VÌ SAO CHỢT TẮT
Tiểu Huyền
Một vì
sao sáng trong giới nữ tu Phật Giáo Việt Nam đã vụt tắt trong đêm trăng
14 vừa qua tại Việt Nam: Ni Trưởng Trí Hải cùng hai sư em là Tuệ Nhã và
Phước Tịnh đã bị tai nạn xe hơi tại Long Khánh, viên tịch ngày 07 tháng
12, 2003. Tin buồn chung được loan báo bằng Internet, nên chỉ vài giờ
đồng hồ sau, hàng triệu người Việt Nam khắp thế giới đã được hay. Từng
cá nhân, từng chùa lớn nhỏ, đâu đâu cũng có lễ cầu siêu cho hương linh
của sư cô cùng các sư em. Tuy nhiên, người viết tin chắc rằng cô đã được
siêu thăng tịnh độ ngay khi xả bỏ báo thân của kiếp này rồi. Được gặp
mặt và trao đổi ít nhiều câu chuyện với cô, chúng tôi nhận được từ thân
tâm cô những năng lượng sáng láng của một con người chân tu. Sự thanh
tịnh làm cho trí tuệ sáng láng nơi cô có phần dịu lại, như cách châm trà
nhẹ nhàng, cử chỉ khoan thai. Cô đúng là một thiền sư đã biết sống thiền
từng giây phút.
Trong bài
"Ngõ vào thiền", Sư Cô Trí Hải đã viết: "...Thiền là một phẩm chất của
đời bạn, như hơi thở. Bạn tiếp tục thở dù cho bạn làm bất cứ việc gì,
chứ không thể khi thở khi không. Thiền là một hơi thở tâm linh. Cũng như
thân thể đang thở không khí, tâm bạn cũng thở với ý thức tỉnh giác. Khi
bạn hít vào thở ra với ý thức thì bạn không chỉ là một xác thân vật lý
mà từ đó có một sự thở "cao cấp", nghĩa là thở trong tỉnh thức, hít thở
chính sự sống. Khi ấy bạn đi vào một lãnh vực khác, gọi là lãnh vực siêu
hình."
Sự thở
của bạn là vật lý, còn thiền định, ý thức tỉnh giác (Awareness - chánh
niệm) - là siêu hình... Bạn có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn
thế đời sống là một thiền định sâu xa: Núi đồi, trăng sao, hoa lá, cây
cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định... Thi nhân có thể vào thiền định
không cần đến bậc thầy nào, cũng không đi chùa... Ông ta có thể "nhập
đạo" bằng thơ văn, bằng tính sáng tạo trong mình. Một người thợ gốm cũng
có thể nhập thiền chỉ nhờ nắn đồ gốm. Mỗi ngành nghề đều có thể trở
thành một cổng vào đạo... nếu như việc của bạn làm có phẩm chất của tính
giác chánh niệm." Vậy thì hành vi, kỹ thật, phương pháp không quan trọng
ý thức tỉnh giác mà bạn đặt vào mội hành vi mình làm..."
TIỂU SỬ:
Sư Cô Trí Hải có tên trong khai sanh là Công Tằng Tôn Nữ Phùng khánh,
sanh năm 1938 trong một gia đình có truyền thống tu học từ lâu tại đất
thần kinh. Thân phụ cô là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều, cháu nội của Tuy Lý
Vương.
Khi mang
thai cô được ba tháng, thân mẫu cô là cụ bà Trừng Xuân đã tới xin cho
thai nhi được quy y tam bảo với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết (tăng thống
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thời 1964). Hòa Thượng cho cô
pháp danh là Tâm Hỷ. Đỗ tú tài rất sớm (năm 17 tuổi), cô học về sư phạm
và trở thành giáo sư trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Cô sang Hoa Kỳ du
học năm 1960, tốt nghiệp cao học (MA) ngành thư viện. Trở về nước năm
1963, Tôn Nữ Phùng Khánh cùng em gái là Phùng Thăng phụ giúp cho ni
trưởng chùa Phước Hải để quán xuyến cư xá nữ sinh viên.
Năm 1964 cô xuất gia với
Sư Bà Diệu Không tại chùa Hồng Ân (Huế), pháp hiệu là Trí Hải (Trí tuệ
như biển). Khi Viện Cao Đẳng Phật Học (chùa Pháp Hội) trở thành Viện Đại
Học Vạn Hạnh, Sư Cô Trí Hải trở thành thư ký của viện trưởng là Hòa
Thượng Minh Châu. Từ năm 1968, sau khi thọ giới Sư Cô Trí Hải trở thành
Thư Viện Trưởng và Giám Đốc Trung Tâm An Sinh Xã Hội của Viện Đại Học
Vạn Hạnh. Năm 1970 sư cô thọ giới Bồ Tát và giới Tỳ Kheo Ni tại Đà Nẵng.
Sư cô tiếp tục làm giảng sư của viện và nhiều trường Phật học khác cho
tới ngày nay. Mới đầu tháng 12, 2003 vừa qua, Sư Cô được đề cử làm Phó
Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam.
Trong 39 năm tu hành nổi
tiếng là người hành trì nghiêm mật, Sư Cô Trí Hải đã luôn luôn sống với
tấm lòng hỷ xả, an vui, và cô cũng đã đem lại bao nguồn vui cho những
người kém may mắn khắp nơi. Có thể nói trong bao năm đó, hàng triệu nạn
nhân thiên tai hay bị bệnh ngặt nghèo và đói khổ đã được cô tặng cho
thực phẩm, và quan trọng hơn nữa là được Sư Cô tặng cho những bài giảng
pháp đơn giản mà sâu xa. Chị Thu Nguyễn từ California về, đã cùng với Sư
Cô đi phát tặng phẩm cho một nhà nuôi trẻ mồ côi tại miền núi Bắc Việt
hồi cuối năm 2002. Chị cho biết sư cô đi bộ rất khỏe, và giảng pháp rất
hay. Nhiều người lớn tới nghe cùng đám trẻ, đã rưng rưng khóc vì cảm
động. Họ nói "Từ bé tới giờ, con mới được nghe Phật Pháp, mà cô nói dễ
hiểu quá, con thật là sung sướng...!"
