Ôn Từ Ðàm (Hòa thượng
Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào
đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Ðức – Nha Trang
trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là người được
theo học trường Võ Tánh nên thời khóa biểu sinh họat của tôi luôn bị câu
thúc chặc chẻ; và vì vậy, ít có cơ hôi gần gũi các bậc thầy lớn như Ôn .
Như thế cho đến sau này, ra ở Phật học Viện Báo Quốc – Huế, đối với các
bậc thầy lớn, tôi cũng chỉ biết là biết vậy, chỉ là người "kính nhi viễn
chi", không có cái cảm giác gần gũi thâm tình đã đành mà cũng không thấy
có cái nhu cầu cho sự gần gũi thâm tình nào bấy giờ.
Ðến năm 1963, cuộc tranh
đấu của Phật giáo chống lại những áp bức có tính cách kỳ thị của chế độ
Ngô Ðình Diệm bùng dậy. Giữa những khuôn mặt lớn của cuộc đấu tranh này mà
hình ảnh gây ấn tượng khá mạnh trong lớp học tăng trẻ chúng tôi, thì hình
ảnh của Ôn Từ Ðàm vẫn chỉ như một bóng mờ thấp thóang. Chỉ sau khi Giảng
Sư Ðòan được thành lập lần đầu tiên ở Huế sau 1963, một vài lời nhắn nhủ
của Ôn với anh em chúng tôi truớc khi lên đường về các quận huyên xã thôn
để diễn giảng mới thực sự gây nên một chấn động âm thầm trong tối bấy giờ
và kéo dài đến rất nhiều năm sau. Lời nhắn nhủ đó, khôny có gì trịnh
trọng, chỉ như một lời nửa đùa nửa thật: "Mấy anh em ra đi diễn giảng,
nói hay cho người ta vỗ tay chưa phải là hay. Nói làm sao cho người ta
phát khởi tín tâm mà quy y Tam bảo mới thật sự là hay".
Trong khung cảnh của một
xã hội biến động với một Phật giáo đang mở tung cánh cửa Thiền trầm lặng
bấy lâu để dấn bước vào một họat trường rối rắm của thời thế với bao nhiêu
những "hoan hô", "đã đả" mà dư âm 1963 mới vừa đi qua còn vang động; với
hào khí của những tuyên bố, phát biểu như lúc nào cũng kéo theo những
tràng pháo tay khích động bấy giờ thì những lời nhắn nhủ giản dị của Ôn đó
– trong khi không đủ sức gây sự chú ý ở nhiều người nghe khác – thì với
tôi, nó mang lại một sức nặng khá lạ thường, gây nên một chấn động âm thàm
mà mãnh liệt để cho sau này, mỗi lần nghĩ về con đường mình đi, lời nhắn
nhủ đó dường như lúc nào cũng vang vọng khiến cho tôi suy nghĩ mà quyết
định cho con đường đi tới và cho mọi thái độ hành xử của tôi trong cuộc
đời. Ôn Từ Ðàm thật sự đến với tôi và ở lại trong tôi – nếu có thể nói như
thế – là từ đó.
Với Ôn , tôi không có gì
để gọi là tình thâm nghĩa trọng. Nhưng với những đệ tử của Ôn thì khác.
Những thầy Huệ Minh, Hải Thanh, Hạnh Minh, Hải Tịnh, Nguyên Tịnh... đã là
những người thân thiết với tôi khi ra dạy học và làm Phật sự. Thân thiết
đến như anh em ruột thịt là thầy Hạnh Minh – một tu sĩ Phật giáo tài hoa
"bất cần đời’, cũng lại là người mà qua đó, tôi có nhiều cơ hội để được
gặp và nhìn thấy rõ Ôn hơn.
Ðó là khỏang những năm
1965,1966. Thầy Hạnh Minh ở Từ Ðàm, làm Hiệu trưởng Trường Bồ Ðệ đệ nhị
cấp Hữa Ngạn. Vốn thân tình từ khi thầy còn ở Báo Quốc, tôi thường hay lên
Từ Ðàm chuyện trò và đôi khi ở lại dùng cơm. Chính ở những lần này mà tôi
thấy cái cách " dạy chúng" của Ôn. Không nhiều lời như bao giờ cũng nhẹ
nhàng, từ tốn. Ôn thường hay mượn chuyện xưa để nói chuyện nay một cách
bóng gió. Có khi là một chuyện trong Bách dụ hay cả trong Cổ học tinh hoa;
lại cũng có khi là một câu chuyện do Ôn tự nghĩ ra để dạy chúng. Với đệ tử
nhỏ thì Ôn kể chuyện gần gũi, ý nghĩa cụ thể dễ thấy; với đệ tử lớn thì Ôn
kể chuyện thâm trầm, ý nghĩa xa xôi ẩn náu. Và ý nghĩa đó, Ôn thường tự
mình không nói ra mà chỉ để cho các đệ tử suy nghĩ để thấy ra cái điều Ôn
muốn nói. Như có lần, sau khi Chúng dùng cơm xong, Ôn xuật hiện nhẹ nhàng
và cũng rất nhẹ nhàng nói với Chúng: "Có một Thượng tọa trong Viện Hóa
Ðạo ra thăm chùa hỏi tôi một câu hỏi mà tôi không biết phải trả lời làm
sao. Tôi xuống đây để nhờ các chú, các điệu thử trả lời dùm tôi coi...".
Trong khi cả Chúng chờ đợi
Ôn đưa ra câu hỏi với hy vọng có thể giúp thầy mình một câu trả lời thỏa
đáng thì Ôn tiếp: "Vị Thượng tọa đó hỏi tôi, chúng điệu của Thầy ở đây
có bao nhiêu người? Thiệt là một câu hỏi mà tôi không biết trả lời làm sao."
Cả Chúng lại ngẩn ngơ vì
điều đó ai cũng biết mà sao thầy mình lại bảo khó đến không trả lời được,
thì Ôn tiếp: "Nếu tôi trả lời nhiều thì Thượng tọa đó bảo, sao buổi
khuya lên công phu, tọa thiền, thấy chẳng có bao nhiêu người. Còn nói
Chúng ở đây ít thì vị đó hỏi, sao khi ăn cơm thấy có nhiều người lắm. Trả
lời làm sao, tôi xem ra cũng đều không được nên nhờ mấy chú mấy điệu trả
lời dùm."
Cuối cùng thì câu trả lời
Ôn mong đợi được thực hiện. Aên cơm bao nhiêu người thì những khi tụng
kinh, tọa thiền cũng bấy nhiêu người.
Ôn là vị Thầy chăm sóc cho
đệ tử hết lòng. Từ một chú điệu nhỏ đang tập sự xuất gia đến những đệ tử
lớn đã làm ra việc đạo, Ôn như lúc nào cũng quan tâm đến. Với nhỏ thì Ôn
để ý đến phẩm hạnh oai nghi, lo đến cả chuyện học hành bên ngòai. Tôi từng
nghe, ngay đến những bài luận văn các chú làm ở nhà trường, Ôn cũng bảo
đưa Ôn đọc coi thử. Có lẽ, điều Ôn muốn biết không phải là văn hay hay dở;
mà là cái suy nghĩ, cảm tưởng của các chú thể hiện trong bài luận văn; và
biết như thế để thấy rõ tâm tính mà nhắc nhở, dạy dỗ các chú cho nên
người. Không chỉ đọc bài các chú làm, đôi khi Ôn còn đọc cả bài các chú
học. Ngày tôi ra Huế dạy, chùa Từ Ðàm có chú Thiện, chú Tuyến là sinh viên
ban Triết. Hai chú cho tôi biết, Ôn hay bảo hai chú đưa mấy bài dạy của
tôi cho Ôn xem. Ôn cũng thường đọc các tập san – cả những tập san của học
sinh, sinh viên – để thấy cái gì hay, thấy đọan văn nào có cái ý tốt về
đạo đức làm người là Ôn lại bảo các chú đọc để học theo cái hay của người
ta. Như tôi biết, gần như không có ngày nào mà Ôn không đọc Ðại Tạng. Với
ngàn vạn trang kinh xưa không một ngày rời bỏ mà Ôn còn để thì giờ đọc đến
cả những điều nhỏ như thế cho đệ tử của mình thì quả là thế gian hiếm có.
Với đệ tử lớn đã ra làm
việc đạo thì Ôn quan tâm đến cách hành xử công việc và ảnh hưởng của nó
đối với Phật giáo. Có một lần thầy đệ tử lớn của Ôn làm việc ở Cao Nguyên.
Một Phật tử ở đó, không biết tranh chấp thế nào với người có thế lực mà sự
việc phải đem ra tòa án để phân xử. Vị Phật tử này đến nhờ thấy nọ giúp
đỡ. Ôn biết được, gọi thầy đó về, nói một câu đủ làm kim chỉ nam cho người
tu sĩ mọi thời đại khi ra làm việc đạo giữa đời: "Xưa nay, Phật giáo
cứu người ta ra khỏi tù chứ chẳng bao giờ đẩy ai vào tù. Thầy có giúp thì
cũng phải nhớ lấy điều đó." (Cách đây mấy năm, chính câu nói này, tôi
đã có lần lập lại ở Mỹ cho một Hội Phật giáo ở Boston khi ngôi chùa Việt
Nam ở đó bị một số người đập phá. Số người này bị bắt rồi bị đưa ra tòa.
