Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm Đại Lão
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu


...... ... .

 

PHẦN III

 

 Thơ văn tưởng niệm

 

(3)

 

HÒA THƯỢNG THIỆN SIÊU

Người không chấp trước những thị phi thế trị

Nguyễn Ðắc Xuân

 

Hồi nhỏ ba tôi đưa tôi lên quy y với Hòa thượng Ðôn Hậu tại chùa Thiện Mụ (1956), nhưng sau lớn lên học Ðại học, vào Ðoàn Sinh viên Phật tử (1963), tôi lại tham gia đấu tranh Phật giáo tại chùa Từ Ðàm (193-1966). Hòa thượng Thích Thiện Siêu là một trong những vị lãnh đạo của tôi lúc ấy.

Trong Ðoàn Sinh viên Phật tử, tôi thuộc vào loại actif[1] như các bạn Tôn Thất Nguyễn Văn, Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường... ít khi chịu gò mình vào cái chủ trương bất bạo động của Phật giáo. Chúng tôi hay bày trò khiêu khích công an cảnh sát, tổ chức biểu tình, tuyệt thực tranh đấu khi chưa được lệnh của quý thầy. Vì thế tôi hay bị thầy Thiện Siêu quở trách. Biết mình có lỗi nên mỗi lần bị thầy kêu lên là tôi váy ngay và xin nhận lỗi, hứa từ đó về sau sẽ không dám hành động "trật đường rầy"[2]

nữa. Khi hứa, tôi rất thành thực, nhưng sau đó chứng nào lại tật ấy. Tôi tái phạm đều đều. Thầy thấy tôi ít phục thiện nên thầy không thèm quở trách nữa mà đổi qua biện pháp giận. Hòa thượng vốn bản tánh rất hiền, nên thấy thầy giận tôi rất sợ và tìm cách lẩn tránh thầy. Ðầu tháng tư năm 1966, do yêu cầu chi viện cho Ðà Nẵng, sinh viên Huế lập ra Ðoàn Sinh viên Quyết tử và bầu tôi làm Ðoàn trưởng lo tổ chức cho sinh viên đi học quân sự để đánh nhau với quân đội Thiệu Kỳ. Tin ấy lên chùa Từ Ðàm, quý thầy lãnh đạo phong trào gọi tôi lên. Linh tính báo cho tôi biết lên chùa Từ Ðàm lúc ấy là mệt lắm nên tôi lần lữa khất chưa dám lên. Các thầy lại gọi, cuối cùng tôi tìm được một giải pháp là trình diện với thấy Thiện Siêu trước. Dù sao thầy cũng không nỡ kỷ luật tôi một cách nặng nề. Và quả như thế.

Thấy tôi dẫn xác đến, thầy nén giận hỏi ngay:

-         Anh là Ðoàn phó Ðoàn Sinh viên Phật tử, Phật tử là bất bạo động, tại sao lại đi tổ chức sinh viên quyết tử gây bạo đông?

Câu hỏi như một trái núi đổ xuống trước mặt tôi, biết không thể vượt qua nên tôi tìm cách chạy quanh:

-         Bạch thầy, con biết như rứa là sai, do anh em sinh viên họ bầu nên con không nỡ từ chối. Nhưng tụi con mà chiến đấu chi được, đi học quân sự để tự vệ thôi. Kính mong quý thầy xá tội!

Thầy bảo tôi rất nhỏ nhẹ nhưng nội dung thật cứng rắn giống như một quyết định:

-         Anh là sinh viên, anh muốn đấu tranh theo kiểu gì tùy anh, nhưng Phật tử thì phải theo Phật, phải bất bạo động. Anh muốn theo sinh viên thì phải từ chức Ðoàn phó Sinh viên Phật tử và ra khỏi Ðoàn Sinh viên Phật tử ngay!

Là một Phật tử, dù sao tôi cũng phải thực hiện cái nguyên tắc tối thiểu là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cho nên tôi không thể làm trái ý thầy Thiện Siêu - người đại diên cho quí vị thiền sư lãnh đạo phong trào tranh đấu năm ấy. Tôi chắp tay hứa với thầy sẽ thực hiện theo quyết định của quý thầy. Nhưng may sao, nhiều sinh viên Phật tử tham gia Ðoàn Sinh viên Quyết tử không đồng ý việc tôi ra khỏi Ðoàn Sinh viên Quyết tử. Tiếp đến nhiều sự kiện tranh đấu ác liệt diễn ra liên tục, Thiệu Kỳ với sự ủng hộ của chính phủ Mỹ Johnson ngày một ngày hai đe dọa làm cỏ phong trào miền Trung. Không những Ðoàn Sinh viên Quyết tử không giải tán mà nhiều giới khác như công chức Phật tử, giáo chức Phật tử, học sinh Phật tử, nữ sinh Ðồng Khánh cũng đoàn ngũ hóa để tự vệ. Ngay cả Gia đình Phật tử thuần túy Phật giáo cũng phải tổ chức thành các đội Bách nhân (Bách nhân đội) để học quân sự, đối phó với sự đe dọa của quân đội Thiệu Kỳ. Tôi thoát được việc thi hành quyết định phải giải tán Ðoàn Sinh viên Quyết tử của thầy Thiện Siêu. Nhưng không lâu sau đó, Thiệu Kỳ và chính quyền Thừa Thiên - Huế (đứng đầu là tỉnh trưởng Phan Văn Khoa) làm áp lực với Phật giáo đòi để họ vào chùa bắt ba người là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Ðắc Xuân. Thầy Thiện Siêu và các thầy lãnh đạo ở chùa Từ Ðàm phản đối quyết liệt với chính sách của chính quyền Thiệu Kỳ. Thầy Thiện Siêu hỏi tỉnh trưởng Phan Văn Khoa: Anh là Phật tử, các cậu ấy cũng là Phật tử, tại sao anh đòi bắt họ? Bị hỏi bất ngờ, Phan Văn Khoa đành ngậm miệng rút lui.

Biết không thể có mặt ở Huế thêm nữa, hai anh em Hoàng Phủ liên lạc được với Thành ủy rồi thoát ly. Còn tôi phải ẩn mình trong chùa Diệu Ðế để tiếp tục công việc trong đài phát thanh Cứu nguy Phật giáo đặt ngay trong chùa. Sau đó được tin Thiệu Kỳ sẽ truy bắt tôi, các thầy bảo tôi phải rời chùa Diệu Ðế ngay để tránh khỏi bị bắt như hồi tháng 8.1963 nữa. Tôi mượn áo cà-sa mặc vào, giả làm một Ni-cô và được hai sinh viên Quyết tử (cũng là sinh viên Phật tử) là Phạm Văn Rơ và Cao Hữu Ðiền[3] hộ tống lên chùa Từ Ðàm. Lên chùa được hai hôm, thầy Thiện Siêu gởi tôi vào ẩn ở chùa Kim Tiên của thầy Chánh Trực. Ở Kim Tiên được một tuần, tôi lại chuyển qua Tường Vân. Ðể có thể thoát được sự theo dõi của bọn tình báo, tôi được thầy Chơn Tế cạo đầu cho giả làm một nhà sư của chùa. Nhưng rồi ở Tường Vân cũng không yên, nhiều lần bị lính Nùng của Thiệu Kỳ vây bắt. Nếu không có được sự che chở của các thầy chùa Tường Vân thì tôi đã nát thây với lính Thiệu Kỳ từ cuối tháng 6.1966 rồi. Không ngờ chùa Tường Vân nằm trong địa bàn lõm của Thành ủy Huế. Tất cả những căng thẳng đe doạ diễn ra hằng ngày đối với tôi ở chùa Tường Vân, Thành ủy Huế đều biết. Ðến đầu tháng 7.1966, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Thành ủy Huế trên chiến khu gởi thư rủ tôi ra bưng nghĩ một thời gian chờ tình hình đàn áp của Thiệu Kỳ lắng xuống rồi sẽ trở lại Huế. Sống với các thầy nhiều năm, ranh giới giữa Phật giáo và Mặt trận Giải phóng trong tôi rất mờ nhạt, cho nên khi nhận được thư anh Tường từ chiến khu gởi vào, tôi thấy không có gì bất ngờ cả. Hơn nữa, trước đó không lâu (5.1966), hai ông bạn tôi là N.N.L và Trịnh Công Sơn đã trao đổi với tôi về lối thoát cho các cuộc tranh đấu lúc đó là con đường của Mặt trận Giải phóng. Cho nên cái thư của anh Tường trở thành lối thoát của tôi. Mấy hôm sau tôi ra đi trong bộ cà-sa của một nhà sư (10.7.1966). Không chỉ một thời gian ngắn như anh Tường viết mà rong ruổi xuôi ngược Trường Sơn đến chín năm (1966-1975).

Lên rừng tôi có nhiều dịp kể lại vai trò của Hòa thượng Thiện Siêu trong các phong trào tranh đấu ở đô thị. Các vị lãnh đao Thành ủy (đứng đầu là ông Lê Tư Minh) bảo tôi: Sẽ mời Hòa thượng Thích Thiện Siêu tham gia Mặt trận Liên minh của Thành phố Huế. Sau mùa Xuân 1968, tôi được biết người được cử đi mời Hòa thượng Thích Thiện Siêu không hoàn thành nhiệm vụ. Người thay vào vị trí dự kiến của Hòa thượng Thích Thiện Siêu là Hòa thượng Thích Ðôn Hậu - bổn sư của tôi.

Từ sau năm 1975, vì công tác tôi không có nhiều dịp được hầu chuyện Hòa thượng Thiện Siêu. Nhưng những lần gặp Hòa thượng ít ỏi đó cũng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Những kỷ niệm này đã sống dậy trong tôi suốt thời gian Hòa thượng nằm chữa bệnh rồi viên tịch cách đây vài tháng.

Vào năm một ngàn chín trăm tám mấy tôi không nhớ, vô tình tôi được xem một cuộc trưng bày về văn hóa Phật giáo Thừa Thiên - Huế ở Nhà giảng chùa Từ Ðàm. Vốn là một Phật tử nhưng tôi không ngờ các chùa Huế còn giữ được những hiện vật văn hóa Thuận Hóa Phú Xuân phong phú, quí hiếm đến như thế. Ví dụ như chiếc chuông đồng đúc thời Cảnh Hưng, bản Kinh Kim Cương thêu trên gấm đời Cảnh Thịnh... Bên cạnh những cổ vật còn có những chậu cảnh cổ thụ hàng trăm năm, những Bonsai hết sức mỹ thuật. Cuộc trưng bày gợi cho tôi viết một bài báo ngắn đăng trên Người Du Lịch Thành phố Hồ Chí Minh với nhan đề Chùa Huế - nơi gìn giữ những báo vật quốc gia. Sau đó tôi xin gặp Hòa thượng Thiện Siêu đề nghị Phật giáo nên xin phép Nhà nước thành lập một Bảo tàng Văn hóa Phật giáo tại Huế để cho khách du lịch trong và ngoài nước thưởng lãm. Hòa thượng Thiện Siêu bảo tôi với tất cả sự dè dặt của một vị lãnh đạo tinh thần đã trải qua biết bao thăng trầm sóng gió:

-         Xin Nhà nước cũng được thôi. Nếu có cơ hội dùng văn hóa để Hoằng dương Ðạo pháp thì không có chi tốt cho bằng. Nhưng ai làm, lấy tiền đâu mà làm, làm rồi ai coi ngó? Bây giời thầy cúng thì nhiều chứ tìm thầy coi sóc nhà Bảo tàng Văn hóa đâu phải chuyện dễ. Chưa có con người thì chưa tính chi cả.

