Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm Đại Lão
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu


...... ... .

 

PHẦN III

 

 Thơ văn tưởng niệm

 

(2)

 

VẪN NGÁT HƯƠNG LÀNH

Tỳ Kheo THÍCH THIỆN NHƠN

Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Thành viên Hội đồng Chứng minh, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Huế, Trụ trì Tổ đình Từ Ðàm - Huế, là một bậc Cao Tăng, thạc đức, thạch trụ chốn Tòng lâm, là ánh hải đăng định hướng cho Phật giáo Việt Nam, Phật giáo xứ Huế đi đúng mục tiêu trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam, theo từng thời đại khác nhau của lịch sử. Có thể nói:

"Công người vun tưới tháng ngày

Ðể hoa Ðạo pháp ngày ngày thêm tươi"

Hòa thượng đã hiện hữu ở thế gian này vào những thập niên đầu thập kỷ và đã ra đi vào đầu thế kỷ 21, hơn 80 năm trụ thế, gần 60 tùy duyên hóa độ chúng sanh thực hành Bồ tát đạo, Hòa thượng đã để lại cho Phật giáo Việt Nam, cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, Phật giáo xứ Huế một tấm gương đạo hạnh trang nghiêm, môt hiện thân Bồ tát, hiền Tăng thanh tịnh từ hòa. Quả thật:

"Hương thiền tỏa ngát gần xa,

Vườn hoa Ðạo pháp nở hoa bốn mùa"

Về mặc xã hội, Hòa thượng đã sử dụng phương tiện quyền xảo, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, hành xử mọi phương tiện trong những chặng đường lịch sử khác nhau của Dân tộc, Ðạo pháp và Xã hội, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, an vui hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng. Như người xưa đã nói:

"Xin cho tôi làm một hạt cát

Ðể góp thành sa mạc ở thế gian

Xin cho tôi chấp cánh đại bàng

Ðể tô điểm trần gian thêm tươi đẹp".

Gần 60 năm hiến thân cho Ðạo pháp, phục vụ nhân sinh, bằng tâm hồn Bồ tát, Hòa thượng đã dấn thân trong gian nan, nguy hiểm và kiên định lập trường, tự tại thong dong, giải thoát trong mọi công tác Phật sự và yêu cầu của xã hội. Do đó:

"Mặc dù đi vạn đường trần

Ðạo tâm không để một phần phôi pha"

Về Ðạo pháp, bằng thiện căn có sẵn, đạo hạnh trang nghiêm, trí huệ viên dung, công đức thanh tịnh, Hòa thượng đã tỏa sáng gương lành, gióng trống lôi âm vang rền tiếng hát, khai đàn thí giới, mở thông giới thân huệ mạng, mở trường Phật học, thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam, đào tạo Tăng Ni tài đức kế thừa Phật pháp; phát huy tinh thần Thích hải côn bằng, Linh sơn cốt nhục, tình pháp lữ Ðại thừa trong chánh pháp, phát triển Ðạo vàng trong những chặng đường khác nhau của lịch sử Phật giáo Việt Nam trong ý nghĩa:

"Cùng nhau thực hiện lục hòa

Chúng sanh lợi lạc chan hòa niềm vui"

Qua tự nhận, Hòa thượng là nguồn cổ vũ tinh thần, động viên Tăng Ni Phật tử Việt Nam, Phật giáo xứ Huế phát huy tinh thần Ðạo pháp, làm tốt đạo đẹp đời. Nhờ vậy, qua các giai đọan lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni Phật tử Việt Nam, Phật giáo xứ Huế mãi mãi chan hòa, hiện hữu và chuyển lưu trong dòng chảy của dân tộc. Có thể nói, hiện thân của Hòa thượng là bóng đại thụ che mát cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam, là ánh hải đăng định hướng cho Phật giáo Việt Nam, Phật giáo xứ Huế xuyên suốt dòng lịch sử truyền thừa và phát triển mà đỉnh cao của thời đại là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Dù trên cương vị nào, mỗi cử chỉ, mỗi ngôn từ, Hòa thượng đều biểu hiện một sức sống nội tâm mãnh liệt, đạo lực kiên cường, tạo sức hút cho mọi người khi đủ cơ duyên diện kiến Hòa thượng đều phát khởi tín tâm, tu hành giải thoát, thuận lý chân như. Tâm hồn bao dung, độ lượng, từ bi, hỷ xả, nhu hòa, khiêm tốn, bình dị, nhẫn nại của Hòa thượng là một bài học đạo đức cho muôn đời, cho các thế hệ hiện tại và mai sau noi theo gương Hòa thượng để sống và hành xử trong khi thi hành Phật sự. Quả thật:

"Hư không còn có ngày mòn

Bao lời huấn thị sắt son muôn đời"

Công tác Phật sự của Giáo hội từ Nam chí Bắc, từ Trung ương đến địa phương, từ phạm vi cơ sở của Giáo hội cho đến Tăng Ni, tự viện, Phật tử đều được đượm nhuần ân đức và sự hiện hữu của Ngài trong tâm tư, trong ký ức, cũng như trong thực tế. Không những Hòa thượng đã tạo được niềm tin, sự hoan hỷ vô biên và sự an ủi, khích lệ tinh thần Ðạo pháp cho Tăng Ni Phật tử cả nước mà còn góp phần thành tựu mọi Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo xứ Huế. Qua đó:

"Mặc dù Ngài đã đi xa

Pháp thân vẫn mãi chan hòa núi sông"

(Sông Hương – Núi Ngự)

Ðối với Sơn môn, Pháp phái, Hòa thượng đã thể hiện trọn tình trọn nghĩa, làm tròn trách nhiệm đối với tông phong, Thầy tổ, tạo mối đoàn kết hòa hợp như nước với sữa để được lợi ích an vui trong Phật pháp. Hòa thượng đã khuyên Tăng Ni Phật tử hòa mình cùng Giáo hội và Dân tộc, phụng sự Ðạo pháp và phục vụ xã hội trong suốt thời gian vô cùng và không gian vô tận, thật đúng với ý nghĩa:

"Giữ gìn Tổ ấn Tông phong.

Tốt đời đẹp đạo giữa lòng dân gian"

Ðối với chốn Tổ, Hòa thượng đã dồn hết tâm lực, trí lực, trùng tu Thiền Tôn tự được trang nghiêm tú lệ, và hoàn thành viên mãn trước khi về cõi Phật. Hòa thượng đã mãn nguyện khi thấy chốn Tổ đã được trùng tu, trang nghiêm thanh tịnh, xứng đáng là cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo địa phương; rồi tự ra đi không luyến tiếc, như bóng nhạn trời không, như bóng trăng in đáy nước. Như người xưa đã nói:

"Nước chảy theo khe nào có ý

Mây tuôn đỉnh núi vẫn vô tâm"

Ngày nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni Phật tử Việt Nam, chốn Tổ đã và đang phát triển tôn nghiêm trong lòng dân tộc, nhưng Hòa thượng không còn nữa ở thế gian này, Hòa thượng đã trở về với thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, nhục thân của Hòa thượng đã an nghĩ nghìn thu nơi chốn Tổ, xứ Thần Kinh. Tuy thời gian có trôi qua, không gian có biến dịch, song công đức và đạo hạnh sáng ngời, giới đức trang nghiêm thanh tịnh của Hòa thượng vẫn còn sống mãi với thời gian vô cùng và không gian vô tận, vẫn hằng hữu quang minh trong lòng người con Phật xứ Huế, Tăng Ni Phật tử Việt Nam và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Quả thật:

"Người nằm đấy cho ngàn thu vang bóng.

Mảnh hình hài lồng lộng tựa hư không

Sẽ sống mãi trong lòng Thích tử

Trong suy tư cùng pháp giới vô biên".

 

NHỚ ÔN TỪ ÐÀM

Tường niệm ngày Lễ Chung thất mùng 6.10.Tân Tỵ (20.11.2001)

Thượng tọa THÍCH GIÁC TOÀN

Ai về miền Trung thăm xứ Huế

Viếng Từ Ðàm cũng nhớ Ôn luôn

Xứ Huế có sông Hương núi Ngự

Chùa Từ Ðàm có bóng dáng Ôn thương

Tính Ôn hiền hòa từ thuở vào nôi (1921)

Mười bốn tuổi quy y đầu Phật

Mười bốn tuổi xuất gia Trúc Lâm (1935)

Học tập mười năm tốt nghiệp hạng ưu.

Ngày ra trường tiếp nối Kim Sơn (1945)

Làm giáo thọ, giảng viên Trung cấp.

Phúc duyên xưa kết dòng thánh nhập

Tứ đức an hòa – hỉ xả từ bi

Bổ xứ Trú trì, thủ chúng Sa di (1947)

Thọ Cụ túc giới, lên hàng bình đẳng (1948)

Chư tôn sư ban danh phẩm hạnh

Tâm Phật – Thiện Siêu – Trí Ðức hoằng dương

Năm ba mươi (1951) pháp tỏa mười phương

Ba mươi mốt, ba mươi hai, Tăng già đại biểu (1952).

Phật giáo ba miền thống nhất nở hoa

Chánh Hội trường Thừa Thiên một thời phổ hóa.

Năm ba mươi sáu (1957) vào Nha Trang thủ tọa,

Giáo đốc Phật học đường Hải Ðức khai duyên

Bốn năm liền (..-1962) đi lại Trung – Nam

Lúc giảng dạy lúc làm Tổng sự

Năm bốn mươi hai (1963) đồng kí Kiến nghị thư

Ðòi bình đẳng, đòi tự do tôn giáo.

Năm bốn mươi ba (1964) an bình cõi đạo

Suốt mười năm thuyết pháp giảng kinh

Khắp chốn tòng lâm: Vô ngã – Tam minh

Khai đạo trí các giới đàn Vĩnh Gia (1970), Phước Huệ (1968)

Năm 53 tuổi (1974), Viện trường Phật học viện Cao đẳng Nha Trang

Cùng niên khóa (1973), Tổng thư kí ngôi nhà Phật giáo Việt Nam thống nhất.

