Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm Đại Lão
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu


...... ... .

 

PHẦN III

 

 Thơ văn tưởng niệm

 

(5)

HOÀI NIỆM ÂN SƯ

Ni sinh Hng Mai

 

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy.

Huế đã vào đông, cái rét lạnh của Huế, cộng thêm tiếng gió rừng vi vút, tiếng côn trùng rả rít khiến người học trò của Thầy thức giấc. Thầy ơi! Khí trời đã lạnh, lòng con lại càng tê buốt hơn khi nhớ đến sự ra đi của Thầy.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy ! Thế là Thầy đã từ giã mái trường học viện, giã từ rồi. Dáng bước khoan thai với màu áo nâu bình dị, chiếc mũ len vàng vẫn còn hằn rõ nét trong tâm trí của Tăng, Ni sinh chúng con. Chúng con không ngờ Thầy cấp phát văn bằng cho chúng con là ngày Thầy trò gặp nhau lần cuối cùng. Ngay sau khi nhận văn bằng, chúng con đã lên kế họach chọn ngày truyền thống để họp mặt và hầu thăm Thầy, nhưng chưa được thực hiện tâm nguyện thì Thầy đã trở về Tây.

Thầy ơi! Thầy đã khó nhọc biết bao cho sự hình thành trường lớp Phật giáo ở Huế. Hết Cơ bản lại Học viện, Thầy phải vượt qua bao nhiêu chướng duyên nghịch cảnh để phục hồi nền giáo dục Phật giáo Thừa Thiên. Trong bốn năm học, chúng con chỉ được kề cận Thầy hai năm rưởi, nhưng tình thương và sự lo lắng của Thầy ban cho chúng con vô bờ bến. Thầy đã tận tâm lực đối với Tăng, Ni sinh khóa I Học viện chẳng khác gì người cha hiếm muộn thương yêu chăm sóc đứa con đầu lòng. Chúng con được thọ giáo nơi Thầy vô vàn điều quý báu. Ngoài nghĩa lý uẩn áo của Ngũ Uẩn, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, cuộc đời Thầy là một bài pháp sống động vi diệu. Ngoài những giờ lên lớp, mỗi lần chúng con hầu chuyện Thầy là chúng con được một bữa cam lồ pháp vị. Trong những chuyến hoằng pháp phương xa, gặp điều gì hay đẹp Thầy đều nghĩ về Tăng, Ni sinh chúng con và tìm mọi cách trao chuyền cho chúng con. Chính nhờ buổi tuyền trình chuyến thăm Trung Quốc, viếng Đài Loan của Thầy mà Tăng, Ni sinh chúng con thấy được tình hình sinh hoạt Phật giáo của các nước bạn, hình dung được sự tiến triển tốt đẹp của tình hữu nghị Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc trong thời đại mới. Chuyến tham quan động Phong Nha vào năm thứ nhất của Tăng, Ni sinh chúng con cũng được thực hiện bởi tâm hồn yêu thiên nhiên thương học trò của Thầy. Nhất là trong những tháng ngày lâm bệnh, mặc dù không lên lớp được nhưng Thầy luôn luôn quan tâm lo lắng đến sự tu học của chúng con. Có đoàn khách nào đến thăm, Thầy cũng khuyến khích họ lên thăm Học viện. Không chỉ những lo lắng cho chúng con về đời sống tinh thần, mà đời sống vật chất Thầy cũng không quên lãng. Thầy thường chia sẻ tứ sự cúng dường cho Tăng, Ni sinh chúng con, mỗi khi có sự phát tâm cúng dường của nhóm thí chủ nào. Dù Phật sự đa đoan, pháp thể bì quyện nhưng Thầy luôn luôn nhận lời thỉnh mời chứng minh các buổi lễ Tăng, Ni sinh của chúng con. Có lần chúng con thỉnh Thầy dự lễ tất niên. Hôm ấy chúng con chuẩn bị không được chu đáo nên không khí buổi lễ có vẻ rời rạc. Trong khônh khí ấy cộng thêm sức khỏe yếu kém của Thầy. Thượng tọa Hải Ấn gợi ý xin thỉnh Thầy về trước nhưng Thầy không đồng ý. Sự không đồng ý của Thầy khiến Tăng, Ni sinh chúng con vốn cảm phục, kính mến Thầy lại càng kính mến, cảm phục hơn. Từ hôm ấy chúng con cảm thấy có lỗi với Thầy và tự dặn lòng mình phải cố gắng nhiều hơn trong tu học. Tất niến năm sau Thầy vẫn hoan hỷ nhận lời mời của chúng con. Buổi lễ hôm ấy được mỹ mãn bởi những tấm lòng của con trẻ dâng lên vị cha hiền. Sau khi vị đại diện Tăng, Ni sinh đọc lời cảm ta sự hiện diện của Chư Tôn túc, Thầy ban đạo từ và nói “Khi đến thì tôi đau, nhưng khi về thì tôi khỏe ra”. Ôi! Phải chăng Thầy đã lấy sự giáo dục Tăng, Ni làm mạch sống của Thầy từ bao giờ rồi?

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Thế thường, những sinh viên mới tốt nghiệp ra trường là hay hồi tưởng nhớ lại những cảnh đùa vui nghịch ngợm của lứa tuổi học trò,  nhưng nay ngược lại chúng con chỉ nhớ đến Thầy – vị Viện Trưởng đáng kính đáng phục của chúng con. Nhớ sao buổi học đầu tiên, Thầy khuyến khích động viên Tăng, Ni sinh chúng con cố gắng tu học để khỏi phụ ân thầy tổ, đàn na thí chủ. Thầy còn dặn chúng con nhớ thoa dầu lòng bàn chân trước khi đi ngủ, vào những đêm rét lạnh. Hoặc là, lời băn khoăn, trăn trở ngày nào “Mấy hôm nay, tôi lên thăm Hồn Đức, thấy anh em nằm giường chật chội, tôi rất xót xa!” của Thầy, vẫn còn văng vẳng bên tai Tăng, Ni sinh chúng con. Làm sao chúng con quên được những lời quở trách tế nhị đầy đạo vị, những câu chuyện khôi hài thâm thúy, những món quà nho nhỏ sau những chuyến “Tác Như Lai Sự” dài ngày của Thầy. Và làm sao chúng con hãnh diện được, khi Viện trưởng của chúng con là một bậc Bi-Trí như Thầy. Thầy ơi! Tuy Thầy vắng bóng nhưng hình bóng, đạo hạnh và tấm lòng vị tha quảng đại của Thầy mãi mãi khắc sâu trong lòng Tăng, Ni sinh của chúng con, trong lòng người dân xứ Huế …

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Thầy ra đi sau khi đã trùng tu ngôi cổ tự Thiền Tôn (Phật), đã dịch xong bộ Đại Trí Độ Luận và Trung Quán Luận (pháp) và chắp cho đàn chim non chúng con đôi cánh bay khắp bốn phương tám hướng (Tăng). Phải chăng những thành quả ấy nói lên công hạnh viên mãn của Thầy. Nói đến sự ra đi của Thầy, chúng con nhớ đến lời kinh “Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành”, việc cần làm đã làm xong không còn tái sinh vào cõi đời này nữa”. Nhưng đối với hạnh nguyện độ tha của Thầy, chúng con tin rằng Thầy sẽ trở lại cõi Ta-bà này trong một ngày gần đây.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Đứng trước hương án, chiêm ngưỡng di ảnh uy nghi của Thầy, với mùi hương trầm quyện bay theo làn gió, chúng con hướng về Tịnh cảnh thành tâm đảnh lễ Thầy. Chí thành nguyện cầu Thầy sớm hội nhập Ta-bà, tiếp tục cứu độ chúng con và chúng sinh. Và nơi đây, chúng con xin đăng lên Thầy đôi dòng thô kệch quê mùa này để nói lên lòng thành ngưỡng vọng của con trẻ đối với vị cha lành.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Để xứng đáng là học trò của Thầy, chúng con nguyện noi gương Thầy hành trì giới luật nghiêm mật, tinh tấn tu tập, thực hành hạnh độ tha, trọn đời phụng sự Đạo pháp và Dân tộc, ngõ hầu khỏi cô phụ công ơn giáo dưỡng  cao dầy của Thầy.

            Chúng con kính bái.

 

BIÊN DỊCH BÚT TÍCH THẦY

TRƯỜNG KHÁNH

 

Thành kính đảnh lễ đấng Thượng Thiện Nhơn

Thần Phù quê hương – Trọng Ứng hóa hiện

Hương Thủy Thánh thiện – nhập đạo đồng chơn

Chọn Huế Thừa Thiên hóa thân tìm đất

Tâm là Tâm Phật – tế nhập càn khôn

Trí là Trí Đức- tuyệt luân thâm áo

Thiện là Thiện Siêu tầm nghiên Phật đạo

Dẫn chúng hậu sinh đạt đạo pháp mầu

Thánh chúng khởi nguồn giáo điển thâm sâu

Mắ soi kính từ buổi đầu đốn ngộ

Nhập lý Thiền Tôn – Từ Đàm khải phó

Ứng phó tùy duyên sáng tỏ Phật thừa

Dịch thuật trước tác điển pháp Thái hư

Thủ Lăng Nghiêm kinh trừ tà hiển chánh

Phát Bồ Đề Tâm Văn sáng ngời ý Thánh

Kiến Chánh tư lương nguyên vẹn từ tâm

Tứ Thập Nhị Chương giáo nghĩa uyên thâm

Trường A-hàm khởi mầm nét đạo

Kinh Pháp Cú ý Phật ngôn độc đáo

Tân Duy Thức luận rốt ráo giả chơn

Đại cương Câu-xá ngưng bặt thiện hơn

Luận Thành Duy Thức thiện nhơn chứng pháp

Luận Đại Trí Độ vi hành Bồ-tát

Trung Luận nguyên khai thông đạt lý Thiền

Nghi Thức Tụng Niệm nguồn cội châu viên

Thọ Bồ-tát tại gia phước điền tân đạo

Vô ngã Niết-bàn chân như đạt đáo

Tỏa Ánh Từ Quang thâm áo siêu từ

Lối Vào Nhân Minh xóa sạch huyễn hư

Cương Yếu Giới Luật chuyên tu huệ mạng

Ngũ uẩn Vô Ngã, Niết-bàn quang rạng

Kinh Pháp Hoa giữa kinh điển đại thừa

Trí Đức Văn Lục chấp bút sớm trưa

Tạp chí Viên Âm chơn thừa duy nhất

Phật giáo Việt Nam tuyên dương lẽ thật

Liên Hoa hương từ thơm ngát ngàn xưa

Giác Ngộ mặn mà đạo sáng vô dư

Tập san Văn Hóa truyền thừa diệu vợi.

