ngàn Phật tử quy y Tam Bảo, thực hiện hạnh nguyện lợi tha, tu tâm hành
thiện, đẹp đạo tốt đời. Ngoài trọng trách vận động tài chánh ẩm thực cho
Trường Cơ Bản Phật Học Ðại Tòng Lâm, Ni viện Thiện Hòa, Thượng Tọa còn
nổ lực yểm trợ cho các trường Cơ Bản Phật Học các tỉnh, thành tại một số
địa phương, góp phần đào tạo Tăng Ni tài đức cho Giáo Hội và Tỉnh Hội,
Thành Hội Phật Giáo trong cả nước.
Bằng công đức trang nghiêm ngôi Tam Bảo là trang nghiêm Tịnh độ của chư
Phật, Thượng Tọa đã kế thừa sự nghiệp của cố Hòa Thượng Bổn Sư, đã nổ
lực vận động tài chánh trùng tu ngôi Tổ Ðình Ấn Quang, chùa Long Triều,
kiến thiết Ðại Tòng Lâm Phật Giáo, chùa Huệ Nghiêm, chùa Dược Sư, Chùa
Viên Giác, chùa Phụng Sơn và chùa Khánh Ðức (sông Bé), làm trang nghiêm
đạo tràng xứng đáng là cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng của Giáo Hội tại địa
phương. Ngoài ra Thượng Tọa còn ủng hộ công tác trùng tu, xây dựng một
số lớn cơ sở tự viện tại các tỉnh, thành trên địa bàn cả nước.
Nêu cao tinh thần vô ngã vị tha, từ bi cứu khổ của đạo Phật, Thượng Tọa
đã thể hiện tinh thần ưu đời mẫn thế, hạnh nguyện từ bi vô hạn, qua các
mặt công tác từ thiện xã hội trên khắp mọi miền đất nước; nơi nào có
thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn; bịnh tật, đói khát là nơi đó có hình ảnh và
tài vật cứu trợ của Thượng Tọa. Có thể nói Ngài là biểu hiện của tình
thương, là sự sống của người đau khổ, trong ý nghĩ hạnh nguyện của một
vị Bồ Tát hiện thân.
Qua phúc đức trang nghiêm, túc duyên thù thắng, hạnh nguyện kỳ diệu,
năng lực phi thường, có thể nói Thượng Tọa là Y Chỉ Sư cho toàn thể Ni
giới. Nhất là đối với những hàng Tăng Ni, Phật tử có đủ thiện duyên khi
được diện kiến, qua lời từ nhã, cử chỉ dịu dàng, tỏa sáng gương lành,
tâm hồn thuần hậu của Thượng Tọa, tất cả đều được an lạc thỏa mãn mong
cầu và phước lành thêm lớn, trong ý nghĩ diệu lực thù thắng bất khả tư
nghì của đạo Phật.
Ngoài ra, Thượng Tọa còn dành nhiều thời gian biên soạn những tác phẩm
để lưu lại cho hậu thế, gồm có:
- Ðời sống Ðức Ðiều Ngự.
- Xuân Vô Năng Thắng.
- Giai thoại nhà Thiền.
- Các nghi thức tụng niệm và chúc tán.
- Khoa cúng Tổ Kiều Ðàm Di Mẫu.
- Tu chỉnh Giới Ðàn Ni.
- Các tập thi phú v.v…
Với tinh thần hoằng dương chánh pháp lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu
lai, báo Phật ân đức, hơn nửa cuộc đời phụng sự đạo pháp và chúng sanh -
tốt Ðạo đẹp Ðời, Thượng Tọa đã được Giáo Hội, Thành Hội Phật Giáo, Ủy
Ban Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố và Quận 10 tặng bằng Tuyên
Dương Công Ðức, các bằng khen và giấy khen đủ loại.
IV) Thời Kỳ Viên Tịch:
Kể từ năm 1994, Thượng Tọa đã trải qua cơn bệnh ngặt nghèo, sức khỏe có
phần giảm sút. Nhưng Thượng Tọa vẫn nỗ lực kiên trì thi hành Phật sự,
lợi lạc quần sanh, quyết tâm đi cho trọn con đường phụng sự đạo pháp và
nhân sinh. Nhưng lực bất tòng tâm, như Cổ đức dạy:
Bầu thuốc thánh đâu cứu được người hết số,
Chén linh đơn sao chữa được bệnh nan y.
Thế rồi ngày qua tháng lại, sức khỏe Thượng Tọa kém dần theo cơn bệnh,
nhưng Thượng Tọa vẫn tỉnh giác chánh niệm an nhiên tự tại, sinh hoạt
bình thường trong ý niệm sinh tử nhàn nhi dĩ. Và sau một cơn bệnh nhẹ,
Thượng Tọa đã xả báo an tường, thu thần thị tịch, trở về thế giới Niết
bàn bất sinh bất diệt vào lúc 6 giờ 40 phút ngày 21 tháng 03 năm Bính Tý
(nhằm ngày 08-05-1996), trụ thế 41 năm, Hạ lạp trải qua 21 mùa An Cư
Kiết Hạ.