Tôi rất thấm thía lời chỉ dạy của Hòa thượng. Chuyện thiếu người có đạo đức, có chuyên môn để làm việc đâu phải chỉ riêng của Phật giáo? Tôi được đọc nhiều bài báo, được biết đài ngoại quốc vu khống Hòa thượng là sư quốc doanh, tay sai của chính quyền xã hội chủ nghĩa. Tôi phản ánh chuyện ấy với Hòa thượng, Hòa thượng cười: Họ nói tôi là sư quốc doanh còn may. Anh không biết có người đã gởi thư đe dọa tôi, thậm chí gởi kèm theo cả vài viên đạn nữa. Thế tục người ta có thể làm như thế, còn một người xuất gia như tôi thì... chẳng có gì quan trọng cả.

Ðến đầu năm 1990, sau khi chia lại ranh giới hành chính ba tỉnh Bình Trị Thiên, báo chí dư luận quan tâm đến Trung tâm Văn hóa Du lịch Huế. Tôi nghĩ văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng của Trung tâm Văn hóa Du lịch Huế, với tư cách là Phóng viên tạp chí Sông Hương (bút danh chung cho mục nầy là Người Sông Hương), tôi thực hiện một cuộc gặp gỡ Hòa thượng Thiện Siêu để nói về vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch Huế. Hòa thượng đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của tôi rất thẳng thắn. Hòa thượng không ngại phê phán những hiện tượng tiêu cực của thanh niên Huế hồi ấy. Tôi rất thú vị với những câu trả lời thẳng thắn của Hòa thượng. Tôi muốn qua cuộc gặp gỡ này trả lời cho dư luận thấy sự đứng đắn của Hòa thượng Thiện Siêu. Bài được đăng vào số tháng 5/1990. Không ngờ tình hình chính trị lúc bấy giờ có nhiều phức tạp, một số người có trách nhiệm không hiểu hết chủ trương của Ban biên tập tạp chí Sông Hương và không hiểu con người đích thực của Hòa thượng Thiện Siêu nên đã ngăn chặn việc phát hành số tạp chí trên. Ðiều đó làm cho tôi hết sức đau khổ. Tôi khổ tâm nhất là đã làm rầy rà đến Hòa thượng. Dù Hòa thượng không gọi tôi lên như hồi năm 1966, nhưng tôi vẩn dẫn xác lên và trăm lạy thầy mong thầy thông cảm cho việc số tạp chí có đăng bài trả lời phỏng vấn của Hòa thượng không phát hành được. Tôi không ngờ Hòa thượng xem đó là chuyện bình thường. Hòa thượng bảo tôi:

-         Anh hỏi thì tôi nói. Còn đăng hay không, phát hành được hay không là việc của các anh. Tôi chỉ sợ vì những câu trả lời của tôi gây khó khăn cho anh thôi. Còn đối với nhà chùa thì... A-di-đà Phật!

Tôi có bị khó khăn thật, bị đưa ra khỏi tạp chí Sông Hương, nhưng tôi cam chịu. Biết Hòa thượng không than phiền gì, tôi rất yên tâm.

Sau đó ít lâu, Hòa thượng nhờ người gọi tôi lên để nghe Hòa thượng nói một chuyện quan trọng. Tôi lên ngay và Hòa thượng hỏi tôi:

-         Lãnh đạo và Mặt trận tỉnh đề nghị tôi ra ứng cử Ðại biểu Quốc hội, anh thấy có nên ra không?

Tôi không giấu được sự mừng rỡ, thưa ngay:

-         Trước kia lãnh đạo tỉnh chưa hiểu Hòa thượng nên chưa tin, bây giờ quí vị đã hiểu, muốn mời Hòa thượng ra ứng cử thì Hòa thượng nên ra để Phật tử có được một tiếng nói giữa Quốc hội.

Hòa thượng đã ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đã trúng cử với số phiếu cao. Không những ứng cử một khóa mà đến ba khóa liền. Ðúng như điều anh Hoàng bạn tôi đã viết: Hòa thượng Thiện Siêu là người không chấp trước những thị phi thế trị. Những Phật sự trong quyền hạn của Hòa thượng thì Hòa thượng làm, cho dù cuộc đời kẻ thích người không.

Sau ngày hưu trí (1998), tôi có điều kiện thời gian để thăm viếng Hòa thượng nhiều lần hơn. Tôi được nghe Hòa thượng kể chuyện thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, đại trùng tu chùa Thiền Tôn. Có hôm Hòa thượng kể cho tôi nghe chuyện khi khai mạc Học viện Phật giáo tại Huế, Hòa thượng đã bị những người cùng mặc áo cà-sa như Hòa thượng rượt đánh như thế nào. Ðiều lạ là nhắc lại một chuyện đau thương đến như thế mà Hòa thượng kể với một nụ cười trên môi. Tôi có cảm giác như Hòa thượng đã quá quen với những oan trái của đời mình. Phải chăng vì thế mà có người viết điện chia buồn với Phật giáo bảo rằng Hòa thượng Thiện Siêu viên tịch là đã giải nghiệp. Hòa thượng viên tịch là giải được cái nghiệp đây nghịch cảnh của Hòa thượng chăng?

...Sau thời gian nằm cấp cứu ở Bệnh viện Huế, nhưng không hy vọng cứu được, vào cuối tháng 9 năm 2001, Hòa thượng được đưa về Từ Ðàm để tiếp tục chăm sóc trong tinh thần còn nước còn tát. Lòng dạ các đệ tử của Hòa thượng ở khắp nơi đều hướng về Từ Ðàm, cầu nguyện cho Hòa thượng bớt nỗi đau đớn về bệnh tật để tinh thần được thanh thoát bước vào cõi Niết bàn. Vào chiều ngày thứ 6, 27.9.2001, tôi hân hạnh được các học trò của Hòa thượng cho phép vào bên giường bệnh hầu Hòa thượng lần cuối. Lúc đó Hòa thượng đang nhắm mắt niệm Phật. Biết tôi vào lạy thầy, Hòa thượng mở mắt và nở một nụ cười chào tôi. Tôi hết sức ngạc nhiên, cứ tưởng là Hòa thượng đã mê man rồi, không ngờ Hòa thượng vẫn thanh thản vui tươi, không có gì tỏ vẻ đau đớn và bi thảm trước lúc từ giã cuộc đời cả. Tôi chúc mừng Hòa thượng đã viên mãn được những việc lớn là đại trùng tu chùa Thiền Tôn và tổ chức thành công Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế để đào tạo tăng tài cho Phật giáo trong tương lai. Hòa thượng ngúc đầu khe khẽ và bất ngờ bảo tôi: Chuyện khu Bảo tàng Văn hóa Phật giáo ở Huế cũng được chính quyền quan tâm. Chính quyền đang đi tìm kiếm địa điểm thích hợp. Tôi không còn cơ hội để đóng góp nữa, hy vọng ở những người còn tại thế. Tôi sụp lạy Hòa thượng, xin Hòa thượng hãy yên nghĩ. Những chuyện phải làm thế nào cũng sẽ trở thành hiên thực.

Chuyện Bảo tàng Văn hóa Phật giáo đề cập đến đã mười mấy năm, không ngờ Hòa thượng vẫn nhớ và vẫn theo đuổi cho đến lúc khả thi. Hòa thượng đã thanh thỏa điều bận tâm cuối cùng với tôi vào lần cuối cùng tôi được gặp Hòa thượng.

Sự thanh thản, sáng suốt của Hòa thượng Thiện Siêu trước lúc lâm chung làm cho tôi ngộ ra nhiều điều. Làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến nơi đến chốn. Thấy việc đúng cần phải làm thì làm đến cùng, không sợ trở ngại từ đâu đến. Là một người xuất gia, sống thì Hòa thượng làm việc cho Ðạo và cho dân, chết thì về cõi vô thường, không có điều gì phải bi thương, hối tiếc cả. Hiểu được cuộc đời của Hòa thượng Thiện Siêu, tôi hiểu hơn về những nghịch cảnh của đời tôi.

Ba mươi tám năm (1963-2001) được gần gũi Hòa thượng, tôi chưa làm được bất cứ điều gì để cho Hòa thượng vừa lòng. Trái lại, với cái phong cách actif của tôi, tôi đã gây cho Hòa thượng quá nhiều phiền muộn. Hôm nay chắp tay sám hối trước bàn thờ Hòa thượng, tôi nẩy ra một điều tâm niệm: Nếu được mời tham gia xây dựng Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Huế, tôi xin đề nghị Bảo tàng ấy nên đặt tên Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Thiện Siêu.

Gác Thọ Lộc, một ngày chớm Ðông năm Tỵ, 2001

 

TIẾNG VỖ VỀ TU HỌC

Tâm Hiền TÔN THẤT CHIỂU

 