Một đời phạm hạnh thảnh thơi

Một đời cầm bút – một đời cầm kinh

Ứng thân vào cõi phù sinh

Tâm đà nhập bút, Tâm thành Phật thôi

Đốt tâm hương vọng tưởng người

Mai sau gió cũng reo lời tri âm.

Đến đi, thi thiết bao lần

Tòa cao sen nở - mãn phần Tôn sư

 

DẤU RÊU TRÊN ĐỈNH THÁP THIỀN

 

Dấu rêu trên đỉnh tháp thiền

Ngàn năm trụ dưới ải triền Thiên Thai

Cánh nghiêng hoàng điểu bay hoài

Còn lưu dấu tích với đài thinh không

Pháp thân trụ dưới vần hồng

Ru Ngài ngủ dưới rừng thông bụi mờ

Thiền Tôn và cả Thuyền thơ

Lung linh ánh nến trải tờ tâm kinh

Ấn son còn đỏ cuộc tình

Ngàn sau dư ảnh phù vinh khói tà.

 

 

 

DẤU TÍCH XƯA

 

Về nhìn từng dấu tích xưa

Thiền liêu Thầy ngự giữa trưa nắng hồng

Tây hiên Thầy uống trà đông

Trước sau Thầy tưới cụm hồng khai hoa.

Thiền thư Thầy dịch Pháp đà

Chùa xưa Thầy đã sống qua một đời

Từng vuông kỉ niệm đầy vơi

Còn lưu đậm nét chân Người thân thương.

 

DẤU CHÂN KHẢI THỊ

 

1.      Ong hút nhụy của hoa

Hấp thụ tinh ba ngọt bùi trời đất

Ong tinh luyện lọc sang thành mật

Mật cho đời hương chất ngọt thơm

Nếm mật ngọt – tìm dấu nguồn chơn

Phải biết bốn ân sâu – thuở đầu khải thị

Mật ngọt thơm đời –truyền lưu đạo vị

Dấu tiền nhân – tri kỷ -sáng ngàn sau.

 

2.      Tầm rút ruột nhả tơ

Nhen nhúm ước mơ

Cho đời lụa gấm

Tầm ăn dâu

Kén chuyển mình gặm nhấm

Cho lụa quê hương thắm đượm nét hòang y

Vọng nẻo về nhung gấm lối xưa đi

Áo mặc đương thì nhớ công tầm rút ruột

Đạo sáng tỏa

Nhờ người xưa châm đuốc

Ánh quang minh dẫn bước chúng con về.

 

Người chong mắt soi kinh

Khế ngộ Duyên sinh – đại thừa nhãn tạng

Nhiếp thụ Tỳ-ni-xiển dương đường sáng

Đem Đạo vào đời quang rạng Thiền môn.

Lên bục giảng – trấn tĩnh chúng Trung tôn

Tiếp dẫn hậu côn mở trường rèn đức dục

Đạo pháo truyền lưu – sáng ngời giới đức

Thiện Siêu chân thật Bồ-tát hóa thân.

Thánh năm chuyển hóa xoay vần

Bóng Người tinh đẩu xóa dần đêm đen.

Gọi Người giữa cõi thân quen

Lối đi về ấy thắp đèn tìm nhau.

Nước- non bao cuộc bể dâu,

Ấn son kinh sử -sáng mầu Đạo thơ.

 

 

KÍNH LẠY GIÁC LINH ÔN CỐ HÒA THƯỢNG TỪ ĐÀM

            Một điệu học tại Báo Quốc

 

 Kể từ khi con nghe Ôn bệnh nặng và vì lý do tuổi già sức yếu, nên khó lòng qua khỏi, con rất buồn. Con cũng biết đời là vô thường, nhưng mà sinh thế nào, tử ra sao thì phải có sự phi thường và tầm thường. Và vì lý do đó, có lúc con chạnh lòng nghĩ đến ngày Ôn ra đi về với Chư Phật thì con cảm thấy đau nhói ở trong tim, con cảm thấy mình đang mất dần một cái gì đó cao cả nhất, quý giá nhất và con cũng hiểu rằng con đang dần xa một vị Thầy, một vị Tôn sư đánh kính, một vị mà mỗi cử chỉ, hành động, lời nói đều là những bài học quý giá cho con và mỗi tín đồ trong Phật giáo.

Chiều nay khi chúng con tan trường ở Báo Quốc ra về cùng chúng Tăng, Ni sinh, con không ngờ rằng tiếng trống tan trường lại là tiếng trống báo hiệu giờ Ôn ra đi mãi mãi. Lúc đó cảnh vật xung quanh con cũng như khác đi. Con đường từ cổng trường Báo Quốc đến chùa Từ Đàm dường như dài ra vô tận, mặc dầu con đã cố bước cho thật nhanh. Những người, xe cộ xung quanh con nhòa đi vì những dòng nước mắt cứ chảy hoài không ngớt, vì bụi đường hay vì một bậc vĩ nhân trong Phật giáo đã về nơi an vui chốn Phật. Thường nhật thì tiếng chuông trống Bát nhã và lời niệm Phật làm cho con cảm thấy trang nghiêm, thanh tịnh và đượm màu giải thoát, nhưng chiều nay (17.8 Tân Tỵ) thì tiếng chuông trống Bát-nhã và tiếng niệm Phật con nghe như tiếng khóc, như lời vĩnh biệt, tiếng gào thét vì sự mất mát lớn lao của những người con Phật. Con thường tự nhủ rằng “đời là vô thường” thì sao ta lại tìm cái thường trong cái vô thường, để rồi ‘câu bất đắc khổ”. Nhưng sự ra đi của Ôn là sự mất mát quá lớn đối với chúng con, nên bản thân con cũng như một số đông mọi người không sao ngăn được dòng nước mắt thương cảm.

Nay Ôn đã đi rồi, Ôn đã về với chư Phật, bỏ lại chúng con như đàn con dại giữa biển khổ Ta-bà, con chỉ biết cầu nguyện cho Giác linh Ôn được siêu sinh tịnh độ, xứng đáng với những gì mà Ôn đã cống hiến cho Đạo pháp.

 

 

KÍNH DÂNG GIÁC LINH HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

THÍCH PHƯỚC TOÀN

 

Thầy đã đến nhẹ nhàng như hơi thở

Rồi Thầy đi lưu lại chút an vui

Không rộn rã, không tưng bừng đón rước

Nhưng sao nghe sưởi ấm lòng người

Cũng tiếng nói,  Thầy nói lời vi diệu

Càng nghe ra càng lắng đọng tâm hồn

Không rào đón cũng chưa hề cách kiểu

Mà tình thương như trải rộng càng khôn

Biết cuộc đời lắm trượt trơn sôi nổi

Nên tâm Thầy càng thương xót chúng sanh

Việc Thầy làm chưa một lần rảnh rỗi

Mà lòng nào nghĩ đến lợi cùng danh

Chiếc áo nâu với cuộc đời thanh đạm

Đã đổi màu theo những chuổi thới gian

Áo sờn phai, tư phong Thầy thanh thản

Thầy bước đi trong ý đạo thênh thang

                                                                        4-10-2001

 

 

LƯU PHƯƠNG ĐẠO TÌNH

(Kính dâng Giác linh Ôn, Hòa thượng Thích Thiện Siêu )

·         TUỆ MINH

 

Trăm năm tợ chiếc thuyền đời

Ngàn năm hương đạo, lòng người lưu phương

Còn đây tất cả tình thương

Lá xanh, hoa thắm, thiền đường lắng yên

Tim người hòa nhịp như nhiên

Dáng Người gió mát thanh lương nhiệm mầu

Lời Người thành tiếng kinh cầu

Y vàng Người đắp xóa sầu trần gian

 

 

TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VÀ…KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

XUÂN BA

Một đại biểu mà tôi không bao giờ ghé qua quầy giải khát suốt mười một kỳ họp của khóa VIII và nửa thời gian của kỳ họp đầu tiên của khóa IX nhưng thời gian giải lao nào cũng đều tha thân ở quầy sách là Hòa thượng  Thích Thiện Siêu, 72 tuổi, đại biểu tỉnh Thừa Thiên – Huế. Vốn xuất thân từ một gia đình nông dân, 14 tuổi đi tu ở chùa Báo Quốc (Huế), 30 tuổi đã làm Phật sự  (đảm nhiệm việc giảng dạy Phật học). Hiện Hòa thượng trụ trì ở chùa Từ Đàm (Huế). Vóc người nhỏ nhắn, cái nhìn điềm tỉnh khoan dung sau cặp kính trắng…Ở Hòa thượng toát lên cái thể Thiền của một bậc chân tu.  Nhưng khi tôi hầu chuyện, Hòa thượng rất cởi mở, vui vẻ…