Trước tòa, Hội Phật giáo này đã nói lại câu nói lại câu trên để không
những xin tòa không giam tù họ mà con xin được chia sẻ trách nhiệm giáo
dục tuổi trẻ cùng xã hội và các gia đình liên hệ. Và tiếng nói Từ Bi của
Phật giáo này đã cảm hóa được mọi người để cuối cùng, chính những người
không cùng chủng tộc, tôn giáo chung quanh chùa đã tự động đóng góp để
giúp chùa phương tiện sữa chửa!)
Có người nói với hàm ý
than trách " Ôn lo cho đệ tử quá mức". Nói như vậy, tôi nghĩ, đúng mà
không đúng. Ðúng là Ôn lo cho đệ tử ở cái mức có thể được gọi là "hiếm
thấy" ở nơi những vị thấy bình thường khác. Mà như vậy, với tôi, có gì là
không hay, không phải! Một vị thầy khi nhận đệ tử xuất gia nào khác gì một
người cha sinh con ra. Cha phải thương, phải lo cho con mình nên người ở
đời thế nào thì thầy cũng phải thương, phải lo, phải tài bồi làm sao cho
đệ tử của mình nên người trong đạo thế ấy. Còn nhận đệ tử mà không thương,
không lo tài bồi, không mong cho đệ tử mình một ngày trở nên pháp khí cho
đạo thì nhận để làm gì? Từ giã cha mẹ thân thuộc mà đi xuất gia, có được
một vị thầy như thế thì quả là cần thiết và là một diễm phúc lớn. Ðạo làm
thầy, trong luật cũng đã từng nói đến như thế. Cho nên nói "Ôn lo cho đệ
tử quá mức" như một lời than trách thì quả là không phải chút nào.
Thực ra, lo cho đệ tử là
việc nhỏ, vun bồi cho mối đạo được bền mới là việc lớn. Và có thể nói mà
không sợ lầm, lo cho đệ tử chính là vui bồi cho mối đạo được vững bềnh. Và
đó chính là tấm lòng của Ôn. Ôn quý mến trân trọng mọi "nhân tài" trong
Phật giáo, dù người đó ở đâu. Nhân tài còn nhỏ thì Ôn khích lệ làm sao cho
nẩy nở. Nhân tài đã trường thành thì Ôn tán dương, mong sao làm cho nên
việc lớn. Khônc chỉ khích lệ, tán dương, Ôn còn tỏ ra "biệt đãi nhân tài’
mỗi khi gặp gỡ. Nói "biệt đãi" là nói vậy chứ thực ra không có gi nhiều.
Một trái chuối hương, một tách trà thơm, vài miếng bánh ngọt, một căn
phòng an tịnh, thích hợp cho việc sáng tác...
Không có gì nhiều nhưng
tấm lòng hòai vọng Ôn gửi theo đó rất lớn. Hòai vọng nơi người đó sẽ làm
được cái gì cho Phật giáo. Chính ở nơi những biệt đãi này mà tôi thấy ra ở
Ôn một quan niệm khá mới mẻ, hiếm có nơi thế hệ những bậc thầy lớn như Ôn.
Ôn đã không nhìn Phật giáo như con đường một chiều, sớm tối chỉ có tụnt
kinh, niệm Phật là đủ. Trong khunh cảnh của một Phật giáo mang nặng xã hội
tính mà thời đại đòi hỏi, Phật giáo với Ôn là một cơ cấu tòan diện. Tụng
kinh, niệm Phật, tọa thiền chuyên tu là việc thiết yếu. Nhưng cũng cần
thiết để Phật giáo đó nói được tiếng nói của mình trong các lĩnh vực sinh
họat văn hóa, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, giáo dục, từ thiện... Và Ôn
là người đã âm thầm hỗ trợ hết lòng để cho những tiếng nói này được cất
lên.
Gặp được một tập thơ hay,
thể hiện tinh thần Phật giáo là Ôn hết lời tán dương. Ðọc được một bài
luận thuyết vững vàng, lên tiếng nói được cho Ðạo lý chân thật giữa những
trá nguy của thế giới tri thức sách vở là Ôn hết lòng cổ võ, thậm chí còn
làm mọi cách để quảng bá rộng rãi, sao cho đến tay được nhiều người... và
tác giả của những bài thơ, bài văn đó, với Ôn bao giờ cũng là những viên
ngọc quý. Ôn từng có lần viết thư than thở: "Nhân tài Phật giáo như lá
mùa thu. Có bao nhiêu việc đáng làm không người làm. Gặp được mảnh đất tốt
(quần chúng có sẵn niềm tin) mà không ai gieo hạt, thiệt là uổng...).
Lời than thở ấy cho thấy tấm hòai vọng của Ôn tha thiết đến thế nào! Tấm
lòng hòai vọng đó có thực hiện được hay không, cái đó còn tùy. Nhưng có
được một tấm lòng như thế ở thời buổi ngỗn ngang này của thế đạo nhân tâm
quả là đáng quý và cần thiết bao cho cơ đồ của Phật giáo hôm nay và ngày
mai!
Ôn vốn không thích dính
dáng đến chuyện thế sự và chính trị. Trong cuộc đấu tranh 1963 cũng như
những năm xáo trộn sau đó, mặc dù lúc nào Ôn cũng có mặt nhưng trước sau,
Ôn vẫn chỉ là một bóng mờ. Tấm lòng và con đường Ôn đi vốn đặt vào việc
giáo dục và đào tạo Tăng Ni và xây dựng một sự nghiệp trí tuệ cho Phật
giáo Việt Nam. Việc mở trường Cơ bản Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế; việc hình thành Ðại Tạng kinh Việt Nam cũng như một sồ lượng lớn
tác phẩm, dịch phẩm mà Ôn đã miệt mài làm việc, ngay cả khi mắt đã mờ và
thân bệnh đã đến hồi trầm trọng là những thể hiện quá rõ hòai bão và con
đường Ôn đi đó. Ôn đã chỉ sợ: "không còn đủ thời gian" để hòan tất
được các công trình đóng góp vào sự nghiệp trí tuệ này. Cuối cùng thì Ôn
cũng hòan tất được những gì hòai bão. Và những gì đó, chắc chắn là những
đóng góp quý báu cho sự nghiệp trí tuệ của Phật giáo Việt Nam hôm nay.
Vốn không thích dính dáng
đến chuyên chính trị thế sự, nhưng sau 1975 và trong những bất hạnh sau
này của Phật giáo Huế, Ôn như ở vào một tình cảnh "chẳng đặng đừng" để
không thích mà vẫn phải dính dáng. Cũng như với Ôn Linh Mụ, Ôn Thiện Minh
hay như với Ôn Già Lam, Ôn Trúc Lâm và bao nhiêu vị Thầy khác nữa mà tôi
biết, thật không đơn giản tí nào để có thể, đứng trên những quan điểm
chính trị bên này và bên kia mà nhìn vào hành trạng của quý Ôn trong một
hòan cảnh phức tạp, tế nhị như của đất nước và Phật giáo Việt Nam sau
1975. Ðứng trẽn những quan điểm nhị biên như vậy, hẳn nhiên người ta dễ
dàng phê phán, đồng ý hay chỉ trích; và điều này đã xảy ra nhiều. Nhưng
một quan điểm như vậy có thật là thích đáng, cả trên bình diên lý luận và
thực tế? Ngay như với Ôn Huyền Quang, Ôn Quảng Ðộ, với những gì mà chúng
ta đã thấy, nếu đứng trên những quan điểm nhị biên như vậy mà nhìn mà có
ca ngợi, tán thánh đi nữa thì tôi nghĩ, cũng là một điều oan uổng cho quý
Ôn và cho con đường hành động của Phật giáo Việt Nam mà thôi. Bởi vì, tâm
hồn của người tu sĩ Phật giáo đúng nghĩa thì chỉ có thể là tâm hồn "vô
nhị", không ở bên này không ở bên kia mà chỉ là ở cái khổ của con người và
ở con đường giải khổ cho con người.
Bền này và bên kia, cái đó
là gì ở nơi những tâm hồn vô nhị mà đem nó trói buộc nhãn quan của mình
khi nhìn vào những con người mang lấy tâm hồn đó?
Cho nên, với Ôn Từ Ðàm –
trong những dính dáng với thế sự như đã có mà nói – thì tôi chỉ xin được
nói rằng, cái thân đã ở chốn thế sự ngỗn ngang thì như cũng đành, vì cái
tâm cho nên phải lụy cái hình. Hình đã không còn kéo theo tất cả những cơn
sóng trần ai liên lụy với nó – ít ra là với Ôn lúc này – thì còn chi để
nói. Cái còn lại và là cái đáng nói hơn hết là cái Tâm – cái tấmg lòng
hòai vọng thiết tha của Ôn cho một Phật giáo Việt Nam hôm nay và ngày mai,
cái tấm lòng đã trãi ra trong suốt cuộc đời của Ôn, ở tất cả những gì Ôn
đã làm thì tôi tin, sẽ còn lại đó cho muôn đời.
Trong ánh trăng Lăng Già
vằng vặc đêm thâu, tôi chỉ là một học trò chưa nên nghĩa, cũng xin đem một
chút lòng ghi lại mấy lời này để gọi là hiến cúng một bậc Thầy đã cưỡi
thuyền Pháp Vân vượt sóng ra đi.