Tôi trở về Huế lần đó với hai tin vui: Ôn  đã cho in xong cuốn Ðại Trí Ðộ luận tập 5 và Tổ đình Thiền Tôn, do Ôn  chỉ đạo việc đại trùng tu, cũng đã làm lễ khánh thành. Dĩ nhiên là Ôn rất vui. Vội vã đến vấn an Ôn, trong tôi dấy lên niềm vui thứ ba là thấy Ôn vẫn còn rất khỏe mạnh, mặc dù tôi và thầy Hải Ấn (cũng là một bác sĩ  Y khoa) đều hiểu ngầm rằng trên phương diện Y khoa hay trên căn bản Phật giáo, ngày ấy trước sau gì cũng phải tới và ngày ấy đã thực sự xảy ra hôm 3 tháng 10 năm 2001. Tôi và một số lớn Phật tử ở vùng Hoa Thịnh Ðốn đã tề tựu tại chùa Hoa Nghiêm cùng thầy Kiến Khai từ xa vọng lễ Giác linh của Ôn và cầu nguyện Giác linh của Ôn Cao đăng Phật quốc. Không biết phải bắt đầu như thế nào để kết hợp những kỷ niệm về Ôn Thiện Siêu và chùa Từ Ðàm. Chỉ biết là tôi rời Huế lúc vừa xong Tú tài nên kỷ niệm về Huế nói chung hết sức mơ hồ và rời rạc. Trí nhớ về Phật giáo Huế chung chung chỉ xoay quanh về những năm Oanh Vũ của Gia đình Phật tử và những mẫu chuyện từ Ôn Cụ tôi kể lại vào những lần thăm viếng gia đình. Cả gia đình đều quy y với Ôn Linh Mụ, nên mỗi lần về Huế tôi đi với gia đình thăm chùa Linh Mụ nhiều hơn là chùa Từ Ðàm. Thế mà qua điện thư, Giáo sư Cao Huy Thuần từ Paris lại yêu cầu tôi viết đôi dòng trong báo kỷ niệm bách nhật của Ôn, lúc đầu thì rất ngần ngại, nhưng lúc tôi viết đôi dòng này lại rất cảm ơn anh Thuần là đã nhắc cho tôi một bổn phận quan trọng là phải đánh thức cái tiềm thức của mỗi Phật tử người Huế sống xa quê hương trong đó chùa Từ Ðàm nơi gợi nhớ và Ôn Thiện Siêu là tiếng vỗ về tu học. Thế hệ chúng tôi gặp nhau một cách sôi động trong biến cố Phật giáo năm 1963 vào cái lứa tuổi hồn nhiên nhìn mệnh nước và Ðạo Pháp qua những suy tư hết sức giản dị. Chùa Từ Ðàm là nơi gặp gỡ để yêu cầu bãi bỏ Ðạo dụ số 10 có từ thời Pháp thuộc và rất bất công cho Phật giáo, một tôn giáo chiếm đa số, nhất là một khi đất nước đã có chủ quyền. Yêu cầu không được thì xuống đường biểu tình, tuyệt thực, rồi đình công bãi thị. Xuống đường xong, lúc đói, lúc cần nghĩ ngủ thì về chùa Từ Ðàm. Rất vui, giản dị, hồn nhiên. Nhiều đứa bị bắt, trong đó có tôi, từ đầu mùa cho đến cuối mùa tranh đấu. Trước khi bị bắt, Ôn  Thiện Siêu chỉ nói với tôi vài câu, lúc bị đưa lên xe bít bùng, Ôn  Trí Thủ chỉ nhìn tôi và Phan Ðình Bính một cách thương cảm mà không nói gì. Hết việc tranh đấu, ai lo việc nấy, nhưng vào những ngày lễ lớn thỉnh thoảng lại gặp nhau ở chùa Từ Ðàm. Nếu một phần tư thế kỷ xa quê, Từ Ðàm là nơi gợi nhớ, không là nổi nhớ quay quắt của những cặp tình nhân xa cách nhau, mà là một cảm giác nghĩ về, ngóng về, quay về một cách lâng lâng dịu dàng.

Mà nhớ quê hương, nhớ Từ Ðàm là không thể không nhớ thầy Thiện Siêu, vì Thầy hầu như lúc nào cũng đứng đó, ngồi đó trong cái nhà khách, nơi bộ trường kỷ, đọc kinh sách, uống trà. Hình ảnh như thế tứ lúc tôi còn nhỏ theo Ông Cụ tôi, đạo hữu Tâm Ðạo Tôn Thất Hàng, đến bàn chuyện với thầy Thiện Siêu về tờ báo Viên Âm. Dạo đó lúc Thầy là Hội trưởng thì Ông Cụ tôi vừa là Phó Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên vừa là quản lý tờ báo Viên Âm. Hình ảnh như thế, không thay đổi bao nhiêu cho đến hàng chục năm sau lúc tôi đã trưởng thành thỉnh thoảng đến chùa khám bệnh cho quý Thầy, cũng với cuốn sách đang đọc nữa chừng trên bộ trường kỷ. Thầy rất ít nói , nhưng khi nói thì tôi gọi là "tiếng vỗ về tu học", vì với ai không biết sao, chứ đối với tôi lúc nào gặp, ngoài vài câu thăm hỏi thông thường, Thầy cũng dạy vài câu ngắn gọn, nhẹ nhàng,  súc tích.  Gần đây nhất lúc được tin Ôn  bị bệnh, nhân một vấn nạn thời thượng về chuyên tạo dòng vô tính cho con người (human cloning), anh BS Trịnh Ðình Hỷ từ Pháp có yêu cầu tôi có dịp về Huế đến thỉnh ý Ôn  về quan niệm của Phật giáo, tôi cùng BS Dương Ðình Châu đến thăm Ôn, Ôn  chỉ dạy có một câu thôi: "Nếu hiểu tất cả đều là duyên sinh chứ không phải do ai sinh cả thì câu trả lời sẽ dễ dàng thôi", thế thôi, sau đấy chỉ là những chuyện Phật sự quanh tách trà. Qua bao nhiêu năm lưu lạc với công ăn việc làm, tôi thật không ngờ với dáng người nhỏ nhắn, giọng nói nhẹ nhàng đó lại tiềm ẩn một sức làm việc phi thường mà nay tổng kết lại chắc Phật tử nào quan tâm đến kho tàng văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung đều thấy được sự đóng góp quí giá của Ôn Thiện Siêu qua 81 tuổi đời và 53 tuổi đạo. Ngoài rất nhiều công trình biên soạn và dịch thuật, gần cuối đời Ôn  đã thực hiện được một lâu đài đó là xây dựng lại một nền tảng cho thế hệ mai sau, đó là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, một cơ sở Ðại học Phật giáo đào tạo cho Tăng Ni sinh có vừa khả năng Nội điển lẫn Ngoại điển để khi tốt nghiệp, Tăng Ni có khả năng đối diện với những vấn đề khoa học vật chất và tâm linh hết sức phức tạp của nhân loại trong thế kỷ 21. Thăm Ôn và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế năm 1998, tôi có phổ biến đến bạn bè Phật tử Hải ngoại, do đề nghị của Hội đồng Ðiều hành Học viện, về nhu cầu kết hợp giữa bộ môn Tôn giáo của một Ðại học ở Mỹ và Học viện trong những chương trình nghiên cứu, tu học và giảng dạy cao cấp, nhằm góp phần vào sự phát triển Phật giáo thế giới. Nếu đủ nhân duyên và việc này thành tựu, thế hệ chúng tôi một phần nào đền đáp được công ơn của những tiếng vỗ về tu học nói trên. Ðến tuổi này tôi vẫn còn cái hạnh phúc là mỗi lần trở về Huế lại có dịp lẽo đẽo theo chân bố mẹ lên chùa, cái niềm vui giản dị đã có dịp mắt thấy tai nghe, học hỏi những "cây Ðại thụ" trong kho tàng văn hóa Phật giáo Việt Nam để còn kể lại một đôi điều thích thú cho thế hệ đến sau. Do tình thân thiết giữa Ông Cụ tôi với Ôn Thiện Siêu mà năm nay, cho dù tuổi đã chẵn trăm, Ôn vẫn nhất định cùng tôi đến thăm chùa Từ Ðàm khi nghe tin Ôn bị bệnh. Mặc dù lần này tôi không phải lẽo đẽo theo mà phải dìu Ông Cụ tôi bước lên từng cấp của Nhà khách, nhưng tim tôi rúng động khi nhìn Ôn vẫn thế, lại cái ghế trường kỷ, lại cuốn sách trên tay. Nhìn cha tôi đứng đảnh lễ Ôn, như những năm xưa, thời gian như đọng lại, trong Vô thường như có cái gì Thường còn, tôi chụp một tấm hình, vội vã, như sợ làm tan mất một cái gì quí giá mong manh. Chị Kim Lan ở Ðức đã về kịp để đại diện cho thế hệ chúng tôi nhìn Ôn lần cuối trước khi Ôn xả báo thân. Theo thế sự thường tình, khi đức Thích Ca từ giã cuộc đời ô trọc này, ngài A-Nan còn khóc, huống hồ gì là chúng tôi, lòng trần chưa dứt. Những Cây Cổ thụ của Phật giáo Việt Nam lần lượt ra đi, chúng tôi không thể giấu nỗi ngậm ngùi tiếc thương.

Nhưng tôi còn được lời đề tặng cùng chữ ký của Ôn Thiện Siêu trên trang đầu của năm cuốn Ðại Trí Ðộ luận cùng những lời vỗ về tu học. Chúng tôi biết các vị Bồ-tát vẫn ở cõi Ta-bà trong nhiều hóa thân khác nhau để cứu độ chúng sanh. 

Mỹ quốc 12-01-2002

 

TƯỞNG NHỚ THẦY THIỆN SIÊU

BÙI MINH

 

Lần đầu tiên tôi nghe đến Thầy Thiện Siêu - tức Trí Ðức là năm 1952 hay 1953 gì đó (tôi không nhớ rõ).

Theo Hiệp định Genève 1954, hòa bình được lập lại, tôi ra Huế tiếp tục việc học. Lúc đó mới có cơ hội được gặp và biết các Thầy Trí Quang, Trí Nghiễm (tức Thầy Thiện Minh), và Thầy Thiện Siêu.

Những năm tháng sống ở Huế và được biết các Thầy, tôi mới rõ là lúc ấy có những người cố tình xuyên tạc Phật giáo, xuyên tạc các vị lãnh đạo có uy tín. Nhưng những lời tố cáo trên là hoàn toàn sai sự thật. Tâm trạng các Thầy là tâm trạng của hầu hết những người trong vùng bị tạm chiếm, là tâm trạng của thân kháng chiến, tâm trạng của Quan Công: Thân tại Tào, tâm tại Hán.[4]

Một phản chứng cho sự thân kháng chiến của các Thầy lãnh đạo Hội Việt Nam Phật học là việc người Pháp cùng những người cộng tác với họ thành lập Hội Phật giáo Thiền Lữ do Tăng sỹ Trí Hưng[5] cầm đầu để dẫn dụ người ta theo thực dân chống kháng chiến. Nhưng họ đã thất bại, Hội Phật giáo Thiền Lữ là một cái xác không hồn. Còn Hội Phật giáo Thế giới là Hội Phật giáo Liên hữu Thế giới[6], trong suốt quá trình hoạt động của nó, người ta không thấy nó có hành động nào gọi là chống phá cách mạng, mà nó góp phần quan trọng trong vụ Phật giáo 1963, làm sụp đổ chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Ðình Diệm.

Tại Huế, tôi hân hạnh được gặp cả ba Thầy Trí Ðức, Trí Quang, Trí Nghiễm tại chùa Từ Ðàm. Trước khi viết về Thầy Thiện Siêu, tôi xin ghi ở đây ít nhận xét của giới Phật tử, nhất là những Phật giáo có dịp cùng làm việc với ba Thầy. Trước một biến cố xảy ra, để giải quyết, thì Thầy Trí Quang là người nhạy cảm, phản ứng nhanh nhất, đưa ra sáng kiến. Sáng kiến đó, sẽ được Thầy Thiện Siêu phân tích, sửa chữa, bổ sung, cho nó có tính khả thi. Cuối cùng, người thi hành là Thầy Thiện Minh.

Chúng ta có thể đưa ra hình ảnh sau đây: Thầy Trí Quang đưa ra một thỏi vàng có ít nhiều quặng, Thầy Thiện Siêu làm cái việc loại quặng ra, để chỉ còn vàng nguyên chất. Cuối cùng việc làm ra đồ trang sức là Thầy Thiện Minh. Ở đây tôi chỉ làm cái việc ghi lại ý kiến người khác.