…Một lần tôi thấy Hòa thượng ghé qua quầy sách rất lâu, xem qua nhiều cuốn mà không thấy mua gì. Tôi hỏi Hòa thượng có nhận xét chi về quầy sách. Hòa thượng cười hiền hậu, giọng đặc xứ Huế: “Sách ở đây nghiêm chỉnh (Chắc Hòa thượng ngụ ý quầy sách ở đây không bán những loại cướp, giết, hiếp). Tui đang lựa mấy cuốn văn học cho mấy chú ở nhà…” Mấy lần gặp gỡ rồi, nên tôi được Hòa thượng nói cho nghe kha khá chuyện Đạo chuyện Đời. Lựa lúc Hòa thượng vui vẻ, tôi hỏi: “Thưa cụ, thời buổi kinh tế thị trường hết sức sôi động, người ta đổ xô kiếm sống và kiếm chác nữa, Phật học hay các Tôn giáo khác liệu có bị ‘khô” đi? Hòa thượng cười vui vẻ khoan dung “Vấn đề ni phải có thời gian dài mới cặn kẻ được. Nhưng theo tui khi con người ta đã tốt thì mần cái chi cũng tốt. Chú coi tại sao nạn hàng giả lan tràn,  người ta lừa lọc chụp giựt nhau tham ô hà lạm công quỹ, đánh nhau giết nhau… Những điều đau lòng đó, chú biết không, do người ta không biết những điều sơ đẳng về căn nguyên nhà Phật. Bao nhiêu năm làm Phật sự, lần nào giảng cho Phật tử về thụ tam quy ngũ giới (Quy y Tam Bảo – sách vở lòng về Phật giáo) tui cũng đều tâm đắc và xúc động cả: Nội dung của sách khơi dậy cho con người ta niềm tin về lòng tốt, về những điều răn chớ có tà dâm, nói dối, say rượu, ngược đãi cha mẹ, coi mạng sống của người khác như mạng sống của mình…Đó cũng là nội dung cơ bản của đạo đức con người mà nhà trường, xả hội đang quan tâm. Tui nói lại, con người ta đã tốt thì mần chi cũng tốt cả. Đi buôn, mần nghề thuốc, mần quản lý…có đạo đức thì đều làm điều tốt. Vậy nên Phật học chẳng có chi xa lạ với kinh tế thị trường. Đạo, Đời không có chi tách rời cả…”

Tới đây tôi xin tạm dừng. Xin được hầu bạn đọc những chuyện đại loại như thế này trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa IX vào tháng mười hai tới.

Tháng 9-1992

(Trích báo Tiền Phong)

 

MỘT CHIỀU CHỐN PHẬT- GHÉ THÂN…

XUÂN BA 

Tôi làm quen với Hòa thượng đã vài năm nay. Gọi là quen thế thôi, nhưng chưa lúc nào được đứng lâu với Hòa thượng. Gọi là đứng vì giờ giải lao của Quốc hội rất ngắn, Hòa thượng lại giành phần lớn thời gian nghỉ cho việc lựa sách, xem sách nên tôi chưa có dịp hầu chuyện với vị Phó Chủ Tịch thường trực Hội đồng Trị sự Trung Ương GHPGVN, Trưởng ban Giáo Dục Tăng, Ni toàn quốc, kiêm đại biểu Quốc hội suốt hai khóa. Cữ nóng nhất năm nay trùng với kì họp thứ hai Quốc hội khóa 9, lựa được buổi Quốc hội nghỉ, tôi tìm đến khu nhà dành riêng cho Đại biểu Quốc hội Thừa Thiên – Huế ở đường Hùng Vương. Lí do tôi tìm đến Hòa thượng  Thích Thiện Siêu, không phải để thụ giáo những gì cao siêu thuộc Phật học, hoặc phỏng vấn Hòa thượng với tư cách Đại biểu Quốc hội ở vùng đất một thời là Cố đô của Phật giáo,  mà do sự tò mò thì đúng hơn với vị Cao Tăng đã 72 tuổi này,  phong độ lúc nào cũng thư thái,  đã hơn một lần, mặc dù chỉ ít phút trong câu chuyện ở hành lang Hội trường Ba Đình, Hòa thượng đã hấp dẫn tôi bởi khái niệm “Phật học với… kinh tế thị trường”.

…Ông trưởng đoàn Đại biểu Thừa Thiên – Huế cười nói với tôi: Anh nhầm rồi. Suốt cả hai khóa Quốc hội, mỗi khi Hòa thượng ra Hà Nội họp không ở đây mô, mà Ngài tá túc ở hai nơi: một là chùa Trấn Quốc, hai là chùa Quán Sứ, chứ chốn trần đông đúc này, Ngài “ngự” sao tiện.

Tôi guồng xe lên chùa Trấn Quốc, sực nhớ trụ trì chùa Trấn Quốc là Hòa thượng Kim Cương Tử, Phó Chủ Tịch thường trực Hội đồng Trị sự TW GHPGVN, cũng là Đại biểu Quốc Hội hai khóa liền, chắc là Hòa thượng  Thích Thiện Siêu nghỉ ở đây, chứ không còn nơi nào khác. Nhưng đến Trấn Quốc, gặp Hòa thượng Kim Cương Tử tha thẩn bên gốc cây Bồ-đề um tùm. Hòa thượng nhướng cặp mày bạc lên, thong thả nói: “Hòa thượng  Thích Thiện Siêu thỉnh thỏang mới lên đây thôi. Người đang ở Quán Sứ với Hòa thượng Thích Minh Châu,  Đại biểu Quốc Hội Tp. Hồ Chí Minh. Ở dưới đó rộng rãi yên tĩnh hơn”.

Hà Nội đang là những ngày nóng nhất trong năm. Đến được Trấn Quốc, tôi đã những mồ hôi mồ kê dầm dề. Không như Hòa thượng Kim Cương Tử nói, Quán Sứ không yên tĩnh lắm. Trong sân chùa, không khí có dịu đi chút ít, nhưng chùa đang sửa sang xây dựng gì đó. Kíp thợ mộc chit chat khua tràng đục náo động một vùng, may có tán cây Bồ- đề xum xuê tỏa bóng trước chùa và chi chít những tán Ngọc Lan, ngâu, sói trên lối đi đã hãm bớt âm thanh chát chúa đó. Cây Bồ-để này cũng đã lớn, quà tặng của Thủ Tướng Ấn Độ những năm 60, nhưng cũng chưa tới cỡ như cây Bồ-đề của chùa Từ Đàm. Thân lớn tới mấy người ôm, cành lá đan nhau, lúc nào cũng vấn vít tiếng chim quấn quít rợp cả một khoảng sân bao la. Khi Ngài Đại Đức Narada của Srilanka tới Huế, mang theo cây Bồ-đề xứ Phật trồng ở sân chùa Từ Đàm năm  1939, thì chú tiểu Siêu ốm Ôn,  mảnh khảnh đã tu ở chùa được 4 năm. Chú được cụ giao nhiều việc, trong đó có việc chăm sóc cây Bồ-Đề “di trú” từ đất Phật sang đây. Chùa Từ Đàm tuy được dựng từ thế kỷ 17 (khoảng 1693), nhưng hồi ấy cũng chỉ tranh tre nứa lá, trụ trì ở đây mới chỉ mấy thầy trò. Đất lành cây trụ, như thụ hưởng được sự cường thịnh đi lên của đất nước mới hơn 50 năm có lẽ, mà cây đã lớn rậm  um tùm, tỏa bóng mát trên đầu bao chúng sinh. Còn chú tiểu ngày ấy nay đã là một Hòa thượng, vẫn giữ cái dáng mảnh khảnh thuở nào hiện giữ nhiều trọng trách của GHPGVN. Từ cậu bé con nhà nông nghèo ở Huế đến chú tiểu Siêu ở chùa Từ Đàm và sau này là Hòa thượng Thích Thiện Siêu là cả một sự gắng gỏi mà không phải một sự gắng gỏi giác ngộ nào ở cửa Phật cũng có được.  Có lần tôi  mò hỏi Hòa thượng xuất xứ của chữ “Thích”, Hòa thượng cười vẻ độ lượng, đọan nói đại ý: “Thích là Thích-ca-Mâu-Ni, họ của Phật. Đó là khái niệm bình đẳng của Phật giáo. Xã hội Ấn Độ thời ấy (?) chia làm bốn đẳng cấp, có thể gọi là giai cấp cũng được. Người ta cho là chỉ có đẳng cấp Bà-la-môn là cao quý, chỉ có đẳng cấp ấy mới đi tu được mà thôi. Nhưng Phật dạy, đẳng cấp nào cũng cao quý, cũng đi tu được: Tứ tánh xuất gia, đồng xưng Thích tử. Nghĩa là người trong bốn đẳng cấp, khi xuất gia vào trong đạo Phật thì đồng (cùng) xưng họ Thích”.