Thế là Thượng Tọa đã ra đi vĩnh viễn, bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm,
hạnh nguyện chưa tròn, đường phụng sự đạo pháp và chúng sanh còn nhiều
người mong đợi, chờ ơn; nhưng cõi Ta bà đã khuất bóng vì sao, miền Cực
Lạc thêm trang Thượng Sĩ. Tuy nhiên công đức của Thượng Tọa đã cống hiến
cho đạo pháp và chúng sanh sẽ còn sống mãi trong tâm tư những người con
Phật và vạn loại hàm linh, trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô
ngại qua những kiếp lai sinh trần thế cho đến khi chứng quả Bồ đề.
Phụng vì Ấn Quang Ðường Thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế,
húy Nguyên Ðức, hiệu
Minh Phát Thượng Tọa Giác linh
Thiền tọa.
LỜI TƯỞNG NIỆM
GIÁC LINH THƯỢNG TỌA THÍCH MINH PHÁT
của BAN
QUẢN TRỊ TỔ ÐÌNH ẤN QUANG và CHỨ PHÁP HỮU
NAM MÔ
TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT
KÍNH
GIÁC LINH THƯỢNG TỌA MINH PHÁT
Trong
giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, trước khi tiễn đưa kim quan Thượng Tọa
đến nơi trà tỳ. Chúng tôi xin thay mặt Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang và
Quý pháp hữu có đôi lời tưởng niệm một người đồng hành, đồng sự, một
người bạn muôn đời trong chánh pháp.
Kính
Giác Linh Thầy Minh Phát
Biển
nghiệp thức giờ đây đã lặng sóng
Trời
trăng sao đã in đậm nét vô thường giữa dòng bất diệt
Bên này
bờ sinh diệt, lời nào đây nói lên cho cùng
Trong
thế giới Niết bàn, lời nào đây nói lên cho tận!
Nhớ
Giác linh xưa, từ chân tánh hiện thân Ðại sĩ, đức tính hiền hòa, sớm
gieo duyên cùng đạo cả. Quyết chí xuất trần từ thuở nhỏ, chốn Ấn Quang
tỏ chí đạo mầu. Ðường giải thoát lâng lâng nhẹ bước. Vượt trần gian siêu
thoát thường tình. Quả thật bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền
vi mãi ở trong.
Rồi
đã đến độ tâm hoa khai phát, suối nghĩa dạt dào. Thiên tư đỉnh ngộ, mật
khế chân như, tiềm phù Tổ ấn, nối dõi môn phong, làm sáng danh con nhà
họ Thích ngàn đời.
Mỗi
bước chân đi là bao niềm an lạc, mỗi lời giảng pháp là sự giải thoát
tràn đầy. Cử chỉ khoan thai, tiêu tan bao khổ lụy. Từ bi vô ngã, hỷ xả
bao dung, quyết chí độ sinh, tùy duyên đa phương tiện. Một thân thị
hiện, một kiếp hóa duyên, thỏa chí phỉ nguyền thừa hành Phật sự khắp mọi
miền quốc độ. Ðạo đời lợi ích, một thể vuông tròn, ngàn năm còn mãi khắc
ghi ơn tế độ.
Biết
bao Phạm vũ, mấy chốn Tòng lâm, hàng vạn Ðạo tràng trang nghiêm thanh
tịnh. Rừng thiền hoa nở, hương giới bay xa, chan hòa pháp giới. Chúng
sinh ngưỡng mộ, thất chúng quy y. Ðạo tục sum vầy tình pháp lữ, nghĩa
chúng sinh đồng thể đại bi. Ân đức ấy ví cao như núi, sánh tợ biển Ðông.
Thực vậy:
“Hữu
duyên vạn dặm còn tạn mặt
Vô
duyên gặp mặt vẫn cách lòng”.
Thầy
có nhớ chăng! Từ ngày sơ ngộ đến nay, xuân qua hạ lại, hơn ba mươi năm
thắt chặt thâm tình. Tình Ðạo Pháp, tình Linh Sơn thuở trước. Chúng ta
đã cùng nhau chan hòa tình Ðạo pháp, nghĩa Thích tử côn bằng, chung lo
Phật sự, phụng sự chúng sinh, thượng hoằng hạ hóa nêu cao chí cả. Như Cổ
Ðức đã nói:
“ Cây
khô xuân đến hoa nở rộ,
Gió
thoảng ngàn xa hương ngát bay”.
Nhưng
hỡi ôi! Những tưởng tình đạo pháp trọn đời vạn kiếp chốn Ấn Quang kết cỏ
ngậm vành. Quyết thượng hoằng hạ hóa chúng sinh, tục Phật huệ đăng
truyền trì đạo. Nào ngờ đâu, một phút vô thường, âm dương cách biệt.
