Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm Đại Lão
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu


...... ... .

 

PHẦN III

 

 Thơ văn tưởng niệm

 

(5)

DƯỚI ÁNG MÂY LÀNH

 LÊ ĐÌNH BÍCH ( Giảng viên Đại học Cần Thơ)

 

Hằng năm, cuối tháng 3, chúng tôi lại lên đường về Huế. Từ Cần Thơ, đoàn sinh viên khoa Văn chúng tôi dừng lại ở Nha Trang, Đà Nẵng. Mỗi nơi, các bạn sinh viên đều được đến thăm các danh lam, thắng cảnh Việt Nam như Tháp Bà, Long Sơn tự ở Nha Trang, Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An ở Quảng Nam, Đà Nẵng… Nhưng đọng lại kỷ niệm sâu sắc nhất với cả đoàn vẫn là đất thần kinh, xứ Huế, một thời được mệnh danh là trái tim của Phật giáo Việt Nam.

Cùng với những lăng tẩm, đền đài của các vua triều Nguyễn. Huế hiện lên bình dị, hiền hòa, làm an lạc mỗi bước chân người về với những cổ tự rêu phong cổ kính: chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm, chùa Từ Hiếu…

Đã nhiều năm đưa sinh viên Văn Đại học Cần Thơ đi thực tế ở Huế, nhưng năm nay, khi đến thăm chùa Từ Đàm, đoàn chúng tôi có duyên may được gặp Hòa thượng Thích Thiện Siêu.

Tất cả chúng tôi thành kính quay bên hồ nước, trong khuôn viên chùa, nghe thầy giảng dạy. Thầy hỏi:

-Sinh viên phải không?

Tôi thưa thầy: - Dạ, sinh viên khoa Văn Đại học Cần Thơ.

-Đứng chung quanh hồ nước thầy nói chuyện nghe! Từ Đàm là đám mây lành hỉ!

Hai mươi phút ngắn ngủi với Thầy đã làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về đạo Phật trong lòng những người trí thức trẻ.

Riêng với tôi, từ khi chưa gặp thầy, tôi đã đọc bản kinh Pháp Cú do thầy dịch, và chỉ một câu kinh đã làm thay đổi quan niệm sống của đời tôi: Người kia không hiểu rằng: “Chúng ta sắp bị hủy diệt” (nên mới phí sức tranh luận hơn thua). Nếu họ hiểu rõ điều đó, thì chẳng còn tranh luận nữa.

Từ giả chùa Từ Đàm, chúng tôi về lại Cần Thơ, mang theo những lời dạy của thầy – áng mây lành sông Hương, núi Ngự - và trong lòng những người trẻ tuổi đã đẹp hơn và hòa ái biết bao!.

 

 

TƯỞNG NIỆM ÔN

 Nạp tử THÍCH GIÁC DŨNG

 

Lần đầu tiên con được biết đến Ôn là nhờ đọc bài Tứ Diệu Đế do Ôn viết, đăng trên Tập văn Phật đản năm 1985. Bây giờ đọc lại bài này vẫn thấy hay, dễ hiểu, cô đọng, đúng như lời người xưa nói: Ngôn giản lý tận. Phải là một bậc có sở học uyên thâm lắm mới cô đọng, diễn tả giáo lý của Đức Phật một cách dễ hiểu như thế. Cũng chính nhờ bài viết đó mà con làm tốt bài thi vào khóa II Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II (nay được gọi là Học viện Phật giáo tại Tp. Hồ Chí Minh).

Đến khi được ngồi ghế Trường Cao cấp Phật học và được học những giờ của Ôn, được diện kiến Ôn, con mới ngạc nhiên rằng sao Ôn bình dị đến thế? Sinh ra nơi đất Thần kinh quý phái nhưng lúc nào Ôn cũng chỉ mặc trên mình một tấm áo vải màu lam đơn sơ, giản dị. Ôn không thích phô trương màu mè. Cần gì những thứ đó khi tâm Ôn, hồn Ôn đã lung linh ánh sáng huyền diệu của Phật quốc? Có lẽ thấy được Đạo tâm đó, cho nên, ngay từ buổi truyền trao sứ mệnh Thiệu long Phật chủng, Bổn sư tức đức cố Đệ nhị Tăng Thống đã ban cho Ôn pháp hiệu: Tâm Phật. Hơn nửa thế kỷ tận tụy trong sự nghiệp giáo dục tăng ni, Ôn thắp sáng lối đi cho đàn hậu học không phải bằng mảnh văn bằng thế tục, không phải bằng lời lẽ hoa mỹ hữu danh vô thực mà bằng chính hồn của Chân nhân, Tâm của Phật. Ôn giáo dục thế hệ trẻ bằng tấm gương “Học phí bất yếm, giáo nhi bất quyện”. Đó chính là hình ảnh của Ôn, hình ảnh của bậc Thầy mô phạm bằng xương bằng thịt cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 này. Các dịch phẩm lớn như Đại Trí Độ Luận và Trung Luận được thực hiện và hoàn thành trên giường bịnh, trong hơi thở cuối cùng của huyễn thân mộng trạch. Đó là tinh hoa, là tâm huyết, là món quà vô giá Ôn đã để lại cho trần gian. Tinh hoa ấy, tâm huyết ấy, bảo vật ấy vẫnsáng ngời trong tâm trí của những người con Phật hôm nay và mai sau. Mỗi trang sách ấy vẫn luôn luôn hiển hiện hình ảnh của Ôn, của bậc trưởng lão ở tuổi “lão giả an chi” đang cặm cụi bên từng trang kinh trong khi đang đối mặt với tử thần.

Sau khi đất nước được thống nhất, Giáo hội  được thành lập, như việc chẳng đặng đừng, Ôn phải nhận lãnh bao chức vụ trong Đạo cũng như ngoài đời. Nhưng, đối với Ôn, tất cả những chức vụ đó chỉ là phương tiện để thực hiện hoài bão hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự. Ôn đã nói thẳng điều đó trong lần gặp gỡ các cử tri với tư cách là ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa IX vào ngày 15 tháng 7 năm 1992 tại Huế như sau:

Tôi đi tu theo Đạo Phật từ lúc 14 tuổi, đến nay 72 tuổi, gần 60 năm ở trong Đạo, tôi chỉ tâm tâm niệm niệm trước sau là một ông thầy tu, nếu không được làm Bồ Tát, Phật thì cũng làm một nhà sư chân chính, đem giáo pháp của Đức Phật, lòng từ bi của đạo Phật để phổ biến giúp ích cho mọi người, chưa bao giờ tôi mơ đến một chức vụ nào khác hết”. Bản hoài của Ôn là đem ánh sáng từ bi và giác ngộ của Đức Phật thắp sáng cho mọi loài, chỉ có thể. Chức vụ, danh xưng chỉ là phương tiện để thực hiện sứ mạng thiêng liêng đó, cho nên Ôn không bao giờ màng đến chức tước, danh lợi, và không nương vào cửa quyền. Tâm của Ôn, hạnh của Ôn mãi mãi là kim chỉ nam cho đàn hậu học hôm nay và mai sau.

Ngày Ôn ra đi, Ôn Linh Sơn đang trên xe lửa ra Huế. Khi xe lửa dừng tại Tháp Chàm, thì Ôn Linh Sơn hay tin Ôn thị tịch. Ôn Linh Sơn kể rằng tự nhiên Ôn (Linh Sơn) khóc, khóc thật nhiều lắm. Giọt nước mắt của một bậc cao niên khóc một bậc trưởng lão. Đó không phải là giọt nước mắt hoài hương của Đỗ Phủ trong “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ”, cũng không phải là giọt nước mắt tri âm tri kỷ của Bá Nha khóc Chung Tử Kỳ, mà là huyết lệ của Chân Tịnh Thiền sư trong Thiền Lâm Bảo Huấn. Sách ghi lại rằng: Mỗi khi ngài Chân Tịnh nghe thấy một nơi nào có vị cao tăng thạc đức viên tịch thì Ngài than thở đến rơi lệ. Thị giả thấy thế mới thưa rằng: “Vạn vật sinh ra trong trời đất, hễ có hình chất thì phải chịu sự khô chết, tàn lụi, không thể tránh được. Hòa thượng tự chuốc lấy khổ đau làm chi?” Ngài Chân Tịnh trả lời: “Phật pháp hưng thịnh là nhờ các vị có đạo đức chấn hưng. Nay các vị đều mất đi thì tùng lâm quyết suy kém vậy.” Ôn ra đi, để lại một khoảng trống. Khoảng trống thân một trượng sáu thì ai cũng có thể thay thế được, nhưng khoảng trống tâm linh thì thế gian này không ai bù đắp được, chỉ trừ khi Ôn tái hiện Đàm Hoa. Cho nên hôm đưa linh cữu Ôn về nhập bảo tháp, trời mưa, mưa thật dài và mưa thật nhiều. Người khóc, trời khóc để tiễn đưa một bậc chân nhân về cõi Niết.

 Vĩnh Nghiêm, ngày 6-12-2001 

 

 

THIỀN TĂNG VÀ CUỘC ĐỜI

(Tưởng Niệm Cố Đại lão Hòa thượng  Thích Thiện Siêu) 

 VIÊN TRÍ 

Một đại văn hào thế giới nói rằng mỗi danh nhân ra đời có một vị trí bất tử trong dòng chảy lịch sử của nhân lọai nói chung, và dân tộc nói riêng, xuyên từ quá khứ đến hiện tại và suốt cả tương lai. Sự bất tử ấy có được không phải vì tượng đài được xây dựng kiên cố, tháp miếu được vẽ tô rạng ngời, mà phát sanh từ mạch nguồn từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha của cuộc sống danh nhân ấy. Chính chất liệu thiết thực nhân bản pha lẫn hương vị thoát tục siêu phàm đã làm cho khí trời ấm áp, không gian gần gũi, và khoảng khắc là thiên thu.