… Tôi được chú tiểu dẫn vào một phòng ở gác hai. Căn phòng khoảng 15 mét vuông, sàn gỗ bóng loáng nhưng bài trí cực kì đơn giản: chỉ có một bàn nước nhỏ và một kệ sách. Chiếc quạt trần lừ đừ quay dường như cũng mệt mỏi, uể oải, không đủ sức xua nỗi khí nực trong phòng. Hòa thượng ngồi bên bàn uống nước với bộ áo màu lam, tay phe phẩy chiếc quạt giấy, đang trao đổi với Hòa thượng Thích Minh Châu điều chi đó. Thấy tôi, Hòa thượng Thích Minh Châu cáo từ để Hòa thượng tiếp khách. Khi cả hai vị vào nhà trong, tôi quay lại hỏi chú tiểu: “Nắng nôi thế này, sức khỏe của các Hòa thượng ra sao? Các cụ dùng cơm được không?” Chú tiểu khẽ khàn: “Thưa, các cụ tôi mấy bữa nay có hơi mệt, nhưng vẫn dùng cơm gạo lứt muối vừng…”. Quý hóa vậy thay – tôi thầm nghĩ – nắng nôi này, cánh tôi còn cơm ứ, nước ừ; nào canh, nào giấm lại cả bia mà còn không trôi bữa, thế mà các bậc cao niên lại dùng được cả cơm gạo lứt, muối vừng…

Hòa thượng  Thích Thiện Siêu đã trở ra. Chiếc quạt giấy vẫn nhịp đều trên tay, vẻ mặt tĩnh lặng cố hữu: “Chú ngồi chơi, uống nước đi, có việc chi đó?”. “Dạ, bữa nay rảnh, tới thăm cụ chơi thôi ạ..”

Hòa thượng trông nhẹ nhàng thanh thoắt trong sắc phục màu lam khẽ cười rồi cất giọng Huế nghe như một hơi thở nhẹ: “Bữa ni nóng quá chú hỉ?...”À, có quà cho chú đây…”. Hòa thượng với tay sang kệ sách, cầm lên một cuốn mỏng bìa màu vàng. Tôi giở ra, đó là cuốn sách quãng độ trăm trang, tập hợp những điều răn rút ra từ những cuốn Kinh Phật. Sách do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản mới đây, tác giả là Hòa thượng Thích Thiện Siêu. Trong cuốn sách tác giả trích dẫn, chú thích gọn, dễ hiểu. Sách dùng phổ cập cho các đệ tử mới nhập môn. Tôi bất giác giật mình. Có lẽ bữa nay sắc mặt tôi có nét “tham, sân, si” …lộ ra quá hay sao mà Hòa thượng đã “chỉnh” ngay cho thế này không biết. Tôi biết với cương vị Trưởng ban Giáo dục Tăng, Ni toàn Quốc, Hòa thượng viết, biên soạn khá nhiều sách.  Cuốn Vô ngã là Niết-bàn cũng do Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam xuất bản năm 1990, sách dày 250 trang, được rất nhiều độc giả không phải là người của giới tu hành tìm đọc, được tái bản hai lần. Tôi nhớ có một anh bạn, là Phó Tến sĩ Triết học, cứ tâm  đắc “trên cả tầm Đề-các, ông ạ”. Sách tiếp tục các khái niệm phức tạp: “Anh hiện hữu trong tôi, tôi hiện hữu trong anh…”. Riêng Hòa thượng, thường ngày (nếu không bận vào sự vụ nào khác) vẫn trực tiếp truyền thụ kiến thức Phật học cho các cháu từ 5 tuổi trở lên ở một lớp học nào đó ở Huế. Các lờp học như vậy bắt đầu 2-5 giờ chiều. Tôi có nhiều dịp qua Huế, tận thấy sự miệt mài thành tâm của giới Phật tử, trong đó có trẻ nít đến người lớn. Tôi nhớ có lần Hòa thượng đã nói nhiều đến sự lo lắng trước nguy cơ gốc thiện trong con người đã bị đốn ngã, bị thui chột do tham sân si mà ra. Vui miệng tôi hỏi thăm tình hình ở Huế, nhất là vụ chộn rộn ở chùa Linh Mụ, Hòa thượng khẻ khàng nhấp một ngụm nước, giọng nho nhỏ: “Chú có biết vô minh là chi không?”, rồi Hòa thượng nói luôn: “Nghĩa là có người không nhận thức được hạnh phúc của mình ở chỗ nào cả. Phật nói: Trời dù mưa bạc vàng xuống cũng không thỏa mãn những người có lòng tham. Các cụ nhà Nho chả đã từng nói: Tri túc tiện túc há thời túc, tri nhàn tiện nhàn hạ thời nhàn”. (Biết đủ,  cho rằng mình đủ, ấy là đủ vậy; biết nhàn,  cho rằng mình nhàn, ấy là nhàn vậy). Tôi nói vậy nghĩa là con người ai cũng vậy, phải biết tiết độ hạn chế lòng tham của mình, tham lam là dẫn đến tội ác,  kinh răn của Phật đã nói rõ. Báo chí các chú đã từng viết bao cảnh thê thảm xảy ra, mà nguyên nhân là do lòng tham”.

Tôi hiểu Hòa thượng đã không trực tiếp trả lời câu hỏi, mà là gián tiếp xưng một “dạng” khác. Nhưng tôi cứ bạo miệng: “Thưa Hòa thượng, như vậy có yếm thế quá không? Chả lẽ con người ta cứ an lòng với cái nghèo…?. Hòa thượng sắc mặt vẫn không đổi, giọng nói vẫn đều đặn thong thả: “Nói theo ngôn ngữ của các chú, đó là khoa học về con người, là khoa học giáo dục, là lối sống lành mạnh… Chú biết “stress” chứ? Cú sốc hỉ? Lòng tham tạo nên muôn vàn những cú “stress”, những ách tắc trong tâm tưởng không giải tỏa được kịp thời; hoặc tệ hại hơn, không giải tỏa được sẽ sinh bệnh, sinh điên và kết cục là cái chết. Vậy con người lựa chọn cái gì: sự vừa đủ thanh thản hay là bệnh hoạn tội ác?”. “Thưa Hòa thượng, trên diễn đàn của Quốc hội, Hòa thượng đã từng nhiều lần nghe tệ nạn tham nhũng, sự xuống cấp của đạo đức. Hòa thượng có ý kiến gì không, khi một Đại biểu Quốc hội đã từng phát biểu; sở dĩ tệ nạn  đó hoành hành và phát sinh là do dân trí ta thấp quá..?”. Hòa thượng khẽ cười: ‘Tệ tham nhũng, là cái gốc là lòng tham.Vậy phải bỏ lòng tham bằng Tam quy ngũ giới. Tôi nói điều nay chú coi thử hỷ? Những vụ tham nhũng lớn, những vụ án hình sự ghê khiếp nhất, kẻ gây ra, đa phần nói như thế nào nhỉ? Là không đạo, là không phải đệ tử nhà Phật? Họ không có kiến thức sơ đẳng của Kinh răn Ngũ giới, mà những kiến thức đó, các em các cháu ở lớp học chúng tôi phổ cập cho chúng từ năm lên 5 tuổi. Mất gốc thiện, lao vào vòng tham sân si, tai họa vậy thay! Còn dân trí thấp ư? Tui hỏi chú: Các cụ ngày xưa được học nhiều chăng? Chính các cụ tạo nên được rường mối đạo đức, con cháu coi trọng giữ gìn bằng cách noi theo, làm theo. Các cụ đã giác ngộ được giáo lý nhà Phật bằng cách tự giác, hoặc không tự giác đó là chỗ Phật dạy bố thí trước. Các cụ cho nhiều chứ nhận  mấy? Sống vì con cháu, vì bằng hữu – một nhà thơ đã nói thế này - sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình. Phải hết sức tầm mẳn nhưng cũng phải hết sức rộng lượng; sống như vậy sẽ không còn chỗ cho lòng tham, cho cái ác dung thân …”. “Hòa thượng đánh giá cao khả năng giác ngộ chúng sanh, liệu đó có phải là cái nhìn khả quan?”. “Con người có khả năng giác ngộ, từ bỏ tham sân si, hướng lành hướng thiện, nhưng phải có thời cơ nữa. Ví như bệnh mà kíp lại có thuốc hay. Người ta mang vàng mã vào chùa thì cứ để người ta mang. Nhưng phải đợi người ta cúng xong rồi mình mới nhẹ nhàng khuyên bảo thì lần sau người ta sẽ không mang nữa”.

Đã chiều muộn. Trời càng có vẻ oi hơn, nồng hơn. Tôi nhìn ra khoảng của sổ nhà chùa đan rợp xanh cây ngọc lan, lòng thầm ước giá như nhà mình có một cửa dổ thế này mà…ngồi nhỉ…? Thở dài tôi buột miệng: ‘Thưa Hòa thượng, chúng con không có cơ may được gần gũi giáo lý nhà Phật, mà phải lo kiếm sống như cách nói bây giờ là “bở hơi tai”, và tất nhiên tham thì chưa hẳn nhưng có rất nhiều cái “stress”. Hòa thượng có cách chi giúp chúng con cởi bỏ giải tỏa được?” Hòa thượng khẽ cười giọng ân cần: “Cái tâm người ta thường ngày phải phân tán như ngọn đèn trước gió. Mỗi ngày nên có 15-20 phút gạt bỏ mọi công việc để tịnh tâm – che chắn cho ngọn lửa đèn tâm đứng yên, không chao đảo lay lắc đó người ta gọi là Thiền. Tâm thư thân mới yên được. Chớ nên khi vui thì vui thật gắt, khi buồn thì buồn thật gắt; được mất chớ lộ mặt ra. Và điều quan trọng hơn là phải gần gũi, giao hòa với thiên nhiên. Tôi có dịp đi nước ngoài. Tại sao người ta lại phải bó buộc trong những cái học như vậy? (Thấy tôi ngạc nhiên, Hòa thượng giảng giải: Không học là gì: nhà khép kín; từ nhà bước ra ô tô kín mít; từ ô tô vào sở làm cũng lại một căn phòng khép kín). Ghê sợ thay một cuộc sống,  một kiểu sống không hoa lá, chim chóc, muông thú…Chú có biết tại sao người ta hay nuôi súc vật trong nhà? Mỗi khi căn thẳng họ vuốt ve, gần gũi con vật, những uất kết giải tỏa một phần. Đó là cách giao hòa giữa con nguời và thiên nhiên”. “Xin lỗi Hòa thượng,  cái lần phim Ngõ hẻm mang chiếu ở Quốc hội, xem nửa chừng, thấy Hòa thượng bỏ ra ngoài đi đi lại lại, Hòa thượng có cảm tưởng gì về bộ phim đó?”. Vẫn giọng nói khoan thai và sắc diện bất đổi. Hòa thượng lắc đầu nhẻ nhẹ: “Tôi cứ thắc mắc, tại sao lại mang cái phim ấy vào cho các Đại biểu Quốc Hội xem chớ? Thô lỗ quá, trắng trợn quá! Tui thỉnh thoảng cũng có coi phim, nhưng phim ta không coi lâu được. Sao mà giả bộ nhiều quá, khóc cười tùm lum không đúng chỗ. Chú có coi bộ phim nhiều tập Nhà giàu cũng khóc không, có cảnh chi giật gân mô mà thiên hạ coi ham dữ rứa? Người ta khác mình ở chỗ đó; đấy là cái tài năng của người làm phim”.

Tôi một lần nữa ngắm kĩ dáng vóc mảnh khảnh và khuôn mặt trắng xanh như men sứ của Hòa thượng với khoảng nhân trung rất dài, đôi tai khá to. Tướng người như vậy, người ta nói là phúc hậu và thọ lắm. Có lẽ đúng. Năm nay Hòa thượng 72 mà cứ đĩnh đạc thong dong như không.

Thấy tôi tò mò hỏi “bí quyết” trong sinh hoạt, Hòa thượng cười: “có chi mô. Ăn uống điều độ, ngủ sớm dậy sớm. Thường 9 giờ , 9.30 tui đi ngủ; ba rưỡi sáng thức dậy lo việc kinh Phật …”. “Từ bao giờ Hòa thượng có nếp đó? “Từ năm 14 tuổi, năm 1935, khi tôi bước hân vào chùa Từ Đàm …” Chao ôi, tôi thầm nghĩ, nương thân chốn Phật khó vậy thay, mới chỉ chuyện ngủ nghê thôi mà đã diệu vợi…Tôi có nhiều việc phải làm sau chín giờ và chả có việc chi phải dậy từ 3 giờ sáng cả…

…Kíp thợ mộc đã ngưng việc từ lâu. Bước ra đến sân chùa, tôi cố rấn dài vài bước nữa trong khung cảnh u tịch lặng lẽ đến nhẹ người. Nhưng rồi tán lá Bồ-đề xanh im đã lui lại phía sau, tôi lại chạm mặt với đường Quán Sứ nườm nượp những xe ầm ào inh ỏi. Phía trước tôi là một cuộc sống thường nhật với những điều “bở hơi tai’ và vô số những “stress”. Stress nhưng mà… quen thuộc!

  Làng Lon 10-93

(Trích báo Tiền Phong, Chủ Nhật, số 45 năm  1993)

 

ĐIỆP KHÚC DÂNG THẦY

NGUYỄN KHÁNH – PHƯỚC HẢI (Daklak)

 

Kính lạy Giác linh Thầy!

Hôm nay con có mặt,

Dẫu không còn khoác áo cà-sa,

Nhưng lòng con đang trong cõi Ta-bà.

Con vẫn nhớ, vẫn làm điều Thầy dạy;

“Đạo pháp này đâu phải riêng ai”

Nhớ lời Thầy một buổi sáng mai,

Bão lụt về, tang tóc cho Huế.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn đơn sơ như thuở mới biết Thầy

Vẫn hiền hòa như thể một đám mây,

Trôi, trôi nhẹ giữa bầu trời chan nắng.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn chăm lo đào tạo lớp Tăng tài

Vẫn chóng đèn vì thế hệ ngày mai,

Làm lương đống cho tiền đồ đạo pháp.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn mong manh áo vải giấu thân gầy,

Vẫn dịu dàng trầm lắng tựa rừng cây,

Dù gió chướng, phong ba có gào thét.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Buổi hừng đông thời Phật học, Sơn môn.

Vẫn nhẹ nhàng đôi lẽ, sống vuôn tròn,

Vì Phật tâm không thể ngoài Tâm Phật.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Dẫu buồn vui khi thế sự đảo điên,

Vẫn trên tay… cuốn sách, không não phiền

Thanh thoát quá! Bao lần con nhớ mãi.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn tình thương dành trọn lớp cháu con,

Vẫn miệt mài đến tận phút hoàng hôn,

Trang “Trung Luận”, năm hai ngàn lẻ một.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn tinh anh cho tận phút tâm mòn,

Vẫn trong lành, tiếng Thầy ấm trong con,

Lời giáo huấn, Tăng, Ni sinh Học viện.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn ung dung như cánh nhạn qua đầm,

Nhạn qua rồi, đầm vẫn chẳng lưu tâm,

Lời Thầy giảng, năm nào còn vang vọng.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn thảnh thơi như cánh Hạc về Tây,

Cuộc đời Thầy kết lại trang sách dày,

Cho hậu thế, chốn già lam quy ngưỡng.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn ấm tình khi con trở về thăm,

Lòng Thầy như trải rộng giữa trăng rầm,

Suốt buổi sáng, con bên Thầy, tâm sự.

 

Thầy vẫn thế, cho đến ngày nằm xuống,

Vẫn bình an giữa cuộc thế bất an,

Uy linh Thầy bàng bạc giữa muôn sao,

Con nhớ lắm, lời xưa, bài “Hoàng Hạc”

 

 

 

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM ÔN TỪ ĐÀM

THÍCH TỪ VÂN

 

Nhớ hôm ấy đất trời u ám lắm,

Lòng người buồn nên cảnh chẳng vui chi

Ôn ra đi, kính tương người ở lại,

Để thu buồn nước mắt những ngày qua,

Cũng hôm ấy chư thiên đều bận rộn,

Đón một người sắp dự hội Long Hoa,

Hay là về nơi Thượng phẩm hoa sen,

Bây giờ Ôn đã về nơi cõi tịnh,

Là xa lìa nơi uế độ trần gian,

Nhập chân như pháp iới chốn vô cùng,

Ôn ra đi Đạo, Đời ôi mất mát!

 

*

Trời xứ Huế một vì sao khuất bóng,

Mà trong con ánh sáng vẫn còn soi,

Con vẫn nhớ những lời Ôn dạy bảo,

Hình bóng Ôn từ nay còn đâu nữa,

Hải triều âm ngày cũ vẫn còn vang,

Đôi mắt người từ nay thôi khé lại,

Mà hào quang vẫn tỏa sáng trăng rằm.

Suốt một đời hoằng dương là chí nguyện,

Giờ phút cuối nằm yên trên giường ngủ,

Mà như thấy vẫn còn đang thao thức,

Lo cho đàn hậu bối biết sao đây.

Còn đâu nữa những ngày bên áng sách,

Dịch kinh luận tặng cho đời hoa đạo,

Còn đâu nữa những ngày trên bục giảng,

Lý đạo mầu Ôn bày giải phân minh.

Nhớ năm nào xứ trầm làm Viện trưởng,

Khai đạo giới tử, dắt dẫn hậu lai,

Đã bao lần Ôn ra Bắc giảng dạy,

Rồi vào Nam tiếp tục việc hoằng truyền.

Tiếng pháp âm vẫn còn vang đâu đó,

Giáo hóa suốt một đời không mỏi mệt,

Nhớ Ôn tiếng nói gio5ng cười thanh thóat,

Ung dung người người phạm hạnh đất Thần Kinh,

Vào Quốc Hội an nhiên trên Nhị đế,

Suốt một đời lợi sanh là lẽ sống,

 

*

Nhưng thế gian có sanh là có diệt,

Chỉ chân như là vĩnh viễn thường hằng.

Dưới đài sen con ngưỡng nguyệ trông lên,

Thành kính nguyện Ta bà Ôn trở lại,

Để hoằng truyền giáo pháp của Như Lai,

Tiếp dẫn chúng sanh vuợt qua bể khổ,

Giúp mọi người dứt bỏ những lầm mê,

Cho tất cả được an vui pháp Phật,

Và chyển hóa trần gian thành Tịnh Độ. 

 

 

 

 

THẦY VỀ CÕI PHẬT

Đệ tử TIỂU BẠCH SA

 

Bỏ Từ Đàm tự, chốn tong lâm,

Trở về đất Tổ, cõi u thâm,

Thông reo chào đón người Trí Đức,

Chim hót vui mừng bậc Phật Tâm.

Ảnh Tổ in hình qua bao tháng,

Dáng Thầy khắc bóng trải mấy năm?

Nguyện Thầy Tịnh độ mau an nghĩ,

Chóng nhập Ta-bà độ chúng sanh,

 

DÂNG THẦY LÚC RA ĐI

 

Thầy là trăng sáng đêm dài,

Là vầng tuệ nhật cho đời ngưỡng trông

Cho người an tịnh cõi lòng

Thầy như bóng mát bao dung mọi lòai.

Trời nay như vắng ban mai,

Vì con đang sống không Thầy, Thầy ơi!