Năm 58 tuổi (1979), đức Tăng thống bổn sư quy Tây kí tất

Giáo hội, sơn môn cung thỉnh Trú trì kế vị Thiền Tôn

Năm 60 tuổi (1981), Phật giáo ba miền đoàn kết phái môn

Nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn kí Hiến chương thành lập

Ðại hội thỉnh cử Ngài làm Trưởng ban Giáo dục

Xây dựng Trường Phật học đào tạo Tăng Ni

Tiếp độ thế hệ trẻ "truyền đăng tục diệm".

Năm tám mốt (1981) đến năm chín bảy (1997)

Từ Hà Nội đến Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Phật học ba miền – cao cấp xương minh

Lệnh đức Pháp chủ xương minh khởi xướng

Giáo thọ trường xa, trường nhà Viện trưởng

Phật sự trong ngoài oằn nặng đôi vai

Tỉnh Phú Khánh, Trị sự hoằng khai

Sáu năm chẵn vuông tròn nhiệm sứ.

Trở về lại Báo Quốc khai minh giới tử

Ðại hội kì II (1987), Phó chủ tịch thường trực Trung ương.

Việc đạo rồi, việc đời cũng thương

Ðại biểu Quốc hội tiếp luôn ba khóa (8, 9, 10: 1990-2002)

Thương tưởng thế hệ tương lai mở Trường giáo hóa

Trung cấp Thừa Thiên đến Học viện Hồng Ðức

Báo Quốc, Tường Vân đến Ðại Tòng lâm

Các Ðại giới đàn thỉnh Ngài làm Yết-ma, Ðàn Ðầu Hòa thượng.

Ôi, tâm đức sâu dày, viên thành tánh tướng

Ân chúng sanh, Tam bảo với ơn Thầy

Tổ đình Thiền Tôn báo đáp trùng lai

Phật sự chu toàn – Chứng minh 50 năm gia đình Phật tử.

Thân tứ đại hiện thế gian bổ xứ

Tám mươi mốt năm không bỏ phí thời gian

Giới – Ðịnh – Tuệ kiên trì đạo lực

Sáng tối, ngày đêm miệt mài dịch thuật

Sáu mươi năm một dạ chí thành:

Kinh Thủ Lăng Nghiêm (1940), Văn Phát Bồ-đề tâm (1952)

Kinh Chánh kiến (1953), Kinh 42 chương vi diệu (1958)

Kinh Trường A-hàm (1959), rồi kinh Pháp yếu (PC-1962)

Luận Tân Duy Thức (1995), Luận Câu-xá đại cương (1978)

Luận Thành Duy Thức (1995) sáng tỏ ý tư lương

Cương yếu Giới luật (1996) nêu gương lành giải thóat

Luận Ðại Trí Ðộ (1997-2001) khai mở tâm bát ngát...

Và cuối đời Trung Luận (2001) an trú cảnh Niết-bàn.

Phật pháp nhiệm màu, Phật pháp ngân vang

Nghi thức thọ trì (1958) đêm đêm tụng đọc

Truyền Bồ-tát giới tại gia (1958) người người thọ học

Tinh tấn âm thầm Trí Ðức văn lục (1940-2001) còn ghi.

Vô Ngã... Niết-bàn (1990) tươi sáng đức từ bi

Tỏa Ánh Từ Quang (1992), Pháp Hoa giữa các kinh...(1997) rực rỡ...

Viên Âm (1940), Phật giáo Việt Nam (1960), Liên Hoa (1961) rồi Giác Ngộ (1982...)

Tập Văn Ban Văn hóa...(1958-2001) sống mãi với thời gian.

Ðường di hành mở rộng lối thênh thang

Năm một chín tám mốt (1981) đến hai ngàn lẻ một (2001)

Mạc Tư Khoa (Liên Xô) rồi Ulanbator (Mông Cổ) dự Hội nghị Hòa bình

Trời châu Âu – Bỉ, Tiệp, Ðức, Anh

Ðoàn Quốc hội Việt Nam một thời thăm viếng.

Xứ Ấn Ðộ- tứ thánh địa thiêng liêng Phật tích (1994)

Ðảo Ðài Loan dự lễ tháp Hòa bình (1998)

Ðại lục Trung Hoa hữu nghị giao tình (2000)

Tròn bổn nguyện tứ châu huynh đệ.

Nhiếp hóa tứ chúng – tác Như Lai sứ...

Hành Như Lai... - truyền Ngũ giới Tam quy

Trao Thập thiện đoạn diệt tham sân si

Bồ-tát giới tại gia... vô vàn kính ngưỡng.

Bồ-tát giới xuất gia một lòng phụng hướng:

Tăng, Ni, cư sĩ... tứ chúng hữu duyên

Noi gương lành tinh tấn chí thiền

Gót nối gót trang nghiêm dòng họ Thích.

Thân tứ đại hữu sinh hữu diệt

Cõi Ta-bà không có có không

Dòng thời gian sớm tối tây đông

Kiếp phù mộng, ai người tỉnh mộng?

Trưởng lão Hòa thượng một đời vui sống

Vì chúng sinh trọn vẹn nghĩa dân sinh

Vì chúng sinh phụng sự độ hàm linh

Tám mươi mốt năm dâng mình cho cõi đạo.