Thầy đã đến và đi theo định luật vô thường. Quả thực:
“Duyên
trần nay sớm vội chia bôi.
Hoa đàm
sớm rụng, lệ rơi đôi dòng.”
Sự ra đi vĩnh viễn của
Thầy không những là một sự mất mát lớn lao của Giáo Hội, cho Tăng Ni,
Phật tử cũng như môn đồ tứ chúng, mà còn cho tập thể Linh Sơn cốt nhục
Ấn Quang này. Từ nay, trên suốt đoạn đường còn lại của kiếp người, chúng
tôi làm sao tìm lại được hình ảnh của một bậc hiền Tăng khả kính, làm
mẫu mực cho mọi người cho đến khi hơi thở sắp tàn. Hết lòng phụng sự đạo
pháp, phục vụ chúng sinh không biết mỏi cho đến khi hơi thở sắp tàn.
Than ôi:
“Người
xưa nay đã còn đâu
Chỉ còn
mây bạc, lòng sầu tiếc thương.
Ra vào
lòng dạ vấn vương,
Bóng
hình Ðại sĩ du phương xa mờ.”
Giờ
đây, niềm Tịnh cảnh Giác linh Thầy đã tiêu diêu tự tại, chứng vô sinh
xin trở lại Ta bà, để cùng nhau kết giữa chan hòa, tình Pháp lữ Linh Sơn
bất diệt. Chi đến khi nhân tròn quả mãn. Ðường giải thoát thong dong tự
tại, giữa trần ai nhậm vận độ sanh, chứng viên thành đạo quả.
Hôm
nay, trong phút vô thường, giữa trong lòng bất diệt, Thầy đã ra đi trở
về thế giới Niết bàn, vô sanh bất diệt. Nhưng công đức, đạo hạnh của
Thầy đã hiến dâng cho đạo pháp cùng chúng sinh vẫn còn sống mãi trong
tâm tư, trong ký ức chúng tôi và những người con Phật. Cũng như Tăng Ni,
Phật tử và chúng sinh trong tình Pháp giới viên dung vô ngại. Quả thật:
“Một
mai thân xác tiêu tan,
Danh
thơm vẫn ở thế gian muôn đời
Pháp
thân lồng lộng sáng ngời
Sáng
soi nhân thế rạng ngời chân như”.
Ðồng
thời, chúng tôi xin thay mặt Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang cùng chư Pháp
hữu, những người bạn đồng hành, đồng sự Pháp lữ Ðại thừa của cố Thượng
Tọa nguyện đoàn kết hòa hợp một lòng, kề vai sát cánh bên nhau, nỗ lực
hoàn thành sứ mệnh và đoạn đường còn lại mà Thầy đã bỏ dở, đã góp phần
xây dựng trang nghiêm, huy hoàng và hưng thịnh chốn Tổ Ấn Quang, cũng
như các cơ sở liên hệ mà Thầy đã dày công xây dựng và hộ trì, càng phát
triển trang nghiêm trong lòng dân tộc, làm tốt Ðạo đẹp Ðời.
Cuối cùng xin Thầy cùng
chúng tôi kính nguyện:
Linh
Sơn nghĩa cũ tình xưa
Ta bà
Tịnh độ say sưa pháp mầu
Kiếp
sau xin nhớ nguyện đầu
Xây
tình Pháp lữ, bắt cầu tâm giao
Ðời nay
đến những đời sau
Chung
lo Phật sự với bao nhiêu tình
Quyết
lòng độ tận chúng sinh
Từ bi,
trí tuệ thỏa tình ước mong
Không
rời bản thể chân không
Tùy
duyên ứng hiện thong dong mọi miền.
Thôi,
nơi thế giới Niết Bàn, xin Thầy hãy ngao du tự tại.
Xin
vĩnh biệt Thầy!
Nam Mô Ấn Quang Ðường
Thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, Húy
Nguyên Ðức, Hiệu
Minh Phát Thượng Tọa Giác Linh Thiền
Tọa Chứng Minh.
ÐIẾU VĂN
của Chư Ni các Tự Viện TP. HCM do Ni Trưởng
đọc trước Kim Quan Cố Thượng Tọa Thích Minh Phát
- Phó
Viện Chủ Tổ Ðình Ấn Quang - Quận 10.
- Phó
Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Ủy
Viên Ban Từ Thiện Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Trụ
Trì Chùa Viên Giác - Quận Tân Bình
- Trụ
Trì Chùa Phụng Sơn - Quận 11 – TP. HCM.
Nam
Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh.
Nam
Mô Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.
Ngưỡng bạch chư Tôn Thiền Ðức trong Ban Tổ Chức Tang Lễ cùng môn đồ pháp
quyến.
Ngưỡng bạch Giác linh cố Thượng Tọa thùy từ chứng giám.