Những khi ba Thầy trao đổi nhau một vấn đế mà tôi có dịp chứng kiến, tôi ít khi thấy Thầy Trí Quang phát biểu, phản bác ý kiến của Thầy Thiện Siêu. Thường thì khi gọi Thầy Trí Quang, Thầy Thiện Siêu chỉ gọi "Quang", Quang là tên tục của Thầy Trí Quang. Có lẽ đó là cách gọi theo thói quen khi Thầy còn nhỏ, Thầy Thiện Siêu lại nhiều tuổi hơn Thầy Trí Quang.

Bây giờ tôi viết riêng về Thầy Thiện Siêu.

Ngoài những ý tưởng độc đáo, phát hiện những điều mới mẻ, và đúc kết sâu sắc những điều mình đã học và đã đọc được trong kinh điển nhà Phật của Thầy, những người từng đọc tác phẩm và dịch phẩm của Thầy lại còn thấy văn từ của Thầy trong sáng, nổi bật so với văn từ những Tăng sĩ được đào tạo cùng thời với Thầy.

Ðiều này đáng nói. Vì chương trình học của các Thầy tại trường An Nam Phật học từ 1934 đến 1943, chủ yếu là Kinh sách bằng chữ Hán. Nhà trường lại cấm tuyệt học Tăng không được đọc những sách "thế gian" ngoài đời, với quan niệm rằng việc đọc sách ngoài đời chỉ xúi giục các Thầy hoàn tục, cũng như xã hội không cho phép con gái đi học, vì con gái đi học chỉ để đọc thư và viết thư cho con trai.

Tuy nhiên, không ít vị đã không giữ kỷ luật và đọc chui. Tôi nghĩ trong số này không có Thầy Thiện Siêu, vì Thầy là người rất tôn trọng kỷ luật. Ða phần chúng ta mắc chứng bệnh tự mãn về kiến thức của mình; hoặc nếu thấy mình có điều không hiểu biết thì che giấu, ngại ngùng, không muốn hỏi người khác, nhất là những người kém hơn mình về kiến thức cũng như tuổi tác. Ðiều này không có ở Thầy Thiện Siêu. Thầy đạt được cái đức mà người xưa bảo rằng: Không cho là mất thể diện khi hỏi người kém mình (bất sĩ hạ vấn).

Có lần Thầy đọc Thái Hư toàn thư, gặp câu: "Nhân nhi vô tín như đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột". Vì không quen văn học riêng của Trung Quốc, Thầy gọi tôi và hỏi, câu ấy của ai. Tôi thưa với Thầy câu này của Khổng Tử, và tôi đọc toàn văn lời Khổng Tử: "Nhân vô nhi vô tín bất tri kỳ khả dã. Ðại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành chi tai"[7]

Thấy sách vở viết về Phật giáo bằng tiếng Anh lưu hành khá nhiều ở Việt Nam, Thầy quyết định học tiếng Anh để nghiên cứu. Nếu tôi không lầm, thì người đầu tiên giúp Thầy học tiếng Anh là ông Nguyễn Khoa Việt.

Ham học, ham hiểu biết, Thầy cũng có là nguời "lân tài", quan tâm đến tương lai Phật giáo để làm công việc "truyền đăng tục diệm", Thầy cố tìm tòi, phát hiện những tài năng mới để giao truyền ngọn đuốc chánh pháp. Một trong những tài năng đó được Thầy phát hiện khi Thầy đọc một số bài trong tờ báo Phật giáo Vạn Hạnh, xuất bản ở Sài Gòn trước 1975. Vì tác giả lúc đó còn quá trẻ, chưa ai biết đến. Thầy mò mẫm tìm cho được, khi biết tác giả, Thầy tìm cách gặp và khi tác giả những bài báo được gặp Thầy, Thầy hết lòng chăm sóc, khuyến khích, nâng đỡ.

Phần tôi, dù sống bên cạnh Thầy trong nhiều năm tháng, tôi vẫn ít dịp trao đổi với Thầy, ngoài việc học Phật giáo với Thầy và những câu chuyện thông thường. Lý do, là những năm tháng ở Huế, tôi mãi lo việc học hành, thi cử. Ðến lúc ra đời làm việc thì tôi lại ở Sài Gòn, mà Thầy thì chỉ ở Huế, hay ở Nha Trang. Năm 1974, Thầy ra Nha Trang để lãnh đạo viện Cao đẳng Phật học, thì tôi lại rời Nha Trang về Huế, mà có ghé thăm Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi, lúc nào Thầy cũng mang những đặc  sản Quảng Ngãi: Kẹo gương, Mạch Nha... mà gia đình tôi gởi cho tôi.

Năm từ Pháp về Việt Nam, tôi ra Huế thăm các Thầy và chùa, là những người và là nơi đã có công ơn hình thành nhân cách tôi. Thầy đã cho tôi ba nghìn đồng, số tiền khá lớn thời đó. Lần cuối cùng tôi gặp Thầy là tại Thiền viện Vạn Hạnh, cách đây hai năm, lúc đó Thầy đang mang bệnh nan y đã đến thời kỳ trầm trọng. Lúc tôi vào thăm, Thầy nằm trên võng, một chú điệu đang đọc sách cho Thầy nghe. Sau độ năm phút, Thầy bảo chú điệu ngưng đọc và ra ngoài để tiếp tôi. Sau những lời thăm hỏi thông thường, Thầy hỏi tôi về tình hình Phật giáo ở nước ngoài, nhất là Phật tử Việt kiều.

Tôi thưa với Thầy về tình hình Phật giáo ở Pháp, là nơi tôi sinh sống, chứ các nước khác tôi không rõ. Về phía Phật tử Pháp thì đa số họ thuộc giới trí thức, chứ đạo Phật chưa thâm nhập vào quần chúng bình dân Pháp. Một tư tưởng, một tôn giáo chưa thâm nhập vào quần chúng thì khó có cơ hội tồn tại, mặc dù người Pháp cũng có xây dựng một ít chùa, có một số Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni người Pháp, trong đó có một vị nổi tiếng là Tỳ kheo Mathieu Richard, và Hội Phật giáo Pháp có buổi phát thanh hàng tuần vào mỗi buổi sáng chủ nhật trên đài 2. Mặt khác, tinh thần tín đồ các tôn giáo vốn bảo thủ, nó không chịu thu nạp cái gì mới, vì thế mà sau một thời kỳ thịnh đạt, Phật giáo đã lu mờ trên quê hương đất Phật và tôn giáo truyền thống Bà-la-môn lại ngự trị nơi đây. Chính ngay De Gaulle cũng không muốn có một tôn giáo nào khác, ngoài Thiên Chúa giáo, trên nước Pháp.

Còn một số chùa chiền người nước ngoài lập ra ở Pháp, thì có một ít chùa Campuchia, Lào, Thái Lan, một ít chùa Tây Tạng, và khá nhiều chùa Việt Nam, có lẽ đến hàng trăm. Riêng tại Toulouse, nơi tôi ở và vùng phụ cận, đã có hai chùa và một thiền đường. Ðể duy trì, không những duy trì mà còn phát triển, làm chùa mới không phải dễ về mặt tiền bạc, nhất là Phật giáo chưa được chính phủ Pháp biệt đãi về mặt tài chánh, vì Phật giáo chưa được thừa nhận là một tôn giáo. Tất cả đều trông cậy vào sự đóng góp của Phật tử. Nội chừng đó cũng thấy lòng tin Phật của người Phật tử ở Pháp vẫn còn vững vàng, sống động, dù ở xa chùa chiền quen thuộc ở nước nhà. Và biết đâu, cũng vì xa chùa chiền bên nhà mà lòng tin càng được biểu lộ, như người con xa gia đình lại càng thương cha mẹ nhiều hơn, và cũng qua đó, chúng ta thấy lòng gắn bó với quê hương của Việt kiều.

Trong số các chùa Việt Nam ở Pháp, có chùa có liên lạc với Hội Phật giáo bên nhà, có chùa không. Sự hiện diện của các chùa tại Pháp nói riêng, tại nước ngoài nói chung, đã giữ được, củng cố được và tăng cường niềm tin Phật của người con Phật ở xa quê hương. Họa hoằn lắm mới có người đổi đạo, nhưng viễn ảnh tương lai chưa biết thế nào. Vì đa số Phật tử tới chùa đều là người lớn tuổi, rất ít thanh thiếu niên.

Ðó là lần cuối cùng tôi được gặp Thầy và nói với Thầy về một vấn đề có tính thời sự. Giữa Thầy và tôi, có những chuyện tính thời sự là rất hiếm. Tôi nhớ hình như chỉ có ba lần.

Lần thứ nhất, Thầy bảo tôi viết ít dòng để đọc nhân dịp chùa Từ Ðàm cầu nguyện cho Phật giáo Tây Tạng được ổn định và tiếp tục phát triển. Tôi đã viết, đại ý sự bức bách, áp bức Phật giáo không chỉ một số chính quyền mà còn nhiều chính quyền kỳ thị tôn giáo khác nữa. Tôi muốn ám chỉ chính quyền Ngô Ðình Diệm, vì lúc đó không thể nói công khai. Thầy đã đồng ý và bằng lòng.

Lần thứ nhì, tại chùa Già Lam, khi Thầy từ Nha Trang vào Sài Gòn theo lời mời của Thầy Trí Thủ để thành lập Hội Phật giáo Việt Nam. Thầy hỏi ý kiến tôi. Tôi trình bày với Thầy những thuận lợi khó khăn chủ quan từ bên trong, và những thuận lợi khó khăn khách quan từ bên ngoài trong việc thành lập Hội Phật giáo Việt Nam.

Lần cuối, Thầy hỏi tôi về tình hình Phật giáo nước ngoài, lần này là lần thứ ba có tính thời sự.

Sợ Thầy mệt, sau nửa giờ tôi chào từ biệt Thầy với tâm trạng lo âu, đau buồn về sức khỏe của Thầy. Tôi trở lại Pháp, và vẫn theo dõi tình trạng sức khỏe của Thầy, biết là tình trạng ngày càng xấu đi.

Thế rồi, đêm 20-8 âm lịch năm ngoái, từ chùa Trúc Lâm, Paris, Thầy Phước Ðường điện thoại cho tôi biết là Thầy đã Viên tịch ngày 17-8, và Thầy Thiện Niệm ở Phật Ðường Khuông Việt (Paris) đã đại diện Hội Thân hữu Phật tử Âu Châu về nước thọ tang.

Vì trong tâm trạng nghĩ rằng Thầy có thể ra đi bất cứ lúc nào, nên tôi đã không bàng hoàng, sửng sốt, và chỉ nghĩ rằng sự ra đi của Thầy là một tổn thất to lớn cho Phật giáo về mặt tổ chức cũng như về mặt nghiên cứu.

Về mặt tổ chức, Thầy là người lãnh đạo có uy tín về phong cách cũng như về đức độ. Về mặt nghiên cứu, Thầy là một trong ít ngôi sao sáng của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Ước vọng của Thầy Thiện Châu là khi đã về ở hẳn Việt Nam sẽ học giáo lý với Thầy.