Kinh – Luật – Luận ngày đêm luôn nung nấu

Văn – Tư – Tu sáng rực mảnh gương tu

Giới – Ðịnh – Tuệ tăng trưởng đức công phu

Tâm hòa ái khắp người người ngưỡng mộ

Tăng, tục, đạo, đời xa gần thương kính nhớ

Công đức tuyên dương Giáo hội khắc muôn đời

Ðộc lập Huân chương dấu ấn nét son tươi

Hoa Ðàm rụng, hương Ðàm còn thơm mãi.

Hòa Ðạo hòa Ðời rực rỡ hương

Thượng tâm thượng trí sáng mười phương

Thiện căn ngàn kiếp công huân tập

Siêu thế từ bi hỉ xả gương.

Hạnh giới trang nghiêm trọn cuộc đời

Ðức chiếu diệu đẹp nơi nơi

Giáo Kinh – Luật – Luận gìn mô phạm

Dục hóa Tăng, Ni tỉnh ngộ thời.

Tỏa ngát Văn – Tư - Tu huệ lực

Sáng đường giải thoát đạo cao ngôi

Muôn lời pháp ngữ âm vang vọng

Ðời nhớ thiên thu – tưởng niệm Người.

Thừa Thiên – Huế 04.10.2001

Tp. Hồ Chí Minh 18.11.2001

 

 

THUYỀN PHÁP VÂN VƯỢT SÓNG TRẦN AI...

Thượng tọa THÍCH NGUYÊN HẠNH

Thuyền pháp vân vượt sóng trần ai

Ba cõi ra vào không chướng ngại

Ôn Từ Ðàm (Hòa thượng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Ðức – Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là người được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa biểu sinh họat của tôi luôn bị câu thúc chặc chẻ; và vì vậy, ít có cơ hôi gần gũi các bậc thầy lớn như Ôn . Như thế cho đến sau này, ra ở Phật học Viện Báo Quốc – Huế, đối với các bậc thầy lớn, tôi cũng chỉ biết là biết vậy, chỉ là người "kính nhi viễn chi", không có cái cảm giác gần gũi thâm tình đã đành mà cũng không thấy có cái nhu cầu cho sự gần gũi thâm tình nào bấy giờ.

Ðến năm 1963, cuộc tranh đấu của Phật giáo chống lại những áp bức có tính cách kỳ thị của chế độ Ngô Ðình Diệm bùng dậy. Giữa những khuôn mặt lớn của cuộc đấu tranh này mà hình ảnh gây ấn tượng khá mạnh trong lớp học tăng trẻ chúng tôi, thì hình ảnh của Ôn Từ Ðàm vẫn chỉ như một bóng mờ thấp thóang. Chỉ sau khi Giảng Sư Ðòan được thành lập lần đầu tiên ở Huế sau 1963, một vài lời nhắn nhủ của Ôn với anh em chúng tôi truớc khi lên đường về các quận huyên xã thôn để diễn giảng mới thực sự gây nên một chấn động âm thầm trong tối bấy giờ và kéo dài đến rất nhiều năm sau. Lời nhắn nhủ đó, khôny có gì trịnh trọng, chỉ như một lời nửa đùa nửa thật: "Mấy anh em ra đi diễn giảng, nói hay cho người ta vỗ tay chưa phải là hay. Nói làm sao cho người ta phát khởi tín tâm mà quy y Tam bảo mới thật sự là hay".

Trong khung cảnh của một xã hội biến động với một Phật giáo đang mở tung cánh cửa Thiền trầm lặng bấy lâu để dấn bước vào một họat trường rối rắm của thời thế với bao nhiêu những "hoan hô", "đã đả" mà dư âm 1963 mới vừa đi qua còn vang động; với hào khí của những tuyên bố, phát biểu như lúc nào cũng kéo theo những tràng pháo tay khích động bấy giờ thì những lời nhắn nhủ giản dị của Ôn đó – trong khi không đủ sức gây sự chú ý ở nhiều người nghe khác – thì với tôi, nó mang lại một sức nặng khá lạ thường, gây nên một chấn động âm thàm mà mãnh liệt để cho sau này, mỗi lần nghĩ về con đường mình đi, lời nhắn nhủ đó dường như lúc nào cũng vang vọng khiến cho tôi suy nghĩ mà quyết định cho con đường đi tới và cho mọi thái độ hành xử của tôi trong cuộc đời. Ôn Từ Ðàm thật sự đến với tôi và ở lại trong tôi – nếu có thể nói như thế – là từ đó.

Với Ôn , tôi không có gì để gọi là tình thâm nghĩa trọng. Nhưng với những đệ tử của Ôn thì khác. Những thầy Huệ Minh, Hải Thanh, Hạnh Minh, Hải Tịnh, Nguyên Tịnh... đã là những người thân thiết với tôi khi ra dạy học và làm Phật sự. Thân thiết đến như anh em ruột thịt là thầy Hạnh Minh – một tu sĩ Phật giáo tài hoa "bất cần đời’, cũng lại là người mà qua đó, tôi có nhiều cơ hội để được gặp và nhìn thấy rõ Ôn hơn.

