Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm Đại Lão
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu


...... ... .

 

PHẦN III

 

 Thơ văn tưởng niệm

 

(4)

 

KÍNH DÂNG HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

Tâm Tấn (Nha Trang) 

Thuyền Tôn, Báo Quốc, Từ Đàm

Trống chuông Bát Nhã…Bàng hng trỗi Kinh

Trên cao lấp lánh Văn Tinh

Nghiêng mời ánh chớp vận hành về Ngôi

Cao Tăng phẩm hạnh rạng ngời

Đem ban Tâm Phật ấm đời nhân sinh.

Chín phương trời đất minh minh

Năm mươi tuổi Hạ viên thành mười phương.

Huyền Văn chấp bút khoa trường

Chuyển tay Hàn Mặc khơi nguồn Chân Kinh

Truyền trao lớp lớp tăng Sinh

Mầm Sen Khai Hạ, điểm nhành Mai Xuân

Bút nghiên thừa Huệ thừa Ân

Thiên Thần quét lá, lên tầng Tuệ Tăng.

Trí Tâm như ngọn Hải Đăng

Cho thuyền cao sóng thăng bằng mù khơi…

Như Trăng lồng lộng khung Trời

Soi cho Cội Pháp Rừng Đời nguyên sinh

 

*

 

Chiêu Thu nắng ngả bên thềm

Chuông ngân trút lệ, mõ rền nhịp Tang

Vườn Thiền Tôn, sân Từ Đàm

Rào mưa gãy gục (*) Trăng Vàng vỡ khuôn

Mái rêu Cổ Tự đậm buồn

Vầng Dương che mặt màn sương Thu mờ…

 

*

Mây vàng đỉnh Thứu giăng tơ

Ảo hình lọng báu nghinh chờ Chân Sư.

Vừa xong Ấn bút gieo Châu

Truyền tâm tải đạo, về hầu Như Lai.

 

CẢNH NIỆM TÔN SƯ

Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Thừa Thiên – Huế  

Đã từ lâu lắm rồi người dân Huế quá quen với tên gọi rất gần gũi mà vô cùng kính trọng “Ôn Từ Đàm”. Ôn là bậc chân tu, một nhà giáo dục, một vị lãnh đạo lỗi lạc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đương đại và là một hình ảnh bình dị rất Huế trong lòng Phật tử Thần kinh.

Suốt cả cuộc đời Ôn đã xả thân vì đạo pháp, vì tương lai hậu học, không quản ngại tuổi già sức yếu, Ôn vẫn làm việc quên mệt mỏi để lãnh đạo Giáo hội vượt qua thử thách của thời đại.

Năm 2000, một căn bệnh nan y đã làm Ôn suy kiệt sức khỏe, nhưng với một ý chí mãnh liệt, xem việc sanh già bệnh chết là quy luật muôn đời của vạn vật, Ôn vẫn an nhiên tự tại, vẫn dịch kinh viết sách, vẫn quan tâm đến đời sống tinh thần của Phật tử các giới.

Thân dẫu bệnh mà tâm không bệnh
Chế phục cơn đau cho đến cuối đời
Bộ kinh dịch khai thông từng câu chữ
Tất tu đạo nghiệp vẫn không rời.

Song do căn bệnh tái phát, 21 giờ ngày 26 tháng 7 Tân Tỵ, Chư Tôn đức Ban Trị sự Thừa Thiên – Huế và môn đồ đệ tử phải đưa Ôn vào Bệnh viện  Trung ương Huế để điều trị. Từ ngày đó tình cảm của người con Phật Cố đô như được sức hút mạnh mẽ của thần lực vị Cao tăng thạc đức, bậc Thầy uyên thâm bình dị thấm sâu trong tiềm thức trỗi dậy niềm xót xa kính mến lo sợ. Nghe tin Ôn nằm viện, lớp lớp Phật tử đổ dồn về Bệnh viện Trung ương Huế để được thăm hỏi sức khỏe của Ôn, cầu mong được chia sẻ những khổ đau bệnh tật và nao nức ước ao được thầy Ôn mạnh khỏe trở lại. Trong tình cảm đó, Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Thừa Thiên – Huế đã thường xuyên sớm viếng tối thăm, nhất tâm cầu nguyện cho sức khỏe Ôn sớm được bình phục, tật bệnh tiêu trừ.

Sau 13 ngày điều trị, với sự tận tình của Giáo sư, Bác Sĩ, sự chăm lo của Chư Tôn đức Tăng, Ni và môn đồ pháp quyến cùng các vị lãnh đạo Nhà nước, nhưng vì tuổi già sức yếu nên tình trạng sức khỏe của Ôn ngày một xấu đi. Sáng ngày 9 tháng 8 Tân Tỵ, Ôn rời Bệnh viện.

Từ ngày Ôn về lại Tổ đình, trong niềm tôn kính và tri ân đối với bậc danh tăng luôn quan tâm chăm lo cho đàn hậu tấn, văn phòng Ban Hướng dẫn tự động túc trực 24/24 giờ để theo dõi diễn biến sức khỏe của Ôn. Những đêm Ôn trở mình, nhìn dáng Ôn nằm trong cơn đau bệnh tật, lòng chúng con như quặn thắt – một nỗi niềm xót xa tiếc thương vô hạn luẩn quẩn khôn nguôi!

Ôn là chỗ dựa vững chắc cho Giáo hội Thừa Thiên – Huế trong cõi Tà-bà đầy mâu thuẫn uẩn khúc.

Ôn là cha già đã ôm ấp đàn con trẻ vào lòng Giáo hội trước cảnh lạc lõng bơ vơ. Ôn là cây đại thọ tỏa bóng mát cho tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam Thừa Thiên – Huế là nơi được hưởng ân huệ của Ôn nhiều hơn tất cả. Những lúc nguy cấp, chúng con chỉ biết chắp tay niệm Phật mà nước mắt lưng tròng. 

Qua ô cửa Ôn nằm thanh thản
Sự lặng yên đang lẽ lui dần…

Tâm chúng con nhớ đến những lời dạy uyên thâm đạo vị mà rất thiết thực của Ôn trong lễ trao cấp hiệu cho chúng con, trong trại Lục Hòa 1996, trại Hạnh 1997, họp bạn 1999.

Và gần đây nhất, khi sức khỏe của Ôn đã cạn kiệt mà Ôn vẫn hoan hỷ thân lâm chứng minh cho những họat động trọng đại nhất của GĐPT Việt Nam.

-Lễ kỷ Niệm 50 năm mang tên Gia đình Phật tử.

-Lễ khai mạc Hội nghị Huynh trưởng cấp Tấn toàn quốc và Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp ba Vạn Hạnh tổ chức trong hạ tuần tháng 7- 2001.

Như đứa con thơ được uống bình sữa ngọt, GĐPT chúng con ước ao được nghe Ôn chỉ giáo bảo ban.

Giáo hội đang rất cần Ôn hướng dẫn để bước vào thiên niên kỷ mới, một bước chuẩn bị cho trùng hưng giáo pháp.

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đang rất cần Ôn chăm lo cho thế hệ Tăng tài tương lai.

Phật tử Huế muốn được mãi mãi nhìn thấy bóng dáng Ôn như “sông Hương núi Ngự”.

Nhưng luật vô thường không nhường nhịn một ai, 16 giờ 30 ngày 17.8 Tân tỵ 903.10.2001) Ôn đã thu thần thị tịch, thực sự rời bỏ cõi Ta-bà để Cao đăng Phật quốc.

Phật giáo Huế từ nay thôi không còn cây đại thọ để che trước sóng gió phong ba. GĐPT từ nay không còn được uống dòng sữa ngọt.

Lễ tang của Ôn đã được tổ chức một cách vô cùng trọng thể, trang nghiêm, thể hiện đầy đủ nhất niềm tôn kính và biết ơn của GHPGVN, của đồng bào Phật tử các giới đối với bậc danh tăng đương đại.

Trong khung cảnh trầm hùng bi ai của tang lễ, chiều ngày 21 tháng 8 Tân tỵ, Phân ban GĐPT Trung ương và Phân ban Hướng dẫn GĐPT các Tỉnh, Thành trong cả nước đã tổ chức điếu tang và thọ tang Ôn. Hàng ngàn Huynh trưởng và Đoàn sinh các thế hệ đại diện cho tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam tề tựu đông đủ rợp kín cả sân chùa Từ Đàm với sự có mặt của Huynh trưởng cao niên Võ Đình Cường, Tống hồ Cầm…

Hàng vạn đóa hồng trắng tinh khôi kết thành vòng hoa tang hoành tráng uy nghi, tạo thành một hoa sen trắng khổng lồ nâng niu đôi dòng chữ “Ân Thầy Nhớ Mãi Lời Thầy Không Quên” của Ban Hướng dẫn GĐPT Trung ương đã nói lên hết tấm lòng của Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPT cả nước hướng về Giác linh Ôn.

Mặc dù đã vất vả sau nhiều ngày túc trực hầu Ôn và hướng dẫn chương trình tang lễ, Thượng tọa Phó Trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử Thừa Thiên – Huế trong chương trình lễ thọ tang của GĐPT đã không quên nhắc lại những hoài bão, những lời dạy thấu tình đạt lý của Ôn đối với tổ chức GĐPT. Những kỷ niệm, những ân tình của Ôn dành cho GĐPT được Thượng tọa tuyên xướng như nhắc nhở, nhắn gửi cho hàng vạn người con Phật có mặt chiều hôm đó. Ôi! Thật vinh hạnh biết bao, vui sướng biết bao khi GĐPT có được những ngày Ôn chỉ giáo bảo ban. GĐPT đã truởng thành trong khó khăn, gian khổ. GĐPT đã được Ôn tái sanh trong buổi bình minh của Giáo hội. Ân đức Ôn mãi mãi được các thế hệ GĐPT kế thừa niệm ân tưởng nhớ.

Trong hàng chục vòng hoa tang của Gia đình Phật tử các Tỉnh, Thành mang về,vòng hoa tang của GĐPT Thừa Thiên – Huế được kết tụ bằng 157 huy hiệu hoa sen mang theo danh hiệu 157 đơn vị trong tỉnh quay quanh ngọn đuốc thiêng liêng như thầm nhắc nhủ nhau nhớ lời Ôn dặn:

“PHẬT GIÁO HUẾ LÀ NƠI SINH RA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ, ANH EM PHẢI GIỮ GÌN CHO ĐƯỢC NHƯ NHÀ NÔNG GIỮ CON CÚI TRONG NHÀ VẬY”.