Trong
giờ phút trang nghiêm thanh tịnh, chúng con kính cẩn nghiêng mình trước
kim quan cố Thượng Tọa, để tỏ lòng quý tiếc bậc Cao Ðăng Thạc Ðức đã sớm
lìa trần thế trở về giác tánh chơn nguyên.
Hỡi ôi!
Sóng
khổ hải lao xao
Trời
chơn như tịch mịch
Bậc
đống lương một phút xa lìa
Ngôi
long tượng nghìn thu cách biệt
Trăng
Lăng Già im bóng
Mây Phổ
Ðà ngừng trôi.
Thượng Tọa phút chốc bỗng về nơi tịch diệt. Ðành rằng cuộc thế vô
thường, thăng trầm luân chuyển, dừng sanh diệt thay đổi liên tục không
ngừng, sinh ly tử biệt là lẽ tức sắc tức không, nhưng hôm nay trước lò
trầm hương đang quyện tỏa, đưa Thượng Tọa đến nơi an nghĩ nghìn thu.
Trong cảnh thành, trụ, dị, diệt chúng con không sao khỏi bồi hồi xúc
cảm, khi hình bóng từ hòa của Thượng Tọa từ nay vĩnh biệt.
Ôi!
Kể từ nay Giáo Hội mất đi một bậc Cao Tăng sáng suốt, hàng Ni Tăng vắng
bóng bậc Giới đức vẹn toàn, tín đồ Phật tử mất đi bậc Ðại Sư gương mẫu,
thật không sự mất mát nào bằng.
Kính
bạch Giác linh Thượng Tọa,
Chúng
con vẫn biết, biển trầm luân vốn sắc không chuyển hóa, nay cảnh sắc
không chốn Tổ hiện, sự nghiệp hoằng dương pháp của Giáo Hội còn đây, mà
Ngài đành dạo gót về Tây, giả từ tất cả.
“Quảy
dép về Tây chốn nghỉ ngơi
Hạc
vàng cất cánh ngắm phương trời
Huyễn
thân trả lại nơi trần thế
Giã
biệt hôm nay có mấy lời”.
Ngài
là bậc Thiệu Long Thánh Chủng, là vị Tứ chúng Trung Tôn, đống lương Phật
pháp. Luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài. Duy trì mạng mạch
Như Lai. Trong chốn thiền môn Ngài là vị đức độ khoan dung, đã hướng dẫn
Tăng, Ni, tín đồ theo con đường đạo pháp chân chính. Ngài đã hy sinh
trọn đời vì đạo. Cuộc sống hạnh đức trang nghiêm của Ngài là tấm gương
phản chiếu cho Tăng Ni chúng con. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã nói lên
hạnh nguyện lợi tha chẳng khác nào ngọn hải đăng chiếu
sáng muôn dặm nơi biển khơi sanh tử. Ngài là hiện tàng tự tại đi ở khôn
lường như: “Bóng nhạn liệng giữa trời xanh, đâu mong in dấu chân trên
mặt hồ”.
Ngưỡng bạch Giác linh Ngài, để lòng tôn kính và báo đáp thâm ân Ngài,
chúng con thành tâm noi gương cao cả của Ngài nguyện tích cực tuyên
dương chánh pháp, nỗ lực thành tựu lý tưởng giải thoát, trang nghiêm
Giáo Hội giữ vững tôn chỉ thuần túy của đạo Pháp, thăng hoa trên bước
đường hành đạo. Hướng dẫn mọi người thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ an
vui cứu cánh, hầu báo đáp hồng ân chư Phật trong muôn một.
Giờ
đây, chúng con quỳ trước kim quan một lòng thành kính đốt nén tâm hương
dâng lên cúng dường mười phương chư Phật và kính điếu Giác linh Ngài,
nguyện cầu Giác linh Thượng Tọa cao đăng Phật quốc, bất xả từ bi, thùy
quang đổng chiếu, hồi nhập Ta bà, hóa độ chúng sanh, viên thành Chánh
giác. Ngưỡng nguyện Ngài thùy từ chiếu giám. Ðồng thời chúng con cũng
không quên thay mặt chư Tôn đức Ni các Tự viện (Ni bộ) thành tâm phân ưu
cùng chư Tôn Ðức môn nhơn pháp quyến, chân thành kính chúc chư Tôn Thiền
Ðức pháp thể vô biên an lạc để nêu cao đuốc tuệ chánh pháp.
Nam
Mô Lạc Bang Giáo Chủ Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật tác đại chứng minh.
ÐIẾU VĂN CỦA MÔN ÐỒ PHÁP QUYẾN
Siêu tiến Giác linh Bổn Sư, Sa Môn Thích
Minh Phát viên tịch ngày 21 tháng 3 năm Bính Tý
Than ôi!