Ðó là khỏang những năm 1965,1966. Thầy Hạnh Minh ở Từ Ðàm, làm Hiệu trưởng Trường Bồ Ðệ đệ nhị cấp Hữa Ngạn. Vốn thân tình từ khi thầy còn ở Báo Quốc, tôi thường hay lên Từ Ðàm chuyện trò và đôi khi ở lại dùng cơm. Chính ở những lần này mà tôi thấy cái cách " dạy chúng" của Ôn. Không nhiều lời như bao giờ cũng nhẹ nhàng, từ tốn. Ôn thường hay mượn chuyện xưa để nói chuyện nay một cách bóng gió. Có khi là một chuyện trong Bách dụ hay cả trong Cổ học tinh hoa; lại cũng có khi là một câu chuyện do Ôn tự nghĩ ra để dạy chúng. Với đệ tử nhỏ thì Ôn kể chuyện gần gũi, ý nghĩa cụ thể dễ thấy; với đệ tử lớn thì Ôn kể chuyện thâm trầm, ý nghĩa xa xôi ẩn náu. Và ý nghĩa đó, Ôn thường tự mình không nói ra mà chỉ để cho các đệ tử suy nghĩ để thấy ra cái điều Ôn muốn nói. Như có lần, sau khi Chúng dùng cơm xong, Ôn xuật hiện nhẹ nhàng và cũng rất nhẹ nhàng nói với Chúng: "Có một Thượng tọa trong Viện Hóa Ðạo ra thăm chùa hỏi tôi một câu hỏi mà tôi không biết phải trả lời làm sao. Tôi xuống đây để nhờ các chú, các điệu thử trả lời dùm tôi coi...".

Trong khi cả Chúng chờ đợi Ôn đưa ra câu hỏi với hy vọng có thể giúp thầy mình một câu trả lời thỏa đáng thì Ôn tiếp: "Vị Thượng tọa đó hỏi tôi, chúng điệu của Thầy ở đây có bao nhiêu người? Thiệt là một câu hỏi mà tôi không biết trả lời làm sao."

Cả Chúng lại ngẩn ngơ vì điều đó ai cũng biết mà sao thầy mình lại bảo khó đến không trả lời được, thì Ôn tiếp: "Nếu tôi trả lời nhiều thì Thượng tọa đó bảo, sao buổi khuya lên công phu, tọa thiền, thấy chẳng có bao nhiêu người. Còn nói Chúng ở đây ít thì vị đó hỏi, sao khi ăn cơm thấy có nhiều người lắm. Trả lời làm sao, tôi xem ra cũng đều không được nên nhờ mấy chú mấy điệu trả lời dùm."

Cuối cùng thì câu trả lời Ôn mong đợi được thực hiện. Aên cơm bao nhiêu người thì những khi tụng kinh, tọa thiền cũng bấy nhiêu người.

Ôn là vị Thầy chăm sóc cho đệ tử hết lòng. Từ một chú điệu nhỏ đang tập sự xuất gia đến những đệ tử lớn đã làm ra việc đạo, Ôn như lúc nào cũng quan tâm đến. Với nhỏ thì Ôn để ý đến phẩm hạnh oai nghi, lo đến cả chuyện học hành bên ngòai. Tôi từng nghe, ngay đến những bài luận văn các chú làm ở nhà trường, Ôn cũng bảo đưa Ôn đọc coi thử. Có lẽ, điều Ôn muốn biết không phải là văn hay hay dở; mà là cái suy nghĩ, cảm tưởng của các chú thể hiện trong bài luận văn; và biết như thế để thấy rõ tâm tính mà nhắc nhở, dạy dỗ các chú cho nên người. Không chỉ đọc bài các chú làm, đôi khi Ôn còn đọc cả bài các chú học. Ngày tôi ra Huế dạy, chùa Từ Ðàm có chú Thiện, chú Tuyến là sinh viên ban Triết. Hai chú cho tôi biết, Ôn hay bảo hai chú đưa mấy bài dạy của tôi cho Ôn xem. Ôn cũng thường đọc các tập san – cả những tập san của học sinh, sinh viên – để thấy cái gì hay, thấy đọan văn nào có cái ý tốt về đạo đức làm người là Ôn lại bảo các chú đọc để học theo cái hay của người ta. Như tôi biết, gần như không có ngày nào mà Ôn không đọc Ðại Tạng. Với ngàn vạn trang kinh xưa không một ngày rời bỏ mà Ôn còn để thì giờ đọc đến cả những điều nhỏ như thế cho đệ tử của mình thì quả là thế gian hiếm có.

Với đệ tử lớn đã ra làm việc đạo thì Ôn quan tâm đến cách hành xử công việc và ảnh hưởng của nó đối với Phật giáo. Có một lần thầy đệ tử lớn của Ôn làm việc ở Cao Nguyên. Một Phật tử ở đó, không biết tranh chấp thế nào với người có thế lực mà sự việc phải đem ra tòa án để phân xử. Vị Phật tử này đến nhờ thấy nọ giúp đỡ. Ôn biết được, gọi thầy đó về, nói một câu đủ làm kim chỉ nam cho người tu sĩ mọi thời đại khi ra làm việc đạo giữa đời: "Xưa nay, Phật giáo cứu người ta ra khỏi tù chứ chẳng bao giờ đẩy ai vào tù. Thầy có giúp thì cũng phải nhớ lấy điều đó." (Cách đây mấy năm, chính câu nói này, tôi đã có lần lập lại ở Mỹ cho một Hội Phật giáo ở Boston khi ngôi chùa Việt Nam ở đó bị một số người đập phá. Số người này bị bắt rồi bị đưa ra tòa. Trước tòa, Hội Phật giáo này đã nói lại câu nói lại câu trên để không những xin tòa không giam tù họ mà con xin được chia sẻ trách nhiệm giáo dục tuổi trẻ cùng xã hội và các gia đình liên hệ. Và tiếng nói Từ Bi của Phật giáo này đã cảm hóa được mọi người để cuối cùng, chính những người không cùng chủng tộc, tôn giáo chung quanh chùa đã tự động đóng góp để giúp chùa phương tiện sữa chửa!)