Tối ngày 22 tháng 8 Tân Tỵ, GĐPT Bằng Cư và Đức Sơn đã thay mặt cho GĐPT Thừa Thiên – Huế chí thành dâng cúng Vũ hội Hoa đăng, một tác phẩm văn hóa Phật giáo được thể hiện sinh động bằng đèn hoa, nói lên những nét đẹp, những pháp môn cao siêu, pháp âm diệu lý, pháp tướng chơn thường của giáo pháp Như Lai.

Tất cả những việc làm của Gia đình Phật tử là lòng thành, là tâm niệm để tưởng nhớ bậc Tôn Sư, người Cha muôn vàn kính yêu của tổ chức Gia đình Phật tử.

Ngày 24 tháng 8 Tân Tỵ (10.10.2001), hàng vạn Tăng, Ni Tín đồ trong và ngòai nước tụ về Tổ đình Từ Đàm để tiễn biệt Ôn.

Ba mươi năm nay người dân Huế chưa bao giờ được chứng kiến một đám tang đồ sộ, trang nghiêm, hùng vĩ như vậy, hơn 200 chiếc xe lớn nhỏ nối đuôi nhau kéo dài mấy cây số.

Sơn hà bị lụy, trời Huế hôm nay nhỏ lệ tiếc thương, vạn vật cúi đầu tiếp dẫn, lời kinh cầu nguyện thiết tha chan hòa lệ nóng của Tăng, Ni Tín đồ dâng lên, dâng lên mãi phò vị Tôn Sư về miền quê hương Tịnh cảnh.

Kính lạy Ôn, chúng con, thế hệ Gia đình Phật tử hôm nay, xin nguyện y giáo phụng hành.

Ngưỡng nguyện Giác linh Ôn chứng giám.

 

 

ĐẢNH LỄ TÔN SƯ CỦA MÔN ĐỒ VÀ PHÁP QUYẾN

(Đọc trong Lễ Sơ dạ Cố Trưởng lão Hòa thượng Tôn sư hượng Thiện Hạ Siêu lúc 19 giờ ngày 9 tháng 10 năm 2001, tức 23.8 Tân Tỵ)

 

Nam-mô Lâm Tế chánh tông tứ thập tam thế, Trùng kiến Từ Đàm, Thiền Tôn nhị tự Trú trì, húy thượng Tâm hạ Phật, tự Trí Đức hiệu Thiện Siêu, Võ công Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

Đệ tử và Môn đồ, Pháp quyến chúng con thành kính khấu đầu đảnh lễ Giác linh Thầy,

Kính bạch Giác linh Thầy,

Kính thưa Ban Tổ chức Tang lễ,

Hôm nay tại tỉnh Thừa Thiên – Huế, nơi kinh thành Phú Xuân Thuận Hóa, nhuốm màu pháp lệ này, Môn đồ, Pháp quyến Tổ đình Từ Đàm và Thiền Tôn chúng con xin thành kính đốt nén tâm hương dâng lên Giác linh Thầy, ngưỡng mong Giác linh Thầy thùy từ chứng giám.

Kính bạch Giác linh Thầy,

Trong giờ phút thiêng liêng và trọng đại, giờ phút mà khoảnh khắc biến thành thiên thu, Thầy đã xả bỏ nhục thân ở cõi Ta bà để về với Phật, cho biết thế gian vô thuờng, muôn vật đều hư huyễn, chỉ có Chơn tâm thường trụ bất biến. Giờ này, đối trước đài tiền, đệ tử chúng con cùng Môn đồ, Pháp quyến, xin được bộc bạch đôi lời để nói lên nỗi lòng tiếc thương không cùng tận với vị Thầy khả kính, suốt đời đã tận tụy dắt dìu, dạy bảo chúng con trên con đường tu học.

Kính bạch Giác linh Thầy! Chúng con có diễm phúc trưởng thành trong pháp nhũ từ hòa của Thầy, cho dù chúng con cũng biết, các pháp vô thường, không một pháp nào không chịu sự biến họai, nhưng sự thật trong lòng mỗi một chúng con vẫn hằng mong Thầy trụ thế dài lâu, để tiếp tục dạy dỗ dắt dìu chúng con trên con đường Đạo nghiệp. 

Nhưng than ôi!

Đất trời chuyển động,

Sông hương ngừng chảy

Núi Ngự ngừng reo

Thu vân ảm đảm,

Cả không gian như lắng chìm bao nỗi vấn vương,

Niềm đau này không lấy gì lấp cho bằng được!

Nỗi đọan trường này đang quyện lẫn pháp âm Thầy, ngưỡng nguyện Giác linh Thầy chứng giám.

Kính bạch Giác linh Thầy,

Thế là hết! Còn đâu nữa những đêm dài trong thiền thất, Thầy dạy bảo chúng con từng lời từng chữ, sửa cho chúng con từng nết, từng hạnh. Thầy chỉ cho chúng con con đường tu tập, hướng dẫn cho chúng con từng bước đi trong cuộc sống, thậm chí cho đến khi đang nằm trên giường bệnh, Thầy vẫn còn phân tích cho chúng con biết đâu là chủ, đâu là khách trong đạo lý làm người.

Còn đâu nũa những sáng chiều Thầy đã từng bước chậm rãi thiền hành quanh sân chùa. Còn đâu nữa ngày hai buổi Thầy tĩnh tọa nơi bàn kinh, dịch từng câu, từng ý, từ luận Thành Duy Thức đến luận Câu-xá, từ luận Trí Độ đến Trung Luận. Và cũng không còn đâu nữa pháp âm hiền từ trên bục giảng cho chúng con và Tăng, Ni khắp chốn, thiện tín các nơi mất đi những câu đối Thầy cho.

Tất cả không còn nữa, chúng con chỉ biết nhìn Thầy qua di ảnh mà thôi, giọt lệ tuôn rơi xé lòng con trẻ. Bầu trời Phú Xuân nhạt nhòa trong nước mắt bi thương. Giờ này chúng con cảm thấy chơi vơi như thuyền không người cầm lái. Mặc dầu Thầy vẫn thường dạy: “Vô thường thị thường, sinh tức tử, tử tức sinh”, nhưng bạch Giác linh Thầy, 

Chim nào không cần tổ,

Trò nào không cần Thầy!

Quả là Tôn sư vãng hỷ,

Than ôi, khóc lệ bi sầu!

Kính bạch Giác linh Thầy,

Trong giờ phút ngàn năm vĩnh biệt này, mặc dầu hình hài Thầy tuy có xa, nhưng chúng con vẫn nghĩ, tâm hồn luôn luôn giao cảm và Thầy vẫn luôn luôn ở bên cạnh chúng con.

Kính bạch Giác linh Thầy, ngàn xưa và ngàn sao, có đâu trăng lặn về non không trở lại, đường về xứ Phật vẫn tỏa ngát mùi sen, trong giờ phút thiêng liêng kính tiễn Thầy ra đi, chúng con nguyện sống theo lời dạy bảo của Thầy, sống có ích cho Đạo, có lợi cho Đời để không phụ công ơn giáo dưỡng của Thầy.

Nơi cảnh Ta-bà khổ trược này, nơi Tổ đình Từ Đàm và Thiền Tôn thân thương này, Môn đồ, Pháp quyến chúng con xin lạy tiễn biệt Giác linh Thầy.

Ngưỡng mong Giác linh Thầy thùy từ chứng giám.

Nam-mô Lâm Tế chánh tông tứ thập tam thế, Trùng kiến Từ Đàm, Thiền Tôn nhị tự Trú trì, húy thượng Tâm hạ Phật, tự Trí Đức hiệu Thiện Siêu, Võ công Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

 

 

CẢM NIỆM

THẾ QUYẾN –VÕ TỘC LÀNG THẦN PHÙ 

Nam-mô A-di-đà Phật, Ngưỡng bạch Giác linh Hòa thượng.

Hôm nay, chúng con nội ngoại nơi quê nhà họ Võ làng Thần Phù, thuộc xã Thủy Châu, nơi sinh trưởng của Cố Hòa thượng, đang quy tụ trước Linh đài, kính mong Giác linh Hòa thượng, cho phép chúng con được bộc bạch đôi lời đơn sơ trước khi Hòa thượng về cõi tịch tịnh.

Hơn 60 mươi năm qua, Hòa thượng đã rời xa quê cha đất tổ, cắt ái từ thân, xuất gia học đạo. Rồi sau đó Hòa thượng đã trở thành một bậc chân tu đạo hạnh, suốt cả cuộc đời xả thân cho sự nghiệp Giáo dục Tăng, Ngài, cho sự nghiệp Hoằng pháp lợi sanh, cho sự nghiệp duy trì mạng mạch của Giáo hội.

Trong cuộc đời Hoằng hóa lợi sanh ấy, biết bao trách nhiệm nặng nề, biết bao Phật sự đa đoan nhưng Hòa thượng vẫn không quên hiếu đạo của một người con, người cháu trong họ tộc.

Đối với người đã khuất, Hòa thượng đã noi gương Ngài Đại hiếu Mục-kiền-liên, nương thuyền Chánh pháp tổ chức cầu nguyện cho chư hương linh trong họ tộc được siêu độ. Đối với họ hàng quyến thuộc còn sống, Hòa thượng đã ân cần thăm viếng, hỏi han và đặc biệt bao giờ Hòa thượng cũng khuyến khích việc tu học. Nhờ sự quan tâm dìu dắt đó, anh em, con cháu của họ tộc đã dần dần trở nên thuần thiện.

Mỗi lần anh em con cháu họ tộc chúng con đến thăm viếng Hòa thượng, bao giờ cũng thấy vừa kính vừa sợ, vừa thương vừa gần gũi, thân tình. Tư cách, đao phong toát ra từ Hòa thượng đã tạo nên những tình cảm, những trạng thái tâm lý trong chúng con. Nhưng mỗi lần có dịp hỏi han, chỉ dạy thì bao giờ Hòa thượng cũng ân cần, từ tốn, giản dị, hiền hòa của một bậc mô phạm.