Kể từ nay:
Ðàn truyền giới vắng
Thầy Ðiển Lễ
Chùa Ấn Quang khuất bóng
Ân Sư
Nước Cực Lạc sen khai
chín phẩm
Cõi Ta bà an giấc ngàn
thu.
Nhớ Thầy xưa:
Căn trần thanh tịnh,
xuất gia từ lúc tuổn còn thơ,
Bẩm tánh hiền hòa, hoằng
pháp từ khi vừa tiến Cụ,
“Với gió mát trăng
thanh kết bạn,
Cùng hoa Ðàm đuốc tuệ
làm duyên.”
Từ đây, nơi pháp hội
thêm người thoát tục,
Do đó, giới Tăng Ni có
bậc siêu trần.
Mồi tửu sắc nhường cho
trần thế,
Bả lợi danh đoạn tuyệt
tâm hồn,
Nhịp mõ sớm, khua tan
đêm trường mộng,
Tiếng chuông khuya, thức
tỉnh kẻ đam mê.
Sẵn túc nhơn, trí tuệ
biện tài,
Chân tham lễ nào đất
Bắc, nào Trung phần, nào Nam Việt thân hầu nhiều chốn Tổ.
Theo đại nguyện, thi ân
bố đức,
Kết duyên lành những Ai
Lao, những Thái quốc, những Cao Miên du hóa khắp Ðông Nam.
Ðã tới lúc:
Trụ Pháp Vương gia,
Trì Như Lai tạng.
Thầy đương gia chức Phó
Quản Sự Ấn Quang, Ðại Tùng Lâm Phật Giáo.
Rồi gặp khi:
Hoằng dương chánh pháp,
Tiến dẫn hậu côn,
Thầy lãnh trụ trì chùa
Viên Giác, Viên Dung, cùng chùa Gò di tích
Những tưởng:
Ðộ sanh duyên mãi
Hóa đạo còn dài,
Ngờ đâu:
Tuổi đời chưa lão
Duyên bệnh lại nhiều.
Cho dù:
Linh đơn Biển Thước khó
đuổi bệnh căn,
Diệu dược Kỳ Bà khôn xua
thần chết.
Than ôi!
Ân xưa nhớ mãi
Tang mới buồn hoài
Sư, nay hóa duyên đã hết
Thầy, thần đạo chốn Liên
bang
Lý vô thường sắc sắc
không không
Thân tứ đại sanh sanh
diệt diệt
Mơ màng dáng dấp ngàn
thu, mưa mờ dấu bước;
Phảng phất mộng hồn muôn
thuở, khói tỏa hình dung.
Thôi từ nay!
Phật giáo mất đi một vị
chân tu đại hạnh;
Tín đồ thiếu hẳn bậc
thầy chỉ lối đưa đường.
Khắp mọi miền bùi ngùi
luyến tiếc,
Bao Phật tử gạt lệ chia
ly.
Môn đồ vắng lặng tiếng
Pháp âm,
Hiếu quyến không còn lời
khuyên bảo.
Giờ đây trước linh cữu,
Hương trầm nghi ngút,
Ðèn tuệ sáng ngời.
Lời nguyện cầu cao đăng
thượng phẩm,
Nhạc tiễn đưa vĩnh biệt
thầy hiền.
Thuyền giải thoát xuôi
buồm về đất Phật;
Hình Ân Sư đẹp mãi dưới
trời Nam.
Ngửa mong linh giác thùy
từ,
Dũ ánh quang minh chiếu
giám.
Nam Mô
Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.
Thích Quảng Chơn kính ghi.
VĂN ÐIẾU
của HUYNH ÐỆ ÐỒNG MÔN
Than ôi!
Mưa chiều khói nước mịt
mờ, thuyền con lạnh lẽo,
Ðêm vắng đèn thiền leo
lét, trượng thất quạnh hiu.
Tìm dáng dấp thêm buồn,
Nhìn di dung càng nhớ.
Nay tông môn huynh đệ,
bốn chúng Tăng Ni thuộc môn hạ của cố Hòa Thượng Bổn Sư thượng Thiện hạ
Hòa.
Giờ này, đối trước linh
đài, nghẹn ngào đau xót!
Nghĩ rằng: Thầy!
Ra đời độ sanh, hiện
huyễn tướng như trăng lồng đáy nước,
Tùy cơ tiếp vật, tìm
chơn thân như hiện bóng trong gương.
Nhớ Thầy, người:
Tánh hòa trăng trắng
Mắt tách hoa mờ.
Xứng danh huynh đệ nương
gần
Ðáng bậc đàn na trọng
vọng.
Nào ngờ:
Trần gian lặng bóng
Thánh cảnh an thần
Vẫn biết rằng tức sắc
tức không
Nhưng xót nỗi nào sanh
nào diệt.
Than ôi!
Vang bóng tìm nơi nao,
Người không pháp có sao,
Không đi vì không đến,
Chim in dấu trời cao.