Thành Kính
PHÁP THẦY ÐỂ LẠI
VƯƠNG ANH
Sư đệ Nguyên Anh và tôi là
những người bị Thầy nhắc nhở nhiều nhất vì hay sơ suất trong những công
việc thường nhật, nhưng cũng là người may mắn nhất vì được ở cạnh Thầy một
thời gian khá dài. Tính tình mỗi người Thầy đều biết rõ. Tình Thầy trò vì
thế không có gì phải ân hận sau ngày Thầy ra đi vĩnh viễn. Chỉ tiếc rằng
Thầy không còn trụ thế lâu hơn để dạy dỗ cho Tăng Ni và hướng dẫn cho Phật
tử trên bước đường học đạo.
Ðối với lớp đệ tử chúng
tôi, Thầy ít khi nói về bản thân và gia đình cũng như lớp dự bị xuất gia
với Thầy trước chúng tôi. Sau ngày Thầy viên tịch, sư đệ Nguyên Anh, tôi
cùng đạo hữu Võ Trọng Thưởng có về quê Thầy để thăm lại ngôi Từ đường thờ
song thân của Thầy. Nhưng cảnh đìu hiu của làng quê sau bao năm chiến
tranh chưa hồi phục, khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng và một hồi lâu
thì cả ba chúng tôi vào thắp nén hương tưởng niệm nơi ngôi nhà mà Thầy đã
cất tiếng chào đời, như để cám ơn một dòng họ và làng quê giàu lòng nhân
ái vì đã sản sinh ra một bậc Long tượng cho Phật giáo đất Thần kinh.
Trong cuộc sống đạm bạc và
phạm hạnh của Thầy, thăng trầm thế sự đôi lúc cũng có tác động đến Phật
sự. Khi còn là Sa-di, Thầy đã được Hòa thượng Trí Ðộ là Ðốc giáo rất
thương và cưng chiều nhất, vì Thầy được tiếng là chú tiểu thông minh, chăm
chỉ, chịu thương chịu khó. Có lẻ vì thế mà mới 26 tuổi Thầy được Hội cử
làm Trú trì chùa Từ Ðàm thời bấy giờ. Nói là Trú trì, nhưng thực chất là
trông coi chùa cho Hội vì Trú trì chùa Từ Ðàm từ trước đến nay vốn dĩ
thuộc về Hội. Mọi việc lớn nhỏ đều thông qua Hội, đó là điều rất đặc biệt,
rất hãnh diện nhưng cũng rất khó đối với một vị Trú trì tuổi đời tuổi đạo
còn trẻ như Thầy có lẽ chưa tương ứng với tầm cỡ của ngôi Tổ đình gần 400
năm. Lại nữa, các cụ trong Hội là người bề trên, là Thầy dạy nên cũng rất
khó cho Thầy điều hành nếu không phải là một chữ nhẫn thật lớn. Có lần
Thầy kể: Trú trì một ngôi Tổ đình như Thầy không có mấy đồng xu dính túi.
Ngày 30 tết đợi khi chợ hoa sắp tàn mới đạp xe đi mua, nếu bông trái rẻ
thì mua một ít về cắm để cúng Phật. Lỡ bông trái họ bán đắt thì đành đạp
xe về.
Trú trì cũng lắm nỗi gian
truân. Thời ấy, mọi người rất khổ cực vì chiến tranh, cuộc sống không ổn
định nên dân chúng rất vất vả. Nhà chùa, cuộc sống chư Tăng lại càng vất
vả hơn. Nói là Trú trì Tổ đình nghe cũng oai lắm, nhưng Tăng chúng thì rất
ít: trong chùa, ngòai Thầy và một số thầy khác như thầy Thiện Minh, thầy
Trí Quang ra thì còn có hai chú, là chú Thiện Giải và chú Thiện Lộc. Cả
hai là em ruột và em chú bác. Sau này, thầy Thiện Lộc ở lại làm Trị sự phụ
tá cho Thầy để Thầy du phương giáo hóa. Còn thầy Thiện Giải phải rời xa Từ
Ðàm để đi các tỉnh miền Trung Trung bộ nhận Phật sự mới. Như vậy thầy
Thiện Lộc là Trị sự lâu nhất ở chùa Từ Ðàm. Nhờ có thầy Thiện Lộc trông
coi chùa nên Thầy yên tâm làm Phật sự phương xa. Rất tiếc thầy Thiện Lộc
mất quá sớm ở tuổi 58. Sư đệ Hải Ấn đang ở chùa Báo Quốc là đệ tử trực
tiếp được Thầy gọi lên thay thế trong vai trò Trị sự cho đến ngày Thầy
viên tịch. Tóm lại, tuy vị Trú trì còn trẻ, nhưng khi ấy trong Hội ai cũng
thương Thầy, nhất là bác Tráng Ðinh và cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám... là một
trong số các vị cư sĩ nhiệt tâm ủng hộ Thầy nhất.
Hồi tưởng lại những năm
tháng sống cạnh Thầy, huynh đệ chúng tôi có duyên may được Thầy dạy dỗ từ
việc nhỏ đến việc lớn. Trong cuộc sống hàng ngày, Thầy là người giản dị
nhưng tính cách thì thanh cao. Thường nhật, Thầy đi thiền hành, ngắm hoa,
sửa sang cây cảnh, rồi vào bàn dịch kinh, viết luận... với một nếp sống
bình dị, mà huynh đệ chúng tôi nhớ mãi.
Thầy thường dùng cơm trưa,
chiều với chúng Tăng nếu không có khách. Trong buổi cơm ấy, Thầy thường kể
chuyện cho chư huynh đệ nghe. Chuyện Thầy kể thường ngụ ý thúc liễm hay
mang tính cách giáo dục đượm chút khôi hài, câu chuyện vì thế thắm đượm
tình thầy trò. Thường Thầy xuống dùng cơm là huynh đệ có mặt đầy đủ nơi
bàn dược thực, huynh đệ đứng dậy chào Thầy và khi ấy Thầy đáp lại bằng nụ
cười rất thanh thóat. Trước khi kể chuyện bao giờ Thầy cũng bắt đầu bằng
một lời hỏi vui: Thầy hỏi các vị, ai biết trả lời giúp Thầy câu này: "Có
một vị đạo hữu hỏi, chùa có bao nhiêu vị, đông hay ít, thưa Hòa thượng? –
Nếu Thầy trả lời đông thì sao giờ tụng kinh lại ít, còn nết Thầy trả lời
ít thì sao giờ ăn lại đông. Xin các vị trả lời giùm Thầy với!" Chỉ vỏn vẹn
vài câu như thế làm cho huynh đệ trong bàn ăn đều im lặng, dù biết là Thầy
có ý chê trách công việc hằng ngày như tụng kinh, hành thiền, chấp tác...
của Chúng có phần xao nhãng
Hằng năm, huynh đệ thường
gặp nhau ngày kỵ Tổ. Trước ngày kỵ huynh đệ hầu Thầy và họp mặt. Khi gặp
nhau có nhiều chuyện để nói, nào là hỏi thăm sức khỏe, trai đổi kinh
nghiệm tu tập bản thân... Có nhiều vị trao đổi lớn tiếng, bất chợt Thầy đi
ngang qua nghe và chỉ dạy một câu: Ai đời nhà nhỏ mà hiếp nhà lớn. Rồi
Thầy mỉm cười đi thẳng lên Thiền thất. Có lần huynh đệ hầu Thầy, thấy Thầy
sọan những cuốn tập cũ còn sót lại đôi giấy trắng, Thầy cặm cụi lọc ra
ngước nhìn chư huynh đệ bảo: Lọc giấy này để đó, chừ chưa có việc nhưng
rồi cũng sẽ có để mà dùng, tích cốc phòng cơ, tích y phong hàn... Huynh đệ
chúng tôi giờ ngồi lại bên nhau ai cũng đồng cảm qua lời dạy bảo của Thầy.
Thầy là bóng cây che mát cho chúng con, là giọt nước cành dương thấm mát
cho đời. Không ai bảo ai mà tâm nguyện suốt đời noi theo gót chân hành đạo
của Thầy. Thầy là một bậc mô phạm, là đấng đống lương. Lời Thầy vừa nghiêm
khắc thỉnh thỏang pha chút khôi hài nhẹ nhàng. Ðó là dòng nước tào khê mà
huynh đệ chúng tôi xin nguyện uống cạn dòng tào khê ấy qua những câu
chuyện Thầy kể. Những ví dụ Thầy kể là bài học quý báu cho huynh đệ, những
ai có duyên ân triêm pháp nhũ. Thế nên huynh đệ gặp nhau gật đầu: "Thầy là
rứa đó". Tóm lại, các câu chuyện Thầy kể đều có ý nghĩa giáo dục cách nầy
hay cách khác cho chư huynh đệ chúng tôi.
Có hôm Thầy kể chuyện lớp
học của Thầy ngày xưa: Khi còn học Tăng của An Nam Phật học Hội, Thầy học
với Hòa thượng Trí Ðộ, 8 giờ một ngày với các môn Kinh, Luật, Luận tòan
bằng chữ Hán. Hòa thượng Trí Ðộ là người cưu mang dạy dỗ gần 10 năm trời
cho cả lớp học. Hòa thượng là bậc Thầy dạy học nghiêm túc nhưng cũng rất
nghiêm khắc! Có lần Thầy kể: Một hôm, có một học Tăng tìm đâu ra tiểu
thuyết phóng sự: Tôi kéo xe của Nguyễn Trọng Phụng đem vào lớp đọc
nhưng bị Thầy bắt được và cả lớp đều bị phạt quì theo. Thầy giáo giới gần
cả tiếng và kể từ đó, chả ai đem sách ngòai đời vào lớp nữa. Học là vậy,
nhưng ăn, giải trí, áo mặc thì sao? Aên theo sự phân phối vì hồi đó chùa
còn nghèo. Trưa tối sáng chiều có gì ăn nấy, nhưng đa số thì không được
no. Giải trí thì chỉ một vài trò chơi đơn giản như ù mọi và đánh bi. Mặc
thì một năm được các nữ Phật tử như bà Cao Xuân Xang, bà Ðốc Xướng, bà
Tham Ngô, bà Trợ Các... may cho một người hai bộ áo bằng vải to. Vải to là
một lọai vải mà người Tàu dệt, sợi rất thô và nhiều hồ nên mặc rất nặng.