Ôi! Kể làm sao hết ân đức của Hòa thượng khi cả một đời chỉ biết phụng sự Đạo pháp và Dân tộc theo tinh thần giáo pháp đức Phật vô ngã vị tha. Cả cuộc đời Hòa thượng là cả một tấm gương sáng về đạo hạnh, hiếu hạnh, đã làm rạng rỡ Tông môn để con cháu đời sau theo gót.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng!

Vẫn biết rằng đối với Hòa thượng, chuyện sanh tử là chuyện thường tình, xác thân này chỉ là xác thân tạm mượn, cõi đời này chỉ là cõi tạm nương để tìm về một cõi tịch tịnh, nhưng chúng con vẫn không sao không xúc động, bùi ngùi khi Giáo hội mất đi một Bậc lãnh đạo sáng ngời phạm hạnh, Thiền môn mất đi một Bậc lương đống và Họ tộc chúng con mất đi một người con, người cháu, người ông tràn đầy hiếu hạnh, nghĩa tình.

Giờ này, tất cả mọi người trong nội ngoại của Họ tộc chúng con chỉ biết nghiên mình, cúi đầu đảnh lễ Giác linh Hòa thượng. Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng trên bước đường tu tâm hành thiện.

Nam-mô Siêu lạc độ Bồ-tát ma-ha-tát.

 

ĐẢNH LỄ ÂN SƯ

TĂNG NI SINH KHÓA I – HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI HUẾ

 

Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni-Phật.

Ngưỡng bạch Chư Tôn Giáo phẩm trong Ban Tổ chức Lễ tang.

Kính bạch Chư tôn Hòa thượng , chư Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni trong Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.

Kính thưa Chư tôn Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni trong Môn đồ, Pháp quyến cùng thế quyến.

Thưa chư liệt vị,

Chúng con là Tăng, Ni sinh khóa I, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Hôm nay, trước Linh đài của cố Hòa thượng Viện trưởng, trong niềm xúc động vô biên của xứ sở Thần kinh, kính xin quý Ngài cho phép chúng con được bộc bạch đôi lời trước Giác linh  của Cố Hòa thượng  và cho phép chúng con được gọi Hòa thượng bằng tiếng gọi “Thầy” thân mật, gần gũi.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy,

Quỳ trước Linh đài của Thầy là những Tăng, Ni sinh vừa Tốt nghiệp Cử nhân Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Chúng con về đây, trước Giác linh Thầy, mang theo một nỗi niềm xúc cảm vô hạn khi nghe tin Thầy đã viên tịch.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Mới ngày nào đây, chúng con được đón nhận niềm vui sướng, đón nhận một sứ mạng cao cả thiêng liêng từ chính tay Thầy trao, được nghe chính lời Thầy dạy bảo và lúc đó, chúng con đã thổn thức trong lòng niềm luyến tiếc khi phải xa Thầy, xa trường lớp, xa những tháng ngày đầy gian khó mà Thầy hy sinh vì chúng con. Ngày đó chúng con như những đàn chim non được chắp cho đôi cánh, hớn hở bay vào những khung trời cao rộng, và giờ này, đã có đàn tìm được nơi trú ngụ, có đàn đang bay đến những khung trời ở xứ lạ quê người.

Nhưng dẫu trong bất cứ khung trời nào, hn cảnh nào, chúng con vẫn luôn luôn hướng về Thầy, hướng về một bậc Thầy đã hy sinh trọn đời cho Đạo pháp, cho sự nghiệp đòan kết Dân tộc và cho nền Giáo dục, đào tạo Tăng tài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cả cuộc đời của Thầy ngập tràn sách vở, học hành và dạy dỗ; trên tay Thầy không lúc nào là không có sách, tuy tuổi đã già, sức đã  yếu mà Thầy vẫn tinh cần trong sự nghiệp phiên dịch Kinh, Luật, Luân.

Nói đến đây, chúng con lại nhớ đến những câu trong văn bia Thầy đã viết truy thán Hòa thượng thượng Trí hạ Thủ: “Xuất thế tinh chuyên đã vậy, nào quên nhập thế độ sanh, dẫu tuổi già chẳng ngại dấn thân, hạnh Phổ Hiền lợi đời lợi đạo, biết thế sự lắm phen khe khắt, tâm hồn luôn hoan hỷ bao dung”. Chỉ bấy nhiêu chữ trong câu, và ngần ấy lời thật đơn giản để tán thán tha nhân mà cả cuộc đời Thầy đã thực hiện trọn đủ ngần ấy.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Chúng con vẫn còn nhớ hình ảnh của Thầy lo lắng cho chúng con từng nơi ăn chốn ở, lo cho chúng con từng giấc ngủ giữa đêm dài. Thầy sợ đêm đông thiếu chăn lạnh không ngủ được, Thầy sợ phòng ở chật hẹp trời nóng không học được. Thế là Thầy lo xây trường, xây tăng xá, xây thư viện. Thầy lo muôn vàn nỗi lo cho sự học đạo của chúng con, từ lúc chúng con mới vào Học viện cũng như khi chúng con đã ra trường. Hôm đó, Thầy đã mỏi mòn vì bao thế hệ Tăng, Ni chúng con. Thế mà trong chúng con lại có lúc vẫn chưa cố gắng, vẫn còn chểnh mảng trong việc học hành. Hôm nay, trước Giác linh Thầy, chúng con xin thành tâm sám hối và ngưỡng mong Giác linh Thầy tha thứ cho chúng con. Chúng con nguyện sẽ tinh tiến nỗ lực hơn nữa để xứng với hoài bão của Thầy.

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy! Trước sự biệt ly, ai không chạnh lòng, không rơi lệ trước cảnh kẻ ở người đi, mà người đi lại là bậc Thầy tôn kính trong sự nghiệp tu tập của chúng con. Sự ra đi của Thầy quá đột ngột với chúng con. Khi thành lập xong Ban liên lạc Cựu Tăng, Ni sinh viên khóa I, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, và dự định những ngày này chúng con sẽ về thăm và trình diện với Thầy, được quỳ dưới chân Thầy để nghe lời chỉ giáo. Nào ngờ, chúng con chưa kịp về thăm thì Thầy đã ra đi. Thầy đã bước một bước thật dài qua miền Tịnh cảnh. Ngày chúng con về thăm Thầy không ngờ lại là ngày thọ tang Thầy, tiễn đưa Thầy, nói lời vĩnh biệt Thầy!!! Còn nỗi đau nào lớn hơn, còn sự bất hạnh nào bằng. Giờ này, trường còn đó, Tổ đình Thiền Tôn, Từ Đàm còn đây, bao nhiêu thế hệ Tăng, Ni còn đang trông đợi pháp nhũ của Thầy mà Thầy đã ra đi! Chúng con đã mất Thầy thật rồi!

Nhưng chúng con phải tự giác tỉnh rằng: Tấm thân ngũ uẩn Thầy tuy mất, song pháp thân của Thầy mãi ngự trị trong tâm hồn chúng con. Đó là niềm an lạc khi chúng con tưởng nhớ về Thầy, nhớ về tấm gương sáng. Ánh sáng đạo hạnh và trí tuệ của Thầy là nơi nương tựa cho chúng con. Tuệ nghiệp của Thầy luôn dẫn bước cho chúng con trên con đường hướng về giải tht, an lạc. Thầy luôn là nguồn an ủi, vỗ về chúng con. Biết vậy, song trong bối cảnh hiện tại của Giáo hội, sự ra đi của Thầy vẫn là một mất mát lớn cho Tăng, Ngài, Phật tử, cho sự nghiệp Giáo dục đào tạo Tăng tài. 

Thầy ra đi con làm sao giữ lại

Hình bóng Thầy nay con biết tìm đâu

Thầy ra đi nghe biển khóc, trời sầu

Đàn con dại biết tìm đâu nương bóng!

Giờ này, khấu trước Nghê đài, chúng con thành kính thắp nén tâm hương cúng dường Giác linh Thầy. Nguyện cầu mười phương chư Phật gia hộ Giác linh Thầy qua miền Tịnh cảnh và sớm hồi nhập Ta-bà để tiếp tục sự nghiệp Hoằng pháp độ sanh.

Nam-mô Lâm Tế chánh tông tứ thập tam thế, Việt Nam Phật giáo Giáo hội Chứng minh Hội đồng Thành viên; Trị sự Hội đồng Thường trực Phó Chủ Tịch; Trung ương Giáo dục Tăng, Ni Trưởng ban; Thuận Hóa Phật giáo Học viện Viện trưởng; Trùng kiến Từ Đàm, Thiền Tôn nhị tự Trú trì, húy thượng Tâm hạ Phật, tự Trí Đức hiệu Thiện Siêu Trưởng lão Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

 

 

DẤU ẤN ĐẬM ĐÀ CỦA MỘT BẬC TÔN ĐỨC TRONG LÃNH VỰC DỊCH THUẬT HÁN TẠNG

NGUYỄN HUỆ

 

Nói đến Phật giáo xứ Huế - hay rộng hơn là vùng đất Thuận Hóa ngày trước, chúng ta không thể không nhắc tới các ngôi Tổ đình như Từ Đàm, Quốc Ân, Thiền Tôn..., với những vai trò lịch sử của chúng. Đề cập tới Phật giáo vùng Nam Trung bộ, chúng ta không thể không nói đến Phật học viện Hải Đức- Nha Trang, từng là cái nôi của nhiều thế hệ tăng tài. Và trong bối cảnh với những biến chuyển, những khởi sắc của Phật giáo Việt Nam nủa cuối thế kỷ XX, nhắc tới các trụ xứ kể trên, người Phật tử Việt Nam không thể không nhớ đến hình bóng của một con người, một vị chân tu đạo hạnh, tài đức, đó là Hòa thượng Thiện Siêu (1921-2001), một bậc tôn đức suốt đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục, đào tạo Tăng, Ngài, suốt đời gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu, dịch thuật kinh điển để góp phần hoằng dương chánh pháp. Đối với giới nghiên cứu Phật học Việt Nam hiện đại, HT. Thiện Siêu được đánh giá là cây bút dịch thuật về Hán tạng có uy tín với những đóng góp thật đáng trân trọng. Bài viết ngắn của chúng tôi ở đây xin được xem là một chút tâm hương của hàng hậu học thành kính tưởng niệm một bậc tiền bối về lãnh vực dịch thuật kinh điển Hán tạng.