Ngoài những hoạt động
hoằng pháp và giúp kẻ khôn cùng, Sư Cô Trí Hải còn được giới văn nghệ
coi là một cây bút xuất sắc ngay từ thời chưa xuất gia. Cô và cô Phùng
Thăng đã dịch và xuất bản các tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (của Herman
Hesse), Bắt Trẻ Đồng Xanh (của...) Sau đó, sư cô đã dịch và sáng tác
nhiều tác phẩm quan trọng như:
Thanh Tịnh Đạo Luận,
Đường Về Nội Tâm, Thắng Man, Tạng Thư Sống Chết, Giải Thoát Trong Lòng
Tay... và quan trọng nhất có lẽ là các bản Toát Yếu Trung Bộ Kinh (3 tập).
Vào đầu tháng 03 năm nay,
khi đi cứu trợ đồng bào thiểu số tại Đà Nẵng, Sư Cô đã bị té, cột sống
bị thương rất nặng. Tuy đau đớn nhiều, lúc nào nét mặt Sư Cô cũng vẫn
tươi tắn, hoan hỷ với mọi người và vẫn tiếp tục công việc dạy đệ tử. Cô
làm những bài thơ "Ngọa Bệnh Ca" và "Báo Ân Ca", bày tỏ lòng biết ơn với
những người đã săn sóc, thăm hỏi.
THƯƠNG TIẾC SƯ CÔ
Một Phật tử ở Canada, anh
Tâm Mạch Nguyễn Thế Hà đã viết như sau về tư cách khiêm cung của Sư Cô
Trí Hải:
"...Hai ngày ngắn ngủi
sinh hoạt với Ni Sư nhưng con đã học được đức khiêm cung và đạo hạnh của
Ni Sư rất nhiều. Ni Sư khi tặng cho con hai cuốn sách, đã tặng sách của
các vị khác chứ không phải sách của cô."
Phật tử Thái Thị Kim Lan
tại Âu Châu đã viết về Sư Cô như sau:
"...Gương mặt và đôi, mắt
sáng ngời tỏa ra nghị lực nội tâm, không có gì có thể lay chuyển, trong
chí nguyện tu học, Sư Cô Trí Hải đã không ngừng thể hiện tri (hiểu biết)
và hành (làm) trong thể nhất quán Bi Trí Dũng... Ni Cô đã nổi tiếng trí
tuệ nhất mực, chuyên cần nhất mực và giữ giới nghiêm túc không ai bằng,
nhưng không bao giờ tự mãn... Chính vẻ đẹp cao quý tổng hợp được những
nét đạo tuyệt đẹp này đã có sức mạnh thuyết phục những kẻ xa lạ..."
Theo ông Cao Huy Thuần,
Sư Cô là một con người THẬT - "thật như một người trí thức, trong suy
nghĩ cũng như trong hành động. Cô Thật như một người đạo hạnh, bên trong
lẫn bên ngoài... Có lẽ vì chuộng cái Thật như thế nên cô suốt đời làm
người học, học không mỏi mệt, và cách học hay nhất của cô là dịch sách.
Cô dịch kinh và dịch sách... Nhìn công trình dịch của cô, mấy ai theo
kịp, vừa lượng vừa phẩm... Cô viết ít dịch nhiều như tuồng dịch cũng là
cách tu của cô. Như tuồng cô không muốn phô trương về mình... Cô để lại
hình ảnh một bậc Ni Sư toàn vẹn mà Phật Giáo Việt Nam tự hào, hình ảnh
đẹp thanh thoát của một hành trình đi vào chữ Không."
Cụ Nguyễn Tường Bách nhắc
lại một vài giai thoại về Sư Cô Trí Hải:
"...Ngày nọ tôi nghe cô nói:
Thì ra cái máy vi tính hắn cũng giống tâm người
Giống chỗ nào thưa cô?
Mình ở trong một cái hồ sơ (file) nào đó thì mình không thể xóa (erase)
nó được.
Mình ra khỏi nó mới xóa được nó.
Thì giống chỗ nào?
Tâm cũng thế thôi. Đang giận thì khó mà biết mình đang giận lắm".
Một ngày khác Sư Cô nói với cụ Bách:
"Đau răng mới biết rõ ý nghĩa của Vô Ngã
Răng với vô ngã có ăn thua gì đâu cô?
Khi răng
không đau thì mình không để ý tới hắn, coi như không có. Khi hắn lên
tiếng là có chuyện. Cũng thế, nếu mình vô ngã thì môi trường chung quanh
mình rất dễ chịu. Còn mình lên tiếng "Có tôi đây" thì có chuyện ngay.
Bởi vậy, muốn lành mạnh phải vô ngã thôi."
Trong bài
"Ngõ Vào Thiền" Sư Cô Trí Hải cũng đã viết: "Chúng ta cũng chỉ là những
làn sóng trên đại dương vũ trụ. Hơi thở vào của mỗi người là hơi thở ra
của người khác, của cây cối và của mọi sinh vật khác. Trong ta có toàn
thể mọi người, mọi sự. Tính cá nhân, riêng rẽ chỉ là chuyện huyễn hoặc,
mê lầm. Bởi thế chấp ngã là chướng ngại duy nhất và mọi tôn giáo đều lên
án thái độ ích kỷ, chỉ biết có mình..."
Người Việt 12-16-03