Cuộc sống, học tập, tu hành như vậy ngày này qua ngày khác, gần 10 năm mà
cả lớp đều vượt qua được. Cuộc sống học Tăng thời ất so với học Tăng bây
giờ thì khác một trời một vực. Bây giờ có điện, chứ ngày xưa học bằng dầu
mù u khói xông lên ngẹt cả mũi. Ngày xưa làm gì có Ti-vi, xe Honda và Thầy
kết luận: Tóm lại là các Thầy cô bây giờ sướng hơn trước nhiều.
Ở Huế mùa hè rất nóng,
nhất là những ngày có gió Nam từ Lào thổi về, mang theo hơi nóng của núi
lùa vào lòng chảo của Huế, những lúc như thế thì có trời mới chịu nổi.
Thầy ở trên thiền thât cũng thấy khó chịu nên thường xuống phòng nhà Tăng.
Có hôm Thầy đem xuống cho một hộp bánh của đạo hữu vời mới cúng cho Thầy,
Thầy nói: cả chùa Từ Ðàm chỉ có chỗ cửa sổ của Hải Ấn là có gió mát nhất,
rồi Thầy ngồi rất lâu và kể chuyện: Hồi thời Nhật đánh Pháp, học Tăng phải
tản cư. Thầy Minh Châu đưa học Tăng ra ngòai Thế Chí, mùa đông vừa đói vừa
lạnh, thầy Minh Châu vấn thuốc lá to bằng ngón tay hút cho đỡ lạnh, nhưng
sau đó thầy quyết tâm bỏ thuốc, kể cũng lạ. Nghĩ lại chuyện cũ mà thấy ớn
lạnh. Bom đạn tụi Pháp nó trút như mưa. Mạnh ai nấy lo thân. Tôi và thầy
Minh Châu ở Thế Chí một thời gian coi bộ không yên, nên anh em bàn nhau
trở lui về Huế. Nhưng về cách nào? Thầy Minh Châu xung phong đi tiền trạm
coi có yên ổn thì mới đưa học Tăng về Huế. Và sau lần tiền trạm đó, Thầy
quyết định đưa học Tăng về Huế. Trên đường về phải thuê đò. Ðò thì phải đi
đêm vì sợ máy bay Pháp tấn công. Có hôm phải thay đò, gặp cụ Ưng Bình Thúc
giạ thị cũng đi đò. Mấy đồn bót của Tây từ hai bên bờ bắn ra và la chí
chóe, sợ quá, Cụ nói chủ đò cho đò ghé vô. Hai người nói tiếng Pháp và
giải thích một hồi nó mới cho đi. Ði được một hồi thì bị ách lại...; khổ,
sợ lại thêm đói, lạnh, thế rồi cũng vào được Huế. Khi vào được vùng Huế,
Thầy phải đi bộ về lành để chờ bắt liên lạc và nghe ngóng động tĩnh ở các
chùa ra sao, coi có yên thì mới về. Thầy Minh Châu lại xung phong đi mở
đường. Một vài ngày sau thầy nói có thể về được. Trên đường đi bộ về
Thuyền Tôn, đồn Pháp cứ chĩa mũi súng ra la oai óai, thầy Minh Châu lại
phải giải thích, nó cho qua và sau mới về được Thuyền Tôn. Thật hú hồn.
Cái sống cái chết coi như có số. Nghĩ lại, tôi rất thương thầy Minh Châu.
*
Bình sanh, Thầy là người
ưa đọc sách. Những sách gì đã vào tay Thầy dù hay dù dở bao giờ Thầy cũng
coi hết. Khi có đọan nào hay thì Thầy ghi lại trong sổ tay. Cho đến nay,
sư đệ Nguyên Anh còn giữ lại 5 quyển sổ tay của Thầy ghi, chữ chi chít,
Hán có, Việt có. Chúng tôi là đệ tử, từ xa về thăm Thầy, gặp lúc Thầy đang
đọc sách, dịch kinh thì chỉ cúi chào và lui xuống. Những lúc ấy, Thầy chỉ
ngước mắt nhìn và ngúc một cái rồi lại tiếp tục đọc, mọi việc diễn ra xung
quanh coi như không có. Có lần, một vài vị khách đến hầu Thầy, gặp lúc
Thầy đang xem sách và đang tra cứu các điển tích, khi họ chào Thầy, Thầy
chỉ chào lại bằng cái ngúc, rồi chú tâm vào sách vở. Có người nói Thầy là
người lạnh nhạt, nhưng thật ra, huynh đệ chúng tôi lúc đầu chưa biết ý
Thầy cũng có cảm tường hụt hẩng ấy. Sau n ày biết ra rằng, lúc đã đọc kinh
sách thì Thầy thường không để ý đến cảnh chung quanh. Thầy kể: Thầy họ hay
đến thăm tôi, gặp lúc đang đọc hay tra cứu, lúc ấy, lòng tôi không yên,
phải tìm cách cho ra để khỏi vướng bận trong lòng. Vì họ là người quen,
nên tôi nghĩ chắc cũng chỉ là chuyện thăm bình thường, nên tôi chỉ ngúc
một cái rồi tiếp tục tra cứu tiếp, có nhiều vị không hiểu đâm ra buồn, nói
tôi là người lạnh nhạt. Nhưng tôi có tật hễ đã đọc kinh sách là như nhập
tâm, không rời xa nó được, nên có người cho tôi là con mọt sách. Ðối với
kinh sách thì Thầy rất quí. Có sách gì mới xuất bản nghe hay là Thầy cho
người đi tìm mua ngay cho dù ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội.
Có hôm tôi từ thành phố Hồ
Chí Minh ra dạy ở Học Viện Phật giáo Huế, lên hầu Thầy, Thầy ngước lên gật
đầu rồi tiếp tục đọc. Lần sau biết ý, trước khi ra Huế tôi đi mua một
chồng sách mới xuất bản và chuyện cổ tích đông tây kim cổ, tôi chào Thầy
và để ngay chồng sách ấy lên bàn, nhẹ nhàng cuối đầu chào rồi rút lui.
Trưa ăn cơm, Thầy hỏi chuyện ở thành phố Hồ Chí Minh. Chiều thức dậy, Thầy
ra ngồi ở bàn sách, dở từng cuốn ra coi và thế là Thầy nằm đọc luôn cho
đến chiều, tới giờ cơm mới xuống và lúc ấy Thầy vui vẻ nói chuyện cùng cả
đại chúng. Thế cho biết, hễ có sách là như có chất men kích thích và Thầy
như là con ong hút mật, bao giờ hết mật (hết sách) thì thôi.
Sư đệ Nguyên Anh là người
thích văn hóa và rất quí trọng sách vở. Biết Thầy là người yêu sách và quí
sách nên huynh đệ chúng tôi bàn cách sưu tập cái bài giảng của Thầy thành
sách và đóng góp từng tập đem lên Thầy xem và xin Thầy một tựa đề. Thầy
nghĩ một lúc và nói: Trí Ðức Văn Lục được không? Chúng tôi dạ. Từ đó, bao
nhiêu bài giảng, bài viết, chúng tôi đều sưu tập thành bộ Trí Ðức Văn Lục,
được 9 tập. Tuy quí sách vở nhưng Thầy thích đọc hơn là dịch. Vì thế khi
một bộ sách của Thầy xuất bản bao giờ cũng co nhân duyên của nó, ngọai trừ
2 tập đã ra trước đây là Trường A-hàm và Pháp Cú, lúc ấy chúng tôi không
được ở bên Thầy, các cuốn còn lại đều do huynh đệ chúng tôi sưu tập trình
Thầy xem và xin in cho ra mắt độc giả. Sư đệ Nguyên Anh và tôi có cái
thuận lợi, mỗi khi đề xuất in ấn sách thì Thầy hoan hỷ ngay. Cộng thêm sự
ủng hộ của một số sư đệ như: Hải Liên, Minh Thông, Kiên Tuệ..., nên cũng
coi như đồng thanh tương ứng, trong việc xuất bản. Trong các tác phẩm, dù
dịch hay tuyển tập của Thầy đã xuất bản, đều có những kỷ niệm mang đậm dấu
ấn của thời gian và không gian của nó.
-
Vô Ngã là Niết Bàn – 1990 (tuyển tập). Tuyển tập
gồm một số bài viết và bài giảng tại các Phật học viện và các trường
Cao cấp Phật học. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam là cơ quan chịu
trách nhiệm in ấn. Thế là sách được hình thành. Cuồn này mới đầu lấy
tên là Vô Ngã và Niết Bàn. Thầy sửa lại Vô Ngã là Niết Bàn. Sách ra
đời được nhiều người hoan nghênh và tái bản nhiều lần để đáp ứng nhu
cầu của bạn đọc.