Tuy góp mặt khá sớm với các dịch phẩm thuộc mảng Kinh, như Kinh 42 chương (1958), Kinh Trường A Hàm (1959), Kinh Pháp Cú (1962), nhưng sự nghiệp dịch thuật của Hòa thượng Thiện Siêu tạo được dấu ấn đậm đà hơn hết chính là ở phần Luận tạng. Hòa thượng đã dịch – dẫn, soạn thuật mang tính chất “nhập môn” về Luận Câu Xá (Đại cương Câu Xá Luận, Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam xuất bản, 1993), về Nhân Minh học (Lối vào Nhân Minh học, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản, 1994), dịch và chú “Luận Thành Duy Thức” (Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam xuất bản, 1996), nhất là dịch bộ “Luận Đại Trí Độ” (Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam xuất bản, Tập I-1997, Tập 2-1998, Tập 3-1999, Tập 4-2001) và Trung Luận (Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 2001). Chúng ta đều biết, 3 Tạng Kinh Luật, Luận là toàn bộ giáo pháp của Đạo Phật. Và trên con đường truyền bá, phát huy vì tính chất khế cơ nên 3 Tạng giáo pháp kia đều được “dân tộc hóa, bản địa hóa”. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử mà Phật giáo Việt Nam cho đến nay vẫn chưa hoàn thành được tất cả Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên căn bản là tạng Pali của Phật giáo Nam truyền và Tạng Hán của Phật giáo Bắc truyền, trong đó, so với phần Kinh, Luật đã được dịch sang tiếng Việt thì các dịch phẩm về Luận tạng phải nói là còn quá khiêm tốn. Chẳng hạn, về tạng Hán, các bản Việt dịch về Luận Tạng hiện có của chúng ta chỉ đếm trên đầu ngón tay: Luận Thành Thật (HT. Trí Nghiêm dịch), Luận Đại Thừa Khởi Tín (Cư sĩ Tâm Minh, HT. Thiện Hoa, HT. Trí Quang, Cư sĩ Cao Hữu Đính…), Luận Nhiếp Đại Thừa (HT. Trí Quang), Kinh Na Tiên Tỳ Kheo (Cư sĩ Đoàn Trung Còn, Cư sĩ Cao Hữu Đính), Trung Luận (HT. Quảng Liên, Đại đức Viên Lý, Đại đức Tâm Thiện)… Ghi nhận như thế để chúng ta thấy rằng, Phật giáo Việt Nam hiện đại, nhân tài của Phật giáo Việt Nam hiện đại, cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đối với việc dịch thuật phần Luận tạng nói riêng, cả 3 Tạng Thánh điển nói chung, tiến tới việc hoàn thành Đại Tạng Kinh tiếng Việt. Đồng thời để chúng ta càng thêm trân trọng đối với những đóng góp, tuy chưa phải là nhiều, nhưng hết sức quý giá của Hòa thượng Thiện Siêu. Và như thế, nhắc lại những thành tựu của người đi trước, cũng chính là một sự tri ân đúng nghĩa nhất.

Để tiện việc theo dõi, chúng tôi xin giới thiệu tóm lược về danh mục của Luận tạng thuộc Hán tạng theo Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu (ĐTKĐCTT). Cũng như phần kinh tạng, ĐTKĐCTT đã dùng khái niệm Bộ- chỉ cho sự tập hợp các Luận cùng lọai – làm đơn vị, để phân toàn bộ hệ thống Luận tạng của Phật giáo Bắc truyền ra làm 5 bộ như sau: 

1.Thích Kinh Luận Bộ : Gồm Tập 25 và 1/3 Tập 26

2.Tỳ Đàm Bộ : 2/3 Tập 26. các Tập 27, 28, 29.

3.Trung Quán Bộ : 1/3 Tập 30

4.Du Gia Bộ : 2/3 Tập 30, tập 31

5.Luận Tập Bộ : Tập 32

Qua đó, Luận Đại Trí Độ thuộc phần Thích Kinh Luận Bộ (N0 1509/100, Tập 25), Luận Câu Xá thuộc phần Tỳ Đàm Bộ (N0 1585/30, Tập 31) và Nhân Minh Luận được sắp vào Luận Tập Bộ (N0 1628 – N0 1631, Tập 32).

* Với số lượng gồm 100 quyển (bản Hán dịch), tác giả là Đại sĩ Long Thọ, một gương mặt Luận sư vào hàng kiệt xuất của Phật giáo phát triển, Luận Đại Trí Độ từ lâu đã được xem là bộ Luận vĩ đại bậc nhất của Phật giáo Bắc truyền. Tuy bản thân của Luận chỉ là giải thích kinh Đại Phẩm Bát Nhã (N0223, 27quyển, ĐTK/ĐCTT Tập 8), do Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch ra Hán Văn. Kinh này tương đương với Hội thứ 2, từ quyển 401-478 nơi kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa, gồm 600 quyển, do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch (ĐTK/ĐCTT), N0 220, T5, T6, T7), nhưng dung lượng của Luận lại hết sức bao quát, đề cập tới nhiều lãnh vực, nhiều vấn đề, khối luợng tư liệu được nêu dẫn cũng vô cùng phong phú, đáng tin cậy, tất cả đã góp lại để nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao của một bộ Bách Khoa toàn thư về Phật học.

Luận Đại Trí Độ được Pháp Sư Cưu-ma-la-thập dịch ra Hán văn vào đầu thế kỷ thứ 5 TL, và đã có một ảnh hưởng rất lớn trong quá trình phát triển của Phật học Trung Quốc. Nhiều tông phái Phật giáo đã dùng bộ Luận ấy làm nền tảng cho sự lập giáo của tông phái mình. Tông Tam Luận chẳng hạn, ngoài ba bộ Luận căn bản là Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Bách Luận (Hai Luận trước do Bồ- tát Long Thọ viết, Luận sau do Bồ-Tát- Đề-Bà viết, cả ba đều được  Pháp sư Cưu-ma-la thập Hán dịch (ĐTK/ĐCTT. N0 1564, N0-1569, Tập30) đã gồm luôn Luận Đại Trí Độ vào phần lập giáo của Tông mình, nên còn gọi là Tứ Luận Tông.

Ở Việt Nam, trước HT.Thiện Siêu, Luận Đại Trí Độ đã được Sư bà Diệu Không dịch ra Việt văn, gần đây hơn là bản dịch của HT.Trung Quán. Nhưng so với hai bản dịch có trước, thì bản dịch của HT. Thiện Siêu hơn hẳn về mọi mặt. in ấn đẹp, thể hiện sự quan tâm hết mực của bộ phận xuất bản, tăng thêm vẻ bề thế cho bộ sách dịch, tương xứng với tầm vóc của tác phẩm. Về nội dung, câu văn dịch của HT. Thích Thiện Siêu trong sáng, nhuần nhuyễn hơn, các thuật ngữ được chuyển dịch cũng thuận hợp hơn. Nơi phần đầu của mỗi tập, người dịch đều có lời dẫn nhập, tuy vắn tắt nhưng rất cần thiết cho người đọc. Nói chung, Luận Đại Trí Độ, qua bản Việt dịch của HT. Thích Thiện Siêu là một thành tựu đáng kể trong lãnh vực dịch thuật Hán tạng, góp phần hoàn thành Đại Tạng Kinh tiếng Việt.

Ngoài Luận Đại Trí Độ (N0 1509, tập 25) phần Thích Kinh Luận Bộ của ĐTK/ĐCTT còn có nhiều tác phẩm Luận thích khác như Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa của Bồ-tát Long Thọ (N0 1521, tập 26, 17 quyển, Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch), Luận Kim Cương Bát Nhã của Bồ- tát Vô Trước (N01510, Tập 25, 10 quyển, Đại sư Đạt-ma-cấp-đa Hán dịch), Luận Kim Cương Tiên của Bồ-tát Thế Thân (N0 1512, tập 25, 10 quyển, Đại sư Bồ-đề-lưu-chi Hán dịch), Luận Thập Địa Kinh (N0 1522, tập 26, 12 quyển, Đại sư Bồ Đề Lưu Chi Hán dich, Luật Niết Bàn (N0 1527, tập 26, 01 quyển, Đại sư Đạt ma Bồ Đề Hán dịch)…của Bồ-tát Thế Thân, Luận Phật địa Kinh của Bồ-tát Thân Quang (No 1530, tập 26, 07 quyển, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch) v.v… tất cả đều phải dịch ra Việt văn.

* Luận Câu Xá, gọi đủ là Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá tác giả là Bồ-tát Thế Thân (N0 1558, Tập 29, 30 quyển, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch) là một phần trong Tỳ Đàm Bộ  của ĐTK/ĐCTT, là phần chiếm số lượng nhiều nhất nơi Luận tạng của Phật giáo Bắc truyền. Trong phần này, ngoài việc giới thiệu các bộ Luận tiêu biểu của Hữu bộ, được viết từ thời Phật còn tại thế và sau khi Phật nhập Niết bàn 100-300 năm, như: 

+ A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận: tác giả là Tôn giả Xá-lợi Tử (N0 1536, Tập 26, Pháp sư Huyền Trang Hán dịch, 20 quyển).

+ A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận: Tác giả là Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên (N0 1537, tập 26, Pháp sư Huyền Trang Hán dịch, 12 quyển).

+ Thi Thiết Luận: tác giả là Tôn giả Ca-chiên-diên (2) (N0 1538, tập 26, Đại sư Pháp Hộ Hán dịch, 7 quyển).

+ A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận: tác giả là Tôn giả Đề-bà-thiết-ma (N0 1539, tập 26, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 03 quyển).

+ A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận: tác giả là Tôn giả Thế Hữu (N0 1542, tập 26, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 18 quyển).

+ A Tỳ Đạt Ma Bát Tiền Độ Luận: tác giả là Tôn giả Ca-chiên-diên-tử (N0 1543, tập 26, Đại sư Tăng Già Đề Bà và Trúc Phật Niệm Hán dịch, 30 quyển).

+ A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận: tác giả là Tôn giả Ca-đa-diễn-ngài-tử (N0 1544, tập 26, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 20 quyển)….