Trong chừng mực nào đó, ở cấp độ vĩ mô, nhân cách Hòa thượng Thiện Siêu sẽ mãi hiện tồn trong lịch sử của xứ Huế mộng mơ, kinh đô một thời của nước Việt, vì kể từ ngày “Bến vàng chuyển bến”, nước sông Hương, Bến Ngự vẫn in đậm bóng hình Thầy; từ lúc đồi Thiên Thai cung đón tấm thân huyễn hóa của người, chuông chùa Thiền Tôn, Báo Quốc vẫn đồng vọng pháp âm “Vô Ngã là Niết Bàn”. Nói đến Phật giáo xứ Huế trong các thập niên 80 và 90 của thế kỷ 20 là nói đến một giai đọan thăng trầm thịnh suy, gian lao khó nhọc của Tăng già miền Trung, mà qua đó một trong những người đứng mũi chịu sào, không màng khó nhọc để lèo lái con thuyền Giáo hội lướt sóng bình an chính là Hòa thượng. Sự thầm lặng hy sinh, kham nhẫn của Thầy đã đem lại giây phút bình an cho tăng già Phật giáo. Chính việc xem thường danh lợi, coi nhẹ khen chê của Thầy là những viên gạch đầu tiên dựng xây nên Trường Trung cấp Phật học và Học Viện Phật giáo Huế; rồi từ các chiếc nôi giáo dục này chủng mầm trí tuệ, từ bi được gieo trồng, và đơm hoa kết trái làm đẹp cho cuộc đời. Nói đến Phật giáo Huế trong giai đọan lịch sử này, bên cạnh những bậc cao tăng thạc đức, giới sử gia Phật giáo không thể không đề cập đến vai trò của Hòa thượng Từ Đàm, dù bóng hình thầy chỉ thoáng ẩn thoáng hiện giữa cõi có không. Hòa thượng không hề nghĩ mình làm gì hay giữ chức vụ gì, nhưng như chư tôn thiền đức lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên – Huế thường nói dù Hòa thượng không làm gì cả, nhưng không có sự hiện diện của Ngài thì Giáo hội địa phương khó lòng có được những thành tựu thực tiễn. Vậy nên, khi Hòa thượng nhẹ bước vân du đi vào cõi tịnh, tăng ni tín đồ đất thần kinh buốt cả tâm hồn, đất trời rơi lệ, vì từ đây trước biển đời dông tố “thuyền từ che chở biết nhờ ai”.

Ở cấp độ vĩ mô, danh xưng kính thương “Hòa thượng Thiện Siêu hay Ôn Từ Đàm” như hiện diện khắp nơi trong tâm hồn người con Phật nước Việt, từ Nam chí Bắc, từ quốc nội đến quốc ngọai. Cuộc sống thanh bạch, giản dị nhưng đậm nét thanh cao, tỏa mùi thoát tục của một thiền sư trong việc “tri hành hợp nhất” từ công tác giản dạy cho đến tự thân hành trì “giới đức, tâm đức và tuệ đức’ đã là nguồn hỷ lạc vô biên cho ai đã từng có duyên thân cận, gần gũi. Vì dường như khi cơn xoáy vật chất đang ăn mòn và xâm lấn thế giới tâm linh thì những biểu mẫu mô phạm hiếm hoi như thế đã thật sự tạo nên cho con người niềm tin và hy vọng về một nền đạo đức và giải thoát thật sự. Đây chính là động lực, là nguồn cảm hứng để thế nhân hướng đến thế giới chân thiện mỹ.

Kể từ ngày thảo lư được chiếu cố, gót hài của Hòa thượng hạ sơn dấn bước vì đạo, vì đời. Giữa cảnh đời hoa lệ, thầy hiện ra thật khiêm tốn, giản đơn của một thiền tăng khoát vẻ núi rừng. Thế nhưng, sự trầm tĩnh nhưng cương nghị, mềm dẻo nhưng quyết đoán, tùy duyên mà bất biến, tiếng nói thầy luôn là bước cầu nối cho những khoảng cách tâm linh giữa các bậc trí giả thế trí biện thông trong Tăng đoàn Phật giáo. Sự hiện diện của thầy luôn làm cho các bất đồng được giải tỏa, bế tắc được hanh thông. Trong vai trò Như Lai sứ giả, thầy có mặt khắp nơi, từ quê nghèo khổ cực cho đến chốn phồn hoa, kinh đô tráng lệ, không đâu không in dấu chân thầy. Là người lãnh đạo tối cao trong ngành giáo dục, thầy xuất hiện mọi nơi, từ lớp Phật học vỡ lòng cho đến giảng đường đại học. Thầy đến không phải để được tiền hô hậu ủng, không vì tước vị, danh xưng mà chỉ vì mục đích mong được chia xẻ và truyền đạt sở học, sở tu và sở chứng mà Thầy có được cho người có duyên…

Sở nguyện của Thầy rồi cũng đến lúc kết nụ đơm hoa. Học đồ của Thầy đã ít nhiều thông hiểu ý cao tinh đẹp nên đã tiễn thầy bằng những gì họ tiếp nối được: “Hạnh thầy thắp sáng lối con đi”… Thầy đến là vậy và đi cũng như vậy; không một chút vẩn đục, không một niệm mong cầu, như:

“Nhạn bay trên cao, bóng chim dưới nước,

Nhạn không có ý lưu vết, nước không mong giữ bóng hình”.

Thậm chí, cho đến giờ phút cưỡi hạc tây quy thầy vẫn còn nhắc bảo: “chỉ có cảm thọ khổ lạc mà không có người cảm thọ khổ lạc”. Vậy những gì được viết lại ở đây chắc hẳn không thể là ý muốn của Thầy!

Tuy nhiên, như Đức Phật đã dạy: “Cái gì là lõi cây cái ấy sẽ tồn tại lâu dài”, và lịch sử ắt hẳn cần phải ghi lại những dấu vết của danh nhân, vì các điểm son ấy không chỉ làm cho lịch sử trở nên rạng ngời và giá trị mà nó còn là tấm gương sáng cho hậu thế soi mình. Trong ý niệm này, dòng suy tư được viết ra tất nhiên không phải nhằm để ca ngợi hay tôn vinh thầy, vì mọi sự tôn vinh không nền tảng sẽ thoáng bay trong vô vọng, mà mục đích của nó là giúp người viết giác tỉnh được thật hư để học theo hạnh nguyện của thầy tự tại trước được mất, có không trong sự thăng trầm của thế sự. Bên cạnh đấy, dù người ta có đồng ý hay không thì:

Hương các loại hoa thơm

 Không ngược bay chiều gió

 Nhưng hương thơm người đức hạnh

 Ngược gió khắp tung bay

 Chỉ có bậc chân nhân

 Tỏa khắp mọi phương trời”

Thiền Viện Vạn Hạnh

  Đêm 30 tết Nhâm Ngọ -2002 

 

THỌ TANG HÒA THƯỢNG

CAO HUY THUẦN 

Thưa quý đạo hữu, hôm nay với lòng hiếu thảo, Phật đường Khuông Việt làm lễ thọ tang và tưởng niệm Hòa thượng Thiện Siêu. Làm lễ tưởng niệm là chuyện đương nhiên, nhưng thế nào là ý nghĩa của thọ tang?

Rất đơn giản: Phật tử Việt Nam vừa mồ côi. Chúng ta mồ côi một người cha hiếm hoi còn xót lại trong những người cha đã làm nên lịch sử của phong trào chấn hưng Phật giáo đã manh nha và phát triển trong cùng thời gian mà ý thức quật khởi của dân tộc vùng lên với những luồng gió mới. Dân tộc Việt Nam gặp được hai cơ may. Một cơ may đưa đến phục hưng quốc gia. Một cơ may đưa đến phục hưng xã hội. Chúng ta còn được làm Phật tử như thế này ngày hôm nay, còn có chùa để thờ Phật, còn đóng góp được sức mạnh tinh thần để tô bồi cho sự vững chắc của đất nước chính là nhờ Phật giáo đã hồi sinh trong những năm 30, đã sống sót trong những năm 63, nhờ công lao của những người cha kiệt xuất đó, và hôm nay mặt trời như nhòe đi vì giọt nước mắt gởi theo một hình bóng nữa ra đi. Chúng ta mồ côi, bởi vì người cha đó, những người cha lịch sử đó, khi mất đi, không ai thay thế được, như không ai thay thế cha được cả.

Các vị đó, mỗi vị xuất chúng khác nhau, nhưng vị nào cũng giống nhau, như sao trên trời giống nhau vì đều sáng. Hòa thượng Thiện Siêu, kiến thức uyên thâm làm kính phục bao nhiêu thì tác phong bình dị làm gần gũi bấy nhiêu. Hòa thượng là người đọc sách không biết mệt mỏi bên kia cửa sổ chùa Từ Đàm, nhưng Hòa thượng hình như bao giờ cũng ngồi đó, nhàn nhã uống trà với khách. Hòa thượng là trí tuệ bậc nhất, đầu óc đi vào những hiểm hóc bí ẩn nhất của tư tưởng, nhưng nơi chén trà của người, không ai thấy chữ nghĩa bác học, chỉ nghe giọng nói hóm hỉnh, tiếng cười giòn vang, những câu chuyên đạo giản dị như Tấm với Cám, nhưng ai ra về đều có cảm tưởng như vừa nhận được những hạt ngọc. Văn của Hòa thượng cũng vậy, ý nghĩa sâu thẳm mà cốt cách dung dị. Câu đối của Hòa thượng thâm thúy, nghiêm trang mà có duyên, phơn phớt nụ cười kín đáo. Đó là vẻ đẹp riêng không ai bắt chước được nơi thơ văn của vị sư. Họ góp phần độc đáo trong văn học sử.

Chúng ta mồ côi những bậc thầy như vậy. Và cùng với chúng ta, lịch sử hình như cũng cảm thấy trống trải. Lịch sử mà thiếu Đại sư có khác gì thiếu chính cái bóng của mình. Như thế nào là một đại sư chúng ta từng biết trong lịch sử? Đó là một ông thầy tu bình thường làm những chuyện bình thường như uống trà với khách. Chỉ có điều là chén trà của ông thầy tu hơi khác chén trà ngoài đời: Khi ra về khách thấy bình yên hơn. Lịch sử đã từng đến uống trà như vậy với các ông thầy tu, và khi ra về bỗng thấy lòng bình an, không sợ nội chiến, ngoại xâm gì nữa. Ý nghĩa của ngôi chùa là thế.

Thưa quý đạo hữu, chúng ta làm lễ thọ tang hôm nay còn vì một lý lẽ riêng biệt của Khuông Việt: Hòa thượng là cha của chùa này. Tên “Phật đường Khuông Việt” là tên do chính Hòa thượng đặt cho. Kinh Bát nhã mà quý vị thường tụng là bản kinh tiếng Việt do Hòa thượng chuyển dịch.

Hòa thượng biết rõ Phật ở đây cần chỗ thanh tịnh để lui tới, nên Hòa thượng chuẩn nhận khai sinh chùa này. Với uy nghi của Hòa thượng, Hòa thượng bảo bọc chùa, bảo bọc tinh thần, bảo bọc đạo đức. Nếu Khuông Việt có được phong thái đạo vị trang nghiêm, dung dị, đó là nhờ ở Thiền sư mà đệ tử học được nơi Hòa thượng.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng, Khuông Việt chúng tôi dũng mãnh bước theo vết chân.