-
Tỏa ánh quang từ – 1992. Ðây là bài sọan để dạy cho
các Tăng Ni sinh ở các Phật học viện. Sư đệ Nguyên Anh và tôi xin in
để cho lớp trẻ Gia đình Phật tử có tài liệu đọc thêm. Aûnh bìa thì do
sư đệ Nguyên Anh chụp ờ liêu chùa Từ Hiếu. Khi bản thảo được đưa lên
cho Thầy xem lại, Thầy hỏi nên lấy tựa đề gì? Và cuối cùng Thầy nói:
thôi lấy đề Tỏa ánh từ quang. Thầy quay qua hỏi thầy Giác Quang, lúc
đó cũng có mặt, đề như vậy có được không? Thầy Giác Quang và chư huynh
đệ thưa: Thưa Ôn, đề hay quá. Thế là Thầy đã quyết định và sách được
in. Cuốn sách này được tái bản nhiều lần và nay đã hết.
-
Câu Xá luận Ðại cương – 1978. Cuốn này sọan để
giảng cho Tăng sinh Viện Cao đẳng Phật học Hải Ðức – Nha Trang. Sau
này Thầy tiếp tục giảng cho Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành
phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin phép in thành sách. Thế là Thầy đồng ý.
-
Thành Duy thức luận – 1995. Ðây là bộ luận được
dịch khi Thầy vào ở Nha Trang. Nguyên do là khi ở Huế, lúc khai giảng
trường Trung cấp Phật học ở Thừa Thiên thì có sự cố. Thầy bị một số
người quấy nhiễu nên phải bỏ Huế để vào tịnh cư Nha Trang. Khi Thầy
dịch bộ Thành Duy Thức này xong, chúng tôi xin Thầy in thì Thầy đồng
ý.
-
Lối vào Nhân Minh học –1995. Ðây là tập hợp các bài
sọan để dạy cho Trường Cao cấp Phật học ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi
thầy dạy xong, theo yêu cầu của chư Tăng Ni và các học giả trí thức
Phật giáo muốn có thêm tài liệu để nghiên cứu, nên Viện Nghiên cứu
Phật học Việt Nam gợi ý xin in và Thầy đã chấp thuận.
-
Kinh Pháp hoa giữa các kinh điển Ðại thừa – 1997.
Ðây là tuyển tập các bài giảng về kinh Pháp hoa cho Tăng Ni ở Học viện
Phật giáo Việt Nam tại Huế và các đạo tràng ở Huế, Sài Gòn. Chúng tôi
sắp xếp lại đưa Thầy xem và Thầy đồng ý cho in. Thầy dặn nên đưa một
số bài đã đăng trong cái báo Phật giáo vào để cho nội dung sách thêm
phong phú.
-
Ngũ uẩn vô ngã – 1997. Là bài giảng của Thầy cho
Tăng Ni sinh tại Huế. Sau đó được in thành sách để đáp ứng yêu cầu học
tập và nghiên cứu cho Tăng Ni sinh các trường Trung cấp, Cao cấp và
các Học viện cũng như giới trí thức Phật giáo.
-
Bộ Luận Ðại Trí Ðộ –1997-2001. Sau khi đọc một số
dịch giả dịch Trí độ luận ra tiếng Việt, Thầy quyết định dịch, vì các
bảnh dịch trước có nhiều chổ Thầy không đồng ý. Khởi đầu dịch năm
1997, Thầy dự định dịch mỗi năm 1 cuốn. Dịch xong cuốn nào in cuốn đó.
Và đã in được 3 tập thì Thầy phát bệnh. Tuy nhiên, với quyết tâm và sự
thỉnh cầu của chư huynh đện nên Thầy đã cố gắng dịch. Dịch đến cuốn 5
thì bệnh tái phát nặng. Sách được in trọn bộ 5 tập từ năm 1997 đến năm
2001. Ðây là bộ sách mà Thầy ưng ý nhất vì dịch trọn vẹn.
-
Trung luận – 2001. Duyên khởi là sau khi đọc các
bảnh Việt dịch về Trung luận, Thầy không vừa ý nên chư huynh đệ chúng
tôi tranh thủ thời cơ xin Thầy dịch lại cho bộ này. Trước mắt huynh đệ
chúng tôi thấy khó được Thầy chấp nhận vì sức khỏe đã yếu; tuy nhiên,
còn nước còn tát nên mấy tuần sau đó, chư huynh đệ chúng tôi ước muốn
sau khi dịch xong bộ Trí độ luận sẽ xin Thầy dịch tiếp Trung luận
nhưng chưa ai dám thưa. Thầy dịch đến cuốn 3 Trí độ luận thì bệnh trở
nặng, nhưng Thầy vẫn cố gắng dịch cho xong cuốn 4 và 5. Ðến Trung luận
là cuốn manh nhiều dấu ấn để lại cho chư huynh đệ, cũng là quyển dịch
cuối cùng trong cuội đời của Thầy, và chư huynh đệ chúng tôi cũng bị
Thầy phiền lòng nhiều nhất trong giai đọan nầy. Tư tưởng chúng tôi rất
mâu thuẫn, phần lo cho sức khỏe của Thầy, phần lo Thầy không còn thời
gian nữa để dịch. Nghĩ đến đây chư huynh đệ chúng tôi rất hối hận.
Nhưng vì đàn hậu học, chúng tôi lại vắt cạn sức khỏe trước khi Thầy
hòan thành Trung luận. Ở đây phải kể đến sư đệ Vương Anh tác động
thêm, bằng cách gửi thư điện tử đến Giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp và
Phật tử Kim Lan ở Ðức để nhờ hai vị thỉnh Thầy dịch. Thế là người
trong kẻ ngòai quyết tâm thỉnh Thầy dịch. Khi biết Thầy đã thuận ý,
chúng tôi đã viết thư cho Giáo sư Hồng Dương đang ở Mỹ, email bản Việt
mà Giáo sư hiện đang có để Thầy tham khảo. Ðọc xong Thầy quyết định
dịch bộ này khi cơn bệnh đã đến thời kỳ nguy kịch, nhưng Thầy đã nhiếp
tâm chịu đựng cơn đau cho đến khi hòan tất và coi lại bản thảo lần
cuối. Sau đó một tháng thì Thầy viên tịch.
-
Chữ nghiệp trong đạo Phật – 2002. Ðây là tuyển tập
gồm các bài giảng, nói chuyện của Thầy đã đăng ở các báo Phật giáo.
Khi Thầy còn ở thành phố Hồ Chí Minh, chư huynh đệ chúng tôi cũng đã
đem bản thảo cho Thầy xem, Thầy có chỉnh lại một vài chỗ, xong trao
lại cho chúng tôi để in. Ðây có thể là tập cuối cùng có bút phê của
Thầy trong bảnh thảo.
*
Chư huynh đệ chúng tôi là
người có duyên may được làm đệ tử của Thầy. Thầy có rất nhiều đệ tử xuất
gia và tại gia. Chư huynh xuất gia lớp trước có thầy Huệ Minh, thầy Ðạo
Dung, thầy Hải Thanh, thầy Hải Minh, thầy Hải Tịnh, thầy Thái, thầy Hải...
Lớp giữa có thầy Nguyên Tịnh, Nguyên Vương, Phước Tú, Hải Ấn, Pháp Hải,
Huệ Trí, Hải Vương, Như Tâm, Như Tánh, Huệ Thông, Ðạo Chí, Thành Tín,
Thành Ðức, chú Kính, chú Thiện... Lớp sau có thầy Kiên Tuệ, Kiên Niệm,
Kiên Ðịnh và Ðạo Thông. Lớp Y chỉ có thầy Minh Thông, Minh An, Minh Thông
(Canada)... Về phía chư Ni có Ni sư Chơn Cẩn, Hải Liên, Diệu Châu, Hải
Hiền, Hải Minh, Như Tâm, Diệu Ý, Chơn Tu, Huệ Hiền, Chơn Châu, Huệ Nhẫn,
Hải Châu, Huệ Dung, Huệ Hải, Chơn Ðạo, Tịnh Trí, Tịnh Diệu, Tịnh Liên,
Tịnh Tâm, Tịnh Ðức, Minh Thuận, Hạnh Tòan, Thọai Tú, Thọai Thanh, Tuệ
Nhẫn, Thiền Ý, Tịnh Hòang, Như Trang, Như Thuần, Liên Như, Viên Ðức, Viên
Trung, Viên Niệm, Viên Từ, Chánh Tuệ, Thông Tịnh, Nguyên An, Nguyên Chơn,
Nguyên Huyền, Nguyên Thế, Nguyên Châu... Chư huynh đệ trên, có huynh đệ là
người phụ giúp Thầy trong việc sưu tầm và in ấn kinh sách; có huynh đệ là
thị giả hầu Thầy, có huynh đệ là người chăm sóc sức khỏe lúc Thầy ốm
đau... Dù là huynh đệ ở cương vị nào đi nữa, chúng tôi nghĩ, huynh đệ
chúng tôi đã được sự giáo dưỡng trực tiếp từ bậc Thầy kính mến của mình,
như là người thừa tự Pháp chứ không phải thừa tự tài vật. Ðó là điều chư
huynh đệ chúng tối rất biết ơn Thầy và nguyện suốt đời là người Thừa tự
Pháp như Thầy đã từng dạy dỗ trong suốt cuộc đời của Thầy.
MỘT THOÁNG VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Tỳ kheo THÍCH NHƯ Ý
Hôm nay là ngày bát nhất
của Hòa thượng Thích Thiện Siêu. Tôi vô cùng xúc động và hân hạnh được Ban
tổ chức cùng Môn đồ Pháp quyến gởi thiệp nhờ viết về Hòa thượng. Thực ra
thì tôi không được gần Hòa thượng cho lắm, vì sau những ngày Hòa thượng
rời Hải Ðức – Nha Trang để trở về Cố đô xứ Huế, nhưng những hình ảnh của
Hòa thượng luôn hiện rõ trong tâm trí tôi.