Xin kính chúc Thầy,
Ðến nước Như Lai tiêu
diêu muôn thuở,
Vào nhà Từ Phụ an nghỉ
ngàn thu.
Và thầm gia hộ cho:
Ấn Tổ vuông tròn, Tăng
Ni hòa hiệp,
Tôn Phong trong trắng,
thiện tín triêm ân.
Tất cả một lòng,
Dâng hương mặc niệm.
Nam mô
Phụng Vì Ấn Quang Tự, Từ Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tứ Thế, húy
Nguyên Ðức, hiệu
Minh Phát Ðại Sư Giác linh.
Thích Minh Thông (Nha Trang)
Ðiếu Văn
Nam
mô A Di Ðà Phật.
Ðược
ai tin Thầy đã an nhiên thị tịch, chúng tôi Ban Kinh Sư chùa Ðịnh Thành
cùng Tăng, Ni, Phật tử, và chư Phật tử môn hạ chùa Viên Giác, cùng nhau
về trước linh đài, xin thắp nén tâm hương cúng dường trợ tiến.
Kính bạch Giác linh
Thầy:
Thầy vẫn thường nói:
Ta bà là cõi tạm, nơi
gởi thân sanh tử trăm năm,
Cực Lạc ấy quê hương,
chốn an mạng Niết bàn muôn thuở.
Thâu thần mà thẳng đến
Vô dư,
Tình pháp lữ phải thăm
phải viếng.
Bạch Thầy:
Mới ngày nào,
Thầy còn đăng đàn tuyên
dương chánh pháp
Tôi thì niệm chùy kích
cổ xuy loa
Tình huynh đệ say sưa
đạo vị
Nghĩa kim bằng công án
cùng tham.
Nghĩ cũng tưởng:
Cái gót tùy duyên vẫn
mãi
Nụ cười hỷ xả luôn hoài.
Nào ngờ đâu:
Cửa trần gian lặng khép
Sen Cực Lạc liền khai
Thôi từ nay!
Trăng lạnh phương bào
Mây mờ viên đảnh
Một bước chia tay muôn
thuở
Giữa đường rẽ gánh ngàn
thu.
Giờ này trước linh tòa
phảng phất mộng hồn như thật, đau buồn kẻ ở người đi.
Chúng tôi kiều cần năm
vóc, qui mạng Phật Ðà dâng hương kính nguyện:
Trên ao cửu liên sáng
soi đưa xuống
Trong nhà Tam Bảo hoa
rải rước về
Ðộ sanh còn nhớ lời thề
Tiếp chúng chưa quên ý
nguyện
Tái lai thị hiện ứng hóa
độ sanh.
Nam Mô Sanh Phật Quốc Bồ
Tát Ma Ha Tát.
Thích Lệ Trang kính ghi
Cảm niệm Ân Sư
của toàn thể Môn Ðồ Pháp Quyến
Nam Mô A Di Ðà Phật
Kính bạch Giác linh
Thầy.
Thầy ôi!
Ðèn thuyền xao gió,
Trăng giới lờ mây.
Nét bước tượng vương,
nơi cửa pháp mơ màng trước mắt,
Tiếng kêu sư tử, lối
rừng chiên vắng vẻ bên tai.
Vả chăng hay: Sắc tướng
trò chơi đất cửu hữu,
Vẫn biết rằng thân này
là ngũ uẩn,
Nhưng ngặt vì nỗi sư đồ
nghĩa nặng.
Thuở xưa kia, trời Tứ
Không còn khóc cảnh Song Lâm,
Thì nay đây, trước cảnh
biệt ly, chúng con làm sao ngăn được đôi dòng lệ đổ.
Giờ này:
Chúng con quỳ trước linh
đài, giữa khung cảnh trang nghiêm, hương trầm quyện tỏa, thành kính dâng
lên Thầy lời tâm sự sau cùng,
Ðể rồi vĩnh viễn Thầy
trở về cảnh giới Niết Bàn, và kể từ nay, chúng con đành mất đi bậc Ðạo
Sư cương kỷ.
Kính bạch Thầy:
Chúng con nhớ lại!
Buổi xa xưa, nơi rừng
Song Thọ, đức Thế Tôn vào đại định Niết Bàn,
Thì ngày nay, trụ xứ Ấn
Quang, Thầy an nhiên thâu thần về cõi Phật.
Thuở sanh tiền:
Ðức hạnh của Thầy, vời
vợi non cao
Gương tánh trong ngần,
sóng tình bặt dứt,
Căn trần thanh tịnh,
nương vào túc thế thiện duyên.
Chí nguyện xuất gia, vào
chùa lúc tuổi còn thơ ấu,
Theo hầu bên Hòa Thượng
Tôn Sư,
Thân cận cùng đồng môn
huynh đệ.
Nơi Ấn Quang đêm ngày
công quả, phát sanh trí huệ bao la,
Xem trần gian giấc mộng
chiều tà, lòng hỷ xả lợi tha là hạnh.