(Bài nói tại Phật đường Khuông Việt

của Đạo hữu Cao Huy Thuần – Pháp)

 Chủ nhật 07.10.2001

 

KÍNH MẾN THẦY

HÀ THÚC HOAN

 

Cách đây hơn 40 năm, khi còn là một đoàn sinh Gia đình Phật tử Chơn Trí (Sau đổi thành Phú Lâu), người viết bài này đã có lần mang cây đàn ghi ta thùng cũ lên chùa Từ Đàm dự thi văn nghệ. Đàn chưa hay vì mới học lóm ông anh con bà dì, còn tiếng ca thì chưa nhuyễn vì không qua quá trình luyện giọng, nhưng tôi say sưa hát với tất cả chơn tình nên cuối cùng hoàn thành được tiết mục đơn ca Kính mến Thầy:

 Hôm nay Thầy về đây

Chúng con kính chào Thầy

Trong giờ phút vui này

Chúng con biết làm gì đây

Chúng con nguyền tinh tấn

Diệt tan tham sân hận

Lãnh đạo hằng mong tiến đến gần

Dù qua bao gian khổ

Dù gặp nhiều nguy khó

Lí tưởng chúng con vẫn tôn thờ…

Hơn nữa thế kỉ qua, nếu thành phố Huế là cái nôi của Phật giáo Việt Nam thì chùa Từ Đàm là cái nôi của các hoạt động của Phật giáo Thừa Thiên và Gia đình Phật tử Huế. Lí do là vì chùa Từ Đàm không xa trung tâm thành phố bao nhiêu mà lại gần nhiều ngôi chùa lớn của cố đô, vì chùa Từ Đàm có một giảng đường rộng lớn được xây cất bằng công tâm và tịnh tài của Phật tử Thừa Thiên – Huế, vì chùa Từ Đàm là trú xứ của nhiều bậc cao tăng thạc đức. Với tất cả lòng thành, tôi đã hát Kính mến Thầy tại một chùa Từ Đàm như thế.

Không phải gạch đá hay cỏ cây mà chính sự hiện diện của các bậc chân tu đã tạo thành cái hồn của chùa Từ Đàm. Trong số những tu sĩ đạo hạnh ấy, Hòa thượng Thiện Siêu là vị trụ trì đã sống gắn bó suốt đời với ngôi chùa để Phật tử Huế có thể gọi một cách tôn kính mà thân thương là Ôn Từ Đàm. Nhưng công đức của Ôn Từ Đàm đã vượt ra ngoài giới hạn của một ngôi chùa, của một thành phố. Như một dòng sông chảy đến đâu thì tiếp nhận vào lòng nó cảnh sắc ở hai bên bờ, với đức tính hiền hòa, từ ái, trong một phần tư thế kỷ vừa qua, Ôn Từ Đàm đã tiếp nhận và dung hòa, biến nghịch duyên thành thuận duyên, trở thành chỗ dựa tinh thần cho Phật giáo đồ miền Trung, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam trong một đất nước Việt Nam có hòa bình và thống nhất.

Phật tử đời sau tưởng niệm công đức của Hòa thượng Thiện Siêu thể nào không nhắc đến Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế mà Hòa thượng đã dày công xây đắp. Khi giảng đường của Học viện còn đặt tạm ở chùa Báo Quốc tôi ra thỉnh giảng lần đầu và đã khắp khởi mừng thầm vì thấy Phật giáo Huế đã có cơ sở đào tạo tăng tài xứng hợp với vị thế của mình. Lần thứ hai ra giảng dạy tại giảng đường lớn mới xây cất ở chùa Hồng Đức gần cầu Lim, tôi không giấu được nỗi xúc động vì không ngờ sau 75 mà Phật giáo Huế có được một cơ ngơi rộng lớn như vậy. Bạn đọc sẽ cảm thông với nỗi vui mừng của tôi nếu biết rằng những năm 63 đoàn sinh Gia đình Phật tử phải góp từng viên gạch để chung sức với Phật tử Huế xây dựng giảng đường chùa Từ Đàm, nếu nhớ lại những năm sau pháp nạn 63, dù vị trí của Phật giáo đã được phục hồi trên cả miền Nam, nhưng Phật giáo đất thần kinh vẫn không có được một cơ sở văn hóa nào ra hồn ngoài Trung tâm Liễu Quán đang xây dựng dở dang.

Cũng giống như chùa Từ Đàm, Học viện Phật giáo tại Huế dù lớn, dù đẹp đến đâu cũng chỉ là cái xác không hồn nếu thiếu vắng tâm đức của những người đã làm ra nó và đang sử dụng nó. Tôi được biết đạo hạnh của Hòa thượng Viện Trưởng Thiện Siêu là yếu tố quyết định tạo nên phần xác lẫn phần hồn của Học viện. Đóng góp thêm vào đó là một phần công đức của những tu sĩ và cư sĩ hội tụ quanh Hòa thượng. Về dạy tại Học viện, tôi như được tiếp thêm sức mạnh và niềm tin khi được làm việc chung với những thiện trí thức của Huế. Đó là Thầy Châu Trọng Ngô và Tôn Thất Quy và Lê Văn Lợi, những bạn học cũ đồng thời là bạn đồng nghiệp, bạn đồng tâm đã cùng tôi chia sẻ đủ vui buồn trong những năm đất nước còn chia cắt. Ở đó còn có các anh Trần Văn Hối và Trần Hữu Duy, là những giảng viên Đại học Sư phạm Huế mà tôi đã cảm mến và quen thân sau ngày đất nước thống nhất.

Điều làm chúng tôi hân hoan nhất hiện nay là nhận biết Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đang được điều hành bởi những bậc chân tu xứng đáng là người kế thừa sự nghiệp hoằng pháp độ sinh của Hòa thượng Viện Trưởng. Ôn Từ Đàm không còn nữa, nhưng đạo hạnh của Ôn đã để lại dấu ấn trên gương mặt, ở nụ cười, nơi mỗi bước chân an lạc, thảnh thơi của những vị Thượng tọa đã được Ôn chọn mặt gởi vàng. Cho nên, dù Ôn Từ Đàm đã về cõi Phật, dù tác giả bài viết này không còn nửa tuổi thanh xuân nhiều tin yêu, hoài vọng và ước mơ, tôi vẫn nghĩ rằng mình còn đủ cảm hứng để hát Kính mến Thầy một lần nữa, hát một cách thành khẩn và thiết tha như ngày nào:

Thầy là bóng cây che mát chúng con

Thầy là ánh sáng dắt dìu lòng son

Thầy là con thuyền thanh lương

Đưa chúng con đến bờ hương thơm

Thầy theo hạnh nguyện Pháp Vương

Treo gương tròn sáng soi mười phương

Nam-mô A-di-đà Phật

Nam-mô A-di-đà Phật …

 

KÝ ỨC VỀ MỘT HÒA THƯỢNG ĐÁNG KÍNH

LÊ CUNG (Đại học Huế)

Tôi đã nghe và biết đến tên tuổi Hòa thượng từ lâu. Hồi còn là học sinh Trung học, tiếp theo là sinh viên Đại học và tiếp nữa là trong thời gian tôi ra trường, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu ở trường Đại học, tôi đã nhiều lần nghe đến tên tuổi Hòa thượng và đã được đọc một số tác phẩm của Hòa thượng, nhưng chưa có cơ duyên được trực tiếp tiếp chuyện với Hòa thượng bao giờ.

Từ khi làm nghiên cứu sinh, một vấn đề đặt ra là đề tài luận án. Qua nhiều lần trao đổi với một số đề tài, trong đó có loại đề tài liên quan đến phong trào đô thị miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1945-1975), để nhờ các Giáo sư góp ý.  Trong số các giáo sư nói trên, có nhiều vị tôi đã được gặp ngay từ sau ngày miền Nam giải phóng (30-04-75), lúc đó các vị vào thỉnh giảng ở Đại học Huế. Một số vị biết tôi ít nhiều tham gia phong trào đô thị trước 1975, nên đã khuyến khích tôi nên chọn đề tài thuộc lãnh vực mà bản thân ít nhiều am hiểu qua thực tế. Các vị nhấn mạnh rằng phong trào đô thị miền Nam là một mảng đề tài hấp dẫn trên phạm vi vĩ mô.

Sau những lần trao đổi và được góp ý, tôi suy nghĩ nhiều. Cuối cùng tôi quyết định giới hạn đề tài luận án trong chủ đề: Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Có điều là sau khi đề tài được Bộ duyệt, một số người khuyên tôi nên đổi đề tài. Họ cho rằng đề tài theo hướng đó khó có thể thành công, vì nhiều vấn đề “tế nhị” trong đó. Tôi hiểu ra rằng lời khuyên đó xuất phát từ tình thầy trò, tình đồng nghiệp, tình bằng hữu… tất cả đều muốn tôi thành đạt, không ai muốn mình bị trượt khi bảo vệ trước tập thể Hội Đồng Giáo Sư chấm luận án. Không phải bây giờ mà từ lúc đó tôi đã hiểu như vậy và thm cảm ơn tất cả. Vì những điều đó chỉ cho tôi công việc trước mắt là vô cùng khó khăn và lắm phức tạp.

Thú thực khi bắt đầu, số tư liệu có trong tay hết sức ít ỏi. Sau lần đầu tiên đi Tp. Hồ Chí Minh lấy tư liệu, tôi được biết cụ thể hơn về Hòa thượng, tên Hòa thượng có trong danh sách năm vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung ký tên trong bản tuyên ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi chính sách bình đẳng Tôn giáo. Bản tuyên ngôn này được đọc trong cuộc mít-tinh ngày 10-5-1963 tại chùa Từ Đàm (Huế) và được xem như là cương lĩnh đấu tranh của phong trào. Rõ ràng, Hòa thượng là một trong những yếu nhân của phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963.

Trở lại Huế, sau khi đọc, phân lọai và đánh giá số tư liệu mới phát hiện, tôi chuẩn bị cho một cuộc tiếp xúc với Hòa thượng. Song qua tìm hiểu tôi biết Hòa thượng bận rộn nhiều Phật sự; hơn nữa, lúc này Hòa thượng tuổi đã ngoài thất thập nên trong thâm tâm tôi nghĩ rằng việc gặp được Hòa thượng cũng không phải dễ dàng cho lắm.

Biết vậy, nhưng do yêu cầu của công việc, tôi vẫn đến chùa Từ Đàm với hy vọng gặp được Hòa thượng càng sớm càng tốt. Vào Thiền đường, tôi gặp được một đệ tử thị giả của Hòa thượng, trình bày ngắn gọn về công việc của mình và xin được gặp Hòa thượng. Mấy phút sau, Hòa thượng từ trong thiền thất ung dung bước ra tiếp tôi. Tôi chào Hòa thượng theo nghi thức Phật giáo và đi ngay vào vấn đề. Tôi thưa với Hòa thượng rằng tôi đang thực hiện đề tài luận án Phó Tiến sĩ với chủ đề như đã nêu và biết Hòa thượng là một trong những người lãnh đạo “Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963”. Vậy, rất mong Hòa thượng chỉ giáo cho một số tư liệu liên quan, đặc biệt xin Hòa thượng cho một số đánh giá nhận xét về phong trào đó.