Hồi ấy, Hòa thượng còn ở
Hải Ðức – Nha Trang, Hòa thượng là Viện trưởng của Cao đẳng Phật học viện
Hải Ðức. Một con người có đức độ bao dung, một lòng nhân tù phúc hậu, một
bậc thầy khả kính vô biên. Cho nên, Tăng chúng rất dễ học hỏi nơi Ngài.
Nơi Linh Sơn Pháp Bảo chúng tôi là một Trường Sơ cấp nhỏ của Viện, có lần
Hòa thượng ghé đến để khuyên răng chúng tu học, hành trì giới luật, sáng
kệ, chiều kinh siêng năng tu hành, hạ thủ công phu để báo đáp ơn Phật, đàn
na. Tại nơi đây, Hòa thượng cũng đã để lại một kỷ niệm lớn lao cho chùa
Linh Sơn Pháp Bảo và cũng là dấu tích cuối cùng trong cuộc đời hành đạo
của Hòa thượng ở nơi xứ đất Nha Trang thùy dương sóng nhịp. Ðó là hai câu
đối nơi hậu tổ:
"Tham thiền tu thấu tổ
sư quan, văn tự hề vi trọng tại niêm hoa vi tiếu
Diệu ngộ yếu cùng tâm
lộ tuyệt, ngũ ngôn hà dụng tòan bằng khấu chí tam thinh"
Thế nhưng việc đời có sinh
ắt có diệt, có đến ắt có đi, có tồn tại ắt có ly tan, rồi bước chân vân du
ấy cũng phải chịu sự chi phối của qui luật sinh tồn và Hòa thượng đã rời
Nha Trang ra đi để về lại miền đất Cố đô xứ Huế. Nơi đã sinh ra và nuôi
dưỡng ha lớn lên trong tình xứ Huế. Duyên hội ngộ, đức cù lao Hòa thượng
đã trở về Huế để xây dựng Phật giáo tại Huế cho đến ngày cuối cùng trong
cuộc đời Hoằng pháp củamình. Từ đó cho đến nay, tôi ít có dịp được gặp Hòa
thượng vì tuổi già sức yếu, Phật sự đa đoan, Hòa thượng cũng ít có dịp trở
lại đất Nha Trang, nhưng nơi đây luôn vọng trông về ân đức lớn của Hòa
thượng để Phật pháp đươc xương minh. Mỗi lần Hòa thượng vào Nha Trang đều
ghé đến chùa Linh Sơn Pháp Bảo để thăm Tăng chúng, hoặc hỏi thăm trông nom
về nơi ấy. Mãi cho đến năm 1997, tôi nghe Hòa thượng mở trường Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Huế, tôi thật sự bất ngờ và đầy xúc động, nghĩ
thầm: "Hòa thượng già rồi mà còn lo cho đàn hậu tấn về sau, thật là một
tình thương vô biên không ngằn mé".
Thời gian thấm thóat trôi
qua, Học viện đã hình thành và đã đào tạo ra trường 170 Tăng Ni sinh có đủ
pháp lý, pháp nhân để vào đời hành đạo, kế tục tiền nhân. Và tôi cũng đã
mấy lần về Huế để dự lễ khai giảng, khánh thành Học viện, lễ Tốt nghiệp
Tăng Ni sinh và đã mấy lần ghé thăm, đảnh lễ hầu chuyện với Hòa thượng.
Lúc ấy, tôi thấy sức khỏe của Hòa thượng đã héo dần theo năm tháng, nhưng
tiếng nói, trí tuệ vẫn còn rực sáng như ngày nào. Nhớ lại lần đầu tiên tôi
bước ra xứ Huế, giống như đã trở về miền đất thân quen của bao năm tháng
xa cách. Huế, một kinh thành cổ kính, một trung tâm Phật giáo đã một thời
lãnh đạo cả miền Trung. Nơi sông Hương, núi Ngự đã gắn liền với cát trắng
thùy dương Nha Trang gần nữa thế kỷ qua mà giờ đây Huế vẫn uy nghiêm hùng
vĩ một dáng vẻ tự có muôn đời. Ngôi Tổ đình Từ Ðàm đánh dấu mốc lịch sử
của thời gian hàn gắn và là nơi chôn nhau cắt rốn của bao hệ phái phát
triển về sau, là trung tâm Phật giáo miền Trung đã xây dựng lên một con
người vĩ đại. Tôi đã lặng lẽ bướn từng bước lên thang cấp của Từ Ðàm mà
lòng ngậm ngùi nhớ lại cảnh xưa trong từng xúc động. Bước qua phòng khách,
đưa mắt nhìn quanh một cảnh thuở nào rực rỡ, mà giờ đây lại im lìm nhưng
đang tắt lịm giữa hòang hôn chiều tàn. Hòa thượng ngồi trên chiếc ghế mấy,
tay cầm cuốn chữa Hán, đang nghiên cứu tìm tòi những yếu chỉ của kinh điển
mà làm giáo án dạy cho học trò. Tôi bước vào nghiêng mình cúi chào trong
niềm vui xúc động, Hòa thượng đưa mắt nhìn lên và nhận ra tôi trong niềm
vui, Hòa thượng nói: "Thầy Như Ý đó àh!". Một giọng Huế thân quen ngày
nào, giờ đây tôi mới nghe lại được. Tôi nói: "Bạch Hòa thượng, con mới từ
Nha Trang ra đây và ghé thăm Hòa thượng".
Qua câu chuyện tâm tình
thầy trò, tôi đã thăm hỏi sức khỏe của Hòa thượng và biết rằng Hòa thượng
đã già đi rất nhiều, nhưng sức khỏe vẫn còn tốt. Ngồi hầu chuyện rất lâu
và tôi cũng phải xin phép về để Hòa thượng còn viết bài và nghiên cứu ngày
mai phải lên lớp. Nhìn mái đầu bạc trắng, bàn tay run run của Hòa thượng
mà lòng tôi thấy bùi ngùi xúc động vô cùng. Ðó là lần đầu tiên tôi trở về
xứ Huế và những lần sau tôi ra lại Huế đều ghế đến Hòa thượng tại Tổ đình
Từ Ðàm và thấy Hòa thượng một già đi.
Ấy thế mà thời gian thấm
thoắt trôi qua không bao giờ dừng lại, bốn năm của Học viện đã viên mãn,
tôi lại trở về xứ Huế một lần nữa để dự lễ tốt nghiệp mãn khóa. Lúc ấy tôi
thấy Hòa thượng càng yếu dần đi, sau cơn bệnh đã qua, nghĩ rằng chắc Ngài
chưa "đi" đâu. Thế mà một hôm, vào chiều ngày 17-8 âm lịch, tôi đang niệm
Phật tại tư thất thì nghe Hòa thượng đã viên tịch, lòng tôi bùi ngùi xúc
động vô cùng. Thôi rồi! Phật giáo đã mất môt bậc thầy khả kính, một con
người đức độ bao dung, một nhà giáo dục quên mình đang đau yếu. Tôi liền
niệm Phật tiếp để nguyện cầu cho Giác linh Hòa thượng được dự kiến đức
Phật A Di Ðà để sớm hồi nhập Ta Bà.
Giờ đây, bên dòng sông
Hương vẫn đang lượn mình chuyển tiếp, núi Ngự Bình vẫn sừng sững uy
nghiêm, đất Cố Ðô vẫn một màu bát ngát, cho Kinh thành cây cỏ cũng đơm
hoa, ấy thế mà đã mất đi một con người vĩ đại, một trụ cột của tăng chúng
Thừa Thiên, hàng giáo phẩm của Phật giáo Việt Nam và người thầy khả kính
của bao nhiêu lớp trẻ, khói trời đang cuồn cuộn chảy trôi, thời gian như
kéo mãi nỗi đau năm tháng... Tất cả đều úa tàn theo giấy phút ngậm ngùi
tiễn biệt, đều cúi đầu trước Giác linh của bậc xuất thế, để tiễn biệt
người trong niềm thương nhớ vô biên.
Thật vậy, chân lý mà đức
Thế Tôn đã nói ra không bao giờ sai cả. Vì, hễ cái gì sinh ra thì phải có
diệt đi, nó là do nhân duyên sinh giả hợp. Bởi vậy, cách đây 2545 năm, tại
Ta La song thọ đức Thế Tôn cũng hiện tướng Niết-bàn để gọi là chấm dứt một
cuộc đời giả sinh con người trên trần thế. Ngày hôm nay, Hòa thượng cũng
tùy thuận theo quy luật con người là sinh, già, bệnh, chết, mà xả báo thân
vĩnh viễn nới thế giới Ta Bà này, Nhưng pháp thân của Hòa thượng vẫn còn
vang mãi phương xa.
Nam Mô Lâm Tế Chánh
Tông tứ thập tam thế trùng kiến Thiền Tôn, Từ Ðàm nhị tự Trú trì húy
thượng Tâm hạ Phật tự Ðức hiệu Thích Thiện Siêu Hòa thượng thùy tự chứng
giám.