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, và gián tiếp qua đó, trong lịch sử Việt Nam, Thầy đã góp phần không nhỏ. Riêng trong Ðại Tạng Kinh Việt Nam, những tác phẩm và dịch phẩm của Thầy, sẽ chiếm vị trí quan trọng như của nhiều vị Tăng sĩ Việt Nam và Trung Quốc nổi tiếng.

 

 

KỶ NIỆM VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

Ni Trưởng THÍCH NỮ VIÊN MINH

 

Thầy Hải Ân gởi cho tôi hai cuốn: 1. Luận Ðại Trí Ðộ cuốn 4, 1 bộ Trung Luận Hòa thượng ký ngày 01-8-2001 là bộ Luận cuối cùng, Ngài viên tịch ngày 03-10-2001 tức 17-8 Tân Tỵ

Tôi cố gắng viết một phần nhỏ về Hòa thượng khi còn là Ðiệu học với Ôn Trí Ðộ ở Báo Quốc. Một hôm Sư bà Diệu Không qua chùa thấy Ðiệu ngồi dưới gốc cây, Sư bà nói: Ðiệu ngồi buồn chi rứa? Sao không vô chơi với mấy Ðiệu trong chùa? Ðiệu trả lời: Buồn à? Vui chứ buồn chi? Hôm khác Sư bà lại có dịp qua chùa, lại thấy Ðiệu ngồi dưới gốc cây, Sư bà bốc một nắm kẹo đưa mời: Ðiệu ăn kẹo đi, ngon lắm. Ðiệu đáp: Không ăn. Sư bà tinh ý, lấy một ngọn lá cây ngọc lan mời rồi để kẹo vào, hai tay bưng kẹo vào: Tôi cúng dường Ðiệu, mời Ðiệu thời kẹo. Thấy Sư bà nghiêm chỉnh, Ðiệu mới nhận quà.

Khi Hòa thượng làm Giám đốc Phật Học viện Hải Ðức - Nha Trang, gặp thời thế bất ổn, nhà chức trách không muốn đông học Tăng, lấy cớ có kẻ xen làm chính trị. Ôn nghỉ dạy, chuyên dịch Kinh sách. Có người phê bình Ôn vô nghệ, không làm chi tiết.

Ôn  xuống Hãng Kinh tế tự túc của Phật Học viện, lấy vật liệt tre mây đan những dĩa hình bầu dục rất khéo, ở bên chùa Long Sơn, mỗi ngày 2 giờ, đan xong đưa qua Hãng, thế là Ôn có góp phần công nghệ. Xong Ôn lại lên dịch Kinh. Ðến kỳ nhập Hạ,  chúng Tăng y áo cúng Quá dường, Phật tử lên đông bị xét hỏi phiền phức, Ôn  bảo mặc áo rộng mật niệm ăn cơm cũng được.

Ni viện Diệu Quang 3 giờ sáng dậy đánh hồng chung, Ôn nhắn xuống bảo đừng đánh chuông sớm mất giấc ngủ họ la cho chứ. Tôi bảo chúng đánh 3 giờ rưỡi. Họ thưa chúng ít, Sư bà đã chia chúng đi hai phiên công phu khuya. Chúng con công phu xong, xuống còn đi chấp tác và ăn cơm xong mới lên học, trễ quá không kịp giờ, nên cho chúng con cứ đánh chuông 3 giờ sáng. Kẹt quá tôi phải tùy thuận, nhưng may phố đó gần chợ, lại toàn Phật tử, ít có nhà công chức, nên không ai nói gì.

Ôn biết yên rồi thì tôi.

Khi về Huế, có một năm Ôn cùng về một chuyến xe. Ðến Ðà Nẵng trời tối, xe đậu, sáng sau 5 giờ mới chạy lại, chú thị giả mượn một ghế xấp Ôn nằm nghỉ. Tôi ngồi ngó thẳng ra nhòm đồ vật. Ôn  dạy: Bà lại ghế dài đằng kia mà nghỉ một chút. Tôi thưa: Con tỉnh lắm, con mắc ngó đồ đạc kia. Ôn  biết ý tôi canh kẻ cắp, nên tùy, không nói nữa.

Một năm, Sư bà Diệu Không sửa chùa Ðông Thuyền xong, làm lễ Khánh thành, chúng Hồng Ân, Kiều Ðàm ra sức làm việc chu đáo. Xong lễ rồi, chúng xin chúc thọ Sư bà 85 tuổi, Sư bà không cho, chúng buồn quá, về bạch Ôn. Ôn  dạy: Chúng họ làm việc hết sức, mà bà không hoan hỷ cho lời yêu cầu của họ là không nên. Vì Ôn dạy vậy nên Sư bà phải tùy thuận. Ôn  lại cho hai câu liễu Hán tự: 

Ðạo thọ hoa khai hương mãn kính

Tùng lâm nguyệt hiện điểu quy sào

Dịch

Cây đào nở hoa, đường hương ngập,

Chùa thuyền trăng hiện, tổ chim về.

Năm 1995, Ôn qua thăm chùa Hồng Ân, Sư bà mắt kém, không thấy Ôn nên không chào, khi Ôn lên tiếng, Sư bà lật đật vái. Còn tôi thấy Ôn thì chào liền, nhưng lại không nghe rõ, Ôn  dạy 10 lời, chỉ nghe được 2,3. Ôn dạy vui: Hai bà thật kiêu ngạo, một bà không thèm thấy, một bà không thèm nghe. Sau khi Sư bà Diệu Không tịch rồi, lễ Tiểu tường có Ôn, Ôn ngồi xơi nước nơi bàn hộc tộ, trước giờ làm lễ. Tôi đến chào, thấy Ôn  thì cười. Ôn hỏi ngay: Bà cười việc chi? Tôi thưa: Dạ không có việc chi. Ôn dạy: Không có việc chi răng bà cười? Tôi biết rằng mình có lời thiếu oai nghi, nên lặng thinh, không bào chữa, Ôn biết rằng hiểu, nên thôi không quở nữa. Từ đó về sau tôi rất thận trọng, đến trước Ôn nghiêm chỉnh vái chào. Ôn hỏi gì mới đáp.

Hòa thượng đã phiên dịch trước tác: 7 bộ Kinh, 1 bộ Luật, 5 bộ Luận, Luật có 1 bộ,  nhưng đề là Cương Yếu Giới Luật, tóm thâu tất cả ý chỉ của Luật trong đó. Nay Hòa thượng đã viên tịch, ai tưởng niệm Hòa thượng xin hãy đọc kỹ các bộ Kinh, Luật, Luận của Hòa thượng đã phiên dịch trước tác là tưởng niệm sâu xa nhất.

Hòa thượng đã sống một cuộc đời rất bình thường giản dị, mà tâm hồn thì siêu thoát tuyệt vời! 

Phật lịch 2545 ngày 12-12-2001 (28-10 Tân Tỵ)

 

 

CẢM NIỆM CỐ ÐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

HUYỀN LINH TỬ

 

Ôn  ơi!

Dẫu biết thân cát bụi,

Ðã trở về với cát bụi

Chuyện vô thường

Ai đếm được thời gian

Sự ảo huyền của sắc không quanh quẩn

Thật nhẹ nhàng

Như cơn gió thoảng qua

Những hạt chân như!

Mà Ôn  đem giao vãi

 

Cái có - Còn!

Cho ngàn đời và mãi mãi ngàn sau

Trong ký ức của muôn đời ghi lại

Trong thanh sử vẻ vang sông núi

Thân đã mất

Hồn rạng ngời văn hóa

Bậc đại trí sá gì giông bão

Dẫu bùn nhơ

Sen vẫn tỏa ánh thanh từ

Lòng đức độ soi tỏ cõi hư vô

Chỉ có khen làm mát lòng bao thiên hạ

Người trí giả hương thiền ngút tỏa

Kẻ cuồng si phong trì lục đục

Ôi! Tuyệt diệu phi thường chi lạ

Lời đạo hạnh rũ lòng xứ xứ

Dắt lầm mê về bến giác cho đời

Cõi trần gian mấy ai được thế

Ôn Từ Ðàm

Ðất trời xứ Huế

Của hôm nay

Vài mai sau thực tế

Ðậm lòng người ghi chớ nào quên

Cái thân thương -

Gần gũi ôn tồn

Thật Ông cháu -

Cha con thắm thiết

Ðạo nghĩ a ni -

Ăm ắp chốn thiền môn

Mấy lần xa

Và mấy lần gặp lại

Ôn  cho con những lời thơm hoa trái

Ôi! Ngọt ngào mát dịu khách lãng du

Ôn  cho con những sách, kinh mới viết

Ý thật nhiều - "đoạn sách"

Nhưng chỉ có chữ sắc không

Ô hay! Thì ra đó!

"Tâm đồng không"

Hôm nay ngày Tiểu Tường

Con kính dâng Ôn đôi lời cảm niệm

Dệt thành thơ

Nuối tiếc nhớ thương Ôn 

Kính chúc Ôn

An vui nơi cõi Tịnh

Trí độ sanh cảm hóa chốn Ta-bà.

 

 

NHỚ HÒA THƯỢNG

VÕ HỒNG

 

Trên tập san VU LAN 1997 của Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có đăng bài TIẾNG CHUÔNG TRÊN MỘ của tôi. Tòa soạn ghi chú: "Nhân về thăm Tổ đình Từ Ðàm - Huế, chúng tôi được Hòa thượng Thích Thiện Siêu cho đọc bài tùy bút mà Hòa thượng vừa photo cho chúng tôi một bản..."

Tôi xúc động không ngời vì cảm tình của Hòa thượng.

Mùa hè 2001, thầy Tâm Hải ở tòa soạn báo GIÁC NGỘ cho biết: Hòa thượng Thiện Siêu muốn Giáo hội tập họp và in thành tập những truyện của tôi có nội dung mô tả cái ÐẸP của tinh thần Phật giáo. Tôi giúp tay thầy Tâm Hải, vừa thầm cảm tạ lòng ưu ái của Hòa thượng đã để tâm thưởng thức nghệ thuật tinh tế như vậy. Tôi đã viết về đạo Phật theo cái cảm xúc chân thật của tôi, không hát ca múa lượn lưu loát rập theo bao nhiêu khuôn mẫu đã có.

Năm 1956, tôi dạy học ở trường Bồ Ðề - Nha Trang. Chắc qua phản ảnh của nhiều Tăng Ni sinh theo học mà Hòa thượng Trí Thủ có cảm tình với tôi. Hòa thượng dặn Thượng tọa Ðổng Minh lưu ý coi trường Bồ Ðề có phân phối giờ dạy đủ cho tôi nuôi con hay không. Khi Giáo hội mở Viện Cao đẳng Phật học, Hòa thượng còn dành một số giờ dạy cho tôi. Và tôi đã có dịp đi sát với từng sinh hoạt của Ðại Giới đàn PHƯỚC HUỆ tháng chín năm Quý Sửu để viết truyện ÐI CON ÐƯỜNG KHÁC.

Cũng thời gian sinh hoạt ở lớp Cao đẳng Phật học, tôi thở chung không khí với Hòa thượng Phước Hộ, nguyên Trú trì chùa Ðá Trắng và Hòa thượng Trí Nghiêm, nguyên Trú trì chùa Hội Tín. Hai ngôi chùa nổi tiếng này là láng giềng của chùa Châu Lâm, tục danh là chùa Ðồng Mạ, chùa của làng tôi mà tôi giới thiệu trong tiểu phẩm MÁI CHÙA XƯA.

Dạy ở chùa Bồ Ðề 30 năm, tôi còn là láng giềng của Hòa thượng Chí Tín, Trú trì chùa Long Sơn. Soát lại quá khứ, quả là tôi có duyên với các ngôi chùa và  các Hòa thượng, trong đó có Hòa thượng Thiện Siêu. 

 

 

HOA VÀ CÂN

HỮU THỌ

 

Ðài báo tin Hòa thượng Thích Thiện Siêu viên tịch ở Huế ngày 3-10 lúc 17 giờ tháng 8 âm lịch. Vì ở xa, tôi chỉ có thể viết thư chia buồn. Nhưng tôi vẫn nhớ những lần tâm tình với Hòa thượng, có buổi ghé qua chùa Từ Ðàm đàm đạo trong chuyến đi công tác ở Huế; nhớ mãi giọng nói từ tốn mà sâu sắc của Hòa thượng.

Chợt nhớ, năm 1993, Hòa thượng biếu tôi một cuốn sách, nhan đề "Vô ngã là Niết bàn" với lời đề tặng thân thiết. Thú thật với vong linh Hòa thượng, sách Hòa thượng biếu tôi có đọc một hai chương, có gạch chỗ cần suy nghĩ, nhưng không đọc hết, vì có quá nhiều công việc phải làm, quá nhiều sách để đọc. Cũng nhân ngày chủ nhật và cũng là để nhớ Hòa thượng, tôi lục tủ sách lấy ra, đọc hết.

Trong nhà tôi thờ cúng tổ tiên và thờ cụ Hồ nhưng không theo đạo Phật. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tôi cũng hay đọc các sách tôn giáo, để hiểu biết thêm mặt triết học, đặc biệt là những lời giải, lời răn đe về đạo đức. Hôm đó, tôi đọc sách Hòa thượng biếu cũng theo tinh thần đó. Ðể sang một bên những tư duy triết học không giống nhau, tôi thấy rõ tác giả đang phân tích nhiều vấn đề rất sâu sắc mà dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống bình thường; đọc thì dể hiểu, còn suy nghĩ sâu xa đến đâu thì lại tùy người đọc. Chợt thấy câu "Bạn như hoa, bạn như cân, không phải là bạn!", bắt tôi phải dừng đọc để suy nghĩ. Ðọc lời giải thích đại ý của Hòa thượng, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi để phân tích mà hiểu thêm. Bạn như hoa là bạn đến làm quen vì lợi, vì danh, đến chơi nói toàn lời tán tụng đẹp như hoa, nhưng hoa nở rồi hoa lại tàn; hết lợi, hết quyền thế thì hết bạn, cho nên không phải là bạn tâm giao! Bạn như cân, là những người tính toán thiệt hơn trong quan hệ, chơi với nhau mà cũng mặc cả, cân đo sòng phẳng; không có chuyện chia sẻ, giúp nhau vô tư, không thể là bạn khi hoạn nạn!

Ðọc những lời sâu xa, cô đọng thường phải ngẫm nghĩ. Không hiểu suy nghĩ của tôi có trúng ý Hòa thượng hay không? 

(Trích báo Sinh Viên Việt Nam số 46-

Thứ Ba ngày 13.11.2001, tr.7)

 

 

NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN VỀ HÒA THƯỢNG THIỆN SIÊU VÀ LỚP HỌC TĂNG BÁO QUỐC ÐẦU TIÊN

MINH CHI

 

Hòa thượng Thiện Siêu làm đậm nét lại một số kỷ niệm tản mạn nhưng sâu sắc và có ý nghĩa mà tôi có được, ngay từ lớp Học Tăng Báo Quốc đầu tiên, về vị Hòa thượng có trình độ Phật học uyên bác này.

1.      Làm giám thị bất đắc dĩ

Ðó là khoảng thời gian 1937-1937. Nhờ có bạn đồng học là anh Ngô Ðiền[8], cháu cụ Lê Ðình Thám, cho nên tôi và một số bạn học nữa cùng lớp ở trường Khải Ðịnh (nay đổi tên trường Quốc học), như các anh Hoàng Ðình Phu, Nguyễn Hữu Quán, tham gia Ðoàn Phật học Ðức Dục, do cụ Thám sáng lập và được nghe cụ Thám giảng về Phật học. Tôi biết và hâm mộ Phật học, và bắt đầu ăn trường trai từ ngày đó.

Tôi biết được và tin theo đại Phật là do anh Ngô Ðiền mà tôi là bạn rất thân. Nhân dịp này, tôi xin đính chính một chi tiết sai lầm mà nhà văn Tô Hoài đã viết về tôi, trong cuốn hồi ký "Chiều Chiều". Sao khi điểm mặt một số thầy có giản ở trường Nguyễn ÁiQuốc I lúc bấy giờ, khóa mà nhà văn Tô Hoài có tham gia học cùng với một số nhà văn khác, Tô Hoài có nhắc đến tôi và nói tôi theo đạo Phật là vì yêu con gái cụ Thám. Thực ra, tình yêu là chuyện sau này, còn tôi biết đến đạo Phật, học Phật với cụ Lê Ðình Thám, cũng như một số bạn đồng học khác là qua bạn cùng lớp là anh Ngô Ðiền, cháu cụ Thám.

Vì hâm mộ đạo Phật và say sưa học Phật cho nên tôi đã nhận lời làm Giám thị trường Học Tăng Báo Quốc. Làm Giám thị mục đích là để học Phật, không phải lả để kiểm soát tư cách đạo đức của các học Tăng, nhất là lúc bấy giờ tôi còn quá trẻ.

Lúc bấy giờ, tôi đã học xong và đỗ phần thứ nhất Tú tài, đến phần thứ hai Tú tài, chế độ học có thoáng hơn, cho nên tôi có thể không đến Trường nghe giảng, và cuối năm vẫn thi được, và như vậy tôi có nhiều thời gian để làm công tác giám thị và tham gia học Phật học. Và cũng nhờ vậy, tôi có cơ hội làm quen với một số thầy lúc bấy giờ là học Tăng xuất sắc, như các thầy Trí Tịnh, Trí Quang, thầy Thiện Siêu và một số thầy khác, trong đó có thầy Thiện Hòa, mặc dù không phải là học Tăng xuất sắc, nhưng tôi rất thân cận vì thầy Thiện Hòa dễ mến. Chính thầy Thiện Hòa là người đã vẽ kiểu và xây thiết bị lọc nước sạch cho trường Học Tăng Báo Quốc. Học Tăng năm ấy được ăn uống nước sạch và dùng nước sạch là nhờ công của thầy Thiện Hòa.

Các thầy Trí Tịnh, Trí Quang và Thiện Siêu lúc ấy còn rất trẻ, nhưng phong cách mỗi người một khác. Thầy Trí Quang thì cá tính mạnh mẽ, theo lời cụ Thám nói với tôi như vậy. Thầy Trí Tịnh và thầy Thiện Siêu lúc bấy giờ đã giỏi chữ Hán, lại rất cần cù, chăm học, ít nói. Thầy Trí Tịnh lúc bấy giờ đã đeo kính cận và mắt yếu. Thầy Thiện Siêu thì da hơi xanh, trên đỉnh đầu có vệt trắng hình hơi tròn, như là bôi phấn vậy. Chúng tôi thường nói đùa là thầy có cái đầu mốc. Nhưng cái đầu mốc ấy lại rất thông minh và học giỏi.

Tôi làm Giám thị ở đấy chỉ là hình thức, bởi lẽ tôi không hơn tuổi các thầy bao nhiêu, lại là học sinh trường Trung học chưa tốt nghiệp, cho nên dành nhiều thời gian để nghe giảng và nhất là đọc sách Phật, đàm đạo không biết chán với thầy Thiện Hòa. Thầy Trí Quang hiện nay vẫn kém tôi ba tuổi, thầy Thiện Siêu cũng kém tôi hai tuổi. Như vậy để giải thích vì sao, đối với tôi, nhận chức Giám thị chỉ là bất đắc dĩ, là hình thức để tôi có cơ hội trực tiếp nghe giảng, đọc sách báo Phật, mà thời bấy giờ rất là hiếm hoi, nhất là tạp chí Hải Triều Âm, bằng Hán văn, do chính Ðại sư Thái Hư làm chủ nhiệm.

Mãi về sau này, sau ngày giải phóng, gặp lại thầy Trí Tịnh, nhân Ðại hội Giáo hội kỳ III, thầy mới cho biết là việc cử tôi làm Giám thị trường Học Tăng Báo Quốc có gây phản ứng thời bấy giờ, và thầy Trí Tịnh đã chủ động triệu tập một cuộc họp đặc biệt của học Tăng và bàn với nhau sống và học thế nào để cho một giám thị rất trẻ không thể phê bình được.

Thật ra, tôi không quan tâm gì lắm đến chức vụ Giám thị, mà công việc cụ thể nhất chỉ là ngày Chủ nhật, dẫn các học Tăng đi dạo cho có nề nếp, thế thôi. Còn kỷ luật học tập, thì đã có giáo thọ là cụ Thích Trí Ðộ lo rồi. Còn kỷ luật sinh hoạt thì nói chung các thầy quá hiền lành, quá nề nếp, lại được thầy Trí Tịnh cảnh báo, cho nên không có chuyện gì xảy ra hết.

2.      Thầy Thiện Siêu giảng cho anh V.Ð.C và tôi về Nhân minh học

Trong thời gian ở Báo Quốc, tôi có nghe cụ Lê Ðình Thám giảng về môn Nhân minh học, tức môn Lôgíc học Phật giáo, nhưng hồi ấy tôi quan tâm về môn Duy thứ hơn là môn Nhân minh. Cho nên, các bài giảng Nhân Minh của cụ Thám tôi hầu như quên hết. Ðó là một sai lầm của tôi, bởi vì trong Nhân minh học có một phần rất quan trọng là Nhận thức luận, rất gần gũi với môn Tâm lý học, tức Duy thức. Cho nên, khi anh Hợp, Trưởng ban Lôgíc học thuộc Viện Triết của Ủy ban Khoa học Xã hội TW yêu cầu tôi giảng một khóa về Nhân minh học cho cán bộ Ban Lôgíc học nghe, tôi đành bó tay, và đi cầu viện Hòa thượng Thích Thiện Siêu vậy.

Ðây là một cơ hội đề chúng tôi, anh V.Ð.C và tôi, đi thăm Nha Trang, gặp các Hòa thượng Thiện Siêu, Trí Nghiêm và quí thầy Thiện Bình, Trí Tâm. Ðể được ở gần biển, anh V.Ð.C và tôi nghỉ lại chùa thầy Trí Tâm, và ngày ngày lên chùa Hải Ðức để gặp thầy Thiện Siêu trên núi, nghe giảng, thọ trai rồi lại về chùa thầy Trí Tâm nghỉ.

Thầy Thiện Siêu giảng cho anh V.Ð.C và tôi nhiều đoạn chính trong cuốn Nhân minh nhập chánh lý luận, chữ Hán, của Thương Yết La Chủ. Sau đó, thầy Tuệ Sỹ lại cho tôi mượn cuốn Buddhist Logíc bằng Anh ngữ của Viện sĩ Nga Secbatsky, mà tôi được nghe tiếng đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy, chứ đừng nói gì đọc và nghiên cứu. Cùng với hai quyển trên, tôi còn mượn được cuốn Nyaya Bindu (Một giọt Lôgíc) của Dharmakirti (Pháp Xứng) do Dharmaottara, luận sư người Kashmia chú giải. Quyển này cũng do Secbatsky dịch ra Anh ngữ.

Ðược nghe giảng, lại được hai cuốn sách quý, tôi khác nào được vàng. Sau đó, anh V.Ð.C và tôi từ giã nhau. Anh C. thì đáp tàu hỏa vào Thành phố Hồ Chí Minh, còn tôi thì đáp máy bay đi Hà Nội.

Các bài giảng của tôi về Nhân minh học do Ban Lôgíc thuộc Viện Triết học (một viện nằm trong cơ cấu của Ủy ban Khoa học Xã hội TW) hoàn toàn dựa vào nội dung cuốn Nyaya Bindu của Dharmakirti, và cuốn Lôgíc học Phật giáo của Secbatsky, cũng như những điều thầy Thiện Siêu giảng qua cuốn Nhân minh nhập chánh lý luận.

Theo yêu cầu của thầy Thiện Siêu, tôi có gởi bản thảo các bài giảng về Nhân minh học của tôi ở Ban Lôgíc học Viện Triết co thầy để tham khảo, trong khi viết cuốn Lối vào Nhân minh học và Viện Nghiên cứu Phật học xuất bản năm 1994. 

3.      Kỷ niệm cảm động nhất.

Tôi sẽ không nói về các cuộc gặp thoáng qua giữa thầy Thiện Siêu và tôi trong nhiều năm qua, hoặc ở Hà Nội, trong các kỳ Ðại hội, hay ở Huế, khi tôi dự cuộc họp mặt với các học sinh cũ trường Quốc học Huế, hay là nhiều lần hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh, khi Thầy ngụ tại chùa Già Lam, trong khi Thầy dự các phiên họp của Hội đồng Trị sự.

Nhưng có lẽ cuộc gặp mặt cảm động nhất là cuộc gặp lần cuối cùng tại Thiền viện Vạn Hạnh, tại cốc, nơi vốn là chỗ ở của Thượng tọa Chơn Thiện. Tôi được biết qua bác sĩ là Thầy mắc bệnh nan y, lại không chịu cho giải phẩu. Tôi biết Thầy mệt, nhưng vẫn đến thăm và tự bảo mình không ngồi lâu. Nào ngờ, đó là buổi cuối cùng tôi ngồi với Thầy lâu nhất, được nghe Thầy tâm sự nhiều về những khó khăn Thầy trải qua ở Huế, Ðà Nẵng và Nha Trang. Những chuyện đó, tôi cũng đã biết qua thông tin của những người bạn khác. Nhưng qua chính lời Thầy nói ra, trong lúc Thầy đang ốm nặng, với giọng run run và bàn tay nóng của Thầy cầm tay tôi như thể để từ giã lần cuối cùng... tôi cảm thầy từ đáy lòng cuộc đời này thật là phù du và biển khổ, ngay đối với những bậc tôn túc trong đạo.

Tự mình khổ đã đành, nhưng dụng tâm làm hại người khác, làm hại các bậc tôn túc trong đạo thì sao đặng! Thuyết nghiệp báo của Phật, chúng ta quên rồi chăng? Biết là việc không phải nhưng cứ làm, lún sâu vào tội ác như thói quen, như nghiện ngập. Có những người trong đạo mà lại hành xử như thế chăng? Tôi thông cảm và thương cảm vô cùng về những nổi chịu đựng của Thầy. 

4.      Cùng đi thăm chùa Giải Oan

Giải Oan là một chùa trong khu chùa Hương Tích (tỉnh Hà Tây). Ở đây, có suối Giải Oan. Theo tín ngưỡng địa phương, thì uống nước Giải Oan có thể tiêu trừ mọi oán thù và nghiệp chướng. Trong sân chùa, cò bàn các Ni ngồi bán những thẻ hương cho khách vãn cảnh chùa. Khách thắp hương làm lễ, rồi mới xuống suối múc nước uống, gọi là để giải mọi oán thù.

Thầy Thiện Siêu và tôi đọc câu đối trước chùa và thích thú:

"Oan nghi giải, bất nghi kết"

Thầy Thiện Siêu rất tán thưởng ý tứ trong đoạn câu này, vì đây mới thật là phương thuốc mầu nhiệm hóa giải mọi oan nghiệp. Tức là từ nay, không kết oán thù thêm nữa, mà tự mình chủ động giải trừ mọi oán thù cũ.

Vì tôi đọc mấy câu trên khá to tiếng, nên có một số khách hành hương xúm lại, yêu cầu chúng tôi đọc và giải thích. Và mọi người đều tỏ ra tâm đắc và thú vị. Tôi rất muốn có một Ni trong ba Ni ngồi bán hương hãy giải thích câu đối cho khách hành hương, hai Ni còn lại cứ tiếp tục bán hương, vì chùa cũng cần tiền, cần có thu nhập. Nhưng chùa nhận của tín thí, thì cũng nên pháp thí, tức là bố thí pháp bằng cách giải nghĩa câu đối trước chùa cho khách hành hương nghe.

5.      Tôi vui mừng về cuốn Kinh Pháp Cú

Tôi có bản Kinh Pháp Cú chữ Hán mà tôi rất quý, bởi lẽ bản Kinh này có phần mở đầu khẳng định rõ, người sưu tập là tôn giả Pháp Cứu (Dharmatatra). Tôi có hàng chục bản dịch Pháp Cú hoặc chữ Hán, hoặc chữ Anh, kể cả bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, nhưng ngoài bản chữ Hán của tôi, không có bản nào ghi rõ người soạn là tôn giả Pháp Cứu. Cũng như Kinh 42 chương, tuy có ghi tên người dịch bản chữ Hán đầu tiên là hai Tăng sĩ Ấn Ðộ là Ca Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đời Hậu Hán. Nhưng đó là người dịch, còn ai là người sưu tập đầu tiên, thì không rõ, và bây giờ cũng vẫn không rõ.

Tuy quý cuốn sách như vậy, nhưng khi thầy Trung Hậu nói Hòa thượng Thiện Siêu muốn mượn bản kinh chữ Hán Pháp Cú để lấy bản chữ Hán phụ lục cho cuốn Pháp Cú mà Hòa thượng đã dịch trước đó thì tôi không ngần ngại trao cho thầy Trung Hậu đem ra Huế. Sau nhiều tháng, phụ bản hoàn thành, thầy Trung Hậu đem trả lại tôi cuốn sách, thì cuốn sách đã bị tháo ra từng tờ để photo giấy can, nhưng sau khi xếp lại, thợ photo chắc không biết số thứ tự chữ Hán nên khi đóng lại, số trang sai lung tung, không thể đọc được. Tôi hơi bực mình nhưng khi nghe thầy Trung Hậu nói nhờ phụ bản chữ Hán mà tôi cung cấp nên các vị giáo thọ đã đem giảng cho Tăng Ni nhiều tỉnh nên tôi cũng hoan hỷ.

Nói trách thì trách vậy thôi, dầu sao, cũng đã có một bản dịch Việt ngữ từ một bản Hán, có thể đối chiếu với bản Việt dịch từ chữ Pàli của thầy Thích Minh Châu. Bất cứ việc gì, trong cái dỡ cũng có cái hay, cũng như trong sở đoản, cũng có chút sở trường. Tôi không phải là Tăng nhưng cũng không giận qua đêm! 

6.      Một bữa cơm cứu tôi thoát chết

Ở Hà Nội, lúc bấy giờ chưa có nhà khách đường Hùng Vương để cho các đại biểu Quốc Hội ở các tỉnh xa trú ngụ, mỗi khi có kỳ họp Quốc Hội. Còn thầy Minh Châu và thầy Thiện Siêu thì không ở nhà khách Quốc Hội mà ở lại chùa Quán Sứ, để ăn chay cho tiện. Tối hôm ấy trời se lạnh. Tôi đến thăm hai Thầy ở Quán Sứ và dùng cơm chay với hai Thầy. Theo kế hoạch và lời hẹn với bà Ngô Bá Thành, đại biểu Quốc Hội, sau bữa cơm chay tôi sẽ đến nhà khách Chính phủ, và gặp bà để nói chuyện. Bà đã cho tôi biết số phòng, ở trên lầu 4 của nhà khách, không phải ở đường Hùng Vương mà là đường Hàn Thuyên, nếu tôi không lầm. Nhà khác Hùng Vương lúc ấy còn là trụ sở của Ðại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội. Nhưng lạ lùng thay, dùng cơm xong với hai Thầy, thì xuống nhà để xe, tuy chiếc xe của tôi vẫn còn đấy, không khóa, nhưng sờ nắn khắp các túi áo, túi quần không thấy chìa khóa đâu. Mà không có chìa khóa xe, thì sẽ không khóa được xe khi đến nhà khách Quốc Hội. Nhất là tôi phải lên mãi lầu 4 để gặp bà Thành như đã hẹn. Ðộ ấy, mới giải phóng Thành phố Sài Gòn, sau đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội, có chiếc xe đạp đi là quý lắm rồi. Cho nên, thà chịu thất hẹn với bà Thành hơn là đến thăm bà mà không khóa xe đạp.

Thế là tôi về nhà, cũng ở lầu 4 nhưng là ở chung cư cán bộ tại khu Giảng Võ. Vừa về tới nhà, ngồi đọc lại một bài tập tiếng Ðức của con gái, thì bỗng hoa mắt, đầu óc quay cuồng, vợ tôi và con gái chỉ kịp dìu tôi lên giường nằm, thế rồi mọi đồ đạc trước mắt như xoay chong chóng, tôi nằm bất tỉnh, vợ tôi và con gái kinh hãi, xoa dầu khắp người... Sau đó, tôi nôn thốc, nôn tháo, lâu mới tỉnh lại lúc đêm khuya.

Sáng hôm sau, nghĩ lại rất sợ. Giả sử, tôi tìm ra khóa xe, đi tiếp đến nhà khách Quốc Hội, nếu cơn đau nổi lên giữa đường, thì theo vợ tôi, vốn là bác sĩ (lúc bấy giờ, chưa về hưu) thì tôi chỉ có chết dọc đường mà thôi, nếu có xe cấp cứu chở vào nhà thương, thì chuyện chết cũng trong gang tấc.

Kỳ lạ vô cùng hơn nữa, là sáng hôm sau tỉnh dậy, nắn túi áo trên thì chìa khóa xe vẫn nằm cộm trong ấy! Sao lại thế nhỉ! Nếu không có bữa cơm chay với hai Thầy Minh Châu và Thiện Siêu, không có phòng để xe không cần khóa ở Quán Sứ, và cũng không có chuyện tìm không ra chìa khóa xe, mặc dù nó vẫn nằm cộm ở túi áo trên... thì ắt bây giờ tôi đã là người thiên cổ, và sẽ không đánh máy được bài báo Những kỷ niệm về Hòa thượng Thiện Siêu.

Người ta bảo: Ðó là do số tôi chưa chết, và tôi có quý nhân phù trợ. Nhưng quý nhân là ai?

Từ đó, tôi gọi bữa cơm với hai Thầy Thiện Siêu và Minh Châu là bữa cơm cứu tôi thoát chết! 

7.      Tranh luận với nhau về các chữ "Nghiệp dĩ" và "Lục tặc"

Khi còn ở Hà Nội, mỗi lần thầy Minh Châu và thầy Thiện Siêu ra họp Quốc Hội, và ở lại chùa Quán Sứ, tôi thường tranh thủ lại thăm và bàn bạc với thầy Thiện Siêu về một số từ ngữ và khái niệm Phật học. Ðó cũng đúng thời gian tôi biên soạn cuốn "Phật học Từ điển Việt Nam" theo yêu cầu của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Các khái niệm và từ ngữ Pàli thì đã có thầy Minh Châu phụ trách, có gì tôi đều hỏi Thầy. Hơn nữa, Thầy cũng trao cho tôi một bản thảo đầy đủ các từ ngữ và khái niệm Phật giáo tiếng Pàli rồi, cộng với phần giải nghĩa quá chi tiết. Thế còn các từ ngữ và khái niệm Phật giáo Bắc tông, thì tốt nhất tham khảo thầy Thiện Siêu. Thầy Thiện Siêu và tôi đều nhất trí Nho gia, dù giỏi chữ Hán mấy, cũng không thể dịch chính xác ra tiếng Việt nhiều khái niệm và từ ngữ Phật học. Thầy Thiện Siêu thường nêu ví dụ từ vô học. Trong đạo Phật, bậc vô học là A-la-hán, đứng danh vào hàng Thánh, vì không có gì phải học nữa. Còn bậc hữu học là chưa đạt trình độ giác ngộ và giải thoát của A-la-hán cho nên phải học thêm nữa, học nhiều. Vì vậy gọi chung học là bậc hữu học. Nếu Nho gia y từ giải nghĩa mà nói vô học là không có học thức thì lầm to!

Trong đạo Phật, nghiệp dĩ là nghiệp nhận đã chín muồi, đã thành tựu quả báo rồi, hay nghiệp dĩ chính là ý nghiệp, nhưng đã thể hiện thành thân nghiệp và khẩu nghiệp. Tôi cho rằng bản thân nghiệp dĩ là một từ ngữ hay khái niệm không rõ, dùng lại trong các văn bản Việt dịch càng làm cho người đọc bối rối. Thậm chí trong luận Câu-xá, còn dẫn lời Kinh viết:

"Nhị chủng nghiệp, nhược tư, nhược tư dĩ, tư tức thị ý nghiệp, tư dĩ nhị chủng" (Câu-xá Luận giảng ký, quyển trung, bản Hán, trang 221). Có thể dịch là: Hai loại nghiệp, hoặc là tư, hoặc là tư dĩ. Tư là ý nghiệp, tu dĩ là hai loại (thân nghiệp và ngữ nghiệp).

Dịch rối như vậy, thì không phải là Nho gia mà cả Phật gia cũng lúng túng. Nhưng thầy Thiện Siêu lại có ý khác. Thầy nói vì khó như vậy mới cần có Phật học và học Phật!

Cuộc tranh luận về khái niệm nghiệp và nghiệp dĩ như vậy xem như xong, nhưng bản thân tôi, trong các bản Việt dịch của mình, tôi sẽ vẫn không dùng từ nghiệp dĩ vì người đọc sẽ không thể nào hiểu được.

Bây giờ sang khái niệm lục tặc, tức là sáu thằng giặc. Thầy Thiện Siêu nói đó là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhưng tôi không đồng ý và nói sáu giặc chỉ cho sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn không thể là sáu thằng giặc được, vì trong Kinh có câu: hộ trì các căn. Ðã là giặc thì sao lại hộ trì chúng?

Nhưng thật ra, lý lẽ thuyết phục được thầy Thiện Siêu không phải là câu "hộ trì các căn",  mà là cuốn Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc Bảo, nói rõ lục trần là lục tặc.  

 

BĂN KHOĂN  *

               

 TÂM TỪ

 

Tân Tỵ Trung thu tiết đẹp trời

Riêng người con Phật Huế chơi vơi

Hung tin nghe báo mà ngao ngán

Bệnh viện Ôn về tạm nghỉ ngơi

 

*

Mắt vuông hồi sức biết cho không?

Gang tấc mà xa mấy dặm trường

Qua lại Tăng Ni lòng xao xuyến

Miệng cười mắt ướt dạ buồn vương

                 

*

Trộm nhìn máu mượn rơi từng giọt

Nước suối vơi dần báo khẩn trương

Pháp thể nhìn qua dường vô sự

Ngẫm lại mai đây luống đoạn trường

 

*(Huế, những ngày Ôn nằm bệnh viện) 

 

VẮNG BÓNG TÔN SƯ 

Kết Hạ năm Ngài quá lạnh lùng

Tăng Ngài động chật tưởng chùa không

“Y thùy Luật giả” nghe mà nghẹn

Cúi mặt danh trình vắng cựu dung

Bảo tọa ngước trông lòng quặn thắt

Bình tọa ngước trông lòng quặn thắt

Bình hoa tươi thắm ý mong lung

Lạy Phật từ bi truyền Phật lực

Hòa thượng mau về chúng chúng trông.

     

            Ngày thọ An cư tại chùa Từ Đàm

                        (ngày 14-4-Canh Thìn. PL.2544)

 

TẢN MẠN BÊN THÁP 

TRẦN TUẤN MẪN

 

Rằm tháng Giêng năm Nhâm Ngọ, tôi lên vùng núi Thiên Thai, đến thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, để lễ lạy tháp Ôn Từ Đàm. Trời Huế lạnh và nhiều sương, nắng chiếu vương nhẹ trên tầng cao của tháp. Tất cả đều im vắng, thanh thản nhẹ nhàng như đám lá rừng thông lắc lư đằng sau tháp.

Có tiếng chuông đổ về, có lẽ từ chùa Thiền Tôn, ngôi chùa cổ vừa được Ôn hoàn tất việc đại trùng tu năm ngoái. Một con chim nhỏ bay từ xa ghé lại phía bên tháp Tổ Liễu Quán kế cận tháp Ôn, cất tiếng hót ngắn, lẻ loi, cô quạnh. Tôi bỗng nhớ đến Ôn vô cùng.

Ôn nằm xuống đây gần ngót năm tháng. Buổi chiều Ôn về cõi Tịnh, nắng Huế vàng hoe. Hôm đoàn xe đưa Giác Linh rời chùa Từ Đàm về đây, mưa Huế sùi sụt. Bỗng chốc tôi ngỡ mình đang mơ…, vô thường là thế này đây, giả đấy thật đấy là cái thực tại này; trộm nghĩ giá mà thấy được tất cả đều giả trong thế giới hiện tượng này thì an tâm biết mấy.

Bảy tháng trước đây, nhân hôm cuối chuẩn bị cho lễ Tốt nghiệp và Cấp phát Văn bằng Cử nhân Phật học cho Tăng Ni sinh khóa I của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tôi hầu Ôn đi khắp Học viện. Ôn đang bệnh nhưng bước đi vẫn chững chạc, khuôn mặt rạng rỡ. Nhìn mấy bông hoa hồng vừa mới cắm, Ôn dạy: “Sao lại lựa hoa có màu nhạt quá rứa?” Rồi khi xuống hết cầu thang, chỉ những hoa hồng đỏ thắm, do Quý Sư cô đang cắm vào bình, Ôn dạy: “Ừ, ít ra thì cũng có hoa đỏ như ri nì!” Tôi buột miệng “Bạch Ôn, hoa giả cả đó”. Ôn cười nhẹ và nói: “Chớ có cái chi không giả, chỉ ra coi nào!” Ôn là thế, luôn luôn nhẹ nhàng, đơn giản, tùy duyên mà dạy bảo. Một hôm Ôn gọi tôi đến cạnh và nói: “Anh đừng nghĩ rằng hút thuốc mới viết được văn hay. Cụ Nguyễn Du ngày xưa đâu cần đến thuốc lá?” ‘Dạ con sẽ cố theo lời Ôn dạy mà bỏ thuốc lá…” –“Ừ, phải, anh phải bỏ hút, phải có sức khỏe để làm Phật sự…”- Dạ bạch Ôn, con sẽ cố gắng…nhưng con nghĩ có lẽ xưa kia cụ Nguyễn Du có hút thuốc lào…” Ôn cười: “Nghe cũng đúng…nhưng xưa không ai nhắc nhở cụ Tiên Điền.”

Tháp Ôn chỉ mới được hoàn tất phần cơ bản, bia đá chưa dựng và 8 cột trụ đá trước hai vòng tháp chưa khắc các câu đối, nghe đâu quý Thầy đang chọn câu, lựa chữ. Tôi còn nhớ, 3 năm trước đây, có lần Ôn dẫn đầu sang thăm hữu nghị Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, nhân khi được đề nghị viết vào sổ lưu niệm ở một Phật tự, Ôn đề nghị được viết bằng bút long, thay vì bút bi. Phía bạn ngạc nhiên và hoan hỷ đáp ứng, Ôn viết một mạch hai câu đối bằng chữ Hán riêng tặng bổn tự. Tôi từng được nhận thức tài năng văn học cũng như bút pháp Hán tự của Ôn nhưng quả thực chưa bao giờ thấy Ôn phong bút linh hoạt đến như thế. Thế là những ngày tiếp theo. Ôn đến đâu, các vị ở đấy cũng chuẩn bị sẵn giấy bút để xin chữ Ôn. Thậm chí tại chùa Đại Từ Ân, nơi thờ Ngài Huyền Trang, người ta bày sẵn cả một tờ giấy to hơn cái bàn viết và một cây bút long lớn như cán chổi gác bên nghiên mực vừa được mài quánh. Ôn bình thản ấn bút vào nghiên, vung tay viết một mạch, nét chữ mạnh mẽ mà uyển chuyển, hùng tráng mà thanh bai…Xong phấn lạc khoản, tiếng vỗ tay vang lên. Ôn cười nhẹ và cảm ơn mọi người. Phải chi những cột đá này được khảm khắc bằng những nét chữ của chính Ôn!...

Tháp Ôn vẫn vắng lặng và chiều xuống dần. Từ độ Trung thu năm n