Gót Tăng lữ, khắp mọi
nơi Thầy dạo bước,
Chốn môn đình, Thầy tuân
giữ nghiệp gia phong.
Sớm tối ân cần,
Tinh chuyên tu niệm.
Xứng ngôi bốn chúng tôn
thờ,
Ðáng bậc mọi người cung
kính.
Nhớ Thầy!
Tuổi còn trẻ mà vai
hoằng Phật sự,
Vì lợi sanh chẳng quản
đến thân mình.
Cho đến lúc nghiệp bệnh
ràng thân,
Thầy vẫn sớm tối ân cần
tụng niệm,
Phật sự nhiều nơi cần
đến,
Thầy đều thật dạ lo
toan,
Thầy thường dạy bảo
chúng con,
Phải luôn tô bồi công
đức.
Nhớ lại thuở Hòa Thượng
Tôn Sư viên tịch,
Thời nhiễu nhương, sinh
hoạt thiếu thốn, Tăng chúng khó yên tu.
Vâng lời truyền di huấn
của Tôn sư,
Thầy đảm nhận kinh tế
nuôi Tăng chúng.
Trước chùa Ấn Quang,
Thầy đã tự thân đứng bán,
Nào thơm, nào mía, nào
hủ tiếu, nào thức ăn,
Tạo ra từng đồng tiền để
làm phương tiện nuôi chư Tăng ở yên tu học.
Tự tay Thầy nấu nướng,
từng thức ăn thức uống, dâng chư Tăng no đủ để yên lòng.
Mong Tăng Già tu học đến
thành công,
Nương theo hạnh Như Lai
mà độ chúng
Có vị nào tật bệnh,
Dù ở tận nơi đâu Thầy
cũng đều giúp sức.
Lo toan nơi nhà bếp,
Cùng môn đồ tứ chúng kết
thiện duyên.
Xem bệnh hốt thuốc nam,
Vì người mà cứu khổ,
Tới lui nơi đường chợ,
Cũng vì chùa mà tìm nẻo
sanh phương.
Tổ chức hành hương,
Dẫn Phật tử tham quan
khắp xứ,
Bắc, Trung, Nam bộ,
Vạn dặm sơn hà.
Ðất Thái, Lào một thuở
lại qua,
Xứ Cam Bốt nhiều phen
lui tới.
Ði cứu trợ mở mang vận
hội,
Khắp Nam kỳ lục tỉnh vừa
rồi,
Lũ Quảng Bình cũng đến
tận nơi,
Hà nội, biên cương,
Trường Sơn nào quản.
Một đời tròn công quả,
Vẹn nghĩa với sanh
thành.
Chùa Ấn Quang Phật sự đã
chu viên,
Nơi Viên Giác trùng tu
còn dang dở.
Thật là:
Mảnh chơn tướng dễ lờ
nước thủy,
Ðiểm không hoa chẳng
dính dịu trần.
Bước vào đời chẳng ngại
khó khăn,
Suốt một kiếp vui câu
đạo lý.
Biển thệ nguyện bao la
rộng lớn,
Trời chân tâm sáng tỏ
làu làu.
Sửa sang chùa tháp trước
sau;
Lợi vật, lợi nhân tùy
thời cứu giúp,
Chúng sanh cần thì đến,
chẳng ngại gian lao.
Ðạo pháp cần thì đi,
không nề khó nhọc.
Chúng con cũng nhờ nơi
phước đức căn lành dành sẵn, được gặp Thầy theo mà học đạo Như Lai.
Trừ tội chướng, một đao
xuống tóc,
Phú phước điền, ba lớp
truyền y,
Ðạo đức say sưa,
Thầy trò hoan hỷ,
Lý kinh nghĩa luật,
giọng pháp âm tỏ rõ ngọn ngành,
Chỉ lối mở đường, đưa
chúng con đến nhà Bảo sở.
Những tưởng:
Thầy trò mãi cùng nhau
sum họp,
Mãi cùng nhau phụng sự
đạo mầu.
Giấc Hoàng lương chưa
hết vội đâu,
Ðất Cửu trụ còn nhiều
duyên gần gũi.
Nhưng hỡi ôi!
Bầu thuốc thánh khó cứu
người tận số,
Chén linh đơn khó chữa
bệnh nan y.
Sáng mờ sương Thầy từ
giã mọi người,
Lời vĩnh biệt khó mong
ngày tái ngộ.
Trống Bát nhã vang rền
nơi chốn Tổ,
Chuông Lôi âm giục tiễn
khách vào thiền.
Sống Ta bà bốn mươi mốt
xuân thu,
Và nhập được hai mốt mùa
kiết hạ.
Giờ đây:
Tấm áo Cà sa sương lạnh
ngắt,
Cành hoa Bát nhã gió
buồn hiu.