Đường đời còn lắm chơi vơi,

Còn Thầy, còn cả đất trời bao la.

Nơi nào Thầy bước chân qua,

Làm cho kiếp sống không sa đọa đày.

Thầy dấn thân chống vũng lầy.

Làm thuyền cứu độ muon lòai khổ đau.

Lời Thầy dòng sữa nhiệm mầu,

Là làn gió quạt ưu sầu muộn vơi

Thầy làm gương sáng cho đời,

Lòng từ ban trải khắp nơi xa gần.

Thầy là Bồ-tát hiện thân,

Xóa tan bóng tối tham sân mê mờ

Thầy – Người con mãi tôn thờ,

Kính yêu lời pháp vô bờ muon nơi!

Thầy đi nhưng vẫn độ người:

Đạo từ để lại cho đời soi chung.

Thốt lời ca tán ngại ngùng,

Dâng Thầy xin gọi chút lòng tri ân!

 

 

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA HÒA THƯỢNG BỔN SƯ

Thị giả của ÔN ghi

 

Vào sáng ngày 12.9.2001 (25.7. Tân Tỵ), chung quanh chùa Từ Đàm mất điện, do đó Ôn ngưng đọc sách và rời khỏi phòng để đi bách bộ nơi hành lang nhà Thiền, đây cũng là giờ nghỉ mà Ôn thường sử dụng mỗi khi điện có sự cố. Chính sáng này, Ôn dạy: “Cây lá quanh chùa ngày càng xanh, thật đẹp và cũng rất cần cho con người, phải để tâm coi ngó tới nó. Vì đó là một duyên trong các duyên đang hiện hữu trong thế giới này, các con có biết không?”. Chúng tôi im lặng nhìn bóng cây nơi mình đang đứng mà cảm nghe mát dịu hơn trước thật nhiều, sau đó theo chân Ôn vào liêu thiền và đứng sang một bên cầm quạt hầu Ôn. Ôn nằm vào ghế tràng kỷ, không nói gì thêm và tiếp tục đọc sách.

Buổi trưa hôm ấy Ôn dùng ít cơm hơn, chú Pháp Thuần nói rằng “Có lẽ Trời trở nên Ôn mệt”.  Khoảng 2.30 chiều, sau khi nghĩ trưa xong, Ôn rửa mặt, rồi dùng một ít trái cây, uống vài hớp trà, tiếp đó Ôn chỉ vào bàn đọc sách và bảo: “Hãy xếp đặt lại những cuốn kinh sách trên bàn cho ngăn nắp.”  Trong khi chúng tôi đang loay hoay xếp sách thì Ôn đi nghĩ với dáng nằm nghiêng bên phải như thường lệ, không ngờ sau lời dạy ấy cũng là giờ phút Ôn không còn đọc sách nơi Thiền thất nữa. Có lẽ chúng tôi, ai ai cũng đều biết: việc đọc kinh sách của Ôn là việc làm hằng ngày đã được Ôn khép lại như một hạnh nguyện vừa viên mãn trong cuộc đời này.

Khoảng 4.30 chiều hôm ấy thầy Quang Nhuận, thầy Giác Quang đến tiễn chân thầy Hải Ấn đi dự Hội Nghị Phật giáo tại Trung Quốc, đồng thời hầu thăm sức khỏe Ôn. Vừa gặp Ôn, hai thầy vái chào và thưa: “Bạch Ôn! Hôm nay Ôn có khỏe không?” Ôn chắp tay chào lại hai thầy với nét mặt hiền từ lẫn trong nụ cười rất nhẹ, nhìn hai thầy một hồi lâu rồi bảo: “Không khỏe tức là mệt” và Ôn dạy tiếp: “Phải nói đầy đủ như vậy mới nghe được, chứ Kiên Tuệ nó nói tôi hơi mệt là không chính xác.” Ai cũng nghĩ Ôn đùa cho vui, nào ngờ đó là lời cáo bệnh.

Hơn 6 giờ chiều, Ôn bảo mấy chú thị giả: “Hãy xuống dưới dùng cơm chiều kẻo tối rồi.” Khoảng nửa giờ sau, trong lúc chúng tôi còn đang tiếp tục bữa cơm thì nghe tiếng Ôn gọi mấy chu mấy điệu: “Cứ ơi! Thạch ơi! Hết ơi!” Mọi người đồng đáp: “Dạ” và chạy nhanh lên phòng Thiền. Ôn bảo: “Hình như Tôi bị trúng gió mà người thấy lành lạnh và mệt quá; hãy cạo gió thử xem sao!” Thế rồi mỗi lúc càng mệt hơn, lại nôn nhiều, cao gió cũng không bớt, người lạnh đến nỗi dán cao Salonpas cũng không ấm được. Sau khi đo huyết áp, chính thuốc và uống thuốc chống nôn, chị Dung (Y tá) nói nhỏ cho chúng tôi biết: tình hình sức khỏe Ôn đã đến thời kỳ nguy cấp, nên thỉnh Ôn hoan hỷ đồng ý vào bệnh viện T.Ư. Huế để điều trị chứ chúng con rất ngại khối u trong gan không biết lành dữ thế nào.

Lúc này gần 8 giờ tối, khí trời oi bức, nóng nực khó chịu, ngoài sân chùa đang phủ một bóng đêm u buồn khó tả. Chúng tôi và Thầy Quang Nhuận, cô Hải Liên, cô Huệ Nhẫn, chị Dung đều đã thỉnh xin ý Ôn để đưa Ôn vào bệnh viện; đến lần thứ hai Ôn dạy: “Lâu nay sinh, lão, bệnh, tử là chuyện thường. Tôi nay đã đi qua được ba giai đọan rồi, còn một đọan cuối như một quy luật hiển nhiên, vậy thì bây giờ Tôi bệnh mà không đau, cũng chẳng khổ thì vào bệnh viện làm gì”. Tất cả chúng tôi như đang chìm vào sự im lặng rất nặng nề, hình như có điều gì đó vừa thương, vừa kính lại vừa sợ mất đi bậc Thầy cao cả mà mỗi người cảm thấy không biết phải làm sao thì có tiếng của Thầy Quang Nhuận thưa: “Thỉnh Ôn hoan hỷ đồng ý để chúng con hầu Ôn vào bệnh viện khám thử bệnh thật hư thế nào! Chứ ở nhà đêm hôm như thế nầy là không xong, chúng con lo quá.” Nghe vậy, Ôn bảo: “Ừ! Thôi được! Đi thì đi! Sắp cuối một đời người mà cẩn trọng và đừng để sơ xuất điều gì thì cũng không dư”. Và thế là đúng 8.30 tối, mọi người đưa Ôn ra xe taxi để vào bệnh viện T.Ư. Huế. Sau khi hầu Ôn vào trong xe rồi, tôi nhìn ra ngoài xe thấy trời trở mưa to, các Phật tử sau buổi tụng kinh tối tại chùa cũng ra đứng quanh xe đông lắm (và không ai có mũ nón hay áo mưa gì cả nhưng hình như không ai để ý tới mình đang ướt mưa) đúng là có những giờ phút thiêng liêng nào đó, tình cảm con người cho phép họ quên mình để nghĩ về vị Thầy cao quý nhất mà họ đã từng kính ngưỡng niệm ân như vậy. Nửa giờ sau xe đưa Ôn tới phòng Cấp cứu, rồi chuyển qua phòng Hồi sức. Khoảng hơn 9 giờ tối thì mọi thủ tục nhập viện đã làm xong, các Y, Bác sĩ đưa Ôn đi siêu âm, chẩn đoán, định bệnh và cho thuốc uống, mãi đến 2 giờ sáng hôm sau Ôn mới đỡ mệt, người ấm hơn và ngưng sốt.

Sáng sớm ngày 13.9.2001, chư Tăng và Phật tử đã tới bệnh viện hầu thăm Ôn rất đông, người ra kẻ vào, cổng bệnh viện trở nên nhộn nhịp và ai cũng có vẻ lo âu. Ngoài dãy hành lang trước phòng hồi sức, ngày cũng như đêm không lúc nào thiếu bóng quý Thầy, quý Cô đợi chờ tin vui về Ôn. Còn trong phòng hồi sức thì Ôn lúc nào cũng để ý hỏi thăm quý Thầy, quý Cô, cụ thể như Ôn hỏi: “Quý Thầy, quý Cô ở lại ngoài hiên vậy rồi tối ngủ ở chỗ mô? Họ ăn cơm ở mô? Có bánh hay trái cây thì đem ra ngoài mời họ dùng cho vui đỡ mệt…”. Những lời như vậy Ôn thường căn dặn ít nhất là ba lần trong ngày, đối với Y, Bác sĩ Ôn cũng thường nhắc chúng tôi giống như vậy.

Sáng hôm ấy, có quý Thầy trong ban Trị sự G.H.P.G tỉnh Thừa Thiên – Huế đến thăm Ôn: khi thấy Hòa thượng Đức Phương, Ôn mỉm cười và nói: “Khi hôm tôi mệt quá, tưởng mô không chịu nổi”. Đứng hầu thăm Ôn và chỉ thăm tôi, có lẽ quá xúc động nên không ai nói trọn thành lời. Ôn nhìn quý Thầy vẫn trong ánh mắt hiền từ như xưa và nét mặt vẫn minh mẫn lạ thường, bỗng nhiên quý Thầy đượm buồn như đang sẵng sang tuôn lệ. Ôn bảo: “Thăm chút như rứa được hỉ! Quý Thầy về nghĩ và còn phải lo nhiều Phật sự khác nữa!” Vâng lời Ôn dạy, quý Thầy vái chào Ôn ra về mà cảm thấy có nhiều nỗi lo phía trước và những lời dạy chơn tình của Ôn vẫn còn đang vang vọng sau lưng.