Đáng chú ý nhất là Bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận, tác giả là 500 vị Đại A-la-hán, là một trong những kết quả của đại hội Kiết Tập lần thứ 4, tại thành Ca-thấp-di-la, 400 năm sau Phật nhập Niết Bàn, dưới sự bảo trợ của Vua Ca Nị Sắc Ca (No-1545, tập 27, Pháp sư Huyền Trang Hán dịch, 200 quyển). Các Bộ A Tỳ Đàm còn lại như A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa Luận (N0 1546, Tập 28, 60 quyển), A Tỳ Đàm Tâm Luận (N01550 tập 28, 04 quyển), Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận (N0 1552, tập 28, 11 quyển), kể cả A Tỳ Đạt Ma câu Xá Luận của Bồ-tát Thế Thân (N0 1558, tập 29, 30 quyển) đều là những tóm lược, tóm tắt để quảng diễn về một số lãnh vực, từ bộ Luận 200 quyển kể trên.

Về Hán dịch, phần lớn các bộ Luận thuộc Tỳ-đàm bộ đều được Pháp sư Huyền Tráng dịch ra Hán văn, là một trong những đóng góp lớn lao của Pháp sư  cho Phật học Trung Hoa nói riêng, cho mảng Luận tạng của Phật giáo Bắc truyền nói chung. Riêng về Luận Câu Xá, do uy tín của tác giả, do bố cục của tác phẩm gọn đủ, mạch lạc, nên khi truyền sang Trung Hoa, Luận đã được Đại sư Chân Đế (đời Trần) dịch ra Hán Văn (N0 1559, tập 29, 22 quyển) và Tông Câu Xá đã được hình thành, đến đời Đường, Pháp sư Huyền Tráng đã dịch lại bộ Luận ấy, được các vị đệ tử dốc sức chú giải, phát huy, như Câu Xá Luận Ký của Đại sư Phổ Quang (N01821, tập 41, 30 quyển), Câu Xá Luận Sớ của Đại sư Pháp Bảo (N0 1822, tập 41, 30 quyển), Câu Xá Luận Trung Sớ của Đại sư Pháp Bảo (N0 1823, tập 41, 30 quyển), nên Tông Câu Xá đã hưng thịnh trong thời gian dài.

Ở Việt Nam, mảng Luận  này - Tỳ Đàm bộ-hầu như còn bỏ ngỏ. Ngoài bài khảo cứu của Học giả Lệ Mạnh Thát: “Đưa vào nghiên cứu Triết học Vasubadhu (Thế Thân)” viết năm 1968, thì tác phẩm “Đại cương Câu Xá Luận” của HT. Thiện Siêu là tác phẩm duy nhất, cho đến lúc này đã đề cập tới lãnh vực A Tỳ Đàm.

Luận Câu Xá- theo bản dịch của Pháp sư Huyền Tráng, gồm 30 quyển, 9 phẩm, lần lượt bàn về Giới (Uẩn, Xứ, Giới), Căn, Thế Gian (3 cõi, 6 nẻo luân hồi, 4 loài, Thể chất và hạn lượng của thế giới…) Nghiệp, Tùy miên, (Phiền não, Hoặc), Hiền Thánh, Trí, Định, và Phá trừ chấp Ngã. Sách của HT. Thiện Siêu thuộc lọai “sọan thuật” và như tên sách đã ghi rõ “đại cương”, nên người viết đã lược bớt các phần phân tích chi tiết quá tỉ mỉ, chỉ chọn lấy các phần cương yếu, viết thêm phần dẫn nhập, nói chung là tương đối dễ đọc, dễ lãnh hội, hết sức cần thiết cho người bước đầu tiếp cận với mảng Tỳ-đàm bộ. Tiếc là sách đã dừng lại nơi 4 bài Tụng ở  cuối phẩm thứ 8, 4 bài Tụng này cũng chỉ phiên âm chứ không dịch nghĩa, và phẩm cuối của Luận, phẩm thứ 9 Phá trừ chấp Ngã (ĐTK/ĐCTT), T29, tr, 152B-159B) cũng không  được giới thiệu, khiến người đọc có cảm giác như bị hụt hẫng.

* Trung Luận cũng là một tác phẩm vĩ đại của Bồ-tát Long Thọ. Cùng với Thập Nhị Môn Luận của cùng tác giả (No- 1568, tập 30, Pháp sư Cưu-ma-la-thập Hán dịch, 1 quyển) và Bách Luận của Bồ-tát Đề-ba (No 1569, t30, Pháp sư Cưu-ma-la-thập Hán dịch, 2 quyển), Trung Luận đã hợp thành ba bộ căn bản cho giáo pháp của Tông Tam Luận. Nhưng thật ra, ảnh hưởng của trung Luận còn lớn lao hơn rất nhiều. Trung Luận chính là nền tảng của “Tánh Không Luận” (Sùnyavàda) “đã trở thành một thứ khí giới vô cùng sắc bén được trang bị cho một nền triết lý chuyên phá trừ để thiết lập…” (Tuệ Sỹ, Triết học về Tánh Không, nhà xb An Tiêm, S, 1970, tr. 9-10). “Về vai trò lịch sử, trung Luận có một tầm vóc vô cùng vĩ đại trong tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng của đạo Phật, nhất là trong một bối cảnh phức tạp của các hệ tư tưởng tại Ấn Độ lúc bấy giờ” (Tâm Thiện, Lịch sử Tư tưởng và Triết học Tánh Không, Nhà xb Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 94-95). Chính vì tầm quang trọng ấy, nên tuy số lượng trang không nhiều, ĐTK/ĐCTT vẫn sắp Trung Luận với các Luận cùng hệ vào một Bộ riêng là Trung Quán bộ.

Trung Luận được Pháp sư Cưu-ma-la-thập dịch ra Hán văn (N0 1564, tập 30, 4 quyển) gồm phần kệ của Bồ-tát Long Thọ viết (446 kệ, 27 Phẩm) vá phần văn xuôi do Phạm Chí Thanh Mục giải thích. Một số bản giải thích Trung Luận của những tác giả khác cũng được dịch ra Hán văn như: Thuận Trung Luận Nghĩa…của Bồ-tát Vô Trước, Đại sư Cù-đàm Bát-nhã-lưu-chi dịch (N0 1565, tập 30, 2 quyển), Bát Nhã Đăng Luận Thích của Bồ-tát Phân Biệt Minh, Đại sư Ba-la-phả-mật-đa-la dịch (N0 1566, tập 30, 15 quyển), Đại Thừa Trung Quán Thích Luận của Bồ-tát An Huệ, do An Duy Tịnh dịch (N0 1567, tập 30, 9 cuốn).

Về Việt dịch, kể cả bản dịch của HT. Thích Thiện Siêu, hiện chúng ta có được 4 bản Việt dịch về Trung Luận. Bản dịch của HT. Quảng Liên mới chỉ là “Tài liệu lưu hành nội bộ”. Bản dịch của Đại đức Viên Lý chưa tạo được sự kết hợp hài hòa giữa dịch và giải, lại chỉ dịch phần kệ. Bản dịch của Đại đức Tâm Thiện cũng chỉ dịch phần kệ, không dịch phần giải thích của Phạm Chí Thanh Mục, các kệ được dịch ra văn xuôi, nhiều chỗ mang tính chất diễn hơn là dịch, nhìn chung đây là một bản dịch công phu, cẩn trọng. Bản dịch của HT. Thích Thiện Siêu đã theo sát bản Hán dịch của Pháp sư Cưu-ma-la-thập, dịch cả phần kệ và phần giải thích của Phạm Chí Thanh Mục. Các kệ cũng được dịch ra văn xuôi, nơi cuối mỗi Phẩm đều có phần tóm tắt về đại ý của Phẩm ấy, cũng là một thành tựu rất đáng kể nữa trong lãnh vực dịch thuật Hán tạng.

Ngoài Trung Luận, Trung Quán bộ còn có các Luận như: Thập Nhị Môn Luận, Bách Luận, Đại Thừa Phá Hữu Luận, Lục Thập Tụng Như Lý Luận, Đại Thừa Nhị Thập Tụng Luận, Đại Trượng Phu Luận, Đại Thừa Chưởng Trân Luận…, trong tương lai cũng sẽ được dịch ra tiếng Việt.

* Từ một Tông phái của Phật giáo, hình thành, phát triển và một thời thịnh hành ở đất nước Trung Hoa, Duy Thức hay Pháp Tướng đã trở thành một môn học quan trọng, có mặt hầu hết nơi các cấp Phật học ở những nước thuộc Phật giáo Bắc truyền, cũng như được Học giới Âu Mỹ quan tâm hết mực. Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ chấn hưng Phật giáo (1930-1945), nơi chương trình học để đào tạo tăng tài, tại các Phật học đường Nam, Trung, Bắc cũng đều chú trọng tới môn Duy Thức. Tuy nhiên, chúng ta chỉ mới dịch một số tác phẩm ngắn, có tính chất tóm tắt, giải thích, như: Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận (N0 1614, tập 31, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 01 quyển), Duy Thức Tam Thập Luận Tụng (N0 1586, tập 31, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 1 quyển), Duy Thức Phương Tiện Đàm của Đường Đại Viên, v.v… trong khi hai bộ Luận lớn, là căn bản về giáo pháp của Tông Duy Thức đó là Luận Du-già Sư Địa (N0 1579, tập 30, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 100 quyển), thì hầu như ít người biết đến. Do đó, bản Việt dịch Luận Thành Duy Thức của HT. Thích Thiện Siêu ra đời vào đầu năm 1996, quả là một đóng góp lớn cho lãnh vực này.