Có người nói với hàm ý than trách " Ôn lo cho đệ tử quá mức". Nói như vậy, tôi nghĩ, đúng mà không đúng. Ðúng là Ôn lo cho đệ tử ở cái mức có thể được gọi là "hiếm thấy" ở nơi những vị thấy bình thường khác. Mà như vậy, với tôi, có gì là không hay, không phải! Một vị thầy khi nhận đệ tử xuất gia nào khác gì một người cha sinh con ra. Cha phải thương, phải lo cho con mình nên người ở đời thế nào thì thầy cũng phải thương, phải lo, phải tài bồi làm sao cho đệ tử của mình nên người trong đạo thế ấy. Còn nhận đệ tử mà không thương, không lo tài bồi, không mong cho đệ tử mình một ngày trở nên pháp khí cho đạo thì nhận để làm gì? Từ giã cha mẹ thân thuộc mà đi xuất gia, có được một vị thầy như thế thì quả là cần thiết và là một diễm phúc lớn. Ðạo làm thầy, trong luật cũng đã từng nói đến như thế. Cho nên nói "Ôn lo cho đệ tử quá mức" như một lời than trách thì quả là không phải chút nào.

Thực ra, lo cho đệ tử là việc nhỏ, vun bồi cho mối đạo được bền mới là việc lớn. Và có thể nói mà không sợ lầm, lo cho đệ tử chính là vui bồi cho mối đạo được vững bềnh. Và đó chính là tấm lòng của Ôn. Ôn quý mến trân trọng mọi "nhân tài" trong Phật giáo, dù người đó ở đâu. Nhân tài còn nhỏ thì Ôn khích lệ làm sao cho nẩy nở. Nhân tài đã trường thành thì Ôn tán dương, mong sao làm cho nên việc lớn. Khônc chỉ khích lệ, tán dương, Ôn còn tỏ ra "biệt đãi nhân tài’ mỗi khi gặp gỡ. Nói "biệt đãi" là nói vậy chứ thực ra không có gi nhiều. Một trái chuối hương, một tách trà thơm, vài miếng bánh ngọt, một căn phòng an tịnh, thích hợp cho việc sáng tác...

Không có gì nhiều nhưng tấm lòng hòai vọng Ôn gửi theo đó rất lớn. Hòai vọng nơi người đó sẽ làm được cái gì cho Phật giáo. Chính ở nơi những biệt đãi này mà tôi thấy ra ở Ôn một quan niệm khá mới mẻ, hiếm có nơi thế hệ những bậc thầy lớn như Ôn. Ôn đã không nhìn Phật giáo như con đường một chiều, sớm tối chỉ có tụnt kinh, niệm Phật là đủ. Trong khunh cảnh của một Phật giáo mang nặng xã hội tính mà thời đại đòi hỏi, Phật giáo với Ôn là một cơ cấu tòan diện. Tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền chuyên tu là việc thiết yếu. Nhưng cũng cần thiết để Phật giáo đó nói được tiếng nói của mình trong các lĩnh vực sinh họat văn hóa, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, giáo dục, từ thiện... Và Ôn là người đã âm thầm hỗ trợ hết lòng để cho những tiếng nói này được cất lên.

Gặp được một tập thơ hay, thể hiện tinh thần Phật giáo là Ôn hết lời tán dương. Ðọc được một bài luận thuyết vững vàng, lên tiếng nói được cho Ðạo lý chân thật giữa những trá nguy của thế giới tri thức sách vở là Ôn hết lòng cổ võ, thậm chí còn làm mọi cách để quảng bá rộng rãi, sao cho đến tay được nhiều người... và tác giả của những bài thơ, bài văn đó, với Ôn bao giờ cũng là những viên ngọc quý. Ôn từng có lần viết thư than thở: "Nhân tài Phật giáo như lá mùa thu. Có bao nhiêu việc đáng làm không người làm. Gặp được mảnh đất tốt (quần chúng có sẵn niềm tin) mà không ai gieo hạt, thiệt là uổng...). Lời than thở ấy cho thấy tấm hòai vọng của Ôn tha thiết đến thế nào! Tấm lòng hòai vọng đó có thực hiện được hay không, cái đó còn tùy. Nhưng có được một tấm lòng như thế ở thời buổi ngỗn ngang này của thế đạo nhân tâm quả là đáng quý và cần thiết bao cho cơ đồ của Phật giáo hôm nay và ngày mai!