Khoảng 10.30 có các cô Y tá điều dưỡng lo làm xét nghiệm trong lúc Bs. Lộc, Bs. Linh, Bs. Hanh khám và hỏi bệnh tình của Ôn. Các Bác sĩ ngạc nhiên khi nghe Ôn trả lời một cách minh bạch, dứt khoát. Nhiều Bác sĩ hay y tá tới thăm bệnh họ đều ghi nhận ở nơi Ôn có một sự hoan hỷ rất đặc biệt, không những không rên đau, phiền muộn mà còn minh mẫn, lịch thiệp vô cùng. Đến khoảng 16 giờ có các nam nữ Phật tử, quý Thầy, Cô, các vị đại diện Tỉnh ủy, Chính quyền, mặt trận, Tôn giáo tới thăm, Ôn tiếp chuyện và hỏi thăm từng người một cách niềm nở, thân tình, vừa khôi hài, vừa ý vị. Ví như một hôm kia có anh cư sĩ đến thăm Ôn và hỏi: Chúng con nhìn sắc diện của Ôn giống như Ôn không có bệnh gì cả. Vậy thì Ôn thấy trong người có được khỏe không? Ôn đáp: “Một phần trong người có khỏe sẵn rồi, nhờ lại thêm cái phần có anh đến thăm làm tôi khỏe thêm nữa”. Nói xong Ôn mỉm cười nhẹ và vui khiến mọi người ai cũng bật cười, tấm tắc mừng thầm vừa tỏ lòng khen ngợi vừa kính phục. Đến gần chiều tối, giờ thăm bệnh theo quy định của bệnh viện cũng đã hết, Ôn gọi các vị thị giả và hỏi: “Bây giờ là mấy giờ rồi, sao chưa thấy thầy Hải Ấn trở về.” Chúng tôi thưa: Bạch Ôn, thầy chúng con đã về nhưng chưa tới. Ôn nói rất nhỏ như nói một mình: “Thật tội cho Hải Ấn, chẳng có bao giờ nó được đi dâu xa, mà đi thì ít nhiều gì cũng có trở ngại lạ thật!” Ngừng lại nhìn thẳng lên trần nhà rồi Ôn hỏi: “Vậy chứ làm sao biết được Hải Ấn về rồi mà chưa tới!” Dạ chúng con có gọi điện thọai ra Hà Nội hỏi thăm và biết thầy lên tàu lửa trở vô rồi, nhưng chưa tới. Nghe nói vậy, Ôn làm thinh như muốn biểu hiện sự yên lòng.

Sáng ngày 14, Ôn ít mệt hơn và thầy Hải Ấn cũng đã trở về hầu bên cạnh Ôn, Thượng tọa Chơn Thiện cũng từ Tp. Hồ Chí Minh ra hầu thăm Ôn và chư Tăng, Ni cũng như Phật tử ở các quận, huyện cũng tới bệnh viện hầu thăm Ôn rất đông đến nỗi trước cửa phòng Hồi sức khỏe kẻ ngồi người đứng chật cả hành lang. Khoảng 16 giờ hôm ấy, Ôn bị sốc thuốc hơi lâu, cả người lạnh ngắt, may sao mọi việc Y, Bác sĩ lo liệu kịp thời nên tối đó Ôn đã bớt và đi ngủ sớm.

Vì phản ứng thuốc ngày hôm qua nên ngày 15 Ôn mệt nhiều. Quý Thầy và các Phật tử Tp. Hồ Chí Minh và Nha Trang ra thăm như HT. Thiện Bình, TT. Trung Hậu, TT. Thiện Nhơn, thầy Minh Thông,  thầy Phước Tú… Đến chiều quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni đại diện văn phòng I & II thuộc TƯ GHPGVN đã đến Huế để hầu thăm Ôn và Ôn đã chào hỏi, tiếp chuyện một cách niềm nở.

Sáng ngày 16, khoảng 3.30, sau khi thức dậy, thị giả giúp Ôn súc miệng, rửa mặt, rồi uống vài hớp trà nóng như lệ thường hằng ngày Ôn vẫn vậy. Chúng tôi đều im lặng chăm chú hầu Ôn. Khoảng nửa giờ sau, Ôn dạy: “Sáng nay sau khi thức dậy, Tôi cảm thấy trong người khỏe một cách thật là vi diệu, không nghe tật bệnh gì cả, cứ tưởng đâu mình bình thường không có việc gì cả. Đến lúc thấy dây nhợ chuyền dịch trên tay mình, mới biết mình còn đang bệnh. Thế mới hay khi châm chú định tâm để thấy rỏ “cảm thọ” và “tưởng” về bệnh là giả huyễn tất thời xa lìa được “thọ” và “tưởng”, do đó mà Tôi nói: sự khỏe thật là vi diệu là vậy”. Rồi Ôn hỏi “Mấy giờ rồi?” Chúng tôi thưa: dạ 5 giờ kém. Ôn hỏi tiếp: “Sáng hay chiều?” Dạ thưa: sáng. Ôn dạy: “Như tôi ri mà khỏe, sáng cũng như chiều, ngày cũng như đêm, không phải mất công phân biệt gì cả.” Nói xong, Ôn mỉm cười rồi nhờ thị giả giúp Ôn trở người nằm nghiêng về hướng phía cửa phòng và bảo: “Hảy bật đèn trong phòng cho sáng để các Phật tử họ có nhìn thấy từ bên ngoài cửa kính kẻo tội họ” (Vì phòng hồi sức, Bác sĩ không cho người thăm vào trong phòng đông nên Phật tử phải đứng ở ngoài cửa kính nhìn vào lạy Ôn mà thôi). Quả thật, chúng tôi không làm sao quên được những hình ảnh chơn tình đầy đạo vị ấy,  các Phật tử bên ngoài cửa thì sụt sùi bi lệ chắp tay hướng vào Ôn vái lạy liên tục, ở trong Ôn cũng chắp tay xá chào họ mãi không thôi. Kể đến đây, chúng tôi sực nhớ lại bốn câu thơ Ôn thường đọc trong các buổi giảng dạy cho các Phật tử:

  “Trăm năm trước thì chưa có,

  Trăm năm sau có cũng như không.

  Cuộc đời sắc sắc không không,

  Trăm năm còn lại tấm lòng mà thôi.”

Đến 14.30 hôm ấy, sau khi ngủ trưa dậy, các thị giả chưa kịp hầu Ôn rửa mặt thì Ôn kêu lại và kể: “Khi nãy Tôi thấy có một vị Giáo chủ Không Thiên đến đánh thức Tôi dậy và hỏi Tôi rằng: “Thế nào là tánh không kinh? Thế nào là tánh không luận? Sauk hi nghe tôi trả lời đúng và rất gọn, vị Giáo chủ ấy bảo Tôi hãy giải thích hai điều về ‘tánh không kinh và tánh không luận”. Trong khi Tôi đang giải thích như vậy thì Người ấy lớn tiếng hỏi vặn lại: Như vậy! Ai là Giáo chủ “tánh không kinh” vá ‘tánh không luận ấy? Tôi đáp: Chính mình chứ không ai khác.” Lúc ấy thầy Pháp Quang đang ngồi gần Ôn thưa rằng: Vậy Ôn thấy ông Giáo chủ mặt mài thế nào? Ông ta mặc áo màu gì? Ôn dạy: “Lúc mà mình đang chú tâm nghe và trả lời như vậy thì có ai để ý tới chuyện ấy làm gì.” Nghe Ôn nói vừa xong thì thầy Pháp Quang nhận ra mình còn vọng tâm nên hỏi câu hỏi sai, liền im lặng cúi đầu, chắp tay nhìn Ôn với lòng thành kính. Và có lẽ cũng nên nói thêm ở đâu rằng: Tất cả những câu trả lời của Ôn với vị Giáo chủ Không Thiên đều không được Ôn kể lại, có lẽ nếu ai vào thế giới “tánh không kinh” và “tánh không luận” sẽ tự hiểu câu trả lời của Ôn là gì.

Đêm 17 sáng ngày 18, sau khi uống trà xong, Ôn gọi chúng tôi lại và bảo: “Hãy lấy giấy viết để ghi lại bài kệ này, diệu dụng và thăm sâu lắm, cũng đừng nên phổ biến tùy tiện tất cả sẽ không hay và mất tác dụng”. Ngừng lại một lúc rồi Ôn bảo: “Để Tôi uống hớp trà nữa rồi nói cho ghi”. Rõ ràng Ôn dụng thời gian thật khéo, đủ đề cho những ai đang tìm giấy và viết khỏi phải lật đật hoặc ghi thiếu. Uống trà xong, cũng vẫn với dáng điệu nhẹ nhàng, chậm rãi, Ôn kể: “Khi hôm Tôi thấy đang ở trong một ngôi chùa sơn vàng sạch sẽ và rất đẹp thì Đức Phật và các vị Bồ-tát đến bảo Tôi phải suy nghĩ thật kỹ bài kệ này.

 “Phật biết Phật không!

 Tâm biết tâm không!

  Khi Phật đổi thân,

 Tâm biết Phật không”.

“Tôi không cần suy nghĩ, vừa nói “biết” thì nghe có tiếng của họ:

-Hỏi : Vậy hôm nay Ôn có khỏe không?

-Đáp: Khỏe

-Hỏi: Có ăn chi không?

-Đáp: Không ăn chi cả.