Tác giả Luận Thành Duy Thức mang tính tập thể, nổi bật nhất là Bồ-tát Hộ Pháp, một Luận sư xuất chúng thuộc hệ Pháp tướng của Phật giáo Ấn Độ thế kỷ VI Trưởng lão, cùng với công sức biên tập, thâu gọn của Pháp Sư Huyền Tráng. Nội dung của Luận giải thích, quảng diễn ý nghĩa hàm chứa trong 30 bài tụng nơi Duy Thức Tam Thập Luận Tụng của Bồ-tát Thế Thân. Bản Việt dịch Luận Thành Duy Thức của HT. Thiện Siêu, ngoài việc theo sát bản Hán dịch, còn có Lời Tựa Viết rất công phu, mang tính Dẫn nhập cao, giúp ích cho người đọc bước đầu tiếp cận với tác phẩm. Phần chánh dịch, người dịch đã nêu ra các Tiểu mục, cho in đậm (gồm 24 Tiểu mục) là những nêu dẫn  rất cần thiết cho độc giả. Sau phần dịch là phần Chú thích. Cuối sách là Phần Phụ Lục, giới thiệu 30 bài tụng về Duy Thức của Bồ-tát Thế Thân (Bản tiếng Phạn, bản chữ Hán, và bản chữ Việt dịch). Nói chung, Luận Thành Duy Thức (bản Việt dịch) cũng là một thành tựu dịch thuật về Hán tạng đáng trân trọng của HT. Bên cạnh Luận Thành Duy Thức, Luận Du –già Sư Địa, chúng ta có thể kể đến Luận Nhiếp Đại Thừa, tác giả là Bồ-tát Vô Trước, cũng được xem là một trong số các bộ Luận nền tảng của Tông Duy Thức, với bản Việt dịch, chú giải rất công phu và cẩn trọng của HT.Trí Quang, theo bản Hán dịch của Pháp sư Huyền Tráng (N0 1594, tập 31, 3 quyển). Nhưng nếu so với số lượng các Luận bản và Luận thích hiện có nơi Du già Bộ trong ĐTK/ĐCTT thì phần Việt dịch của chúng ta còn quá ít ỏi. Đó là chưa kể tới mảng Sớ giải của các nhà Phật học trứ danh ở Trung Quốc. Chẳng hạn về Luận Thành Duy Thức có:  “Thành Duy Thức Luận Thuật Ký”, 20 quyển của Đại sư Khuy Cơ (ĐTK/ĐCTT, NO-1830, tập 43), “Thành Duy Thức Luận Chưởng Trung khu Yếu”, 4 quyển cũng của Đại sư Khuy Cơ (N0 1832, tập 41), “Thành Duy Thức Luận Diễn Bí”. 14 quyển của Đại sư Trí Chu…Tất cả đã cho thấy, để tiến tới việc hoàn thành Đại Tạng Kinh tiếng Việt, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

 Phần sau cùng của Luận tạng theo ĐTK/ĐCTT là Luận Tập Bộ, gồm các Luận và Luận thích không thể sắp vào 4 Bộ kể trên. Ở đây, chúng ta sẽ gặp một số Luận đã được Việt dịch và trở nên quen thuộc như Luận Thành Thật (N0 1646, tập 32, Pháp sư Cưu-ma-la-thập Hán dịch, 16 quyển), Luận Đại Thừa Khởi Tín (N0 1666, tập 32, Đại sư Chân Đế Hán dịch, 1 quyển), Kinh Na-tiên Tỳ Kheo (N0 1670, tập 32, mất tên người Hán dịch, 2 quyển). Đáng chú ý hơn cả là mảng luận về Nhân minh: Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận Bản của Bồ-tát Trần Na với 2 bản Hán dịch của Pháp sư Huyền Tráng (N0 1628, tập 32, 1 quyển) và Nghĩa Tịnh (N0 1629, tập 32, 1 quyển), Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận của Bồ-tát Thương Yết La Chủ (N0 1630 tập 32 Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, 1 quyển), Hồi Tránh Luận của Bồ-tát Long Thọ (N0 1631, tập 32, Đại sư Tỳ Mục Trí tiên và Cù Đàm Lưu Chí Hán dịch, 1 quyển), Như Thật Luận của Bồ-tát Thế Thân (N0 1633, tập 32, Đại sư Chân Đế Hán dịch, 1 quyển). Vì là một lọai “Luận Lý học” nên Nhân Minh đã được biên dịch sang Việt ngữ khá sớm. Trước 1945, chúng ta đã có: “Giới thiệu Nhân Minh học” của HT.Trí Độ, “Nhân Minh Tổng Luận” của Cư sĩ Tâm Minh. Sau 1954, chúng ta có thêm: “Đông phương Luận lý học” của HT. hất Hạnh, Nhơn Minh Luận của HT. Thích Thiện Siêu xuất bản vào cuối năm 1994 vẫn có những nét đặc thù, những đóng góp riêng đáng chú ý. Sách, tiếp theo “Lời nói đầu” vẫn luôn có nơi các dịch phẩm, sách biên soạn của Hòa thượng, các phần danh nghĩa Nhân Minh, Chủ Đích, Khởi Nguyên, Văn Kiến, Các Luận thức của Nhân Minh, Cổ Nhân Minh và Tân Nhân Minh, được xem là Phần dẫn nhập, đối chiếu, rất cần thiết đối với người đọc, nhất là các Tăng, Ni sinh đang theo học tại các trường Phật học (Trung cấp, Cao đẳng, Học viện). Phần chính của sách là Giới thiệu về Tân Nhân Minh (từ trang 42-129), ở đây, tính chất sư phạm đã được người biên dịch cố gắng thể hiện rõ qua việc nêu dẫn các Tiểu mục để tạo nên một Bố cục thuận hợp. Phần đối chiếu “Nhân Minh với Luận Lý học Aristote” (tr.130-137) cũng là những trang viết công phu. Một tham khảo rất tốt cho các Tăng, Ni sinh ở các trường Phật học, cũng như các bạn đọc lớp trẻ. Sách còn có phần Phụ lục gồm bản Việt dịch tác phẩm “Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận” của Bồ-tát thương Yết La Chủ, Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, phần giải thích các từ ngữ Nhân Minh, và bài “Nhân Minh Tổng Luận” của Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, trích từ báo Viên Âm, 1939. Tóm lại, sách “Lối vào Nhân Minh học” của HT. Thích Thiện Siêu là một tài liệu giáo hóa tốt về Nhân Minh học”, đúng như ý nguyện của tác giả đã nêu bày trong “Lời nói đầu”: “để giúp cho người học Phật, trước hết là Tăng, Ni sinh các trường Phật học…(sđđ, trang 6).

Điểm qua các dịch phẩm, soạn thuật của HT. Thiện Siêu về Luận tạng dựa theo Bố cục của Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu như trên, một lần nữa xin hết sức trân trọng về những thành tựu, những đóng góp quý giá cho kho tàng Phật học Việt Nam của một bậc tôn đức luôn tha thiết với sự sống còn của đạo pháp, đồng thời cũng một lần nữa cho thấy con đường đi của bậc tiền bối đáng kính ấy cần được nối tiếp, để cho câu hỏi từng vang vọng hàng nửa thế kỷ qua đối với Phật giáo Việt Nam: “Chừng nào Phật giáo Việt Nam hoàn thành Đại Tạng Kinh Tiếng Việt?” sớm có lời đáp thỏa đáng. 

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11/2001

 

 

VÀI CẢM NIỆM VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

 LÝ VIỆT DŨNG 

 

Chúng tôi không cầm được nước mắt tiếc thương khi hay tin Hòa thượng Thích Thiện Siêu thiên hóa. Tòa sọan báo Giác Ngộ có tạo phương tiện ho tôi được “quá giang” ra Huế để phúng viếng Giác linh Ngài, nhưng khổ thay, lúc đó tôi bị chấn khớp kinh niên, phải nằm dài ngày một chỗ không thể thực hiện ý định. Hôm nay nhân lễ Tiểu tường của Hòa thượng, tôi xin được viết mấy dòng chân thành coi như điếu viến tang muộn, đồng thời ký thác nỗi niềm Hoài cảm mà tôi trực nhận, ngưỡng mong Giác linh  Ngài sẽ vui nghe. Tôi không viết lời tán dương đạo nghiệp, đạo hạnh cùng học vấn của Hòa thượng cũng như những đóng góp to lớn của Ngài đối với Phật giáo Việt Nam, vì điều này giống như khen Hoàng tử tốt áo và vốn dĩ đã được quá nhiều người nói đến rồi. Tôi chỉ chân thành ghi lại một vài cảm niệm về Hòa thượng mà qua đó độc giả sẽ tự đánh giá chính xác tính cách độc đáo của Ngài: Khiêm ái, cẩn trọng, bao dung, thẳng thắn, nhiệt tình…trong mọi đối xử.

Những điều tôi trình bày dưới đây không mang phong cách thiền lý cao siêu, đạo vị sâu mầu nghiêm trang gì cả, mà chỉ là vài kỷ niệm buồn vui giữa hai con người ý trung loan phượng mà cảnh ngoại sâm thương.

Tôi không được thân cận Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu vì hai lý chính:

Hòa thượng là vị Cao Tăng thuộc hàng Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội Phật giáo Thừa Thiên nói riêng và cả nước nói chung, còn tôi, nếu hiểu cho thật đúng thuật ngữ Phật học, thì chưa thể gọi là cư sĩ mà chỉ là thế tục, nên đương nhiên ít có cơ hội gần gũi nhau qua sinh họat đạo đời.

Ngài trụ trì Từ Đàm-Huế, thỉnh thoảng mới vô Tp. Hồ Chí Minh để giải quyết Phật sự cần yếu, còn tôi thường chỉ sống quanh quẩn ở một vùng thôn quê tại Đồng Nai, lại cần phải cấp tập “chạy sô” các đạo tràng kiếm sống, nên có thể vì như sâm thương đôi ngả.

Tuy nhiên, như Thiền ngữ có nói: “Vạn lý đông phong”, nghĩa là hai cá nhân có thể cách xa nhau ngàn dặm, hoàn toàn khác biệt về mọi sinh hoạt trong cảnh đời, nhưng tinh thần vẫn đương nhiên dung hợp gấn gũi nhau. Đó là ý nghĩa lần đầu tiên tôi gặp Cố Hòa thượng tại chùa Già Lam hồi năm 1990. Ở bài thượng sĩ hành trang, sách “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” có đoạn vua Trần Nhân Tông viết về thầy mình: “Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ, cố năng thiệu long pháp chủng, dụ dịch sơ cơ, nhân hoặc tham tầm, lược thi cương yếu, lịnh kỳ trụ tâm…, nghĩa là: Chung đụng thế tục, hòa hợp nhạy bén, trong đối xử cùng đời chưa hề đụng chạm mích lòng ai, nhân đó tiếp nối mạnh mẽ hạt giống Pháp, dìu dắt nâng đở kẻ mới học đạo. Người nào đến hỏi han cũng được Ngài chỉ qua cho chỗ cương yếu để họ trụ được tâm…”.