Ôn vốn không thích dính dáng đến chuyện thế sự và chính trị. Trong cuộc đấu tranh 1963 cũng như những năm xáo trộn sau đó, mặc dù lúc nào Ôn cũng có mặt nhưng trước sau, Ôn vẫn chỉ là một bóng mờ. Tấm lòng và con đường Ôn đi vốn đặt vào việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni và xây dựng một sự nghiệp trí tuệ cho Phật giáo Việt Nam. Việc mở trường Cơ bản Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế; việc hình thành Ðại Tạng kinh Việt Nam cũng như một sồ lượng lớn tác phẩm, dịch phẩm mà Ôn đã miệt mài làm việc, ngay cả khi mắt đã mờ và thân bệnh đã đến hồi trầm trọng là những thể hiện quá rõ hòai bão và con đường Ôn đi đó. Ôn đã chỉ sợ: "không còn đủ thời gian" để hòan tất được các công trình đóng góp vào sự nghiệp trí tuệ này. Cuối cùng thì Ôn cũng hòan tất được những gì hòai bão. Và những gì đó, chắc chắn là những đóng góp quý báu cho sự nghiệp trí tuệ của Phật giáo Việt Nam hôm nay.

Vốn không thích dính dáng đến chuyên chính trị thế sự, nhưng sau 1975 và trong những bất hạnh sau này của Phật giáo Huế, Ôn như ở vào một tình cảnh "chẳng đặng đừng" để không thích mà vẫn phải dính dáng. Cũng như với Ôn Linh Mụ, Ôn Thiện Minh hay như với Ôn Già Lam, Ôn Trúc Lâm và bao nhiêu vị Thầy khác nữa mà tôi biết, thật không đơn giản tí nào để có thể, đứng trên những quan điểm chính trị bên này và bên kia mà nhìn vào hành trạng của quý Ôn trong một hòan cảnh phức tạp, tế nhị như của đất nước và Phật giáo Việt Nam sau 1975. Ðứng trẽn những quan điểm nhị biên như vậy, hẳn nhiên người ta dễ dàng phê phán, đồng ý hay chỉ trích; và điều này đã xảy ra nhiều. Nhưng một quan điểm như vậy có thật là thích đáng, cả trên bình diên lý luận và thực tế? Ngay như với Ôn Huyền Quang, Ôn Quảng Ðộ, với những gì mà chúng ta đã thấy, nếu đứng trên những quan điểm nhị biên như vậy mà nhìn mà có ca ngợi, tán thánh đi nữa thì tôi nghĩ, cũng là một điều oan uổng cho quý Ôn và cho con đường hành động của Phật giáo Việt Nam mà thôi. Bởi vì, tâm hồn của người tu sĩ Phật giáo đúng nghĩa thì chỉ có thể là tâm hồn "vô nhị", không ở bên này không ở bên kia mà chỉ là ở cái khổ của con người và ở con đường giải khổ cho con người.

Bền này và bên kia, cái đó là gì ở nơi những tâm hồn vô nhị mà đem nó trói buộc nhãn quan của mình khi nhìn vào những con người mang lấy tâm hồn đó?

Cho nên, với Ôn Từ Ðàm – trong những dính dáng với thế sự như đã có mà nói – thì tôi chỉ xin được nói rằng, cái thân đã ở chốn thế sự ngỗn ngang thì như cũng đành, vì cái tâm cho nên phải lụy cái hình. Hình đã không còn kéo theo tất cả những cơn sóng trần ai liên lụy với nó – ít ra là với Ôn lúc này – thì còn chi để nói. Cái còn lại và là cái đáng nói hơn hết là cái Tâm – cái tấmg lòng hòai vọng thiết tha của Ôn cho một Phật giáo Việt Nam hôm nay và ngày mai, cái tấm lòng đã trãi ra trong suốt cuộc đời của Ôn, ở tất cả những gì Ôn đã làm thì tôi tin, sẽ còn lại đó cho muôn đời.

Trong ánh trăng Lăng Già vằng vặc đêm thâu, tôi chỉ là một học trò chưa nên nghĩa, cũng xin đem một chút lòng ghi lại mấy lời này để gọi là hiến cúng một bậc Thầy đã cưỡi thuyền Pháp Vân vượt sóng ra đi.

Thành Kính

 

PHÁP THẦY ÐỂ LẠI

VƯƠNG ANH

Sư đệ Nguyên Anh và tôi là những người bị Thầy nhắc nhở nhiều nhất vì hay sơ suất trong những công việc thường nhật, nhưng cũng là người may mắn nhất vì được ở cạnh Thầy một thời gian khá dài. Tính tình mỗi người Thầy đều biết rõ. Tình Thầy trò vì thế không có gì phải ân hận sau ngày Thầy ra đi vĩnh viễn. Chỉ tiếc rằng Thầy không còn trụ thế lâu hơn để dạy dỗ cho Tăng Ni và hướng dẫn cho Phật tử trên bước đường học đạo.

Ðối với lớp đệ tử chúng tôi, Thầy ít khi nói về bản thân và gia đình cũng như lớp dự bị xuất gia với Thầy trước chúng tôi. Sau ngày Thầy viên tịch, sư đệ Nguyên Anh, tôi cùng đạo hữu Võ Trọng Thưởng có về quê Thầy để thăm lại ngôi Từ đường thờ song thân của Thầy. Nhưng cảnh đìu hiu của làng quê sau bao năm chiến tranh chưa hồi phục, khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng và một hồi lâu thì cả ba chúng tôi vào thắp nén hương tưởng niệm nơi ngôi nhà mà Thầy đã cất tiếng chào đời, như để cám ơn một dòng họ và làng quê giàu lòng nhân ái vì đã sản sinh ra một bậc Long tượng cho Phật giáo đất Thần kinh.