Nha Trang, ngày 10-12-2001
Chùa Linh Sơn Pháp Bảo
Viện Chủ
HÒAI NIỆM ÂN SƯ
Pháp đệ THÍCH LIÊM CHÍNH
Kính lạy Giác linh Ôn
Người trọn đời quy kính
Ngàn vạn lời thưa thỉnh
Cũng chỉ là ngữ ngôn
Ôi! Ân đức cao cả của Ôn
đối với Tăng Ni và Phật tử đàn hậu học chúng con làm sao nói hết!
Trọn cuộc đời vì sự nghiệp
"Hoằng pháp lợi sanh". Trọn cuộc đời vì cônh hạnh "Giáo dục Tăng Ni", bất
cứ ở đâu và lúc nào Ôn cũng luôn thể hiện đức tính hiền hòa mà nghiêm
khắc, luôn xứng đáng bậc Thầy mô phạm, thạch trụ Tòng lâm và bất cứ ai, dù
chỉ một lần gặp gỡ, cũng đủ cảm nhận sâu sắc về sự quy hướng và giá trị
cao quí của kiếp làm người. Riêng con, hồi tưởng lại những tháng năm dài
dưới mái trường Trung đẳng Ling Quang, ngay hai buổi nắng mưa không quản,
kết Kinh rồi Luận như thầm nhắn gởi, như nhắc nhở khuyên lơn, ấm áp làm
sao tình nghĩa Thầy trò, hồi đó con còn nhỏ dại có biết gì đâu, để bây giờ
thật sự vắng Ôn rồi, mới cảm thấy mất mát lớn lao và xót xa vô hạn!
Con còn nhớ có lần, sau
giờ ngọ trai mùa An cư kiết hạ năm nào tại Từ Ðàm, với giọng nói của Ôn ôn
tồn nhưng khẳng khái, ngắn gọn mà sao âm vang rung động mãi hồn con!
Ôn bảo: "Các Thầy luôn ghi
nhớ điều nầy: tại sao trong Quán tường thọ thực có câu "Ngũ vi thành Ðạo
nghiệp, ứng thọ thử thực?"
Lạy Ôn ! Con biết đây
không phải là môn triết lý Phật học uyên thâm mà chỉ là một trong những
công phu tật nhật dụng của Chư Tăng, thế mà khi nó được phát ra bằng một
âm thanh hiền từ mà trân trọng của bậc Thầy khả kính như Ôn , tức khắc nó
thành một định đề triết lý nhân sinh, một công án chuyển động tâm thể
Thiền sinh, một thọai đầu bặt dứt phan duyên của người tu học. Không những
chừng ấy, mà con còn cảm nhận tất cả những sinh họat bình thường nhất của
Ôn , từ tiếng cười, ánh mắt, từ những bước đi khoan thai nhẹ nhàng, từ một
cái chỉ tay đơn giản, cho đến cử chỉ thăng tòa "Khai đạo giới tử" nghiêm
trang v.v... Hầu như đều trở thành những bài thuyết pháp có tính thuyết
phúc nhất định và giá trị vô cùng suốt cả đời con.
Kính lạy Ôn ! Giờ đây tất
cả đều trở thành quá khứ, con thật sự xa Ôn rồi! Còn chăng chỉ là sự ảnh
hiện trên từng trang Kinh Luận, trọn đời Ôn đuổi bắt thời gian, để lại cho
đời, cho chúng con, nào Pháp tướng Duy thức, Câu Xá, Hữu tông, nào Pháp
tánh trí Ðộ, Trung quán, Không tông. Lạy Ôn ! Con nào dám lạm bàn tư
tưởnng Hữa, Không, con chỉ muốn khơi lại hình ảnh những ngày cuối cùng
trên giường bệnh, thời gian chỉ tính bằng giời, vậy mà Ôn vẫn không quên ý
nguyên hòan thành Trung quán luận, một kiệt tác trứ danh của Tổ sư Long
Thọ, vừa mới ra đời. Phải chăng đây sự biểu hiện nhiệm màu, Pháp thân
thường trú của Ôn? Không phải từng trang mà là từng câu, từng chữ khi ẩn
khi hiện quyện chặt hồn con! Giây phút cảm hứng này, nếu không phải "tức
hữu tức vô" thì đúng là yếu lý "Bát bất Trung đạo", nếu thế thì Ôn và con,
Thầy trò thôi không còn ngăn cách!
Pháp thân nào thường trú
uy nghi, Báo thân nào an nhiên thi tịch, tất cả đều biến hóa vô cùng linh
họat trong từng câu, từng chữ Kinh, Luận của Ôn. Ðúng là:
"Bất sanh diệc bất
diệt..."
"Bất nhất diệc bất dị..."
Nào ai biết được những
giây phút ngắn nhất của đời Ôn , lại là khõang thời gian dài vô tận của
đời con!
Kính lạy Giác linh Ôn !
Ân đức thì vô cùng, ngôn
từ lại hữu hạn. Xin mươn:
Vầng trăng sáng, tiết mạnh
Ðông,
Cảm tác đôi dòng thị sắc
không
Ngưỡng vọng Giác linh thùy
chứng giám
Thành tâm khấn bái, trọn
tấc lòng.
Trăng leo lơ lửng giữa
lưng trời,
Trăng là Ðịnh Tuệ tỏa muôn
nơi
Trăng Tâm Giới đức ngàn
đời chiếu
Trăng sáng như Người, một
cuộc đời.
Trăng sáng như Người, một
cuộc đời.
Trăng thường phổ chiếu,
mặc đầy vơi
Trăng soi lối nhỏ cho con
bước
Trăng cổ ngàn sau, ánh
trăng rơi.
Trăng cổ ngàn sau, ánh
trăng rơi,
Trăng in đáy nước vẫn rạng
ngời
Trăng kia dù mấy tầng mây
khuất
Trăng vẫn là trăng giữa
lưng trời.
BẬC CHÂN TU, NHÀ LÃNH ÐẠO,
NHÀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ÐÃ RA ÐI
Thượng tọa Thích Thiện Bảo
Khi nhận được tin báo Hòa
thượng Thiện Siêu viên tịch, lòng chúng tôi như có một điều gì mất mát lớn
lao dù biết Hòa thượng bệnh nặng từ lâu, tâm lý mọi người đã chuẩn bị
trước. Rồi đây Phật giáo sẽ mất đi một bậc chân tu, nhà lãnh đạo, nhà giáo
dục Phật giáo mà chúng ta không dễ gì tìm lại được, lòng cứ mãi bâng
khuâng, như nuối tiếc ở một thời điểm cần có những "cây đại thụ". Không
phải chỉ có trong tâm tôi cảm nhận điều này mà có lẽ trong lòng hàng triệu
người con Phật xuất gia, tại gia đều cảm thấy một sự mất mát lớn lao của
Phật giáo Việt Nam trong lòng Giáo hội. Tất cả mọi người con Phật đều nhận
thức rằng cuộc sống là vô thường, sinh diệt là lẽ đương nhiên, nhưng đứng
trên bình diện tục đế không ai không cảm thấy mến thương tiếc nuối khi mất
đi một vị tôn túc đầy khả kính!
Tôi còn nhớ và xin ghi lại
một trong những lần đến thăm Hòa thượng, ngài ngồi nói chuyện hàng giờ về
nội tình Phật giáo, nhất là trong lãnh vực giáo dục Phật giáo đối với thế
hệ Tăng Ni trẻ hiện nay. Có lẽ câu chuyện thắp đền dầu ngồi học kinh thời
kỳ thập niên 30 làm tôi nhớ mãi. Ngài ôn tồn kể lại: "Năm 1934, lúc 14
tuổi tôi vào chùa, và đó cũng là năm tôi được vào trường Phật học tại Phật
học đường Báo Quốc ở Huế. Lúc đầu chỉ học Phật học qua Hán văn do cố Hòa
thượng Trí Ðộ dạy, sau này mới học thêm chữ Quốc ngữ. Thời kỳ đó chưa có
điện, ban đêm phải đốt đèn dầu để học. Thầy dạy rất nghiêm khắc, vì thế
Học tăng học rất có căn bản. Sau mỗi bài học được thầy giảng, Học tăng
luân phiên nhau viết bài tóm tắt vào một quyển tập gọi là tập luân hóa.
Ðây là một phương pháp học, theo tôi, vẫn rất tốt... Từ nhỏ tôi rất ham
đọc sách, mỗi khi vào thư viện, hễ cầm quyển sách đọc là không muốn bỏ
xuống, thói quen đó vẫn giữ cho đến ngày hôm nay...". Việc học đã chăm
chỉ như thế nhưng việc tu không vì thế mà lơ là, dù trăm công ngàn việc
bận rộn trong công tác của Giáo hội, nhưng tất cả đều được ngài sắp xếp
chương trình sinh họat một cách khít khao, khoa học mà qua lời ngài chúng
ta có thể thấy được điều gì ngài đưa lên hàng đầu, điều gì là thứ yếu.
Ngài ngồi kể cho chúng tôi nghe quá trình dịch thuật của ngài và chúng tôi
thực sự nhận ra một con người có tâm huyết như thế quả là một bài học kinh
nghiệm cho nhiều thế hệ Tăng Ni Việt Nam noi gương: :"Năm 1943, Phật
học đường Báo Quốc dời về Kim Sơn, quí Hòa thượng Giáo thọ có ý thành lập
một Ðại tòng lâm nhưng không thành, vì năm 1945 chiến tranh Pháp – Nhật
bùng nổ và nạn đói xảy ra nên trường phải ly tán. Lúc 38 tuổi (1959), tôi
đi dạy và dịch chú giải quyển sách đầu tiên là kinh Pháp Cú. Tại nước ta
lúc đó chưa có bản tiếng Pàli hay tiếng Anh, tiếng Pháp như hiện nay; tôi
may mắn gặp được bản kinh Pháp Cú bằng chữ Hán của Pháp sư Liễu Tham.