Điều này được thể hiện rất rõ nét qua lần gặp gỡ đầu tiên đó, bởi thành thật mà nói, dù hão chớ không phải thật, nhưng ngày nay ở chừng mực thấp thôi nào đó, tôi cũng có chút danh còm trong giới văn hóa Phật giáo qua việc viết lách, nghiên cứu, dịch thuật Phật kinh hoặc kèm cặp Tăng, Ni sinh cơ luyện dịch Hán Tạng, vô hình chung cũng được một số người biết đến, còn ở đầu thập niên 90 thì coi như tôi còn chưng trong cẳng phèn trong giới Phật học, vậy mà chẳng qua ai giới thiệu, tôi vẫn được Cố Hòa thượng  tiếp niềm nở ở chùa Già Lam và chúng tôi thành bạn đạo luôn cho tới khi Ngài thiên hóa. Số là thời đó phim tây Du Ký của đạo diễn Dương Khiết được trình chiếu lần đầu tiên ở Việt Nam và nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt của mọi giới. Nhưng cái gì cũng có mặt trái của nó và bộ phim này ở hồi 82 hay 83 gì đó, mà lâu rồi chúng tôi cũng quên mất, có diễn tả cảnh hai Tôn giả A-nan và Ca-diếp đòi quà Đường Tăng ở lầu kinh Lôi Âm tự. Không biết vô tình hay cố ý mà nữ sĩ Dương khiết đã hề hóa hai vị Bồ-tát khiến một số tín đồ Tôn giáo bạn ít hiểu biết về Phật lý, chủ yếu là Thiên Chúa Giáo, đã mượn cơ hội này dè bỉu Đạo Phật nặng nề. Báo chí cũng rộ lên đăng những bài phản biện của giới nhân sĩ Phật giáo, cả Tăng lẫn tục, nhưng xem ra chưa thuyết phục lắm. Búc xúc trước vấn đề trên, mà cũng tức khí sằng, tôi quyết tâm viết một bài phản biện dài, nặng ký và có để được tính chính qui cùng bảo đảm luận cứ xác đáng, tôi đã chịu khó lội khắp các chùa chiền, hang động, chòi cốc, hỏi nhiều kì nhân dị sĩ hai giới Tăng tục, trong đó có Đạo sĩ quá cố Bùi Giáng, và một buổi chiều tàn nhạc nắng tôi hỏi thăm địa chỉ rồi đến chùa Già Lam mà chưa biết gặp ai! Một Đại đức thị giả vốn là môn sinh theo lớp Hán Nôm với tôi mách nước là lên gặp và bàn hỏi vấn đề với Ôn Thiện Siêu, là một Cao Tăng mới từ Từ Đàm, Huế vô, nhưng ngần ngại không dám dẫn tôi lên lầu chỗ Hòa thượng nghỉ, vì e sợ Ngài không tiếp. Vốn tánh hồn nhiên pha chút bướng, tôi cảm ơn thị giả, tự động lên lầu, gõ cửa phòng. Bên trong Hòa thượng hỏi giọng Huế tất từ tốn. Tôi trả lời khách lạ muốn hỏi đạo pháp trong Tây Du Ký. Cửa xích mở và trước mặt tôi một Cao Tăng vẻ mặt điềm đạm, dáng người nhỏ, thanh tú mỉm cười mời tôi vào bên trong, tự tay rót trà đãi khách. Sau khi nghe “thông qua tên họ” và biết ý định của tôi, Hòa thượng rất phấn khích và cho biết chính Ngài cũng bức xúc muốn tỏ thái độ trên báo chí nhưng vì quá bận rộn Phật sự chưa viết được nên cũng sốt ruột lắm, nay có người làm thay thì quý biết bao. Thế rồi, sau khi tán đồng luận cứ của tôi, Hòa thượng lại đem Nhân minh ra góp ý thêm để đặt vấn đề cho đúng “tử huyệt” đối phương, hãy đánh sập tà kiến kiêu mạn sằng.

Sau đó thì do “thoại tương đầu” nên câu chuyện đi ra khỏi vấn đề Tây Du Ký khá xa, chuyển sang Thiền và tôi không nhớ Hòa thượng đã gọi thị giả thay trà bao nhiêu lần, nhưng khi ra khỏi cổng chùa Già Lam, tôi nhìn đồng hồ thì đã 10 giờ đêm. Và sau đó, khi bài báo khá nặng kí (dài 12 trang) được đăng trên báo “Mỹ Thuật thời Nay”, rất được dư luận hoan hỷ tiếp nhận, thì tôi được thư Hòa thượng từ Huế với nội dung khen ngợi và sách tấn dấn thân thêm. Điều này phải khiến tôi nhủ thầm “À thì ra Cao Tăng Huế cũng có người bình dị thân thiện đó chứ”, nào phải như dư luận nặng thành kiến gán ghép đâu!.

Rồi thơi gian đi khá lâu, lâu lắm, tôi ít được gặp Hòa thượng. Lúc được sư Tâm thiện tin cậy giao phó giữ mục Phật học vấn đáp cho Nguyệt san Giác Ngộ, tôi có giúp sư rà lại bản dịch Trung Quán luận của Ngài Long Thọ. Sau khi sách phát hành ít tháng, qua tòa sọan báo Giác Ngộ, tôi nhận được một bức thư của Hòa thượng và qua thủ bút, Ngài có mấy nhận xét chân tình khen tôi đã mạnh dạn giải đáp khá chính xác một số thắc mắc của độc giả qua những bài trả lời câu hỏi trên báo, nhưng cũng chân tình nêu chỉ tôi mấy điểm nhầm lẫn về luận Trung Quán mà tôi đã “thầy cò” cho Tâm Thiện. Tôi hết sức mừng rỡ vì được Hòa thượng khen lẫn chê chân tình.

Rồi thời gian tiếp tục qua mau. Lúc này tôi phụ trách lớp gia giáo luyện dịch Hán tạng tại chùa Viên Giác của Thượng tọa Lệ Trang được gần tám tháng. Một buổi sáng nọ hai Thượng tọa Lệ Trang và Minh Thông dẫn một vị Tăng sinh người Huế, Pháp danh Không Nhiên đến lớp xin theo học và giới thiệu đó là môn đồ của Hòa thượng Thiện Siêu. Sau khi hai vị Thượng tọa rời khỏi lớp, sư Không Nhiên mở cặp lấy hai phong thơ đưa cho bảo là của Hòa thượng gởi trực tiếp cho tôi. Trong hai thư này, một là bức thư chữ vi tính dưới dạng văn thư hành chánh gởi chùa Viên Giác giới thiệu sư Không Nhiên đến học có chữ ký của Hòa thượng và con dấu chùa Từ Đàm. Còn bức thứ hai là thơ tay, qua thủ bút nội dung đại khái Hòa thượng xin lỗi vì bệnh và tuổi cao không thể đích thân đưa đệ tử đến xin theo học cho đúng lễ mà phải dùng hình thức giới thiệu nhờ sư Minh Thông chùa Huệ Nghiêm, dẫn Không Nhiên đến lớp và như vậy theo Hòa thượng là thiếu lễ suy tư. Thật là trọn Khiêm cung!

Ôi vĩ đại thay phong cách của vị Cao Tăng đất Thần kinh. Phong cách này rất Huế, rất Bách Trượng thanh quy, rất Thiện Siêu! Phong cách này rất ít thấy ngày nay!

Thỉnh thỏang tôi có việc đến gặp Thượng tọa Trung Hậu, và qua người bạn văn chương Phật giáo này, tôi vô cùng xúc động khi được biết mỗi lần Thượng tọa ra Huế dạy và vấn an Hòa thượng thì Ngài luôn dặn phải hết sức chiếu cố các bài viết của tôi gởi báo Tập văn và nhắn lời lại là ngoài Huế, Hòa thượng luôn theo dõi xít sao những gì tôi viết trên báo và sách tấn các môn đồ Ngài phải năng đọc các bài đó. Càng cảm động hơn là mỗi lần vào Tp. Hồ Chí Minh, Hòa thượng đều nhắn các Thượng tọa chuyển lời rủ tôi đến chơi.

Có lần Thượng tọa  Phước Sơn cho người tìm tôi đến Vạn Hạnh bảo: Hòa thượng đang bệnh nhiều, lệnh cho Thượng tọa  “tìm xem Lý Việt Dũng ở đâu mời đến gặp Thầy vì thầy nhớ lắm!”

Tôi thật không ngăn được giọt lệ cảm xúc trước lời xưng hô thân mật nặng tình “huynh đệ trong nhà” như thế. Rồi theo chân Thượng tọa Phước Sơn, tôi qua Thiền thất của Thượng tọa Chơn Thiện ở để gặp Hòa thượng đang nằm dưỡng bệnh tại đó lúc 17 giờ. Vào đến cửa, chú thị giả ngăn lại vì có lệnh của bác sĩ, Hòa thượng cần yên nghĩ không tiếp ai. Nghe tiếng tôi kêu lớn “Hòa thượng ơi, thằng Dũng đây”. Là chẳng đợi ai  dìu cả, Ngài ngồi bật dậy ra mở cửa ôm choàng lấy tôi mừng rỡ lôi vào trong. Thượng tọa Phước Sơn là người rất kín đáo tình cảm, vậy mà tôi thấy hôm đó đôi mắt Thượng tọa ươn ướt ngấn lệ cảm động.

Sau lời thăm hỏi về bệnh tình được Hòa thượng trả lời qua loa vì hình như Ngài không chú ý đến thân bệnh của mình, câu chuyện chuyển sang công tác Phật sự về lãnh vực văn hóa. Ngài chăm chú lắng nghe tôi “báo cáo” những việc đã làm được, chưa làm được và dự định sẽ làm thuộc các địa hạt như phiên dịch bộ Thiền Tạng, trả lời trên báo Giác Ngộ, dịch giải các bộ sách Thiền Việt Nam, chủ yếu là Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, các tác phẩm Hán Văn Nam bộ, chủ yếu là Gia Định thành thông chí, bộ tự điển Việt Hán, công việc hướng dẫn các lớp chuyên dịch Hán tạng v.v..

Hòa thượng lắng nghe gương mặt lúc thì tỏ vẻ thích thú trước những kết quả đạt được cũng như dự định hứa hẹn tương lai. Lúc lại đăm chiêu chia sẻ những khó khăn vấp phải, lúc hồ hởi trước những quyết tâm phải vượt khó khăn, Ngài ôn tồn chia vui, sẻ buồn, góp ý bổ sung kế họach tương lai, mớm kế thực hiện việc đang làm…nói chung là toàn khen lao sách tấn, chí tình nhất là câu “Một tục lữ như thầy mà làm được khối công việc như thế thì có khác gì công đức nhà sư đâu. Cố lên Dũng nhé!”