-Hỏi: Có tiểu tiện, đại tiện, trung tiện chi không?

-Đáp: Có đại tiện.

-Người hỏi nói: Như vậy là tốt.”

-Lúc ấy thấy mình khỏe hẳn, không bệnh tật gì cả.

Quả là đúng như vậy, sáng ấy người đến thăm Ôn khá nhiều, Ôn vẫn chuyện trò, thăm hỏi nhưng không thấy Ôn mệt như những ngày trước.

Ngày 19, khoảng 10 giờ sáng, sau khi các Bác sĩ khám bệnh và các cô y tá tiêm thuốc xong, Ôn bảo chúng tôi lấy nước trái cây cho Ôn uống. Sau khi uống xong, một lát sau Ôn dạy: “Có sinh tức có tử, đó là chyện bình thường không ai tránh được. Nhưng nếu biết các pháp đều do duyên sanh thì sinh tử ấy cũng do duyên sanh. Quan trọng ở chỗ biết sinh tử ấy chỉ là “sở sanh” thuộc quả; còn ái-thủ-hữu mới là “năng sanh” thuộc nhân. Không có nhân thì có quả không? Đáp: “Thưa không” Ôn dạy tiếp: “Nghiệp cảm duyên khởi; Nhân quả duyên khởi; Pháp giới duyên khởi, cứ nghiệm theo đây mà biết.” Đến gần trưa, có TT. Chơn Tế và Bs. Vinh (Trưởng Khoa nội) đến hầu thăm Ôn. Sau khi vái chào Ôn, Bs. Vinh hỏi: “Thưa Ôn! Hôm nay Ôn thấy trong người thế nào! Có khỏe không?” Ôn trả lời: “Khỏe. Khỏe hơn mấy ngày trước.” Bs. Vinh tiếp lời: “Con thấy Ôn hồng hào, vui vẻ như không có gì là bệnh cả.” Ôn vào lời tiếp chuyện: “Cô nói phải đấy, Tôi tuy thân bệnh nhưng tâm không bệnh, cũng chẳng có gì phải vui buồn cả, nhờ vậy mà không khổ, đời ông thầy tu rất là khỏe rứa đó. Còn người đời thân họ bệnh mà tâm họ cũng bệnh theo nên họ buồn rầu, rên la, đau đớn, khổ sở. Vì sao như vậy, cô biết không? 1) Vì khi họ bệnh thì họ sợ khổ vì bệnh nên cái sợ ấy làm họ đã khổ càng khổ thêm. 2) Vì khi họ bệnh thì họ lo sợ chết (chết rồi bỏ chồng hoặc bỏ vợ, bỏ con, bỏ của cải tài sản, bỏ gia đình nhà cửa, bỏ mớ danh lợi… rồi họ tiếc đủ thứ) do đó làm họ khổ thêm. Vì hai lẽ ấy thường làm người bệnh đã khổ càng đau khổ thêm và khổ ấy làm họ đau đớn thêm”. Bs. Vinh chắp tay nhìn Ôn gật đầu tỏ vẻ hiểu lời Ôn dạy rồi vái chào đi ra. Dạy xong lời này Ôn uống thuốc và cháo hồ, sau đó Ôn ngủ một giấc dài từ 11 giờ tới 4 giờ chiều.

Ngày 20 khoảng 7 giờ tối, từ Nha Trang, Hòa thượng Đổng Minh đến thăm Ôn và sau khi chào hỏi xong, Ôn đã cầm tay HT. Đổng Minh để thu nhỏ khoảng cách thầy trò mà tỏ vẻ sự thân thiện một cách trân trọng. Ôn cười và hỏi: “Mới tới hả? Đi bằng gì?” HT. Đổng Minh thưa: “Dạ! Con đi bằng tàu hỏa.” Ôn nói tiếp: “Cho tới hôm nay, Tôi mới ngộ được cảm thọ là “Như cá hết nước; như cá trên thớt” đó thầy ơi. Hôm ở chùa trước khi tới bệnh viện là cảm thọ bệnh như “cá trên thớt”. Cho đến khi nào đối diện với “thọ” ấy mà tự tại, bất động mới lìa ‘thọ” được, nghĩa là không những lìa “thọ” ấy mà còn phải lìa cả “không thọ ấy” nữa. Quả thật, biết là một chuyện mà hành cái biết ấy là một chuyện, thầy thấy có khó không.” HT.Đổng Minh thưa: “Dạ! Khó thật. Nhưng, chỉ có thọ chứ không có người cảm thọ”. Ôn liền xác định: “Đúng vậy!”. HT. Đổng Minh cúi chào ra về.

Sáng ngày 22, sau khi thức dậy, Ôn kể lại một giấc mơ mà khi hôm Ôn thấy: “Vẫn biết giấc mơ là giả, không thật, nhưng giấc mơ ấy có khác; giống như mấy hôm trước thỉnh thoảng Tôi cũng có mơ nhưng thấy những cảnh đẹp có, xấu có,  khô ráo có, bùn lầy có, mà lắm điều trở ngại, rắc rối cũng có. Nhưng từ hôm thấy Phật và các vị Bồ-tát đến nay sao mà thấy toàn là những cảnh hiền lành, tốt đẹp. Như khi hôm, Tôi thấy cảnh ở bệnh viện giống như một ngôi chùa vàng sạch lắm, cách tôn trí thờ tự trong chùa là để chữa bệnh, còn nhà Tổ cũng được làm bằng vàng rất gọn nhẹ, cây cảnh chùa toàn màu vàng trang nghiêm thanh tịnh quá. Do vậy Tôi không biết đi đại tiểu tiện chỗ mô cả, hỏi ra mới biết đất đai ở đó toàn là vàng chứ không phải đất, mình có đại tiện trên đất vàng ấy thì không có hôi hám gì cả, lâu ngày phân đó cũng thành vàng. Đó thật là chuyện hy hữu mà cũng tức cười…”

Ngày 23, Ôn bảo chúng tôi hạ bớt máy lạnh và dạy: “Không còn nhiều đâu! Hãy gắng giúp tôi một cách ân cần, chu đáo hỉ! Phải để sẵn  bánh trái ở đó khi nào đói bụng thì ăn. Bữa ni Tôi thấy hơi khỏe khỏe, có ai mệt thì nằm xuống đó mà ngủ đi!”  Chúng tôi thưa: “Dạ” – rồi cúi đầu trên giường gần sát bên người Ôn mà cứ nghẹn ngào xúc động, không khóc sao nước mắt cứ tuôn ra – như tuôn ra một tâm sự tủi buồn, tự nhủ thầm: Có ngày mình sẽ không có được những lời nhắc nhở đầy lòng bi mẫn của Ôn nữa! Tình thương Ôn vời vợi như non cao!!!

Ngày 24, Ôn gọi thầy Hải Ấn và bảo: “Tôi muốn về nhưng nếu tự dưng mình xin về thì liệu rằng các Y Bác sĩ họ chịu không! Hoặc có làm phiền hà gì tới họ không? Hay là bao giờ họ cho về thì mình về?” Thầy Hải Ấn thưa: “Dạ! Để xem sao thử đã, tùy theo sức khỏe Ôn”  Và đến ngày 25, sau khi hỏi thăm sức khỏe cũng như việc ăn ngủ của Ôn Bs. Sinh và Bs. Lộc khám bệnh cho Ôn cũng có nhã ý để cho Ôn xuất viện. Ôn hỏi: “Về cũng được nhưng bệnh viện có cho mượn những dụng cụ y khoa này không? Có những cái đó cũng hay.”  Bs. Lộc trả lời: “Dạ! Chắc được thôi.” Ôn bảo chúng tôi: “Nếu có về thì mai mới về được, vì còn để có thì giờ cảm ơn các vị Y tá điều dưỡng”. Tấm lòng của Ôn bao giờ cũng vậy.

Sáng ngày 26, chúng tôi thu xếp hầu Ôn về chùa, các vị Y và Bác sĩ cũng đến đông đủ, có lẽ họ đợi để tiễn chào Ôn, các Phật tử chờ ngoài hành lang rất đông và đúng 7 giờ 45 Ôn rời bệnh viện để về chùa. Sau khi về đến nơi, có lẽ vì đi đường mệt nên Ôn nằm nghỉ, không ngủ nhưng Ôn cũng không dạy bảo điều gì. Đến trưa Ôn dùng một tí cháo hồ và ngủ đến chiều. Chiều nay, sân chùa Từ Đàm trở nên xôn xao rộn rịp hẳn lên, kẻ đến người lui viếng thăm Ôn không ngớt, tuy nhiên họ cũng chỉ được nhìn Ôn qua cửa kính mà thôi. Ngày 27, quý Hòa thượng, Thượng tọa cùng Phật tử ở các tỉnh thuộc miền Trung về hầu thăm Ôn mỗi lúc càng đông, các Tăng, Ni trẻ đã được Giáo Hội tỉnh gọi về dọn dẹp giảng đường và làm sạch khuôn viên chùa. Đến sáng 28, Ôn gọi chúng tôi lại và nói: “Về chùa nghe người khỏe hơn, cũng chẳng thấy tức bụng gì cả, nghe tiếng chuông chùa cũng hay hơn  trước.” Chúng tôi mừng: Dạ thưa Ôn! Tiếng chuông khi hôm là của cái chuông khác mới đổi lại. Ôn bảo: “À! À! Hèn gì Tôi nghe hay hơn.” Ngày 29, Ôn dạy chúng tôi: “Người các nơi về thăm mỗi lúc càng đông, phải chia phiên thay nhau hầu Tôi c