Hòa thượng lắng nghe rồi thong thả nói: “Về tư liệu thành văn thì chắc chắn có nhiều. Tôi sẽ nhờ mấy thầy cung cấp số tư liệu có tại đây để anh khai thác. Tuy nhiên, đó chỉ là tư liệu một phía trong nhiều phía. Tư liệu về phía Phật giáo dù phong phú đến đâu cũng không đủ để cho nhà nghiên cứu có được những nhận định khách quan về một vấn đề mà ý nghĩa của nó không chỉ đối với Phật giáo mà đối với cả Dân tộc. Anh nên sưu tầm tư liệu về nhiều phía khác nhau. Phía nào chắc anh đã xác định, nhưng càng nhiều phía càng tốt.

“Thứ hai, anh yêu cầu có một số đánh giá nhận xét về cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963. Điều này thật khó! Chắc anh biết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc kể từ khi Phật giáo được du nhập ở nước ta, hễ khi vận nước ngửa nghiêng, trong khả năng của mình đóng góp được gì, Phật giáo không tiếc, kể cả tánh mạng, nhưng phần đánh giá thế nào thì không thuộc về Phật giáo nữa. Mặt khác, tôi là “người trong cuộc”, việc đánh giá khó mà khách quan được.

Tôi muốn lưu ý các nhà nghiên cứu một điều duy nhất là từ trước cho đến nay nhiều người vẫn tưởng rằng “Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963” diễn ra chỉ vì chính quyền đương thời ra lệnh cấm treo cờ Tôn giáo, thực chất là cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Đại Lễ Phật Đản 1963. Thực ra, việc đó “chỉ như là một giọt nước cuối cùng đổ vào một bát nước vốn đã quá đầy. Chỉ cần giọt nước đó, bát nước sẽ chảy tràn ra ngoài”. Giọt nước cuối cùng thì ai cũng biết, nhưng nhiều, rất nhiều giọt nước trước đó để làm cho bát nước quá đầy thì ít người biết đến. Không nắm được điều này thì rất khó giải thích được quy mô và kết quả của cuộc vận động của Phật giáo hồi đó. Nhiều nhà nghiên cứu đã rao đổi với tôi điều này. Họ đã đề cập đến nhiều vấn đề. Nhưng khi tôi cần tư liệu để khẳng định thì họ bế tắc. Theo tôi hiểu khoa học lịch sử đòi hỏi độ chính xác rất cao về mặt tư liệu. Với anh, tôi rất mong một ngày gần đây vấn đề tôi đã đặt ra cho nhiều người trước đây sẽ được anh giải thích”.

Những lời của Hòa thượng đã gợi cho tôi nhiều vấn đề. Về “nhiều, rất nhiều giọt nước”, “về lịch sử đòi hỏi độ chính xác rất cao”. …về sau càng đi sâu nghiên cứu đề tài tôi càng hiểu ý nghĩa câu nói hình tượng trên đây của Hòa thượng. Những điều Hòa thượng gợi ý đã giúp tôi khám phá ra rất nhiều điều thú vị, dẫu rằng phải mất rất nhiều thời gian và công sức. Chính điều này là chỗ thành công lớn của luận án.

Khi tôi hoàn thành luận án và khi luận án sắp được xuất bản thành sách, tôi mong muốn được ghi mấy lời cám ơn Hòa thượng ở đầu sách. Hình như biết trước điều này, Hòa thượng đã chủ động nói với tôi “không nên làm điều đó, vì thực sự tôi chẳng giúp được gì cho anh”. Tôi định thưa lại với Hòa thượng rằng giúp nhiều hay ít không phải ở chỗ nói nhiều, cung cấp nhiều mà chính là chỗ chỉ ra con đường đúng để mà ai tuân theo sẽ đạt được kết quả tốt. Nhưng rồi tôi phải giấu kín vì nghĩ rằng nói thế dù vô tình đi nữa cũng là một điều bất kính đối với Hòa thượng, vì lâu nay tôi đã đọc lý thuyết Vô Ngã của Phật giáo qua sự luận giải của Hòa thượng. Tôi làm theo lời Hòa thượng. Nhưng thú thật cho đến hôm nay tôi tự cảm thấy có một điều gì mình còn thiếu sót với Hòa thượng.

Viết đến đây, tôi nhớ đến lời dạy của Đức Phật đối với các hàng đệ tử: “Giáo lý của Ta như ngón tay chỉ mặt trăng, chớ lầm ngón tay vời mặt trăng”. “Ngón tay chỉ mặt trăng” của Hòa thượng đã góp một phần hết sức quan trọng và cuốn sách “Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam 1963” …đã cung cấp cho người đọc rất nhiều thông tin về một thời kỳ đầy biến động. Đây là một đề tài lịch sử rất đáng được nghiên cứu cho dù phải mất nhiều công sức sưu tầm và xử lý tư liệu” như Giáo sư Trần Văn Giàu đã đánh giá.

 

BẬC THẦY CỦA NHỮNG BẬC THẦY

Một cựu môn sinh

 

Phật tử và trí thức Việt Nam biết rõ Ôn Từ Đàm bởi những gì Ôn đã làm cho đạo pháp và dân tộc. Riêng tôi, Ôn Từ Đàm là bậc thầy của những bậc thầy. Tôi là một trong số những học trò gần như cuối cùng của Ôn. Trước tôi, bao thế hệ học trò của Ôn đã trưởng thành.

Hơn 50 mươi năm Ôn đi từ Trung vào Nam, rồi từ Nam ra Bắc, chỉ với hoài bão dạy dỗ các học trò nên người. Sự nghiệp phiên dịch và trước tác của Ôn rất lớn, nhưng lớn hơn vẫn là sự nghiệp trồng người mà Ôn đã làm gần như suốt đời mình. Ôn dạy các học trò nên người. Các học trò của Ôn noi gương Ôn dạy dỗ các học trò nên người. Cứ thế các thế hệ học trò của Ôn lần lượt lớn lên, thế hệ này tiếp nối thế hệ kia, mang nguồn sống trí tuệ-từ bi cho đời.

Khoảng thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch, một số Bà la môn bác học Ấn Độ đã phát biểu thế này về Đức Phật.

“Sa-môn Gotama là bậc thầy của những bậc thầy.”

Câu nói này, được tìm thấy vài nơi trong các tập Nikaỳa, phản ánh một thực tế lịch sử: “Đức Phật là bậc thầy của nhiều bậc thầy thời danh. Uruvelà Kassapa, Nadì Kassapa và Gaỳa Kassapa là các đạo sư danh tiếng đầu tiên quy ngưỡng đức Thế Tôn. Sàriputta và Moggallàna từng là những bậc thầy tiếng tăm trước khi trở thành hai vị đệ tử đầu tay của Đức Phật. Các Bà-la-môn thời danh như Canki, Jànussoni, Aggibhàradvàja, Potthapàda…cũng lần lượt xin quy y đầu sư với Sa-môn Gotama. Như vậy nhận xét của các Bà-la-môn đương thời về Thế Tôn là hoàn toàn có cơ sở. Điều chúng ta chú ý ở đây là điều gì đã thực sự thôi thúc các đạo sư này tìm đến quy y Đức Phật. Nói khác đi, Sa-môn Gotama có những đặc điểm gì khiến các vị đạo sư danh tiếng này chấp nhận quy y nương tựa và tôn Ngài là bậc Thầy? Tôi không thấy một giải thích nào có thể khiến thỏa mãn thắc mắc này hơn là lời nhận xét sau đây, cũng do một số vị Ba-la-môn bác học đương thời nói lên:

“Danh tiếng của các Sa-môn, Ba-la-môn khác dựa trên những bằng chứng không đâu, danh tiếng của Sa-môn Gotama dựa trên đức hạnh và trí tuệ vô thượng của Ngài”.

Rõ là đức hạnh và trí tuệ của Sa-môn Gotam đã khiến ngài trở thành bậc Thầy của những bậc Thầy. Người ta tôn kính Ngài bởi hạnh nguyện độ sanh vĩ đại của Ngài. Người ta quý ngưỡng Ngài bởi trí tuệ vô thượng của Ngài. Hạnh đức và trí đức của Sa môn Gotama được thắp sáng và tỏa rộng cho đến ngày nay.

Nhân kỷ niệm Bách Nhật, tôi xin trích hai câu nói của một số vị Bà-la-môn danh tiếng đương thời phát biểu về Đức Thế Tôn để kính nhớ về Ôn, một bậc thầy của nhiều bậc thầy ngày nay. Tôi không có ý so sánh ở đây bởi tôi hiểu giới hạn của việc làm này. Tôi chỉ dẫn lời nói của người xưa để hình dung một vị thầy ngày nay mà trong chừng mực nào đó ta cũng có thể gọi là bậc thầy của những bậc thầy.




MỘT NIỆM TRI ÂN

 TÂM HUY – PHAN THỊ CẨM

 

Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung hiền hòa thân thương, nơi mà lời kinh và tiếng chuông chùa Từ Đàm luôn buông ngân hòa quyện trong không gian khuya sớm…Do ảnh hưởng phần nào trong cuộc sống gần gũi xung quanh, mà bản thân cũng có nhiều kỷ niệm buồn vui với chùa chiền, với Đạo Pháp. Và cũng có đôi chút phước duyên nên tôi may mắn thường được gặp Hòa thượng Thích Thiện Siêu, nhất là vào những năm Pháp nạn khi tôi còn làm đại diện chị em Phật tử Tiểu thương Thừa Thiên – Huế. Tôi luôn được Ngài chỉ bày dẫn dắt nhiều điều hay lẽ phải.

Thời gian tôi theo chồng đi xa. Sau ngày Hòa thượng bình vãn hồi, tôi đưa con cái trở về lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình, vẫn không quên chùa cũ Thầy xưa. Tết Nguyên Đán năm đó tôi đưa các con lên chùa lễ Phật và vào phòng khách vấn an mừng tuổi Hòa thượng (tôi xin phép được xưng tiếng Ôn). Cả mấy mẹ con tôi đang sì sụp đảnh lễ Ôn thì nghe Ôn hỏi.

-Rửa lâu ni con ở mô?

-Bạch Ôn, con theo chồng về ở trong nam mới về.

-Làm dâu con cái nhà ai, quê quán ở đâu?

-Dạ bạch Ôn, quê chồng con ở Đông Xuyên, huyện Quảng Điền.

-Làm dâu Đông Xuyên mà có biết ông Cửu Toàn, ông Cửu Thế, ông Cửu Tư không?

-Dạ bạch Ôn, con là dâu ông Cửu Tư, hai người trên là bác ruột của chồng con.

Rồi Ôn cho biết lúc trước về quy y thành lập khuôn hội Phật giáo Đông Xuyên. Ôn đã vân tập Phật tử để thuyết pháp nơi ngôi nhà Từ đường của họ Trần chúng tôi. Thế rồi Ôn lại hỏi tiếp.

-Nay được mấy đứa con? Chồng làm gì?

-Dạ bạch Ôn, con sinh được năm cháu, chồng con đang đi cải tạo chưa về.

-Ô! Sinh chi mà nhiều vậy? Thời buổi khó khăn, cơm đâu mà nuôi nỗi? Có cho chúng nó học hành gì không? Có cho nó đi sinh họat Gia đình Phật tử không?

Tôi chưa kịp trình bày với Ôn thì đột nhiên nghe Ôn hỏi tiếp bà bên cạnh.

-Phần bác được mấy đứa? Chúng nó làm gì? Có đủ ăn không?

-Dạ thưa Ôn con được chín đứa, mấy đứa lớn con cho nó vào Nam kiếm công ăn việc làm để nuôi nhau, còn sắp nhỏ thì ở lại với chúng con, chúng con đắp đổi cũng qua ngày.

Lần nay thì tôi nghe Ôn buông một tiếng thở dài và nhìn chúng tôi với ánh mắt đầy thương xót. Rồi Ôn giảng cho chúng tôi và các bác đạo hữu trong khuôn vấn đề: Trách nhiệm, bổn phận của cha mẹ giáo dục và nuôi dưỡng, bao gồm với đề tài “Sinh thành dưỡng dục”.

Ôn ân cần nhắc nhủ: Đừng vì con cái đông đúc mà làm điều phi pháp; đừng vì sự nghèo túng mà xa rời Phật pháp và lý tưởng của mình; phải trách nhiệm và gánh vác nghiệp quả do mình tạo ra; nuôi dưỡng con cái học hành có nghề nghiệp, có đạo đức.

Thời gian trôi qua trong những tháng ngày gian nan vật lộn với cuộc sống để mưu cầu miếng cơm manh áo, nuôi ăn nuôi học cho một đàn con, nhiều lúc tôi tưởng mình đã quỵ mất, nhưng rồi hình ảnh hiền hòa của Ôn, tiếng thở dài của Ôn, lời hỏi thăm ân cần và bài giảng năm nào của Ôn đã giúp tôi, đã an ủi tôi vượt qua tất cả mọi khó khăn cơ cực.

Ôi! Ôn là người cha, người cha vô cùng cao cả của chúng con – Ôn dùng tuệ nhân để thấm thấu cả cuộc đời giữa thế gian mà chúng con vì mê mờ không sao biết được.

Ôn lo toan cho Đạo pháp mất còn, Ôn lo cho cuộc đời đói rách. Ôn sao mà gần gũi mà thân thương đến thế.

Nhớ lời của Ôn con xin nguyện suốt đời mình không buông bỏ Chánh pháp. Xin khắc ghi trong dạ làm chút tư lương để răn dạy cho con cháu và cho cả tổ chức áo Lam mà Ôn hằng quan tâm.

Ngày Ôn Cao đăng Phật quốc – các con cháu của con ở xa không kịp về Đảnh lễ Ôn được.

Hôm nay nhân ngày bách nhật của Ôn, con xin đưa hết con cháu dâu rể Nội ngoại là Huynh Trưởng, là đoàn sinh, là Chim Oanh chúng con về đây quỳ trước linh ảnh của Ôn, thành kính dâng lên niệm tri ân thiết tha của chúng con.

Ngưỡng lạy Ôn mẫn thùy chứng giám.

 

 

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM ÔN TỪ ĐÀM

Phật tử NGUYÊN THÀNH

 

Con xin đê đầu đảnh lễ Ôn!

Lại đến lễ 100 ngày của Ôn. Thời gian qua mỗi lần đến chùa Từ Đàm con cứ tưởng như Ôn đang chú tâm vào ngòi bút trên bàn làm việc của Ôn; làm cho con liên tưởng đến các bộ Đại Tạng, Tác phẩm, Dịch phẩm của Ôn… (qua sách báo giới thiệu). Con cảm thấy vô cùng quý trọng. Quả thật là pháp Bảo.

Vừa qua con được một vị Đại đức biếu cho cuốn Trung Luận của Ôn. Khi đọc con càng thấy cái non kém Phật pháp của mình. Từ Phạn, Hán Ôn đã Việt hóa mà con vẫn còn chưa thấu hiểu!!!

Vì vậy con ước mơ có được tập Di Cảo của Ôn (nhờ các Thầy sưu tập) ghi lại những lời thuyết giảng, phát biểu trong các cuộc họp, Đại hội, Đại lễ, Đạo từ, từ trước đến nay và con hy vọng đọc được Hành trạng của Ôn trong thời gian gần đây để con được hiểu thêm Ôn thấu đáo.

Con nhờ có thiện duyên được nghe pháp âm của Ôn trong các buổi lễ Đặt đá xây dựng và lễ Khánh thành chùa Thiền Tôn, Đạo từ trong ngày họp Ban Huynh trưởng Gia đình Phật tử, các cuộc lễ lớn và đôi lúc hầu chuyện Ôn, con đã sung sướng cảm nhận thêm và thấm thía được ý nghĩa thâm sâu. Con còn nhớ rõ là trong ngày đám tang chị Trưởng Ban Hướng Dẫn Gia đình Phật tử Hoàng Thị Kim Cúc, khi lễ Yết Tỗ tại chùa Từ Đàm, Ôn đã ban Đạo từ, làm cho đại chúng vô cùng xúc động. Riêng bản thân con có cảm giác rung động cả thân tâm mà con không biết phải dùng từ gì để diễn đạt, có thể là luồng cảm ứng thiêng liêng, con chỉ biết thành kính đảnh lễ Ôn.

Thế là còn chưa đầy một tuần trăng đã đến ngày Tết Âm lịch!

Trước sân chùa hoa mai đã sắp nở, mang lại ý nghĩa bài kệ: Cáo Bệnh Thị Chúng của Mãn Giác Thiền sư.

Hàng năm cứ đến sáng ngày mồng một Tết, chúng con, cựu huynh trưởng Gia đình Phật tử lại đến mừng tuổi Ôn. Sau lời tác bạch chúc thọ Ôn, Ôn cho con uống chén trà đầu xuân rồi kể cho nghe vài câu chuyện vui bình thường nhưng tiềm ẩn nhiều đạo vị, làm cho chúng con khi ra về phải vận dụng nhiều trí tuệ của mình để cảm nhận cho được ý nghĩa trong lời nói của Ôn. Đặc biệt là trong ngày mồng một Tết Tân Tỵ vừa qua, sau chuyện vui, Ôn nói tiếp: “Người ngoại đạo họ dạy cho tín đồ rằng, tất cả vạn vật trên đời kể cả con người đều do đức Chúa Trời sinh ra. Vậy mình là Phật tử, khi họ hỏi mình trả lời thế nào đây?”.

Khi ấy chúng con mỗi người chắc đều có ý nghĩ, nhưng không ai dám thưa thỉnh. Riêng con thấy như Ôn đưa ra một vấn đề tài để chúng học hỏi thêm Phật pháp!

Biết rằng đạo Phật đã dạy: Tất cả do tứ đại hợp thành. Nhưng mình phải có suy nghĩ gì để chứng minh được cụ thể và kết luận gọn gàng…

Lập luận thì nhiều ý và đa ngôn. Có lẽ Ôn dạy nên ứng dụng Tam Học vào cuộc sống hằng ngày…

Thế rồi Xuân qua, Hè lại, Thu sang, sau Trung Thu là ngày Ôn xả báo thân tứ đại (quả thật là một sự mất mát lớn cho Phật giáo Việt Nam và cho chúng con). Khi biết được Pháp danh Ôn như cho con một giải đáp làm thỏa đáng được niềm thao thức, để kết luận đề tài Ôn đã dạy hôm Tết Tân Tỵ này.

Phật dạy rằng mọi vật trên đời, con người là Độc tôn, nhưng tại sao lại có người thiện người ác, có kẻ ma người Phật….

Cái đáng tìm hiểu thấu đáo để tôn thờ, để ứng dụng trong cuộc sống chính là chữ Tâm mà Pháp danh của Ôn là TÂM PHẬT…

Con tin chắc rằng những gì tinh túy của Ôn sẽ mãi mãi trường tồn chứ không phải hòa theo Tứ đại…

Con xin đê đầu đảnh lễ Ôn, xin được thùy từ chứng giám.

Nguyện cầu Ôn thị hiện khi Khai Thị Long Hoa

Nam-mô Đương lại Hạ sinh Di Lặc tôn Phật.

 

 

THẦY VỀ CÕI PHẬT

Đệ tử TIỂU BẠCH SA

 

Bỏ Từ Đàm tự, chốn tòng lâm,

Trở về đất Tổ, cõi u thâm,

Thông reo chào đón người Trí Đức,

Chim hót vui mừng bậc Phật Tâm.

Ảnh Tổ in hình qua bao tháng,

Dáng Thầy khắc bóng trải mấy năm?

Nguyện Thầy Tịnh độ mau an nghỉ,

Chóng nhập Ta-bà độ chúng sanh.

 

DÂNG THẦY LÚC RA ĐI

 

Thầy là trăng sáng đêm dài,

Là vầng tuệ nhật cho đời ngưỡng trông

Cho người an tịnh cõi lòng

Thầy như bóng mát bao dung mọi loài.

Trời nay như vắng ban mai,

Vì con đang sống không Thầy, Thầy ơi!

Đường đời còn lắm chơi vơi,

Còn Thầy, còn cả đất trời bao la.

Nơi nào Thầy bước chân qua,

Làm cho kiếp sống không sa đọa đày.

Thầy dấn thân chống vũng lầy.

Làm thuyền cứu độ muôn loài khổ đau.

Lời Thầy dòng sữa nhiệm mầu,

Là làn gió quạt ưu sầu muộn vơi

Thầy làm gương sáng cho đời,

Lòng từ ban trải khắp nơi xa gần.

Thầy là Bồ-tát hiện thân,

Xóa tan bóng tối tham sân mê mờ

Thầy – Người con mãi tôn thờ,

Kính yêu lời pháp vô bờ muôn nơi!

Thầy đi nhưng vẫn độ người:

Đạo từ để lại cho đời soi chung.

Thốt lời ca tán ngại ngùng,

Dâng Thầy xin gọi chút lòng tri ân!

 

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA HÒA THƯỢNG BỔN SƯ

Thị giả của ÔN ghi

 

Vào sáng ngày 12.9.2001 (25.7. Tân Tỵ), chung quanh chùa Từ Đàm mất điện, do đó Ôn ngưng đọc sách và rời khỏi phòng để đi bách bộ nơi hành lang nhà Thiền, đây cũng là giờ nghỉ mà Ôn thường sử dụng mỗi khi điện có sự cố. Chính sáng này, Ôn dạy: “Cây lá quanh chùa ngày càng xanh, thật đẹp và cũng rất cần cho con người, phải để tâm coi ngó tới nó. Vì đó là một duyên trong các duyên đang hiện hữu trong thế giới này, các con có biết không?”. Chúng tôi im lặng nhìn bóng cây nơi mình đang đứng mà cảm nghe mát dịu hơn trước thật nhiều, sau đó theo chân Ôn vào liêu thiền và đứng sang một bên cầm quạt hầu Ôn. Ôn nằm vào ghế tràng kỷ, không nói gì thêm và tiếp tục đọc sách.