Khi nào Thầy thăng tòa,
trò niêm chùy cùng nhau sum vầy nơi pháp hội,
Bây giờ trò Ta bà, Thầy
Cực Lạc biết bao sùi sụt nỗi ly tư.
Lơ láo một mình nơi chùa
cũ,
Ðau buồn vì nỗi vắng
bóng Thầy.
Biết đi về ngàn dặm đâu
đây,
Tìm nơi nao mong chừng
gặp lại.
Thầy ơi! Kể từ nay:
Biết cậy ai ngày la đêm
nhắc,
Biết nương ai sớm dắt
tối dìu,
Biết hỏi ai mở trí
nguyên thần,
Biết nhờ ai nuôi thân
huệ mạng.
Than ôi!
Chốn Tòng lâm bực Tôn
đức lìa ngôi,
Trong Tăng giới thiếu đi
người đại hạnh.
Chúng con nhớ lại Thầy,
Biết bao năm hoằng thệ,
Lúc tịnh tu, khi khai
đạo độ đời,
Ðến hôm nay,
Thuyền Ðại nguyện trở về
neo bến giác.
Xem Tam thừa giục thúc
buổi đăng trình.
Môn đệ buồn vì đôi ngã
tử sinh,
Thiện tín tủi vì mất
Thầy dìu dắt.
Thầy ra đi lúc tuổi đời
chưa lão,
Khi hai vai còn nặng
gánh đạo đời.
Than ôi!
Sữa pháp mất rồi, lòng
còn đói mãi,
Thiền phòng vắng vẻ,
trượng thất bụi mờ.
Biết tìm đâu hình bóng
từ hòa,
Ðã hướng dẫn con đi vào
đạo.
Ðất nước Như Lai, Thầy
dạo chơi muôn thuở,
Vào nhà Từ Phụ, Thầy an
nghĩ ngàn thu.
Có hay chăng một đàn con
dại,
Ðang ngẩn ngơ giữa buổi
xuân tàn.
Ô hô!
Vân tán, tuyết tan,
Hoa tàn, nguyệt khuyết,
Ngày xưa rừng Ta La còn
là nơi diệt độ,
Giờ đây Ấn Quang buồn
đưa tiễn gót Thầy đi.
Biết tìm đâu ra hình
bóng uy nghi,
Bậc Thầy khả kính Tăng
Ni nể vì.
Ngưỡng mong Giác linh
Thầy!
Nơi Liên Trì phó hội,
Nước Cực Lạc nghe kinh.
Nương thuyền từ thệ
nguyện độ sinh,
Khắp ba cõi vào ra tự
tại.
Giờ này:
Mây Bát Nhã trên nền
trời không in dấu,
Hoa Ưu Ðàm rơi rụng vẫn
dư hương.
Ngày mai đây,
Nhục thân Thầy sẽ rời
chốn Phật đường,
Nhưng giác tính hằng nêu
gương bất diệt.
Ðôi lời tâm sự, một bức
ai văn,
Ðệ tử kiền thành, hòa
nam bái bạch.
Thích Ðồng Văn cung soạn.
Văn TÁC BẠCH
CÚNG DƯỜNG BÁO HIẾU ÂN SƯ THƯỢNG MINH HẠ
PHÁT
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật.
Kích bạch, Chư tôn Hòa
Thượng, Chư Thượng Tọa, Chư Ðại Ðức Tăn, Ni.
Hôm nay hiếu đồ pháp
quyến chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ xin dâng lời tác bạch.
Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A
Di Ðà Phật tác đại chứng minh.
Ngưỡng bái bạch Chư Tôn
Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức Tăng, Ni.
Chúng con kính nghe:
Ta Bà cõi tạm, nơi gởi
thân sanh tử trăm năm,
Cực Lạc quê hương, chốn
an mạng Niết bàn muôn thuở.
Tùy duyên vô ngại,
Ði ở khôn lường.
Thiệt là:
Quảy dép về Tây chốn
nghỉ ngơi,
Hạc vàng cất cánh ngắm
phương trời,
Huyễn thân bỏ lại nơi
trần thế,
Giã biệt hôm nay luống
ngậm ngùi.
Từ đây,
Mơ màng hồn mộng năm
canh, linh tòa tịch mịch,
Vắng vẻ hình dung muôn
thuở thiền thất cô liêu.
Nhớ khi nào,
Khách viên đảnh, bạn
phương bào, cùng Thầy hội ngộ,
Người phù bôi, kẻ chấn
tích, một thuở tao phùng.
Nhưng rồi vật đổi sao
dời,
Huyễn thân biến thiên
sanh diệt.
Xót nỗi hoa trôi nước
chảy,
Chạnh lòng vắng bóng Ðạo
sư.
Hỡi Thầy!
Duyên hóa độ đeo mang
thuở nọ, Thầy gỡ sao đành,
Gánh từ bi gởi gắm ngày
nào; Thầy sang sao nỡ.
Nhưng rồi: