Gác Thọ Lộc, một ngày chớm Ðông năm Tỵ, 2001
TIẾNG VỖ VỀ TU HỌC
Tâm Hiền TÔN THẤT CHIỂU
Tôi
trở về Huế lần đó với hai tin vui: Ôn đã cho in xong cuốn Ðại Trí Ðộ luận
tập 5 và Tổ đình Thiền Tôn, do Ôn chỉ đạo việc đại trùng tu, cũng đã làm
lễ khánh thành. Dĩ nhiên là Ôn rất vui. Vội vã đến vấn an Ôn, trong tôi
dấy lên niềm vui thứ ba là thấy Ôn vẫn còn rất khỏe mạnh, mặc dù tôi và
thầy Hải Ấn (cũng là một bác sĩ Y khoa) đều hiểu ngầm rằng trên phương
diện Y khoa hay trên căn bản Phật giáo, ngày ấy trước sau gì cũng phải tới
và ngày ấy đã thực sự xảy ra hôm 3 tháng 10 năm 2001. Tôi và một số lớn
Phật tử ở vùng Hoa Thịnh Ðốn đã tề tựu tại chùa Hoa Nghiêm cùng thầy Kiến
Khai từ xa vọng lễ Giác linh của Ôn và cầu nguyện Giác linh của Ôn Cao
đăng Phật quốc. Không biết phải bắt đầu như thế nào để kết hợp những kỷ
niệm về Ôn Thiện Siêu và chùa Từ Ðàm. Chỉ biết là tôi rời Huế lúc vừa xong
Tú tài nên kỷ niệm về Huế nói chung hết sức mơ hồ và rời rạc. Trí nhớ về
Phật giáo Huế chung chung chỉ xoay quanh về những năm Oanh Vũ của Gia đình
Phật tử và những mẫu chuyện từ Ôn Cụ tôi kể lại vào những lần thăm viếng
gia đình. Cả gia đình đều quy y với Ôn Linh Mụ, nên mỗi lần về Huế tôi đi
với gia đình thăm chùa Linh Mụ nhiều hơn là chùa Từ Ðàm. Thế mà qua điện
thư, Giáo sư Cao Huy Thuần từ Paris lại yêu cầu tôi viết đôi dòng trong
báo kỷ niệm bách nhật của Ôn, lúc đầu thì rất ngần ngại, nhưng lúc tôi
viết đôi dòng này lại rất cảm ơn anh Thuần là đã nhắc cho tôi một bổn phận
quan trọng là phải đánh thức cái tiềm thức của mỗi Phật tử người Huế sống
xa quê hương trong đó chùa Từ Ðàm nơi gợi nhớ và Ôn Thiện Siêu là tiếng vỗ
về tu học. Thế hệ chúng tôi gặp nhau một cách sôi động trong biến cố Phật
giáo năm 1963 vào cái lứa tuổi hồn nhiên nhìn mệnh nước và Ðạo Pháp qua
những suy tư hết sức giản dị. Chùa Từ Ðàm là nơi gặp gỡ để yêu cầu bãi bỏ
Ðạo dụ số 10 có từ thời Pháp thuộc và rất bất công cho Phật giáo, một tôn
giáo chiếm đa số, nhất là một khi đất nước đã có chủ quyền. Yêu cầu không
được thì xuống đường biểu tình, tuyệt thực, rồi đình công bãi thị. Xuống
đường xong, lúc đói, lúc cần nghĩ ngủ thì về chùa Từ Ðàm. Rất vui, giản
dị, hồn nhiên. Nhiều đứa bị bắt, trong đó có tôi, từ đầu mùa cho đến cuối
mùa tranh đấu. Trước khi bị bắt, Ôn Thiện Siêu chỉ nói với tôi vài câu,
lúc bị đưa lên xe bít bùng, Ôn Trí Thủ chỉ nhìn tôi và Phan Ðình Bính một
cách thương cảm mà không nói gì. Hết việc tranh đấu, ai lo việc nấy, nhưng
vào những ngày lễ lớn thỉnh thoảng lại gặp nhau ở chùa Từ Ðàm. Nếu một
phần tư thế kỷ xa quê, Từ Ðàm là nơi gợi nhớ, không là nổi nhớ quay quắt
của những cặp tình nhân xa cách nhau, mà là một cảm giác nghĩ về, ngóng
về, quay về một cách lâng lâng dịu dàng.
Mà
nhớ quê hương, nhớ Từ Ðàm là không thể không nhớ thầy Thiện Siêu, vì Thầy
hầu như lúc nào cũng đứng đó, ngồi đó trong cái nhà khách, nơi bộ trường
kỷ, đọc kinh sách, uống trà. Hình ảnh như thế tứ lúc tôi còn nhỏ theo Ông
Cụ tôi, đạo hữu Tâm Ðạo Tôn Thất Hàng, đến bàn chuyện với thầy Thiện Siêu
về tờ báo Viên Âm. Dạo đó lúc Thầy là Hội trưởng thì Ông Cụ tôi vừa là Phó
Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên vừa là quản lý tờ báo Viên Âm.
Hình ảnh như thế, không thay đổi bao nhiêu cho đến hàng chục năm sau lúc
tôi đã trưởng thành thỉnh thoảng đến chùa khám bệnh cho quý Thầy, cũng với
cuốn sách đang đọc nữa chừng trên bộ trường kỷ. Thầy rất ít nói , nhưng
khi nói thì tôi gọi là "tiếng vỗ về tu học", vì với ai không biết sao, chứ
đối với tôi lúc nào gặp, ngoài vài câu thăm hỏi thông thường, Thầy cũng
dạy vài câu ngắn gọn, nhẹ nhàng, súc tích. Gần đây nhất lúc được tin Ôn
bị bệnh, nhân một vấn nạn thời thượng về chuyên tạo dòng vô tính cho con
người (human cloning), anh BS Trịnh Ðình Hỷ từ Pháp có yêu cầu tôi có dịp
về Huế đến thỉnh ý Ôn về quan niệm của Phật giáo, tôi cùng BS Dương Ðình
Châu đến thăm Ôn, Ôn chỉ dạy có một câu thôi: "Nếu hiểu tất cả đều là
duyên sinh chứ không phải do ai sinh cả thì câu trả lời sẽ dễ dàng thôi",
thế thôi, sau đấy chỉ là những chuyện Phật sự quanh tách trà. Qua bao
nhiêu năm lưu lạc với công ăn việc làm, tôi thật không ngờ với dáng người
nhỏ nhắn, giọng nói nhẹ nhàng đó lại tiềm ẩn một sức làm việc phi thường
mà nay tổng kết lại chắc Phật tử nào quan tâm đến kho tàng văn hóa Phật
giáo Việt Nam nói chung đều thấy được sự đóng góp quí giá của Ôn Thiện
Siêu qua 81 tuổi đời và 53 tuổi đạo. Ngoài rất nhiều công trình biên soạn
và dịch thuật, gần cuối đời Ôn đã thực hiện được một lâu đài đó là xây
dựng lại một nền tảng cho thế hệ mai sau, đó là Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế, một cơ sở Ðại học Phật giáo đào tạo cho Tăng Ni sinh có vừa
khả năng Nội điển lẫn Ngoại điển để khi tốt nghiệp, Tăng Ni có khả năng
đối diện với những vấn đề khoa học vật chất và tâm linh hết sức phức tạp
của nhân loại trong thế kỷ 21. Thăm Ôn và Học viện Phật giáo Việt Nam tại
Huế năm 1998, tôi có phổ biến đến bạn bè Phật tử Hải ngoại, do đề nghị của
Hội đồng Ðiều hành Học viện, về nhu cầu kết hợp giữa bộ môn Tôn giáo của
một Ðại học ở Mỹ và Học viện trong những chương trình nghiên cứu, tu học
và giảng dạy cao cấp, nhằm góp phần vào sự phát triển Phật giáo thế giới.
Nếu đủ nhân duyên và việc này thành tựu, thế hệ chúng tôi một phần nào đền
đáp được công ơn của những tiếng vỗ về tu học nói trên. Ðến tuổi này tôi
vẫn còn cái hạnh phúc là mỗi lần trở về Huế lại có dịp lẽo đẽo theo chân
bố mẹ lên chùa, cái niềm vui giản dị đã có dịp mắt thấy tai nghe, học hỏi
những "cây Ðại thụ" trong kho tàng văn hóa Phật giáo Việt Nam để còn kể
lại một đôi điều thích thú cho thế hệ đến sau. Do tình thân thiết giữa Ông
Cụ tôi với Ôn Thiện Siêu mà năm nay, cho dù tuổi đã chẵn trăm, Ôn vẫn nhất
định cùng tôi đến thăm chùa Từ Ðàm khi nghe tin Ôn bị bệnh. Mặc dù lần này
tôi không phải lẽo đẽo theo mà phải dìu Ông Cụ tôi bước lên từng cấp của
Nhà khách, nhưng tim tôi rúng động khi nhìn Ôn vẫn thế, lại cái ghế trường
kỷ, lại cuốn sách trên tay. Nhìn cha tôi đứng đảnh lễ Ôn, như những năm
xưa, thời gian như đọng lại, trong Vô thường như có cái gì Thường còn, tôi
chụp một tấm hình, vội vã, như sợ làm tan mất một cái gì quí giá mong
manh. Chị Kim Lan ở Ðức đã về kịp để đại diện cho thế hệ chúng tôi nhìn
Ôn lần cuối trước khi Ôn xả báo thân. Theo thế sự thường tình, khi đức
Thích Ca từ giã cuộc đời ô trọc này, ngài A-Nan còn khóc, huống hồ gì là
chúng tôi, lòng trần chưa dứt. Những Cây Cổ thụ của Phật giáo Việt Nam lần
lượt ra đi, chúng tôi không thể giấu nỗi ngậm ngùi tiếc thương.
Nhưng tôi còn được lời đề tặng cùng chữ ký của Ôn Thiện Siêu trên trang
đầu của năm cuốn Ðại Trí Ðộ luận cùng những lời vỗ về tu học. Chúng tôi
biết các vị Bồ-tát vẫn ở cõi Ta-bà trong nhiều hóa thân khác nhau để cứu
độ chúng sanh.
Mỹ quốc 12-01-2002
TƯỞNG NHỚ THẦY THIỆN SIÊU
BÙI MINH
Lần đầu tiên tôi nghe đến Thầy Thiện Siêu -
tức Trí Ðức là năm 1952 hay 1953 gì đó (tôi không nhớ rõ).
Theo Hiệp định Genève 1954, hòa bình được lập
lại, tôi ra Huế tiếp tục việc học. Lúc đó mới có cơ hội được gặp và biết
các Thầy Trí Quang, Trí Nghiễm (tức Thầy Thiện Minh), và Thầy Thiện Siêu.
Những năm tháng sống ở Huế và được biết các
Thầy, tôi mới rõ là lúc ấy có những người cố tình xuyên tạc Phật giáo,
xuyên tạc các vị lãnh đạo có uy tín. Nhưng những lời tố cáo trên là hoàn
toàn sai sự thật. Tâm trạng các Thầy là tâm trạng của hầu hết những người
trong vùng bị tạm chiếm, là tâm trạng của thân kháng chiến, tâm trạng của
Quan Công: Thân tại Tào, tâm tại Hán.
Một phản chứng cho sự thân kháng chiến của
các Thầy lãnh đạo Hội Việt Nam Phật học là việc người Pháp cùng những
người cộng tác với họ thành lập Hội Phật giáo Thiền Lữ do Tăng sỹ Trí Hưng
cầm đầu để dẫn dụ người ta theo thực dân chống kháng chiến. Nhưng họ đã
thất bại, Hội Phật giáo Thiền Lữ là một cái xác không hồn. Còn Hội Phật
giáo Thế giới là Hội Phật giáo Liên hữu Thế giới,
trong suốt quá trình hoạt động của nó, người ta không thấy nó có hành động
nào gọi là chống phá cách mạng, mà nó góp phần quan trọng trong vụ Phật
giáo 1963, làm sụp đổ chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Ðình Diệm.
Tại Huế, tôi hân hạnh được gặp cả ba Thầy Trí
Ðức, Trí Quang, Trí Nghiễm tại chùa Từ Ðàm. Trước khi viết về Thầy Thiện
Siêu, tôi xin ghi ở đây ít nhận xét của giới Phật tử, nhất là những Phật
giáo có dịp cùng làm việc với ba Thầy. Trước một biến cố xảy ra, để giải
quyết, thì Thầy Trí Quang là người nhạy cảm, phản ứng nhanh nhất, đưa ra
sáng kiến. Sáng kiến đó, sẽ được Thầy Thiện Siêu phân tích, sửa chữa, bổ
sung, cho nó có tính khả thi. Cuối cùng, người thi hành là Thầy Thiện
Minh.
Chúng ta có thể đưa ra hình ảnh sau đây: Thầy
Trí Quang đưa ra một thỏi vàng có ít nhiều quặng, Thầy Thiện Siêu làm cái
việc loại quặng ra, để chỉ còn vàng nguyên chất. Cuối cùng việc làm ra đồ
trang sức là Thầy Thiện Minh. Ở đây tôi chỉ làm cái việc ghi lại ý kiến
người khác.
Những khi ba Thầy trao đổi nhau một vấn đế mà
tôi có dịp chứng kiến, tôi ít khi thấy Thầy Trí Quang phát biểu, phản bác
ý kiến của Thầy Thiện Siêu. Thường thì khi gọi Thầy Trí Quang, Thầy Thiện
Siêu chỉ gọi "Quang", Quang là tên tục của Thầy Trí Quang. Có lẽ đó là
cách gọi theo thói quen khi Thầy còn nhỏ, Thầy Thiện Siêu lại nhiều tuổi
hơn Thầy Trí Quang.
Bây giờ tôi viết riêng về Thầy Thiện Siêu.
Ngoài những ý tưởng độc đáo, phát hiện những
điều mới mẻ, và đúc kết sâu sắc những điều mình đã học và đã đọc được
trong kinh điển nhà Phật của Thầy, những người từng đọc tác phẩm và dịch
phẩm của Thầy lại còn thấy văn từ của Thầy trong sáng, nổi bật so với văn
từ những Tăng sĩ được đào tạo cùng thời với Thầy.
Ðiều này đáng nói. Vì chương trình học của
các Thầy tại trường An Nam Phật học từ 1934 đến 1943, chủ yếu là Kinh sách
bằng chữ Hán. Nhà trường lại cấm tuyệt học Tăng không được đọc những sách
"thế gian" ngoài đời, với quan niệm rằng việc đọc sách ngoài đời chỉ xúi
giục các Thầy hoàn tục, cũng như xã hội không cho phép con gái đi học, vì
con gái đi học chỉ để đọc thư và viết thư cho con trai.
Tuy nhiên, không ít vị đã không giữ kỷ luật
và đọc chui. Tôi nghĩ trong số này không có Thầy Thiện Siêu, vì Thầy là
người rất tôn trọng kỷ luật. Ða phần chúng ta mắc chứng bệnh tự mãn về
kiến thức của mình; hoặc nếu thấy mình có điều không hiểu biết thì che
giấu, ngại ngùng, không muốn hỏi người khác, nhất là những người kém hơn
mình về kiến thức cũng như tuổi tác. Ðiều này không có ở Thầy Thiện Siêu.
Thầy đạt được cái đức mà người xưa bảo rằng: Không cho là mất thể diện khi
hỏi người kém mình (bất sĩ hạ vấn).
Có lần Thầy đọc Thái Hư toàn thư, gặp câu:
"Nhân nhi vô tín như đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột". Vì không quen văn
học riêng của Trung Quốc, Thầy gọi tôi và hỏi, câu ấy của ai. Tôi thưa với
Thầy câu này của Khổng Tử, và tôi đọc toàn văn lời Khổng Tử: "Nhân vô nhi
vô tín bất tri kỳ khả dã. Ðại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kỳ hà dĩ hành
chi tai"
Thấy sách vở viết về Phật giáo bằng tiếng Anh
lưu hành khá nhiều ở Việt Nam, Thầy quyết định học tiếng Anh để nghiên
cứu. Nếu tôi không lầm, thì người đầu tiên giúp Thầy học tiếng Anh là ông
Nguyễn Khoa Việt.
Ham học, ham hiểu biết, Thầy cũng có là nguời
"lân tài", quan tâm đến tương lai Phật giáo để làm công việc "truyền đăng
tục diệm", Thầy cố tìm tòi, phát hiện những tài năng mới để giao truyền
ngọn đuốc chánh pháp. Một trong những tài năng đó được Thầy phát hiện khi
Thầy đọc một số bài trong tờ báo Phật giáo Vạn Hạnh, xuất bản ở Sài Gòn
trước 1975. Vì tác giả lúc đó còn quá trẻ, chưa ai biết đến. Thầy mò mẫm
tìm cho được, khi biết tác giả, Thầy tìm cách gặp và khi tác giả những bài
báo được gặp Thầy, Thầy hết lòng chăm sóc, khuyến khích, nâng đỡ.
Phần tôi, dù sống bên cạnh Thầy trong nhiều
năm tháng, tôi vẫn ít dịp trao đổi với Thầy, ngoài việc học Phật giáo với
Thầy và những câu chuyện thông thường. Lý do, là những năm tháng ở Huế,
tôi mãi lo việc học hành, thi cử. Ðến lúc ra đời làm việc thì tôi lại ở
Sài Gòn, mà Thầy thì chỉ ở Huế, hay ở Nha Trang. Năm 1974, Thầy ra Nha
Trang để lãnh đạo viện Cao đẳng Phật học, thì tôi lại rời Nha Trang về
Huế, mà có ghé thăm Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi, lúc nào Thầy cũng mang
những đặc sản Quảng Ngãi: Kẹo gương, Mạch Nha... mà gia đình tôi gởi cho
tôi.
Năm từ Pháp về Việt Nam, tôi ra Huế thăm các
Thầy và chùa, là những người và là nơi đã có công ơn hình thành nhân cách
tôi. Thầy đã cho tôi ba nghìn đồng, số tiền khá lớn thời đó. Lần cuối cùng
tôi gặp Thầy là tại Thiền viện Vạn Hạnh, cách đây hai năm, lúc đó Thầy
đang mang bệnh nan y đã đến thời kỳ trầm trọng. Lúc tôi vào thăm, Thầy nằm
trên võng, một chú điệu đang đọc sách cho Thầy nghe. Sau độ năm phút, Thầy
bảo chú điệu ngưng đọc và ra ngoài để tiếp tôi. Sau những lời thăm hỏi
thông thường, Thầy hỏi tôi về tình hình Phật giáo ở nước ngoài, nhất là
Phật tử Việt kiều.
Tôi thưa với Thầy về tình hình Phật giáo ở
Pháp, là nơi tôi sinh sống, chứ các nước khác tôi không rõ. Về phía Phật
tử Pháp thì đa số họ thuộc giới trí thức, chứ đạo Phật chưa thâm nhập vào
quần chúng bình dân Pháp. Một tư tưởng, một tôn giáo chưa thâm nhập vào
quần chúng thì khó có cơ hội tồn tại, mặc dù người Pháp cũng có xây dựng
một ít chùa, có một số Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni người Pháp, trong đó có một
vị nổi tiếng là Tỳ kheo Mathieu Richard, và Hội Phật giáo Pháp có buổi
phát thanh hàng tuần vào mỗi buổi sáng chủ nhật trên đài 2. Mặt khác, tinh
thần tín đồ các tôn giáo vốn bảo thủ, nó không chịu thu nạp cái gì mới, vì
thế mà sau một thời kỳ thịnh đạt, Phật giáo đã lu mờ trên quê hương đất
Phật và tôn giáo truyền thống Bà-la-môn lại ngự trị nơi đây. Chính ngay De
Gaulle cũng không muốn có một tôn giáo nào khác, ngoài Thiên Chúa giáo,
trên nước Pháp.
Còn một số chùa chiền người nước ngoài lập ra
ở Pháp, thì có một ít chùa Campuchia, Lào, Thái Lan, một ít chùa Tây Tạng,
và khá nhiều chùa Việt Nam, có lẽ đến hàng trăm. Riêng tại Toulouse, nơi
tôi ở và vùng phụ cận, đã có hai chùa và một thiền đường. Ðể duy trì, không
những duy trì mà còn phát triển, làm chùa mới không phải dễ về mặt tiền
bạc, nhất là Phật giáo chưa được chính phủ Pháp biệt đãi về mặt tài chánh,
vì Phật giáo chưa được thừa nhận là một tôn giáo. Tất cả đều trông cậy vào
sự đóng góp của Phật tử. Nội chừng đó cũng thấy lòng tin Phật của người
Phật tử ở Pháp vẫn còn vững vàng, sống động, dù ở xa chùa chiền quen thuộc
ở nước nhà. Và biết đâu, cũng vì xa chùa chiền bên nhà mà lòng tin càng
được biểu lộ, như người con xa gia đình lại càng thương cha mẹ nhiều hơn,
và cũng qua đó, chúng ta thấy lòng gắn bó với quê hương của Việt kiều.
Trong số các chùa Việt Nam ở Pháp, có chùa có
liên lạc với Hội Phật giáo bên nhà, có chùa không. Sự hiện diện của các
chùa tại Pháp nói riêng, tại nước ngoài nói chung, đã giữ được, củng cố
được và tăng cường niềm tin Phật của người con Phật ở xa quê hương. Họa
hoằn lắm mới có người đổi đạo, nhưng viễn ảnh tương lai chưa biết thế nào.
Vì đa số Phật tử tới chùa đều là người lớn tuổi, rất ít thanh thiếu niên.
Ðó là lần cuối cùng tôi được gặp Thầy và nói
với Thầy về một vấn đề có tính thời sự. Giữa Thầy và tôi, có những chuyện
tính thời sự là rất hiếm. Tôi nhớ hình như chỉ có ba lần.
Lần
thứ nhất, Thầy bảo tôi viết ít dòng để đọc nhân dịp chùa Từ Ðàm cầu nguyện
cho Phật giáo Tây Tạng được ổn định và tiếp tục phát triển. Tôi đã viết,
đại ý sự bức bách, áp bức Phật giáo không chỉ một số chính quyền mà còn
nhiều chính quyền kỳ thị tôn giáo khác nữa. Tôi muốn ám chỉ chính quyền
Ngô Ðình Diệm, vì lúc đó không thể nói công khai. Thầy đã đồng ý và bằng
lòng.
Lần
thứ nhì, tại chùa Già Lam, khi Thầy từ Nha Trang vào Sài Gòn theo lời mời
của Thầy Trí Thủ để thành lập Hội Phật giáo Việt Nam. Thầy hỏi ý kiến tôi.
Tôi trình bày với Thầy những thuận lợi khó khăn chủ quan từ bên trong, và
những thuận lợi khó khăn khách quan từ bên ngoài trong việc thành lập Hội
Phật giáo Việt Nam.
Lần
cuối, Thầy hỏi tôi về tình hình Phật giáo nước ngoài, lần này là lần thứ
ba có tính thời sự.
Sợ
Thầy mệt, sau nửa giờ tôi chào từ biệt Thầy với tâm trạng lo âu, đau buồn
về sức khỏe của Thầy. Tôi trở lại Pháp, và vẫn theo dõi tình trạng sức
khỏe của Thầy, biết là tình trạng ngày càng xấu đi.
Thế
rồi, đêm 20-8 âm lịch năm ngoái, từ chùa Trúc Lâm, Paris, Thầy Phước Ðường
điện thoại cho tôi biết là Thầy đã Viên tịch ngày 17-8, và Thầy Thiện Niệm
ở Phật Ðường Khuông Việt (Paris) đã đại diện Hội Thân hữu Phật tử Âu Châu
về nước thọ tang.
Vì
trong tâm trạng nghĩ rằng Thầy có thể ra đi bất cứ lúc nào, nên tôi đã
không bàng hoàng, sửng sốt, và chỉ nghĩ rằng sự ra đi của Thầy là một tổn
thất to lớn cho Phật giáo về mặt tổ chức cũng như về mặt nghiên cứu.
Về
mặt tổ chức, Thầy là người lãnh đạo có uy tín về phong cách cũng như về
đức độ. Về mặt nghiên cứu, Thầy là một trong ít ngôi sao sáng của Phật
giáo Việt Nam hiện nay. Ước vọng của Thầy Thiện Châu là khi đã về ở hẳn
Việt Nam sẽ học giáo lý với Thầy.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, và gián tiếp qua đó, trong lịch sử Việt
Nam, Thầy đã góp phần không nhỏ. Riêng trong Ðại Tạng Kinh Việt Nam, những
tác phẩm và dịch phẩm của Thầy, sẽ chiếm vị trí quan trọng như của nhiều
vị Tăng sĩ Việt Nam và Trung Quốc nổi tiếng.
KỶ NIỆM VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Ni Trưởng THÍCH NỮ VIÊN MINH
Thầy
Hải Ân gởi cho tôi hai cuốn: 1. Luận Ðại Trí Ðộ cuốn 4, 1 bộ Trung Luận
Hòa thượng ký ngày 01-8-2001 là bộ Luận cuối cùng, Ngài viên tịch ngày
03-10-2001 tức 17-8 Tân Tỵ
Tôi
cố gắng viết một phần nhỏ về Hòa thượng khi còn là Ðiệu học với Ôn Trí Ðộ
ở Báo Quốc. Một hôm Sư bà Diệu Không qua chùa thấy Ðiệu ngồi dưới gốc cây,
Sư bà nói: Ðiệu ngồi buồn chi rứa? Sao không vô chơi với mấy Ðiệu trong
chùa? Ðiệu trả lời: Buồn à? Vui chứ buồn chi? Hôm khác Sư bà lại có dịp
qua chùa, lại thấy Ðiệu ngồi dưới gốc cây, Sư bà bốc một nắm kẹo đưa mời:
Ðiệu ăn kẹo đi, ngon lắm. Ðiệu đáp: Không ăn. Sư bà tinh ý, lấy một ngọn
lá cây ngọc lan mời rồi để kẹo vào, hai tay bưng kẹo vào: Tôi cúng dường
Ðiệu, mời Ðiệu thời kẹo. Thấy Sư bà nghiêm chỉnh, Ðiệu mới nhận quà.
Khi
Hòa thượng làm Giám đốc Phật Học viện Hải Ðức - Nha Trang, gặp thời thế
bất ổn, nhà chức trách không muốn đông học Tăng, lấy cớ có kẻ xen làm
chính trị. Ôn nghỉ dạy, chuyên dịch Kinh sách. Có người phê bình Ôn vô
nghệ, không làm chi tiết.
Ôn
xuống Hãng Kinh tế tự túc của Phật Học viện, lấy vật liệt tre mây đan
những dĩa hình bầu dục rất khéo, ở bên chùa Long Sơn, mỗi ngày 2 giờ, đan
xong đưa qua Hãng, thế là Ôn có góp phần công nghệ. Xong Ôn lại lên dịch
Kinh. Ðến kỳ nhập Hạ, chúng Tăng y áo cúng Quá dường, Phật tử lên đông bị
xét hỏi phiền phức, Ôn bảo mặc áo rộng mật niệm ăn cơm cũng được.
Ni
viện Diệu Quang 3 giờ sáng dậy đánh hồng chung, Ôn nhắn xuống bảo đừng
đánh chuông sớm mất giấc ngủ họ la cho chứ. Tôi bảo chúng đánh 3 giờ rưỡi.
Họ thưa chúng ít, Sư bà đã chia chúng đi hai phiên công phu khuya. Chúng
con công phu xong, xuống còn đi chấp tác và ăn cơm xong mới lên học, trễ
quá không kịp giờ, nên cho chúng con cứ đánh chuông 3 giờ sáng. Kẹt quá
tôi phải tùy thuận, nhưng may phố đó gần chợ, lại toàn Phật tử, ít có nhà
công chức, nên không ai nói gì.
Ôn biết yên rồi thì tôi.
Khi
về Huế, có một năm Ôn cùng về một chuyến xe. Ðến Ðà Nẵng trời tối, xe đậu,
sáng sau 5 giờ mới chạy lại, chú thị giả mượn một ghế xấp Ôn nằm nghỉ. Tôi
ngồi ngó thẳng ra nhòm đồ vật. Ôn dạy: Bà lại ghế dài đằng kia mà nghỉ
một chút. Tôi thưa: Con tỉnh lắm, con mắc ngó đồ đạc kia. Ôn biết ý tôi
canh kẻ cắp, nên tùy, không nói nữa.
Một
năm, Sư bà Diệu Không sửa chùa Ðông Thuyền xong, làm lễ Khánh thành, chúng
Hồng Ân, Kiều Ðàm ra sức làm việc chu đáo. Xong lễ rồi, chúng xin chúc thọ
Sư bà 85 tuổi, Sư bà không cho, chúng buồn quá, về bạch Ôn. Ôn dạy: Chúng
họ làm việc hết sức, mà bà không hoan hỷ cho lời yêu cầu của họ là không
nên. Vì Ôn dạy vậy nên Sư bà phải tùy thuận. Ôn lại cho hai câu liễu Hán
tự:
Ðạo
thọ hoa khai hương mãn kính
Tùng
lâm nguyệt hiện điểu quy sào
Dịch
Cây
đào nở hoa, đường hương ngập,
Chùa
thuyền trăng hiện, tổ chim về.
Năm
1995, Ôn qua thăm chùa Hồng Ân, Sư bà mắt kém, không thấy Ôn nên không
chào, khi Ôn lên tiếng, Sư bà lật đật vái. Còn tôi thấy Ôn thì chào liền,
nhưng lại không nghe rõ, Ôn dạy 10 lời, chỉ nghe được 2,3. Ôn dạy vui:
Hai bà thật kiêu ngạo, một bà không thèm thấy, một bà không thèm nghe. Sau
khi Sư bà Diệu Không tịch rồi, lễ Tiểu tường có Ôn, Ôn ngồi xơi nước nơi
bàn hộc tộ, trước giờ làm lễ. Tôi đến chào, thấy Ôn thì cười. Ôn hỏi
ngay: Bà cười việc chi? Tôi thưa: Dạ không có việc chi. Ôn dạy: Không có
việc chi răng bà cười? Tôi biết rằng mình có lời thiếu oai nghi, nên lặng
thinh, không bào chữa, Ôn biết rằng hiểu, nên thôi không quở nữa. Từ đó về
sau tôi rất thận trọng, đến trước Ôn nghiêm chỉnh vái chào. Ôn hỏi gì mới
đáp.
Hòa
thượng đã phiên dịch trước tác: 7 bộ Kinh, 1 bộ Luật, 5 bộ Luận, Luật có 1
bộ, nhưng đề là Cương Yếu Giới Luật, tóm thâu tất cả ý chỉ của Luật trong
đó. Nay Hòa thượng đã viên tịch, ai tưởng niệm Hòa thượng xin hãy đọc kỹ
các bộ Kinh, Luật, Luận của Hòa thượng đã phiên dịch trước tác là tưởng
niệm sâu xa nhất.
Hòa
thượng đã sống một cuộc đời rất bình thường giản dị, mà tâm hồn thì siêu
thoát tuyệt vời!
Phật lịch 2545 ngày 12-12-2001 (28-10 Tân
Tỵ)
CẢM NIỆM CỐ ÐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN
SIÊU
HUYỀN LINH TỬ
Ôn
ơi!
Dẫu biết
thân cát bụi,
Ðã trở
về với cát bụi
Chuyện
vô thường
Ai đếm
được thời gian
Sự ảo
huyền của sắc không quanh quẩn
Thật nhẹ
nhàng
Như cơn
gió thoảng qua
Những
hạt chân như!
Mà Ôn
đem giao vãi
Cái có -
Còn!
Cho ngàn
đời và mãi mãi ngàn sau
Trong ký
ức của muôn đời ghi lại
Trong
thanh sử vẻ vang sông núi
Thân đã
mất
Hồn rạng
ngời văn hóa
Bậc đại
trí sá gì giông bão
Dẫu bùn
nhơ
Sen vẫn
tỏa ánh thanh từ
Lòng đức
độ soi tỏ cõi hư vô
Chỉ có
khen làm mát lòng bao thiên hạ
Người
trí giả hương thiền ngút tỏa
Kẻ cuồng
si phong trì lục đục
Ôi!
Tuyệt diệu phi thường chi lạ
Lời đạo
hạnh rũ lòng xứ xứ
Dắt lầm
mê về bến giác cho đời
Cõi trần
gian mấy ai được thế
Ôn Từ
Ðàm
Ðất trời
xứ Huế
Của hôm
nay
Vài mai
sau thực tế
Ðậm lòng
người ghi chớ nào quên
Cái thân
thương -
Gần gũi
ôn tồn
Thật Ông
cháu -
Cha con
thắm thiết
Ðạo nghĩ
a ni -
Ăm
ắp chốn thiền môn
Mấy lần
xa
Và mấy
lần gặp lại
Ôn cho
con những lời thơm hoa trái
Ôi! Ngọt
ngào mát dịu khách lãng du
Ôn cho
con những sách, kinh mới viết
Ý
thật nhiều - "đoạn sách"
Nhưng
chỉ có chữ sắc không
Ô hay!
Thì ra đó!
"Tâm
đồng không"
Hôm nay
ngày Tiểu Tường
Con kính
dâng Ôn đôi lời cảm niệm
Dệt
thành thơ
Nuối
tiếc nhớ thương Ôn
Kính
chúc Ôn
An vui
nơi cõi Tịnh
Trí độ
sanh cảm hóa chốn Ta-bà.
NHỚ HÒA THƯỢNG
VÕ HỒNG
Trên
tập san VU LAN 1997 của Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
có đăng bài TIẾNG CHUÔNG TRÊN MỘ của tôi. Tòa soạn ghi chú: "Nhân về thăm
Tổ đình Từ Ðàm - Huế, chúng tôi được Hòa thượng Thích Thiện Siêu cho đọc
bài tùy bút mà Hòa thượng vừa photo cho chúng tôi một bản..."
Tôi
xúc động không ngời vì cảm tình của Hòa thượng.
Mùa
hè 2001, thầy Tâm Hải ở tòa soạn báo GIÁC NGỘ cho biết: Hòa thượng Thiện
Siêu muốn Giáo hội tập họp và in thành tập những truyện của tôi có nội
dung mô tả cái ÐẸP của tinh thần Phật giáo. Tôi giúp tay thầy Tâm Hải, vừa
thầm cảm tạ lòng ưu ái của Hòa thượng đã để tâm thưởng thức nghệ thuật
tinh tế như vậy. Tôi đã viết về đạo Phật theo cái cảm xúc chân thật của
tôi, không hát ca múa lượn lưu loát rập theo bao nhiêu khuôn mẫu đã có.
Năm
1956, tôi dạy học ở trường Bồ Ðề - Nha Trang. Chắc qua phản ảnh của nhiều
Tăng Ni sinh theo học mà Hòa thượng Trí Thủ có cảm tình với tôi. Hòa
thượng dặn Thượng tọa Ðổng Minh lưu ý coi trường Bồ Ðề có phân phối giờ
dạy đủ cho tôi nuôi con hay không. Khi Giáo hội mở Viện Cao đẳng Phật học,
Hòa thượng còn dành một số giờ dạy cho tôi. Và tôi đã có dịp đi sát với
từng sinh hoạt của Ðại Giới đàn PHƯỚC HUỆ tháng chín năm Quý Sửu để viết
truyện ÐI CON ÐƯỜNG KHÁC.
Cũng
thời gian sinh hoạt ở lớp Cao đẳng Phật học, tôi thở chung không khí với
Hòa thượng Phước Hộ, nguyên Trú trì chùa Ðá Trắng và Hòa thượng Trí
Nghiêm, nguyên Trú trì chùa Hội Tín. Hai ngôi chùa nổi tiếng này là láng
giềng của chùa Châu Lâm, tục danh là chùa Ðồng Mạ, chùa của làng tôi mà
tôi giới thiệu trong tiểu phẩm MÁI CHÙA XƯA.
Dạy
ở chùa Bồ Ðề 30 năm, tôi còn là láng giềng của Hòa thượng Chí Tín, Trú trì
chùa Long Sơn. Soát lại quá khứ, quả là tôi có duyên với các ngôi chùa và
các Hòa thượng, trong đó có Hòa thượng Thiện Siêu.
HOA VÀ CÂN
HỮU THỌ
Ðài
báo tin Hòa thượng Thích Thiện Siêu viên tịch ở Huế ngày 3-10 lúc 17 giờ
tháng 8 âm lịch. Vì ở xa, tôi chỉ có thể viết thư chia buồn. Nhưng tôi vẫn
nhớ những lần tâm tình với Hòa thượng, có buổi ghé qua chùa Từ Ðàm đàm đạo
trong chuyến đi công tác ở Huế; nhớ mãi giọng nói từ tốn mà sâu sắc của
Hòa thượng.
Chợt
nhớ, năm 1993, Hòa thượng biếu tôi một cuốn sách, nhan đề "Vô ngã là
Niết bàn" với lời đề tặng thân thiết. Thú thật với vong linh Hòa
thượng, sách Hòa thượng biếu tôi có đọc một hai chương, có gạch chỗ cần
suy nghĩ, nhưng không đọc hết, vì có quá nhiều công việc phải làm, quá
nhiều sách để đọc. Cũng nhân ngày chủ nhật và cũng là để nhớ Hòa thượng,
tôi lục tủ sách lấy ra, đọc hết.
Trong nhà tôi thờ cúng tổ tiên và thờ cụ Hồ nhưng không theo đạo Phật. Tuy
nhiên, thỉnh thoảng tôi cũng hay đọc các sách tôn giáo, để hiểu biết thêm
mặt triết học, đặc biệt là những lời giải, lời răn đe về đạo đức. Hôm đó,
tôi đọc sách Hòa thượng biếu cũng theo tinh thần đó. Ðể sang một bên những
tư duy triết học không giống nhau, tôi thấy rõ tác giả đang phân tích
nhiều vấn đề rất sâu sắc mà dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống bình thường;
đọc thì dể hiểu, còn suy nghĩ sâu xa đến đâu thì lại tùy người đọc. Chợt
thấy câu "Bạn như hoa, bạn như cân, không phải là bạn!", bắt tôi
phải dừng đọc để suy nghĩ. Ðọc lời giải thích đại ý của Hòa thượng, tôi cứ
ngẫm nghĩ mãi để phân tích mà hiểu thêm. Bạn như hoa là bạn đến làm
quen vì lợi, vì danh, đến chơi nói toàn lời tán tụng đẹp như hoa, nhưng
hoa nở rồi hoa lại tàn; hết lợi, hết quyền thế thì hết bạn, cho nên không
phải là bạn tâm giao! Bạn như cân, là những người tính toán thiệt
hơn trong quan hệ, chơi với nhau mà cũng mặc cả, cân đo sòng phẳng; không
có chuyện chia sẻ, giúp nhau vô tư, không thể là bạn khi hoạn nạn!
Ðọc
những lời sâu xa, cô đọng thường phải ngẫm nghĩ. Không hiểu suy nghĩ của
tôi có trúng ý Hòa thượng hay không?
(Trích báo Sinh Viên Việt Nam số 46-
Thứ Ba ngày 13.11.2001, tr.7)
NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN VỀ HÒA THƯỢNG THIỆN SIÊU VÀ LỚP HỌC TĂNG BÁO QUỐC ÐẦU TIÊN
MINH CHI
Hòa
thượng Thiện Siêu làm đậm nét lại một số kỷ niệm tản mạn nhưng sâu sắc và
có ý nghĩa mà tôi có được, ngay từ lớp Học Tăng Báo Quốc đầu tiên, về vị
Hòa thượng có trình độ Phật học uyên bác này.
1.
Làm giám thị bất đắc dĩ
Ðó là khoảng thời gian 1937-1937. Nhờ có bạn
đồng học là anh Ngô Ðiền,
cháu cụ Lê Ðình Thám, cho nên tôi và một số bạn học nữa cùng lớp ở trường
Khải Ðịnh (nay đổi tên trường Quốc học), như các anh Hoàng Ðình Phu,
Nguyễn Hữu Quán, tham gia Ðoàn Phật học Ðức Dục, do cụ Thám sáng lập và
được nghe cụ Thám giảng về Phật học. Tôi biết và hâm mộ Phật học, và bắt
đầu ăn trường trai từ ngày đó.
Tôi biết được và tin theo đại Phật là do anh
Ngô Ðiền mà tôi là bạn rất thân. Nhân dịp này, tôi xin đính chính một chi
tiết sai lầm mà nhà văn Tô Hoài đã viết về tôi, trong cuốn hồi ký "Chiều
Chiều". Sao khi điểm mặt một số thầy có giản ở trường Nguyễn ÁiQuốc I
lúc bấy giờ, khóa mà nhà văn Tô Hoài có tham gia học cùng với một số nhà
văn khác, Tô Hoài có nhắc đến tôi và nói tôi theo đạo Phật là vì yêu con
gái cụ Thám. Thực ra, tình yêu là chuyện sau này, còn tôi biết đến đạo
Phật, học Phật với cụ Lê Ðình Thám, cũng như một số bạn đồng học khác là
qua bạn cùng lớp là anh Ngô Ðiền, cháu cụ Thám.
Vì hâm mộ đạo Phật và say sưa học Phật cho
nên tôi đã nhận lời làm Giám thị trường Học Tăng Báo Quốc. Làm Giám thị
mục đích là để học Phật, không phải lả để kiểm soát tư cách đạo đức của
các học Tăng, nhất là lúc bấy giờ tôi còn quá trẻ.
Lúc bấy giờ, tôi đã học xong và đỗ phần thứ
nhất Tú tài, đến phần thứ hai Tú tài, chế độ học có thoáng hơn, cho nên
tôi có thể không đến Trường nghe giảng, và cuối năm vẫn thi được, và như
vậy tôi có nhiều thời gian để làm công tác giám thị và tham gia học Phật
học. Và cũng nhờ vậy, tôi có cơ hội làm quen với một số thầy lúc bấy giờ
là học Tăng xuất sắc, như các thầy Trí Tịnh, Trí Quang, thầy Thiện Siêu và
một số thầy khác, trong đó có thầy Thiện Hòa, mặc dù không phải là học
Tăng xuất sắc, nhưng tôi rất thân cận vì thầy Thiện Hòa dễ mến. Chính thầy
Thiện Hòa là người đã vẽ kiểu và xây thiết bị lọc nước sạch cho trường Học
Tăng Báo Quốc. Học Tăng năm ấy được ăn uống nước sạch và dùng nước sạch là
nhờ công của thầy Thiện Hòa.
Các thầy Trí Tịnh, Trí Quang và Thiện Siêu
lúc ấy còn rất trẻ, nhưng phong cách mỗi người một khác. Thầy Trí Quang
thì cá tính mạnh mẽ, theo lời cụ Thám nói với tôi như vậy. Thầy Trí Tịnh
và thầy Thiện Siêu lúc bấy giờ đã giỏi chữ Hán, lại rất cần cù, chăm học,
ít nói. Thầy Trí Tịnh lúc bấy giờ đã đeo kính cận và mắt yếu. Thầy Thiện
Siêu thì da hơi xanh, trên đỉnh đầu có vệt trắng hình hơi tròn, như là bôi
phấn vậy. Chúng tôi thường nói đùa là thầy có cái đầu mốc. Nhưng cái đầu
mốc ấy lại rất thông minh và học giỏi.
Tôi làm Giám thị ở đấy chỉ là hình thức, bởi
lẽ tôi không hơn tuổi các thầy bao nhiêu, lại là học sinh trường Trung học
chưa tốt nghiệp, cho nên dành nhiều thời gian để nghe giảng và nhất là đọc
sách Phật, đàm đạo không biết chán với thầy Thiện Hòa. Thầy Trí Quang hiện
nay vẫn kém tôi ba tuổi, thầy Thiện Siêu cũng kém tôi hai tuổi. Như vậy để
giải thích vì sao, đối với tôi, nhận chức Giám thị chỉ là bất đắc dĩ, là
hình thức để tôi có cơ hội trực tiếp nghe giảng, đọc sách báo Phật, mà
thời bấy giờ rất là hiếm hoi, nhất là tạp chí Hải Triều Âm, bằng Hán văn,
do chính Ðại sư Thái Hư làm chủ nhiệm.
Mãi về sau này, sau ngày giải phóng, gặp lại
thầy Trí Tịnh, nhân Ðại hội Giáo hội kỳ III, thầy mới cho biết là việc cử
tôi làm Giám thị trường Học Tăng Báo Quốc có gây phản ứng thời bấy giờ, và
thầy Trí Tịnh đã chủ động triệu tập một cuộc họp đặc biệt của học Tăng và
bàn với nhau sống và học thế nào để cho một giám thị rất trẻ không thể phê
bình được.
Thật ra, tôi không quan tâm gì lắm đến chức
vụ Giám thị, mà công việc cụ thể nhất chỉ là ngày Chủ nhật, dẫn các học
Tăng đi dạo cho có nề nếp, thế thôi. Còn kỷ luật học tập, thì đã có giáo
thọ là cụ Thích Trí Ðộ lo rồi. Còn kỷ luật sinh hoạt thì nói chung các
thầy quá hiền lành, quá nề nếp, lại được thầy Trí Tịnh cảnh báo, cho nên
không có chuyện gì xảy ra hết.
2.
Thầy Thiện Siêu giảng cho anh V.Ð.C và
tôi về Nhân minh học
Trong thời gian ở Báo Quốc, tôi có nghe cụ Lê Ðình Thám giảng về môn Nhân
minh học, tức môn Lôgíc học Phật giáo, nhưng hồi ấy tôi quan tâm về môn
Duy thứ hơn là môn Nhân minh. Cho nên, các bài giảng Nhân Minh của cụ Thám
tôi hầu như quên hết. Ðó là một sai lầm của tôi, bởi vì trong Nhân minh
học có một phần rất quan trọng là Nhận thức luận, rất gần gũi với môn Tâm
lý học, tức Duy thức. Cho nên, khi anh Hợp, Trưởng ban Lôgíc học thuộc
Viện Triết của Ủy ban Khoa học Xã hội TW yêu cầu tôi giảng một khóa về
Nhân minh học cho cán bộ Ban Lôgíc học nghe, tôi đành bó tay, và đi cầu
viện Hòa thượng Thích Thiện Siêu vậy.
Ðây
là một cơ hội đề chúng tôi, anh V.Ð.C và tôi, đi thăm Nha Trang, gặp các
Hòa thượng Thiện Siêu, Trí Nghiêm và quí thầy Thiện Bình, Trí Tâm. Ðể được
ở gần biển, anh V.Ð.C và tôi nghỉ lại chùa thầy Trí Tâm, và ngày ngày lên
chùa Hải Ðức để gặp thầy Thiện Siêu trên núi, nghe giảng, thọ trai rồi lại
về chùa thầy Trí Tâm nghỉ.
Thầy
Thiện Siêu giảng cho anh V.Ð.C và tôi nhiều đoạn chính trong cuốn Nhân
minh nhập chánh lý luận, chữ Hán, của Thương Yết La Chủ. Sau đó, thầy
Tuệ Sỹ lại cho tôi mượn cuốn Buddhist Logíc bằng Anh ngữ của Viện
sĩ Nga Secbatsky, mà tôi được nghe tiếng đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy,
chứ đừng nói gì đọc và nghiên cứu. Cùng với hai quyển trên, tôi còn mượn
được cuốn Nyaya Bindu (Một giọt Lôgíc) của Dharmakirti (Pháp Xứng)
do Dharmaottara, luận sư người Kashmia chú giải. Quyển này cũng do
Secbatsky dịch ra Anh ngữ.
Ðược
nghe giảng, lại được hai cuốn sách quý, tôi khác nào được vàng. Sau đó,
anh V.Ð.C và tôi từ giã nhau. Anh C. thì đáp tàu hỏa vào Thành phố Hồ Chí
Minh, còn tôi thì đáp máy bay đi Hà Nội.
Các
bài giảng của tôi về Nhân minh học do Ban Lôgíc thuộc Viện Triết học (một
viện nằm trong cơ cấu của Ủy ban Khoa học Xã hội TW) hoàn toàn dựa vào nội
dung cuốn Nyaya Bindu của Dharmakirti, và cuốn Lôgíc học Phật
giáo của Secbatsky, cũng như những điều thầy Thiện Siêu giảng qua cuốn
Nhân minh nhập chánh lý luận.
Theo
yêu cầu của thầy Thiện Siêu, tôi có gởi bản thảo các bài giảng về Nhân
minh học của tôi ở Ban Lôgíc học Viện Triết co thầy để tham khảo, trong
khi viết cuốn Lối vào Nhân minh học và Viện Nghiên cứu Phật học
xuất bản năm 1994.
3.
Kỷ niệm cảm động nhất.
Tôi
sẽ không nói về các cuộc gặp thoáng qua giữa thầy Thiện Siêu và tôi trong
nhiều năm qua, hoặc ở Hà Nội, trong các kỳ Ðại hội, hay ở Huế, khi tôi dự
cuộc họp mặt với các học sinh cũ trường Quốc học Huế, hay là nhiều lần hơn
ở Thành phố Hồ Chí Minh, khi Thầy ngụ tại chùa Già Lam, trong khi Thầy dự
các phiên họp của Hội đồng Trị sự.
Nhưng có lẽ cuộc gặp mặt cảm động nhất là cuộc gặp lần cuối cùng tại Thiền
viện Vạn Hạnh, tại cốc, nơi vốn là chỗ ở của Thượng tọa Chơn Thiện. Tôi
được biết qua bác sĩ là Thầy mắc bệnh nan y, lại không chịu cho giải phẩu.
Tôi biết Thầy mệt, nhưng vẫn đến thăm và tự bảo mình không ngồi lâu. Nào
ngờ, đó là buổi cuối cùng tôi ngồi với Thầy lâu nhất, được nghe Thầy tâm
sự nhiều về những khó khăn Thầy trải qua ở Huế, Ðà Nẵng và Nha Trang.
Những chuyện đó, tôi cũng đã biết qua thông tin của những người bạn khác.
Nhưng qua chính lời Thầy nói ra, trong lúc Thầy đang ốm nặng, với giọng
run run và bàn tay nóng của Thầy cầm tay tôi như thể để từ giã lần cuối
cùng... tôi cảm thầy từ đáy lòng cuộc đời này thật là phù du và biển khổ,
ngay đối với những bậc tôn túc trong đạo.
Tự
mình khổ đã đành, nhưng dụng tâm làm hại người khác, làm hại các bậc tôn
túc trong đạo thì sao đặng! Thuyết nghiệp báo của Phật, chúng ta quên rồi
chăng? Biết là việc không phải nhưng cứ làm, lún sâu vào tội ác như thói
quen, như nghiện ngập. Có những người trong đạo mà lại hành xử như thế
chăng? Tôi thông cảm và thương cảm vô cùng về những nổi chịu đựng của
Thầy.
4.
Cùng đi thăm chùa Giải Oan
Giải
Oan là một chùa trong khu chùa Hương Tích (tỉnh Hà Tây). Ở đây, có suối
Giải Oan. Theo tín ngưỡng địa phương, thì uống nước Giải Oan có thể tiêu
trừ mọi oán thù và nghiệp chướng. Trong sân chùa, cò bàn các Ni ngồi bán
những thẻ hương cho khách vãn cảnh chùa. Khách thắp hương làm lễ, rồi mới
xuống suối múc nước uống, gọi là để giải mọi oán thù.
Thầy
Thiện Siêu và tôi đọc câu đối trước chùa và thích thú:
"Oan nghi giải, bất nghi kết"
Thầy Thiện Siêu rất tán thưởng ý tứ trong
đoạn câu này, vì đây mới thật là phương thuốc mầu nhiệm hóa giải mọi oan
nghiệp. Tức là từ nay, không kết oán thù thêm nữa, mà tự mình chủ động
giải trừ mọi oán thù cũ.
Vì tôi đọc mấy câu trên khá to tiếng, nên có
một số khách hành hương xúm lại, yêu cầu chúng tôi đọc và giải thích. Và
mọi người đều tỏ ra tâm đắc và thú vị. Tôi rất muốn có một Ni trong ba Ni
ngồi bán hương hãy giải thích câu đối cho khách hành hương, hai Ni còn lại
cứ tiếp tục bán hương, vì chùa cũng cần tiền, cần có thu nhập. Nhưng chùa
nhận của tín thí, thì cũng nên pháp thí, tức là bố thí pháp bằng
cách giải nghĩa câu đối trước chùa cho khách hành hương nghe.
5.
Tôi vui mừng về cuốn Kinh Pháp Cú
Tôi
có bản Kinh Pháp Cú chữ Hán mà tôi rất quý, bởi lẽ bản Kinh này có phần mở
đầu khẳng định rõ, người sưu tập là tôn giả Pháp Cứu (Dharmatatra). Tôi có
hàng chục bản dịch Pháp Cú hoặc chữ Hán, hoặc chữ Anh, kể cả bản Việt dịch
của Hòa thượng Thích Minh Châu, nhưng ngoài bản chữ Hán của tôi, không có
bản nào ghi rõ người soạn là tôn giả Pháp Cứu. Cũng như Kinh 42 chương,
tuy có ghi tên người dịch bản chữ Hán đầu tiên là hai Tăng sĩ Ấn Ðộ là Ca
Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đời Hậu Hán. Nhưng đó là người dịch, còn ai
là người sưu tập đầu tiên, thì không rõ, và bây giờ cũng vẫn không rõ.
Tuy
quý cuốn sách như vậy, nhưng khi thầy Trung Hậu nói Hòa thượng Thiện Siêu
muốn mượn bản kinh chữ Hán Pháp Cú để lấy bản chữ Hán phụ lục cho cuốn
Pháp Cú mà Hòa thượng đã dịch trước đó thì tôi không ngần ngại trao cho
thầy Trung Hậu đem ra Huế. Sau nhiều tháng, phụ bản hoàn thành, thầy Trung
Hậu đem trả lại tôi cuốn sách, thì cuốn sách đã bị tháo ra từng tờ để
photo giấy can, nhưng sau khi xếp lại, thợ photo chắc không biết số thứ tự
chữ Hán nên khi đóng lại, số trang sai lung tung, không thể đọc được. Tôi
hơi bực mình nhưng khi nghe thầy Trung Hậu nói nhờ phụ bản chữ Hán mà tôi
cung cấp nên các vị giáo thọ đã đem giảng cho Tăng Ni nhiều tỉnh nên tôi
cũng hoan hỷ.
Nói
trách thì trách vậy thôi, dầu sao, cũng đã có một bản dịch Việt ngữ từ một
bản Hán, có thể đối chiếu với bản Việt dịch từ chữ Pàli của thầy Thích
Minh Châu. Bất cứ việc gì, trong cái dỡ cũng có cái hay, cũng như trong sở
đoản, cũng có chút sở trường. Tôi không phải là Tăng nhưng cũng không giận
qua đêm!
6.
Một bữa cơm cứu tôi thoát chết
Ở Hà
Nội, lúc bấy giờ chưa có nhà khách đường Hùng Vương để cho các đại biểu
Quốc Hội ở các tỉnh xa trú ngụ, mỗi khi có kỳ họp Quốc Hội. Còn thầy Minh
Châu và thầy Thiện Siêu thì không ở nhà khách Quốc Hội mà ở lại chùa Quán
Sứ, để ăn chay cho tiện. Tối hôm ấy trời se lạnh. Tôi đến thăm hai Thầy ở
Quán Sứ và dùng cơm chay với hai Thầy. Theo kế hoạch và lời hẹn với bà Ngô
Bá Thành, đại biểu Quốc Hội, sau bữa cơm chay tôi sẽ đến nhà khách Chính
phủ, và gặp bà để nói chuyện. Bà đã cho tôi biết số phòng, ở trên lầu 4
của nhà khách, không phải ở đường Hùng Vương mà là đường Hàn Thuyên, nếu
tôi không lầm. Nhà khác Hùng Vương lúc ấy còn là trụ sở của Ðại sứ quán
Liên Xô tại Hà Nội. Nhưng lạ lùng thay, dùng cơm xong với hai Thầy, thì
xuống nhà để xe, tuy chiếc xe của tôi vẫn còn đấy, không khóa, nhưng sờ
nắn khắp các túi áo, túi quần không thấy chìa khóa đâu. Mà không có chìa
khóa xe, thì sẽ không khóa được xe khi đến nhà khách Quốc Hội. Nhất là tôi
phải lên mãi lầu 4 để gặp bà Thành như đã hẹn. Ðộ ấy, mới giải phóng Thành
phố Sài Gòn, sau đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội, có chiếc xe đạp
đi là quý lắm rồi. Cho nên, thà chịu thất hẹn với bà Thành hơn là đến thăm
bà mà không khóa xe đạp.
Thế
là tôi về nhà, cũng ở lầu 4 nhưng là ở chung cư cán bộ tại khu Giảng Võ.
Vừa về tới nhà, ngồi đọc lại một bài tập tiếng Ðức của con gái, thì bỗng
hoa mắt, đầu óc quay cuồng, vợ tôi và con gái chỉ kịp dìu tôi lên giường
nằm, thế rồi mọi đồ đạc trước mắt như xoay chong chóng, tôi nằm bất tỉnh,
vợ tôi và con gái kinh hãi, xoa dầu khắp người... Sau đó, tôi nôn thốc,
nôn tháo, lâu mới tỉnh lại lúc đêm khuya.
Sáng
hôm sau, nghĩ lại rất sợ. Giả sử, tôi tìm ra khóa xe, đi tiếp đến nhà
khách Quốc Hội, nếu cơn đau nổi lên giữa đường, thì theo vợ tôi, vốn là
bác sĩ (lúc bấy giờ, chưa về hưu) thì tôi chỉ có chết dọc đường mà thôi,
nếu có xe cấp cứu chở vào nhà thương, thì chuyện chết cũng trong gang tấc.
Kỳ
lạ vô cùng hơn nữa, là sáng hôm sau tỉnh dậy, nắn túi áo trên thì chìa
khóa xe vẫn nằm cộm trong ấy! Sao lại thế nhỉ! Nếu không có bữa cơm chay
với hai Thầy Minh Châu và Thiện Siêu, không có phòng để xe không cần khóa
ở Quán Sứ, và cũng không có chuyện tìm không ra chìa khóa xe, mặc dù nó
vẫn nằm cộm ở túi áo trên... thì ắt bây giờ tôi đã là người thiên cổ, và
sẽ không đánh máy được bài báo Những kỷ niệm về Hòa thượng Thiện Siêu.
Người ta bảo: Ðó là do số tôi chưa chết, và tôi có quý nhân phù trợ. Nhưng
quý nhân là ai?
Từ
đó, tôi gọi bữa cơm với hai Thầy Thiện Siêu và Minh Châu là bữa cơm cứu
tôi thoát chết!
7.
Tranh luận với nhau về các chữ "Nghiệp
dĩ" và "Lục tặc"
Khi còn ở Hà Nội, mỗi lần thầy Minh Châu và thầy Thiện Siêu ra họp Quốc
Hội, và ở lại chùa Quán Sứ, tôi thường tranh thủ lại thăm và bàn bạc với
thầy Thiện Siêu về một số từ ngữ và khái niệm Phật học. Ðó cũng đúng
thời gian tôi biên soạn cuốn "Phật học Từ điển Việt Nam" theo yêu cầu
của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Các khái niệm và từ ngữ Pàli thì đã có
thầy Minh Châu phụ trách, có gì tôi đều hỏi Thầy. Hơn nữa, Thầy cũng
trao cho tôi một bản thảo đầy đủ các từ ngữ và khái niệm Phật giáo tiếng
Pàli rồi, cộng với phần giải nghĩa quá chi tiết. Thế còn các từ ngữ và
khái niệm Phật giáo Bắc tông, thì tốt nhất tham khảo thầy Thiện Siêu.
Thầy Thiện Siêu và tôi đều nhất trí Nho gia, dù giỏi chữ Hán mấy, cũng
không thể dịch chính xác ra tiếng Việt nhiều khái niệm và từ ngữ Phật
học. Thầy Thiện Siêu thường nêu ví dụ từ vô học. Trong đạo Phật, bậc vô
học là A-la-hán, đứng danh vào hàng Thánh, vì không có gì phải học nữa.
Còn bậc hữu học là chưa đạt trình độ giác ngộ và giải thoát của A-la-hán
cho nên phải học thêm nữa, học nhiều. Vì vậy gọi chung học là bậc hữu
học. Nếu Nho gia y từ giải nghĩa mà nói vô học là không có học thức thì
lầm to!
Trong đạo Phật, nghiệp dĩ là nghiệp nhận đã chín muồi, đã thành
tựu quả báo rồi, hay nghiệp dĩ chính là ý nghiệp, nhưng đã thể hiện
thành thân nghiệp và khẩu nghiệp. Tôi cho rằng bản thân nghiệp dĩ
là một từ ngữ hay khái niệm không rõ, dùng lại trong các văn bản Việt
dịch càng làm cho người đọc bối rối. Thậm chí trong luận Câu-xá, còn dẫn
lời Kinh viết:
"Nhị chủng nghiệp, nhược tư, nhược tư dĩ, tư tức thị ý nghiệp, tư dĩ nhị
chủng" (Câu-xá Luận giảng ký, quyển trung, bản Hán, trang 221). Có thể
dịch là: Hai loại nghiệp, hoặc là tư, hoặc là tư dĩ. Tư là ý nghiệp, tu
dĩ là hai loại (thân nghiệp và ngữ nghiệp).
Dịch rối như vậy, thì không phải là Nho gia mà cả Phật gia cũng lúng
túng. Nhưng thầy Thiện Siêu lại có ý khác. Thầy nói vì khó như vậy mới
cần có Phật học và học Phật!
Cuộc tranh luận về khái niệm nghiệp và nghiệp dĩ như vậy xem như xong,
nhưng bản thân tôi, trong các bản Việt dịch của mình, tôi sẽ vẫn không
dùng từ nghiệp dĩ vì người đọc sẽ không thể nào hiểu được.
Bây giờ sang khái niệm lục tặc, tức là sáu thằng giặc. Thầy Thiện
Siêu nói đó là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhưng tôi không
đồng ý và nói sáu giặc chỉ cho sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. Sáu căn không thể là sáu thằng giặc được, vì trong Kinh có câu:
hộ trì các căn. Ðã là giặc thì sao lại hộ trì chúng?
Nhưng thật ra, lý lẽ thuyết phục được thầy Thiện Siêu không phải là câu
"hộ trì các căn", mà là cuốn Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc
Bảo, nói rõ lục trần là lục tặc.
BĂN
KHOĂN
*
TÂM TỪ
Tân Tỵ Trung thu tiết đẹp
trời
Riêng người con Phật Huế chơi
vơi
Hung tin nghe báo mà ngao
ngán
Bệnh viện Ôn về tạm nghỉ ngơi
*
Mắt vuông hồi sức biết cho
không?
Gang tấc mà xa mấy dặm trường
Qua lại Tăng Ni lòng xao
xuyến
Miệng cười mắt ướt dạ buồn
vương
*
Trộm nhìn máu mượn rơi từng
giọt
Nước suối vơi dần báo khẩn
trương
Pháp thể nhìn qua dường vô sự
Ngẫm lại mai đây luống đoạn
trường
*(Huế, những ngày Ôn nằm bệnh
viện)
VẮNG BÓNG TÔN SƯ
Kết Hạ năm
Ngài quá lạnh lùng
Tăng Ngài
động chật tưởng chùa không
“Y thùy Luật
giả” nghe mà nghẹn
Cúi mặt danh
trình vắng cựu dung
Bảo tọa ngước
trông lòng quặn thắt
Bình tọa ngước
trông lòng quặn thắt
Bình hoa tươi
thắm ý mong lung
Lạy Phật từ bi
truyền Phật lực
Hòa thượng mau
về chúng chúng trông.
Ngày
thọ An cư tại chùa Từ Đàm
(ngày 14-4-Canh Thìn. PL.2544)
TẢN MẠN BÊN THÁP
TRẦN TUẤN MẪN
Rằm tháng Giêng năm Nhâm
Ngọ, tôi lên vùng núi Thiên Thai, đến thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, để lễ lạy
tháp Ôn Từ Đàm. Trời Huế lạnh và nhiều sương, nắng chiếu vương nhẹ trên
tầng cao của tháp. Tất cả đều im vắng, thanh thản nhẹ nhàng như đám lá
rừng thông lắc lư đằng sau tháp.
Có tiếng chuông đổ về, có
lẽ từ chùa Thiền Tôn, ngôi chùa cổ vừa được Ôn hoàn tất việc đại trùng tu
năm ngoái. Một con chim nhỏ bay từ xa ghé lại phía bên tháp Tổ Liễu Quán
kế cận tháp Ôn, cất tiếng hót ngắn, lẻ loi, cô quạnh. Tôi bỗng nhớ đến Ôn
vô cùng.
Ôn nằm xuống đây gần ngót
năm tháng. Buổi chiều Ôn về cõi Tịnh, nắng Huế vàng hoe. Hôm đoàn xe đưa
Giác Linh rời chùa Từ Đàm về đây, mưa Huế sùi sụt. Bỗng chốc tôi ngỡ mình
đang mơ…, vô thường là thế này đây, giả đấy thật đấy là cái thực tại này;
trộm nghĩ giá mà thấy được tất cả đều giả trong thế giới hiện tượng này
thì an tâm biết mấy.
Bảy tháng trước đây, nhân
hôm cuối chuẩn bị cho lễ Tốt nghiệp và Cấp phát Văn bằng Cử nhân Phật học
cho Tăng Ni sinh khóa I của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tôi hầu
Ôn đi khắp Học viện. Ôn đang bệnh nhưng bước đi vẫn chững chạc, khuôn mặt
rạng rỡ. Nhìn mấy bông hoa hồng vừa mới cắm, Ôn dạy: “Sao lại lựa hoa có
màu nhạt quá rứa?” Rồi khi xuống hết cầu thang, chỉ những hoa hồng đỏ
thắm, do Quý Sư cô đang cắm vào bình, Ôn dạy: “Ừ, ít ra thì cũng có hoa đỏ
như ri nì!” Tôi buột miệng “Bạch Ôn, hoa giả cả đó”. Ôn cười nhẹ và nói:
“Chớ có cái chi không giả, chỉ ra coi nào!” Ôn là thế, luôn luôn nhẹ
nhàng, đơn giản, tùy duyên mà dạy bảo. Một hôm Ôn gọi tôi đến cạnh và nói:
“Anh đừng nghĩ rằng hút thuốc mới viết được văn hay. Cụ Nguyễn Du ngày xưa
đâu cần đến thuốc lá?” ‘Dạ con sẽ cố theo lời Ôn dạy mà bỏ thuốc lá…” –“Ừ,
phải, anh phải bỏ hút, phải có sức khỏe để làm Phật sự…”- Dạ bạch Ôn, con
sẽ cố gắng…nhưng con nghĩ có lẽ xưa kia cụ Nguyễn Du có hút thuốc lào…” Ôn
cười: “Nghe cũng đúng…nhưng xưa không ai nhắc nhở cụ Tiên Điền.”
Tháp Ôn chỉ mới được hoàn
tất phần cơ bản, bia đá chưa dựng và 8 cột trụ đá trước hai vòng tháp chưa
khắc các câu đối, nghe đâu quý Thầy đang chọn câu, lựa chữ. Tôi còn nhớ, 3
năm trước đây, có lần Ôn dẫn đầu sang thăm hữu nghị Hiệp hội Phật giáo
Trung Quốc, nhân khi được đề nghị viết vào sổ lưu niệm ở một Phật tự, Ôn
đề nghị được viết bằng bút long, thay vì bút bi. Phía bạn ngạc nhiên và
hoan hỷ đáp ứng, Ôn viết một mạch hai câu đối bằng chữ Hán riêng tặng bổn
tự. Tôi từng được nhận thức tài năng văn học cũng như bút pháp Hán tự của
Ôn nhưng quả thực chưa bao giờ thấy Ôn phong bút linh hoạt đến như thế.
Thế là những ngày tiếp theo. Ôn đến đâu, các vị ở đấy cũng chuẩn bị sẵn
giấy bút để xin chữ Ôn. Thậm chí tại chùa Đại Từ Ân, nơi thờ Ngài Huyền
Trang, người ta bày sẵn cả một tờ giấy to hơn cái bàn viết và một cây bút
long lớn như cán chổi gác bên nghiên mực vừa được mài quánh. Ôn bình thản
ấn bút vào nghiên, vung tay viết một mạch, nét chữ mạnh mẽ mà uyển chuyển,
hùng tráng mà thanh bai…Xong phấn lạc khoản, tiếng vỗ tay vang lên. Ôn
cười nhẹ và cảm ơn mọi người. Phải chi những cột đá này được khảm khắc
bằng những nét chữ của chính Ôn!...
Tháp Ôn vẫn vắng lặng và
chiều xuống dần. Từ độ Trung thu năm n