Quyển sáchnày đến nay còn lưu hành và tái bản nhiều lần, với tên dịch giả
Thích Trí Ðức. Quyển thứ hai là kinh Trường A Hàm. Ðây là bảnh kinh mang
tư tường Phật giáo Nguyên thủy lần đầu tiên được dịch và giới thiệu bằng
tiếng Việt; vì lúc bấy giờ ở Việt Nam ít quan tâm đến A Hàm, mà chỉ chú ý
đến các bản kinh Ðại thừa như Lăng Nghiêm, Viên Giác. Thời gian trước
1975, tôi không dịch được nhiều do tham gia vào các phong trào Phật sự của
Giáo hội. Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, tình hình xã hội và Giáo
hội ổn định, tôi mới có điều kiện thuận lợi thực hiện tâm nguyện dịch
những bộ luận chính của ba tư tường Phật giáo lớn là Câu-xá luận (Hữu Bộ),
Thành Duy thức luận (Pháp tướng tông) và Ðại Trí độ luận (Pháp tánh công).
Riêng Ðại Trí độ luận gồm 100 quyển hiện tôi đã dịch được 80 quyển và đã
in in thành bốn tập, tập cuối cùng sẽ được in vào dịp lễ Phật đản 2001.
Như vậy sẽ hòan tất việc dịch tòan bộ 100 quyển. (Dịch phẩm cuối cùng Hòa
thượng hòan tất là Trung Luận)..."
Tôi có hỏi Hòa thượng về
việc học Phật của Tăng Ni trẻ hiện nay và tâm huyết của môt vị tôn túc có
kinh nghiệm của một người đi trước mà Hòa thượng đã đào tạo qua nhiều thế
hệ Tăng Ni, Hòa thượng có nhắn nhủ điều gì. Ngài ôn tồn nói: "Tôi có
đôi lời gởi đến các Tăng Ni trẻ nói riêng và các Phật tử nói chung, là đã
có tâm xuất gia thì phải nên cố gắng học tập để biết đường lối tu tập đúng
theo tinh thần Phật dạy. Học Phật không phải chỉ học lý thuyết mà còn phải
thực hành, vận dụng để sống. Như thế mới có thể phân định điều Phật dạy và
điều không phải Phật nói, vạch ra sự sai lầm có thể lan tràn do sự ngộ
nhận làm lấp đi sự trong sáng vốn có của Phật pháp. Có hiểu biết đúng mới
có thể xây dựng được niềm tin trong sáng và giúp người khác được".
Lần cuối cùng tại bệnh
viện Chợ Rẫy, với gương mặt gầy hơi xanh do căn bệnh hòanh hành nhưng nét
mặt vẫn tỉnh, đôi mắt vẫn sáng, Hòa thượng nói với chúng tôi: "Tôi đã
đi được hai cửa sanh và già, còn một cửa nữa là trọn một đời người...".
Có lẽ đối với tôi câu nói đó là câu nói cuối cùng không còn có cơ duyên
gặp lại Hòa thượng nữa cho đến khi nhận được tin ngài viên tịch. Viết
những dòng nầy tôi không mong nói hết những công hạnh của Hòa thượng,
nhưng xin góp một chút hương nhỏ tưởng niệm về công hạnh của bậc Tôn túc
lãnh đạo Giáo hội, nhà giáo dục Phật giáo vĩnh viễn ra đi. Một bậc chân tu
suốt đời vì sự nghiệp dịch kinh, giảng dạy cho nhiều thế hệ Tăng Ni Phật
tử trong nhiều thập niên trên quê hương Việt Nam.
TUỆ GIÁC SIÊU NHIÊN
Thương tọa THÍCH ÐẠT ÐẠO
Tôi còn nhớ trong quãng
thời gian Ôn Già Lam (tức Hòa thượng Thích Trí Thủ) đang làm Viện trưởng
Viện Hóa Ðạo thì Ôn Từ Ðàm (tức Hòa thượng Thích Thiện Siêu) là Tổng Thư
ký, lúc đó tôi là thị giả của hai Ôn. Mỗi ngày phải lái xe đưa hai Ôn đến
văn phòng chùa Ấn Quang để làm việc. Ôn Già Lam thường hay nói với tôi:
"Thầy Từ Ðàm mà làm Tổng Thư ký thì tôi tha hồ mà yên tâm ký văn bản". Qua
câu nói đó của Ôn Già Lam cũng đủ chứng tỏ rằng Ôn Từ Ðàm làm việc rất cẩn
thận và chu đáo. Chính vì sự cẩn thận ấy mà việc trước tác, biên sọan,
dịch thuật kinh điển của Ôn ít được thực hiện trong những thập niên 80,
90. Những năm về trước, mặc dù Ôn Già Lam luôn động viên Ôn Từ Ðàm về việc
viết sách, nhưng Ôn Từ Ðàm cứ do dự mãi và hàng ngày chỉ biết đọc hết
quyển kinh này đến quyển kinh khác của Bộ Ðại tạnng bằng Hán ngữ để chờ
ngày tư tường Phật đà được tích lũy chín mùi và thuận duyên thì sẽ xuất
bản. Các tác phẩm sau đó đã xuất bản như ở hai thập niên sau này. Ôn Từ
Ðàm vốn là một bậc chân tu học, tốt nghiệp hạng ưu tại Phật học đường Báo
Quốc – Huế cùng quý Hòa thượng Trí Tịnh, Trí Quang, Trí Nghiêm, Trí
Thành...
Có một lần, Thượng tọa
Giác Tòan thay mặt Hệ phái Khấtsỉ thỉnh Ôn Già Lam đến dạy luật Tứ phần
cho chư Tăng Khất sĩ, Ôn Già Lam mời Ôn Từ Ðàm cùng đi. Tại giảng đường
Tịnh xá Trung tâm có mặt đầy đủ các bậc tôn túc Hệ phái Khất sĩ, Ôn Già
Lam giới thiệu: "Hòa thượng Thiện Siêu chuyên nghiên cứu Kinh Luật Luận
trong nhiều năm qua, Hòa thượng nhỏ tuổi hơn tôi, thuộc lớp đàn em của
tôi. Nhưng từ trước đến nay, trong lòng tôi luôn kính trọng và xem Hòa
thượng là bậc Thầy của tôi. Nay tôi giới thiệu Hòa thượng đến đây để hướng
dẫn chư Tăng Hệ phái Khất sĩ học hỏi về Luật tạng Ðại thừa". Chỉ bao nhiêu
lời giới thiệu của Ôn Già Lam đối với Ôn Từ Ðàm, thế cũng đủ biết Ôn Từ
Ðàm tinh thông Phật học như thế nào. Những lời của Ôn thốt ra, văn nói
cũng như văn viết. Nếu chúng ta kết tập lại sẽ thành môt bài văn không dư,
không thừa, câu cú và lời văn gãy gọn sắc bén.
Hôm nay, dù Ôn Từ Ðàm đã
viên tịch, nhưng những áng văn bất hủ của Ôn vẫn còn sống mãi trong nền
học thuật Phật giáo Việt Nam. Những lời dạy của Ôn vẫn còn đọng lại trong
trái tim của Tăng Ni và Phật tử Việt Nam. Thật xứng đáng là bậc tuệ giác
siêu nhiên. Con thành tâm kính lễ.
VỌNG BÁI TÔN SƯ
Ðệ tử THÍCH PHƯỚC TÚ
Ngưỡng bạch Giác linh
Thầy,
Con từ giã gia đình
Làng Mỹ Á trước biển
sau sông
Lên Từ Ðàm xuất gia học
đạo
Nhờ ơn Thầy giáo dưỡng
Con biết nẻo qua về.
Những năm tháng ở cạnh
Thầy, con chưa kịp suy nghĩ về lời Thầy, vì con còn nhỏ nên cứ vô tư trong
nếp sống đạo đồng. Lớp anh con có chú Phú, chú Vỹ, chú Trung, chú Thuần...
Lớp đồng môn có chú Kỳ, chú Chiến, chú Hướng, chú Dược, chú Phước... Ngay
trong hai lớp vừa kể, có người đã qui Tây. Ðến khi con xa Thầy, tha phương
du hóa, lòng cảm thấy đơn côi chới với. Lúc ấy con tưởng nhớ đến Thầy vô
hạn. Trong số điệu chúng Từ Ðàm thuở ấy, con là đứa ngỗ nghịch nhất, có
lúc làm Thầy phải phiền lòng, nhất là vu đấu tranh 63 để bảo vệ Ðạo pháp.
Nay tuổi lục tuần hướng về Tổ đình thì Thầy đã đi xa. Con thật là vô duyên
bạc phước.
Kính bạch Thầy,
Nhiều người nói, Thầy
nghiêm mà từ. Con nghiệm ra lời họ nói có phần đúng. Cuộc đời Thầy là bài
thuyết pháp vô tận. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ, mỗi việc làm của Thầy là
những bài thuyết pháp vô cùng sinh động. Thầy thuyết pháp trên tòa. Thầy
thuyết pháp trong giảng đường, Thầy thuyết pháp giữa đạo tràng, Thầy
thuyết pháp khi còn khỏe mạnh, và Thầy thuyết pháp ngay cả khi nằm trên
giường bệnh lúc ốm đau. Ở đâu có Thầy là ở đó có thuyết pháp. Có tiếng
Thầy thuyết pháp là có a