Hòa thượng luôn khoát tay khi chú thị giả đến nhắc nhở lời bác sĩ khuyên Ngài không được tiếp khách lâu.

Cuộc tiệc nào rồi cũng phải tàn, lần trùng hoàn nào rồi cũng tới lúc phải chia tay. Khi tôi và Thượng tọa  Phước Sơn bước xuống bậc thềm Thiền Thất của Thượng tọa  Chơn Thiện thì toàn khu Vạn Hạnh đều đã lên đèn từ lâu, lâu lắm.

Kể từ lần đó, tôi không bao giờ còn gặp lại Hòa thượng Thiện Siêu nũa! Cuộc đời là thế!

Lúc Hòa thượng trở bệnh nặng an dưỡng tại Thiền thất của Ngài ở chùa Từ Đàm là lúc một độc giả của tôi, gởi thư nhờ báo Giác Ngộ dịch giải hộ bài tựa kinh Pháp Hoa của luật sư Đạo Tuyên. Đây là một bài rất lý thú nhưng cũng hóc búa, chưa được ai dịch giải cả. Tôi uống mật gấu dịch giải bài này rồi thừa thắng dịch luôn bài tựa kinh Pháp Hoa của Tăng Duệ. Dịch giải xong, theo thói quen tôi gởi tới các Cao Tăng nhờ chỉ giáo, trong đó có Hòa thượng Thiện Siêu, Thượng tọa  Lệ Trang cười tôi vì nghĩ Hòa thượng đang lâm bệnh ngặt nghèo thì làm sao đáp ứng nguyện vọng của tôi chứ? Cũng có lý, nhưng rồi thư gửi đi chưa đầy tuần lễ là tôi vô cùng cảm động nhận được thư từ Huế, trong đó Hòa thượng ân cần góp ý chỗ sai, khen chỗ đúng. Cuối thư Hòa thượng viết: “Thầy Dũng, tôi bây giờ già yếu lại bệnh nặng nên mệt lắm không làm gì được, nhưng trước yêu cầu chính đáng của Thầy, tôi phải ôm bệnh đáp ứng ngay như những điều viết ở đầu thơ. Cuối thơ xin chúc thầy thành công trên con đường Hoằng dương Chánh Pháp mà thầy đã can đảm chọn và quyết tâm thực hành”.

Ký tên

Thiện Siêu

 Bức thư dung dị bình dân là thế. Trước chữ Thiện Siêu không có lấy một danh xưng cỏn con! Tôi gởi thơ hỏi ý sáu cao Tăng, chỉ nhận được duy nhất hồi đáp của Hòa thượng Thiện Siêu!

Để khép lại bài viết này, tôi xin lấy lời chúc của Hòa thượng làm mục tiêu cuối đời và quyết thực hiện cho được mục tiêu đó trong khả năng có được của mình và tôi nghĩ rằng Giác linh Ngài sẽ mỉm cười bảo: “Tay này tuy hắn luông tuồng mà cũng được đấy!”.

 

 

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM ÔN TỪ ĐÀM

THÍCH TỪ VÂN

 

 

Nhớ hôm ấy đất trời u ám lắm,

Lòng người buồn nên cảnh chẳng vui chi

Ôn ra đi, kính tương người ở lại,

Để thu buồn nước mắt những ngày qua,

Cũng hôm ấy chư thiên đều bận rộn,

Đón một người sắp dự hội Long Hoa,

Hay là về nơi Thượng phẩm hoa sen,

Bây giờ Ôn đã về nơi cõi tịnh,

Là xa lìa nơi uế độ trần gian,

Nhập chân như pháp giới chốn vô cùng,

Ôn ra đi Đạo, Đời ôi mất mát! 

 

*

Trời xứ Huế một vì sao khuất bóng,

Mà trong con ánh sáng vẫn còn soi,

Con vẫn nhớ những lời Ôn dạy bảo,

Hình bóng Ôn từ nay còn đâu nữa,

Hải triều âm ngày cũ vẫn còn vang,

Đôi mắt người từ nay thôi khép lại,

Mà hào quang vẫn tỏa sáng trăng rằm.

Suốt một đời hoằng dương là chí nguyện,

Giờ phút cuối nằm yên trên giường ngủ,

Mà như thấy vẫn còn đang thao thức,

Lo cho đàn hậu bối biết sao đây.

Còn đâu nữa những ngày bên áng sách,

Dịch kinh luận tặng cho đời hoa đạo,

Còn đâu nữa những ngày trên bục giảng,

Lý đạo mầu Ôn bày giải phân minh.

Nhớ năm nào xứ trầm làm Viện trưởng,

Khai đạo giới tử, dắt dẫn hậu lai,

Đã bao lần Ôn ra Bắc giảng dạy,

Rồi vào Nam tiếp tục việc hoằng truyền.

Tiếng pháp âm vẫn còn vang đâu đó,

Giáo hóa suốt một đời không mỏi mệt,

Nhớ Ôn tiếng nói ging cười thanh thóat,

Ung dung người người phạm hạnh đất Thần Kinh,

Vào Quốc Hội an nhiên trên Nhị đế,

Suốt một đời lợi sanh là lẽ sống, 

 

*

Nhưng thế gian có sanh là có diệt,

Chỉ chân như là vĩnh viễn thường hằng.

Dưới đài sen con ngưỡng nguyện trông lên,

Thành kính nguyện Ta bà Ôn trở lại,

Để hoằng truyền giáo pháp của Như Lai,

Tiếp dẫn chúng sanh vuợt qua bể khổ,

Giúp mọi người dứt bỏ những lầm mê,

Cho tất cả được an vui pháp Phật,

Và chyển hóa trần gian thành Tịnh Độ. 

 

 

HOÀI NIỆM

NGUYÊN TỊNH 

 

Dù rất dễ mũi lòng, mau nước mắt, tôi vẫn tự nhủ lòng chớ có khóc. Khóc lóc có làm chi được, có cứu vãn chi được sự tình nầy. Khóc lóc cho nhiều cũng vậy thôi! “Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển, ngã diệt thiên thu lụy vạn hàng”. Vả, ở chùa, khóc lóc e không hợp cảnh. Khóc lóc chứa nhiều hệ lụy trần thế quá. 

Đằng này, sanh tử thường nhiên. Người đã đến đây trụ thế, Người phải ra đi. “Trong tiết vong xu, thi tử như quí khứ.” Người đã an nhiên thị tịch, 16 giờ 30 ngày 17.8 Tân Tỵ (3.10.2001). Người trút hơi thở cuối cùng nhẹ nhàng, ra đi thanh thản. Trước đó, trong những ngày cuối tại Bệnh viện Huế, Người đã trả lời vợ chồng bác sĩ đến thăm và hỏi về tình hình sức khỏe của Người: Tôi chỉ đau về thân, tâm tôi không hề đau. Người đã điều trị tâm, làm chủ tâm. Tâm quá khứ, tâm hiện tại và tâm tương lai nữa. Tâm bình thản. Tâm bất động. Tâm không tham luyến. Ý không điên đảo. Tôi nghĩ đó là một bài thuyết pháp hàm súc cho vợ chồng bác sĩ nọ, cho chúng ta và cho mai sau.

Giờ, Người đã đi xa. Nhưng cả cuộc đời đạo hạnh sáng ngời của Người vẫn chiếu soi thiên thu bất tuyệt. “Hạnh thầy thắp sáng lối con đi”. Người đã từ giã cõi đời nhưng Người đã để lại cho đời những dấu son, dấu ấn rõ nét. Pháp âm vi diệu của Người vẫn được tuyên dương, vẫn còn vang vọng đến mai sau. Những gì vô ảnh, vô hình, toát ra từ cuộc đời giản dị, lặng lẽ, từ hòa, khiêm cung của Người vẫn im đậm dấu ấn nơi nơi, chốn chốn. 

“Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt

Viện tiền sơn thủy thị chân hình”

(Bạn hiền thôi cũng đừng thương tiếc,

Non nước ngoài am đó dáng xưa.)

  (Ngô Tất Tố dịch)

Non nước, hoa lá, cây cảnh ở trước sân chùa mang đậm hình ảnh của Người. Dáng xưa của Người còn đọng lại với thời gian. Là con Phật, đệ tử của Người ai nấy phải biết lắng nghe, lặng nhìn, chiêm ngưỡng, thưởng thức ý vị những bài pháp thoại tỏa ra lặng lẽ từ sơn thủy dáng xưa đó.

 Nhớ Giác linh  người, lúc vừa 19 tuổi đời, Người đã dịch kinh Lăng Nghiêm, tiếp nối sự nghiệp của Thầy mình, viết những bài khảo cứu về giáo lý nhà Phật đăng tải ở tạp chí Viên Âm và đã bắt đầu sự nghiệp giáo dục Tăng, Ni ở cố đô Huế. Như người viết bài nầy, vô duyên, xấu số, phận đã dành. Còn những ai kia, khi nhẩm lại lời Phật “Bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ” chắc phải có những suy tư, trăn trở không ít. Năm 26 tuổi, Người được Giáo hội cử giữ chức vụ Trú trì Từ Đàm cho đến ngày thị tịch, Ở nhà của Phật, duy trì đạo thống, giáo lý của Phật, chức vụ ấy khó lắm thay!

Người là bậc thầy trí đức song toàn, chân tu thực học, ứng phó tùy duyên, mọi việc Phật hoàn mãn. Nhưng điểm sáng của Người, theo tôi nghĩ, là ở lĩnh vực giáo dục tăng ni. Người đã giảng dạy giáo lý Phật bằng ngôn từ lập luận giảng dị, khúc chiết. Ngoài ra, còn cả thân giáo, ý giáo nữa. Đó là phương thức giáo dục lý thuyết-thực hành, học-tu, tu-học hoàn chỉnh. Đi, đứng, nằm, ngồi, cách uống trà, cách dùng cơm…của Người đều là những phương thức giáo dục, giáo dưỡng trực tiếp. Bởi chúng đều có ngôn ngữ lắng đọng riêng. Thời Phật tại thế, nhiều đệ tử của Ngài đã đắt đạo nhờ sự gần gũi, tiếp xúc trực tiếp với nhân cách của Phật.