Buổi trưa hôm ấy Ôn dùng ít cơm hơn, chú Pháp Thuần nói rằng “Có lẽ Trời trở nên Ôn mệt”.  Khoảng 2.30 chiều, sau khi nghĩ trưa xong, Ôn rửa mặt, rồi dùng một ít trái cây, uống vài hớp trà, tiếp đó Ôn chỉ vào bàn đọc sách và bảo: “Hãy xếp đặt lại những cuốn kinh sách trên bàn cho ngăn nắp.”  Trong khi chúng tôi đang loay hoay xếp sách thì Ôn đi nghĩ với dáng nằm nghiêng bên phải như thường lệ, không ngờ sau lời dạy ấy cũng là giờ phút Ôn không còn đọc sách nơi Thiền thất nữa. Có lẽ chúng tôi, ai ai cũng đều biết: việc đọc kinh sách của Ôn là việc làm hằng ngày đã được Ôn khép lại như một hạnh nguyện vừa viên mãn trong cuộc đời này.

Khoảng 4.30 chiều hôm ấy thầy Quang Nhuận, thầy Giác Quang đến tiễn chân thầy Hải Ấn đi dự Hội Nghị Phật giáo tại Trung Quốc, đồng thời hầu thăm sức khỏe Ôn. Vừa gặp Ôn, hai thầy vái chào và thưa: “Bạch Ôn! Hôm nay Ôn có khỏe không?” Ôn chắp tay chào lại hai thầy với nét mặt hiền từ lẫn trong nụ cười rất nhẹ, nhìn hai thầy một hồi lâu rồi bảo: “Không khỏe tức là mệt” và Ôn dạy tiếp: “Phải nói đầy đủ như vậy mới nghe được, chứ Kiên Tuệ nó nói tôi hơi mệt là không chính xác.” Ai cũng nghĩ Ôn đùa cho vui, nào ngờ đó là lời cáo bệnh.

Hơn 6 giờ chiều, Ôn bảo mấy chú thị giả: “Hãy xuống dưới dùng cơm chiều kẻo tối rồi.” Khoảng nửa giờ sau, trong lúc chúng tôi còn đang tiếp tục bữa cơm thì nghe tiếng Ôn gọi mấy chu mấy điệu: “Cứ ơi! Thạch ơi! Hết ơi!” Mọi người đồng đáp: “Dạ” và chạy nhanh lên phòng Thiền. Ôn bảo: “Hình như Tôi bị trúng gió mà người thấy lành lạnh và mệt quá; hãy cạo gió thử xem sao!” Thế rồi mỗi lúc càng mệt hơn, lại nôn nhiều, cao gió cũng không bớt, người lạnh đến nỗi dán cao Salonpas cũng không ấm được. Sau khi đo huyết áp, chính thuốc và uống thuốc chống nôn, chị Dung (Y tá) nói nhỏ cho chúng tôi biết: tình hình sức khỏe Ôn đã đến thời kỳ nguy cấp, nên thỉnh Ôn hoan hỷ đồng ý vào bệnh viện T.Ư. Huế để điều trị chứ chúng con rất ngại khối u trong gan không biết lành dữ thế nào.

Lúc này gần 8 giờ tối, khí trời oi bức, nóng nực khó chịu, ngoài sân chùa đang phủ một bóng đêm u buồn khó tả. Chúng tôi và Thầy Quang Nhuận, cô Hải Liên, cô Huệ Nhẫn, chị Dung đều đã thỉnh xin ý Ôn để đưa Ôn vào bệnh viện; đến lần thứ hai Ôn dạy: “Lâu nay sinh, lão, bệnh, tử là chuyện thường. Tôi nay đã đi qua được ba giai đọan rồi, còn một đọan cuối như một quy luật hiển nhiên, vậy thì bây giờ Tôi bệnh mà không đau, cũng chẳng khổ thì vào bệnh viện làm gì”. Tất cả chúng tôi như đang chìm vào sự im lặng rất nặng nề, hình như có điều gì đó vừa thương, vừa kính lại vừa sợ mất đi bậc Thầy cao cả mà mỗi người cảm thấy không biết phải làm sao thì có tiếng của Thầy Quang Nhuận thưa: “Thỉnh Ôn hoan hỷ đồng ý để chúng con hầu Ôn vào bệnh viện khám thử bệnh thật hư thế nào! Chứ ở nhà đêm hôm như thế nầy là không xong, chúng con lo quá.” Nghe vậy, Ôn bảo: “Ừ! Thôi được! Đi thì đi! Sắp cuối một đời người mà cẩn trọng và đừng để sơ xuất điều gì thì cũng không dư”. Và thế là đúng 8.30 tối, mọi người đưa Ôn ra xe taxi để vào bệnh viện T.Ư. Huế. Sau khi hầu Ôn vào trong xe rồi, tôi nhìn ra ngoài xe thấy trời trở mưa to, các Phật tử sau buổi tụng kinh tối tại chùa cũng ra đứng quanh xe đông lắm (và không ai có mũ nón hay áo mưa gì cả nhưng hình như không ai để ý tới mình đang ướt mưa) đúng là có những giờ phút thiêng liêng nào đó, tình cảm con người cho phép họ quên mình để nghĩ về vị Thầy cao quý nhất mà họ đã từng kính ngưỡng niệm ân như vậy. Nửa giờ sau xe đưa Ôn tới phòng Cấp cứu, rồi chuyển qua phòng Hồi sức. Khoảng hơn 9 giờ tối thì mọi thủ tục nhập viện đã làm xong, các Y, Bác sĩ đưa Ôn đi siêu âm, chẩn đoán, định bệnh và cho thuốc uống, mãi đến 2 giờ sáng hôm sau Ôn mới đỡ mệt, người ấm hơn và ngưng sốt.

Sáng sớm ngày 13.9.2001, chư Tăng và Phật tử đã tới bệnh viện hầu thăm Ôn rất đông, người ra kẻ vào, cổng bệnh viện trở nên nhộn nhịp và ai cũng có vẻ lo âu. Ngoài dãy hành lang trước phòng hồi sức, ngày cũng như đêm không lúc nào thiếu bóng quý Thầy, quý Cô đợi chờ tin vui về Ôn. Còn trong phòng hồi sức thì Ôn lúc nào cũng để ý hỏi thăm quý Thầy, quý Cô, cụ thể như Ôn hỏi: “Quý Thầy, quý Cô ở lại ngoài hiên vậy rồi tối ngủ ở chỗ mô? Họ ăn cơm ở mô? Có bánh hay trái cây thì đem ra ngoài mời họ dùng cho vui đỡ mệt…”. Những lời như vậy Ôn thường căn dặn ít nhất là ba lần trong ngày, đối với Y, Bác sĩ Ôn cũng thường nhắc chúng tôi giống như vậy.

Sáng hôm ấy, có quý Thầy trong ban Trị sự G.H.P.G tỉnh Thừa Thiên – Huế đến thăm Ôn: khi thấy Hòa thượng Đức Phương, Ôn mỉm cười và nói: “Khi hôm tôi mệt quá, tưởng mô không chịu nổi”. Đứng hầu thăm Ôn và chỉ thăm tôi, có lẽ quá xúc động nên không ai nói trọn thành lời. Ôn nhìn quý Thầy vẫn trong ánh mắt hiền từ như xưa và nét mặt vẫn minh mẫn lạ thường, bỗng nhiên quý Thầy đượm buồn như đang sẵng sang tuôn lệ. Ôn bảo: “Thăm chút như rứa được hỉ! Quý Thầy về nghĩ và còn phải lo nhiều Phật sự khác nữa!” Vâng lời Ôn dạy, quý Thầy vái chào Ôn ra về mà cảm thấy có nhiều nỗi lo phía trước và những lời dạy chơn tình của Ôn vẫn còn đang vang vọng sau lưng.

Khoảng 10.30 có các cô Y tá điều dưỡng lo làm xét nghiệm trong lúc Bs. Lộc, Bs. Linh, Bs. Hanh khám và hỏi bệnh tình của Ôn. Các Bác sĩ ngạc nhiên khi nghe Ôn trả lời một cách minh bạch, dứt khoát. Nhiều Bác sĩ hay y tá tới thăm bệnh họ đều ghi nhận ở nơi Ôn có một sự hoan hỷ rất đặc biệt, không những không rên đau, phiền muộn mà còn minh mẫn, lịch thiệp vô cùng. Đến khoảng 16 giờ có các nam nữ Phật tử, quý Thầy, Cô, các vị đại diện Tỉnh ủy, Chính quyền, mặt trận, Tôn giáo tới thăm, Ôn tiếp chuyện và hỏi thăm từng người một cách niềm nở, thân tình, vừa khôi hài, vừa ý vị. Ví như một hôm kia có anh cư sĩ đến thăm Ôn và hỏi: Chúng con nhìn sắc diện của Ôn giống như Ôn không có bệnh gì cả. Vậy thì Ôn thấy trong người có được khỏe không? Ôn đáp: “Một phần trong người có khỏe sẵn rồi, nhờ lại thêm cái phần có anh đến thăm làm tôi khỏe thêm nữa”. Nói xong Ôn mỉm cười nhẹ và vui khiến mọi người ai cũng bật cười, tấm tắc mừng thầm vừa tỏ lòng khen ngợi vừa kính phục. Đến gần chiều tối, giờ thăm bệnh theo quy định của bệnh viện cũng đã hết, Ôn gọi các vị thị giả và hỏi: “Bây giờ là mấy giờ rồi, sao chưa thấy thầy Hải Ấn trở về.” Chúng tôi thưa: Bạch Ôn, thầy chúng con đã về nhưng chưa tới. Ôn nói rất nhỏ như nói một mình: “Thật tội cho Hải Ấn, chẳng có bao giờ nó được đi dâu xa, mà đi thì ít nhiều gì cũng có trở ngại lạ thật!” Ngừng lại nhìn thẳng lên trần nhà rồi Ôn hỏi: “Vậy chứ làm sao biết được Hải Ấn về rồi mà chưa tới!” Dạ chúng con có gọi điện thọai ra Hà Nội hỏi thăm và biết thầy lên tàu lửa trở vô rồi, nhưng chưa tới. Nghe nói vậy, Ôn làm thinh như muốn biểu hiện sự yên lòng.

Sáng ngày 14, Ôn ít mệt hơn và thầy Hải Ấn cũng đã trở về hầu bên cạnh Ôn, Thượng tọa Chơn Thiện cũng từ Tp. Hồ Chí Minh ra hầu thăm Ôn và chư Tăng, Ni cũng như Phật tử ở các quận, huyện cũng tới bệnh viện hầu thăm Ôn rất đông đến nỗi trước cửa phòng Hồi sức khỏe kẻ ngồi người đứng chật cả hành lang. Khoảng 16 giờ hôm ấy, Ôn bị sốc thuốc hơi lâu, cả người lạnh ngắt, may sao mọi việc Y, Bác sĩ lo liệu kịp thời nên tối đó Ôn đã bớt và đi ngủ sớm.

Vì phản ứng thuốc ngày hôm qua nên ngày 15 Ôn mệt nhiều. Quý Thầy và các Phật tử Tp. Hồ Chí Minh và Nha Trang ra thăm như HT. Thiện Bình, TT. Trung Hậu, TT. Thiện Nhơn, thầy Minh Thông,  thầy Phước Tú… Đến chiều quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni đại diện văn phòng I & II thuộc TƯ GHPGVN đã đến Huế để hầu thăm Ôn và Ôn đã chào hỏi, tiếp chuyện một cách niềm nở.

Sáng ngày 16, khoảng 3.30, sau khi thức dậy, thị giả giúp Ôn súc miệng, rửa mặt, rồi uống vài hớp trà nóng như lệ thường hằng ngày Ôn vẫn vậy. Chúng tôi đều im lặng chăm chú hầu Ôn. Khoảng nửa giờ sau, Ôn dạy: “Sáng nay sau khi thức dậy, Tôi cảm thấy trong người khỏe một cách thật là vi diệu, không nghe tật bệnh gì cả, cứ tưởng đâu mình bình thường không có việc gì cả. Đến lúc thấy dây nhợ chuyền dịch trên tay mình, mới biết mình còn đang bệnh. Thế mới hay khi châm chú định tâm để thấy rỏ “cảm thọ” và “tưởng” về bệnh là giả huyễn tất thời xa lìa được “thọ” và “tưởng”, do đó mà Tôi nói: sự khỏe thật là vi diệu là vậy”. Rồi Ôn hỏi “Mấy giờ rồi?” Chúng tôi thưa: dạ 5 giờ kém. Ôn hỏi tiếp: “Sáng hay chiều?” Dạ thưa: sáng. Ôn dạy: “Như tôi ri mà khỏe, sáng cũng như chiều, ngày cũng như đêm, không phải mất công phân biệt gì cả.” Nói xong, Ôn mỉm cười rồi nhờ thị giả giúp Ôn trở người nằm nghiêng về hướng phía cửa phòng và bảo: “Hảy bật đèn trong phòng cho sáng để các Phật tử họ có nhìn thấy từ bên ngoài cửa kính kẻo tội họ” (Vì phòng hồi sức, Bác sĩ không cho người thăm vào trong phòng đông nên Phật tử phải đứng ở ngoài cửa kính nhìn vào lạy Ôn mà thôi). Quả thật, chúng tôi không làm sao quên được những hình ảnh chơn tình đầy đạo vị ấy,  các Phật tử bên ngoài cửa thì sụt sùi bi lệ chắp tay hướng vào Ôn vái lạy liên tục, ở trong Ôn cũng chắp tay xá chào họ mãi không thôi. Kể đến đây, chúng tôi sực nhớ lại bốn câu thơ Ôn thường đọc trong các buổi giảng dạy cho các Phật tử:

  “Trăm năm trước thì chưa có,

  Trăm năm sau có cũng như không.

  Cuộc đời sắc sắc không không,

  Trăm năm còn lại tấm lòng mà thôi.”

Đến 14.30 hôm ấy, sau khi ngủ trưa dậy, các thị giả chưa kịp hầu Ôn rửa mặt thì Ôn kêu lại và kể: “Khi nãy Tôi thấy có một vị Giáo chủ Không Thiên đến đánh thức Tôi dậy và hỏi Tôi rằng: “Thế nào là tánh không kinh? Thế nào là tánh không luận? Sauk hi nghe tôi trả lời đúng và rất gọn, vị Giáo chủ ấy bảo Tôi hãy giải thích hai điều về ‘tánh không kinh và tánh không luận”. Trong khi Tôi đang giải thích như vậy thì Người ấy lớn tiếng hỏi vặn lại: Như vậy! Ai là Giáo chủ “tánh không kinh” vá ‘tánh không luận ấy? Tôi đáp: Chính mình chứ không ai khác.” Lúc ấy thầy Pháp Quang đang ngồi gần Ôn thưa rằng: Vậy Ôn thấy ông Giáo chủ mặt mài thế nào? Ông ta mặc áo màu gì? Ôn dạy: “Lúc mà mình đang chú tâm nghe và trả lời như vậy thì có ai để ý tới chuyện ấy làm gì.” Nghe Ôn nói vừa xong thì thầy Pháp Quang nhận ra mình còn vọng tâm nên hỏi câu hỏi sai, liền im lặng cúi đầu, chắp tay nhìn Ôn với lòng thành kính. Và có lẽ cũng nên nói thêm ở đâu rằng: Tất cả những câu trả lời của Ôn với vị Giáo chủ Không Thiên đều không được Ôn kể lại, có lẽ nếu ai vào thế giới “tánh không kinh” và “tánh không luận” sẽ tự hiểu câu trả lời của Ôn là gì.

Đêm 17 sáng ngày 18, sau khi uống trà xong, Ôn gọi chúng tôi lại và bảo: “Hãy lấy giấy viết để ghi lại bài kệ này, diệu dụng và thăm sâu lắm, cũng đừng nên phổ biến tùy tiện tất cả sẽ không hay và mất tác dụng”. Ngừng lại một lúc rồi Ôn bảo: “Để Tôi uống hớp trà nữa rồi nói cho ghi”. Rõ ràng Ôn dụng thời gian thật khéo, đủ đề cho những ai đang tìm giấy và viết khỏi phải lật đật hoặc ghi thiếu. Uống trà xong, cũng vẫn với dáng điệu nhẹ nhàng, chậm rãi, Ôn kể: “Khi hôm Tôi thấy đang ở trong một ngôi chùa sơn vàng sạch sẽ và rất đẹp thì Đức Phật và các vị Bồ-tát đến bảo Tôi phải suy nghĩ thật kỹ bài kệ này.

 “Phật biết Phật không!

 Tâm biết tâm không!

  Khi Phật đổi thân,

 Tâm biết Phật không”.

“Tôi không cần suy nghĩ, vừa nói “biết” thì nghe có tiếng của họ:

-Hỏi : Vậy hôm nay Ôn có khỏe không?

-Đáp: Khỏe

-Hỏi: Có ăn chi không?

-Đáp: Không ăn chi cả.

-Hỏi: Có tiểu tiện, đại tiện, trung tiện chi không?

-Đáp: Có đại tiện.

-Người hỏi nói: Như vậy là tốt.”

-Lúc ấy thấy mình khỏe hẳn, không bệnh tật gì cả.

Quả là đúng như vậy, sáng ấy người đến thăm Ôn khá nhiều, Ôn vẫn chuyện trò, thăm hỏi nhưng không thấy Ôn mệt như những ngày trước.

Ngày 19, khoảng 10 giờ sáng, sau khi các Bác sĩ khám bệnh và các cô y tá tiêm thuốc xong, Ôn bảo chúng tôi lấy nước trái cây cho Ôn uống. Sau khi uống xong, một lát sau Ôn dạy: “Có sinh tức có tử, đó là chyện bình thường không ai tránh được. Nhưng nếu biết các pháp đều do duyên sanh thì sinh tử ấy cũng do duyên sanh. Quan trọng ở chỗ biết sinh tử ấy chỉ là “sở sanh” thuộc quả; còn ái-thủ-hữu mới là “năng sanh” thuộc nhân. Không có nhân thì có quả không? Đáp: “Thưa không” Ôn dạy tiếp: “Nghiệp cảm duyên khởi; Nhân quả duyên khởi; Pháp giới duyên khởi, cứ nghiệm theo đây mà biết.” Đến gần trưa, có TT. Chơn Tế và Bs. Vinh (Trưởng Khoa nội) đến hầu thăm Ôn. Sau khi vái chào Ôn, Bs. Vinh hỏi: “Thưa Ôn! Hôm nay Ôn thấy trong người thế nào! Có khỏe không?” Ôn trả lời: “Khỏe. Khỏe hơn mấy ngày trước.” Bs. Vinh tiếp lời: “Con thấy Ôn hồng hào, vui vẻ như không có gì là bệnh cả.” Ôn vào lời tiếp chuyện: “Cô nói phải đấy, Tôi tuy thân bệnh nhưng tâm không bệnh, cũng chẳng có gì phải vui buồn cả, nhờ vậy mà không khổ, đời ông thầy tu rất là khỏe rứa đó. Còn người đời thân họ bệnh mà tâm họ cũng bệnh theo nên họ buồn rầu, rên la, đau đớn, khổ sở. Vì sao như vậy, cô biết không? 1) Vì khi họ bệnh thì họ sợ khổ vì bệnh nên cái sợ ấy làm họ đã khổ càng khổ thêm. 2) Vì khi họ bệnh thì họ lo sợ chết (chết rồi bỏ chồng hoặc bỏ vợ, bỏ con, bỏ của cải tài sản, bỏ gia đình nhà cửa, bỏ mớ danh lợi… rồi họ tiếc đủ thứ) do đó làm họ khổ thêm. Vì hai lẽ ấy thường làm người bệnh đã khổ càng đau khổ thêm và khổ ấy làm họ đau đớn thêm”. Bs. Vinh chắp tay nhìn Ôn gật đầu tỏ vẻ hiểu lời Ôn dạy rồi vái chào đi ra. Dạy xong lời này Ôn uống thuốc và cháo hồ, sau đó Ôn ngủ một giấc dài từ 11 giờ tới 4 giờ chiều.

Ngày 20 khoảng 7 giờ tối, từ Nha Trang, Hòa thượng Đổng Minh đến thăm Ôn và sau khi chào hỏi xong, Ôn đã cầm tay HT. Đổng Minh để thu nhỏ khoảng cách thầy trò mà tỏ vẻ sự thân thiện một cách trân trọng. Ôn cười và hỏi: “Mới tới hả? Đi bằng gì?” HT. Đổng Minh thưa: “Dạ! Con đi bằng tàu hỏa.” Ôn nói tiếp: “Cho tới hôm nay, Tôi mới ngộ được cảm thọ là “Như cá hết nước; như cá trên thớt” đó thầy ơi. Hôm ở chùa trước khi tới bệnh viện là cảm thọ bệnh như “cá trên thớt”. Cho đến khi nào đối diện với “thọ” ấy mà tự tại, bất động mới lìa ‘thọ” được, nghĩa là không những lìa “thọ” ấy mà còn phải lìa cả “không thọ ấy” nữa. Quả thật, biết là một chuyện mà hành cái biết ấy là một chuyện, thầy thấy có khó không.” HT.Đổng Minh thưa: “Dạ! Khó thật. Nhưng, chỉ có thọ chứ không có người cảm thọ”. Ôn liền xác định: “Đúng vậy!”. HT. Đổng Minh cúi chào ra về.

Sáng ngày 22, sau khi thức dậy, Ôn kể lại một giấc mơ mà khi hôm Ôn thấy: “Vẫn biết giấc mơ là giả, không thật, nhưng giấc mơ ấy có khác; giống như mấy hôm trước thỉnh thoảng Tôi cũng có mơ nhưng thấy những cảnh đẹp có, xấu có,  khô ráo có, bùn lầy có, mà lắm điều trở ngại, rắc rối cũng có. Nhưng từ hôm thấy Phật và các vị Bồ-tát đến nay sao mà thấy toàn là những cảnh hiền lành, tốt đẹp. Như khi hôm, Tôi thấy cảnh ở bệnh viện giống như một ngôi chùa vàng sạch lắm, cách tôn trí thờ tự trong chùa là để chữa bệnh, còn nhà Tổ cũng được làm bằng vàng rất gọn nhẹ, cây cảnh chùa toàn màu vàng trang nghiêm thanh tịnh quá. Do vậy Tôi không biết đi đại tiểu tiện chỗ mô cả, hỏi ra mới biết đất đai ở đó toàn là vàng chứ không phải đất, mình có đại tiện trên đất vàng ấy thì không có hôi hám gì cả, lâu ngày phân đó cũng thành vàng. Đó thật là chuyện hy hữu mà cũng tức cười…”

Ngày 23, Ôn bảo chúng tôi hạ bớt máy lạnh và dạy: “Không còn nhiều đâu! Hãy gắng giúp tôi một cách ân cần, chu đáo hỉ! Phải để sẵn  bánh trái ở đó khi nào đói bụng thì ăn. Bữa ni Tôi thấy hơi khỏe khỏe, có ai mệt thì nằm xuống đó mà ngủ đi!”  Chúng tôi thưa: “Dạ” – rồi cúi đầu trên giường gần sát bên người Ôn mà cứ nghẹn ngào xúc động, không khóc sao nước mắt cứ tuôn ra – như tuôn ra một tâm sự tủi buồn, tự nhủ thầm: Có ngày mình sẽ không có được những lời nhắc nhở đầy lòng bi mẫn của Ôn nữa! Tình thương Ôn vời vợi như non cao!!!

Ngày 24, Ôn gọi thầy Hải Ấn và bảo: “Tôi muốn về nhưng nếu tự dưng mình xin về thì liệu rằng các Y Bác sĩ họ chịu không! Hoặc có làm phiền hà gì tới họ không? Hay là bao giờ họ cho về thì mình về?” Thầy Hải Ấn thưa: “Dạ! Để xem sao thử đã, tùy theo sức khỏe Ôn”  Và đến ngày 25, sau khi hỏi thăm sức khỏe cũng như việc ăn ngủ của Ôn Bs. Sinh và Bs. Lộc khám bệnh cho Ôn cũng có nhã ý để cho Ôn xuất viện. Ôn hỏi: “Về cũng được nhưng bệnh viện có cho mượn những dụng cụ y khoa này không? Có những cái đó cũng hay.”  Bs. Lộc trả lời: “Dạ! Chắc được thôi.” Ôn bảo chúng tôi: “Nếu có về thì mai mới về được, vì còn để có thì giờ cảm ơn các vị Y tá điều dưỡng”. Tấm lòng của Ôn bao giờ cũng vậy.

Sáng ngày 26, chúng tôi thu xếp hầu Ôn về chùa, các vị Y và Bác sĩ cũng đến đông đủ, có lẽ họ đợi để tiễn chào Ôn, các Phật tử chờ ngoài hành lang rất đông và đúng 7 giờ 45 Ôn rời bệnh viện để về chùa. Sau khi về đến nơi, có lẽ vì đi đường mệt nên Ôn nằm nghỉ, không ngủ nhưng Ôn cũng không dạy bảo điều gì. Đến trưa Ôn dùng một tí cháo hồ và ngủ đến chiều. Chiều nay, sân chùa Từ Đàm trở nên xôn xao rộn rịp hẳn lên, kẻ đến người lui viếng thăm Ôn không ngớt, tuy nhiên họ cũng chỉ được nhìn Ôn qua cửa kính mà thôi. Ngày 27, quý Hòa thượng, Thượng tọa cùng Phật tử ở các tỉnh thuộc miền Trung về hầu thăm Ôn mỗi lúc càng đông, các Tăng, Ni trẻ đã được Giáo Hội tỉnh gọi về dọn dẹp giảng đường và làm sạch khuôn viên chùa. Đến sáng 28, Ôn gọi chúng tôi lại và nói: “Về chùa nghe người khỏe hơn, cũng chẳng thấy tức bụng gì cả, nghe tiếng chuông chùa cũng hay hơn  trước.” Chúng tôi mừng: Dạ thưa Ôn! Tiếng chuông khi hôm là của cái chuông khác mới đổi lại. Ôn bảo: “À! À! Hèn gì Tôi nghe hay hơn.” Ngày 29, Ôn dạy chúng tôi: “Người các nơi về thăm mỗi lúc càng đông, phải chia phiên thay nhau hầu Tôi chu đáo kẻo khi quá đông, lúc không có ai. Việc tiếp khách cũng vậy, ai là chủ, ai là khách phải sắp đặt để tiếp đón người ta, kẻo đường xa họ đến mà đói khát thì tội cho họ.”. Đến ngày 30, Ôn kể: “Có một tích gọi làMặc ngữ đường”. Không ngờ sau khi Ôn dạy câu chuyện này xong, từ đó cho đến ngày viên tịch Ôn không nói một câu nào thêm nữa, và đúng ngày 03.10.2001 tức ngày 17 tháng 8 năm Tân Tỵ, vào lúc hoàng hôn vừa ngập hết nắng chiều,  Ôn đã mỉm cười lần cuối, không một chút rên la hay đau đớn, từ từ nhắm mắt lại như không có chuyện gì xảy ra. Và thế là Ôn thở hơi thở cuối cùng của một vị Bồ-tát hóa thân hòa lẫn cùng với hơi thở của mọi người còn đang thở.

  Từ Đàm, ngày 06.10.2001

 

 

CẢM NGHĨ VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

NGUYỄN TƯ TRỪNG

 

Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với cố Hòa thượng là ở chùa Báo Quốc.

Cố Hòa thượng đi thẳng đến tôi, đứng trước mặt tôi và vui cười nói: “Có đạo hữu giảng dạy trong trường (hồi đó còn là Trường Cơ bản Phật học Thừa Thiên – Huế ) thật là quý quá. Đạo hữu cố gắng giúp cho Trường với, chứ mấy vị trẻ tuổi bây giờ còn hăng lắm, chưa có nhiều kinh nghiệm như lớp già nên tôi chưa được yên tâm lắm”. Tôi nghe và lấy làm mừng. Mừng vì tấm lòng khiêm tốn, rộng rãi của Cố Hòa thượng và mừng vì tấm lòng ưu tư của Cố Hòa thượng đối với Phật giáo, tức là đối với Đời. Chỉ một lời nói, một thái độ lịch sự lúc ban đầu cũng làm cho tôi vui vẻ, phấn khởi khởi một cách tốt đẹp tự nhiên.

Lần thứ hai tôi được tiếp xúc với Cố Hòa thượng là khi bắt đầu xây Giảng đường lớn nối tiếp theo Trường Cơ bản Phật học tại chùa Báo Quốc. Hòa thượng đưa tay chỉ cho tôi biết lúc trước Hòa thượng đã ăn học và tu ở đây, không quên tả lại cảnh sống tu hành nghèo cực của những năm xưa. Có được một vị lãnh đạo tinh thần như thế, tôi rất tự hào, và rất vui. Qua lời nói của Hòa thượng, tôi thấy được nếp tịnh hạnh, trang nghiêm của Phật giáo: ăn như chỉ vừa đủ để sống được, mặc như chỉ đủ để che thân. Sống được có nghĩa là chỉ lo lắng cho nhân cách mình. Các bạn thử tìm cho tôi trong kiếp sống, trong cõi đời, một nếp sống nào đẹp hơn, có ý nghĩa hơn, trí thức hơn nếo sống này.

Khi Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đã xây xong ở chùa Hồng Đức thì toàn thể lớp học của Học viện dời từ chùa Báo Quốc lên chùa Hồng Đức.Trong một lần gặp gỡ tại Văn phòng Học viện ở Hồng Đức, Hòa thượng thấy bạn tôi đang còn xức thuốc dầu trị gió, Hòa thượng bảo: “Xức thuốc chi lạ thế. Xức thì phải xức nhiều, chà mạnh cho thuốc thấm vào da mới họa may lành. Đừng có xức chợt chợt bên ngoài như thế. Giống như tu. Tu thì phải tu cho nhiều, tu cho gắt, mới chứng ngộ được. Đừng có tu qua loa”. Đó là nếp tu của Hòa thượng. Hòa thượng đã lớn tuổi nhiều lắm rồi mà vẫn còn chịu khó, vẫn hăng hái làm việc, vẫn khiêm tốn, đúng như một bậc Ôn, như một vị Trưởng Lão. Vì Hòa thượng hiểu rằng làm người, tu là tối thượng. Tu là trọn ý nghĩa cuộc đời. Tu chính là sự sống, bởi vì tu tức là sống cuộc đời trí thức với nhân cách mình. Ý nghĩa của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế là Văn-Tư-Tu. Trong Phật giáo, tu có nghĩa là sửa. Sửa cho bản thân được viên thành về Giới, Định,Tuệ.

Có một năm tối đến hầu thăm Hòa thượng đầu xuân tại chùa Từ Đàm.Tôi có thưa với Hòa thượng: “Làm người thì phải cao sang”, Hòa thượng nói tiếp: “Đúng rồi cao thì sang, thấp thì hèn”. Thiết nghĩ, chân lý sống luôn luôn phải rỏ ràng, rành mạch như thế.

Trong những năm đầu của khóa I, Học viện có tổ chức một khóa học bồi dưỡng kiến thức cho giảng sư Tăng, Ni sinh một điều vô cùng căn bản và phải nhớ không bao giờ được quên. Hòa thượng nói: “Các con nên nhớ rằng nguời học toán thì làm toán, người học văn thì làm văn. Vậy chúng ta học Phật thì phải làm Phật”. Chúng ta phải ngày đêm suy ngẫm, quán chiếu thấu đáo vấn đề này.Vì đó mới đúng là ý nghĩa mái chùa của chúng ta. Mái chùa tức đồng nghĩa với cuộc đời vô lậu, Và chúng ta hãy đừng bao giờ làm khác đi. Như thế mới đúng là hoài bão của chư Phật. Hòa thượng Viện Trưởng đã có đủ duyên để nói lên điều đó. Đó là điều làm chúng ta rất mừng. Vì đó là một nếp, một nét của bóng hình Ôn, đi về thanh thoát, viên mãn, đã để lại trong lòng của mỗi người chúng ta hôm nay không bao giờ quên Ôn.

 

CẢM TÁC

HỒNG QUANG

 

Huế ơi! Một vì sao lìa nhân thế,

Ngìn trùng xa thẳm nhưng vẫn mãi trên quê hương.