Trong cuộc sống đạm bạc và phạm hạnh của Thầy, thăng trầm thế sự đôi lúc cũng có tác động đến Phật sự. Khi còn là Sa-di, Thầy đã được Hòa thượng Trí Ðộ là Ðốc giáo rất thương và cưng chiều nhất, vì Thầy được tiếng là chú tiểu thông minh, chăm chỉ, chịu thương chịu khó. Có lẻ vì thế mà mới 26 tuổi Thầy được Hội cử làm Trú trì chùa Từ Ðàm thời bấy giờ. Nói là Trú trì, nhưng thực chất là trông coi chùa cho Hội vì Trú trì chùa Từ Ðàm từ trước đến nay vốn dĩ thuộc về Hội. Mọi việc lớn nhỏ đều thông qua Hội, đó là điều rất đặc biệt, rất hãnh diện nhưng cũng rất khó đối với một vị Trú trì tuổi đời tuổi đạo còn trẻ như Thầy có lẽ chưa tương ứng với tầm cỡ của ngôi Tổ đình gần 400 năm. Lại nữa, các cụ trong Hội là người bề trên, là Thầy dạy nên cũng rất khó cho Thầy điều hành nếu không phải là một chữ nhẫn thật lớn. Có lần Thầy kể: Trú trì một ngôi Tổ đình như Thầy không có mấy đồng xu dính túi. Ngày 30 tết đợi khi chợ hoa sắp tàn mới đạp xe đi mua, nếu bông trái rẻ thì mua một ít về cắm để cúng Phật. Lỡ bông trái họ bán đắt thì đành đạp xe về.

Trú trì cũng lắm nỗi gian truân. Thời ấy, mọi người rất khổ cực vì chiến tranh, cuộc sống không ổn định nên dân chúng rất vất vả. Nhà chùa, cuộc sống chư Tăng lại càng vất vả hơn. Nói là Trú trì Tổ đình nghe cũng oai lắm, nhưng Tăng chúng thì rất ít: trong chùa, ngòai Thầy và một số thầy khác như thầy Thiện Minh, thầy Trí Quang ra thì còn có hai chú, là chú Thiện Giải và chú Thiện Lộc. Cả hai là em ruột và em chú bác. Sau này, thầy Thiện Lộc ở lại làm Trị sự phụ tá cho Thầy để Thầy du phương giáo hóa. Còn thầy Thiện Giải phải rời xa Từ Ðàm để đi các tỉnh miền Trung Trung bộ nhận Phật sự mới. Như vậy thầy Thiện Lộc là Trị sự lâu nhất ở chùa Từ Ðàm. Nhờ có thầy Thiện Lộc trông coi chùa nên Thầy yên tâm làm Phật sự phương xa. Rất tiếc thầy Thiện Lộc mất quá sớm ở tuổi 58. Sư đệ Hải Ấn đang ở chùa Báo Quốc là đệ tử trực tiếp được Thầy gọi lên thay thế trong vai trò Trị sự cho đến ngày Thầy viên tịch. Tóm lại, tuy vị Trú trì còn trẻ, nhưng khi ấy trong Hội ai cũng thương Thầy, nhất là bác Tráng Ðinh và cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám... là một trong số các vị cư sĩ nhiệt tâm ủng hộ Thầy nhất.

Hồi tưởng lại những năm tháng sống cạnh Thầy, huynh đệ chúng tôi có duyên may được Thầy dạy dỗ từ việc nhỏ đến việc lớn. Trong cuộc sống hàng ngày, Thầy là người giản dị nhưng tính cách thì thanh cao. Thường nhật, Thầy đi thiền hành, ngắm hoa, sửa sang cây cảnh, rồi vào bàn dịch kinh, viết luận... với một nếp sống bình dị, mà huynh đệ chúng tôi nhớ mãi.

Thầy thường dùng cơm trưa, chiều với chúng Tăng nếu không có khách. Trong buổi cơm ấy, Thầy thường kể chuyện cho chư huynh đệ nghe. Chuyện Thầy kể thường ngụ ý thúc liễm hay mang tính cách giáo dục đượm chút khôi hài, câu chuyện vì thế thắm đượm tình thầy trò. Thường Thầy xuống dùng cơm là huynh đệ có mặt đầy đủ nơi bàn dược thực, huynh đệ đứng dậy chào Thầy và khi ấy Thầy đáp lại bằng nụ cười rất thanh thóat. Trước khi kể chuyện bao giờ Thầy cũng bắt đầu bằng một lời hỏi vui: Thầy hỏi các vị, ai biết trả lời giúp Thầy câu này: "Có một vị đạo hữu hỏi, chùa có bao nhiêu vị, đông hay ít, thưa Hòa thượng? – Nếu Thầy trả lời đông thì sao giờ tụng kinh lại ít, còn nết Thầy trả lời ít thì sao giờ ăn lại đông. Xin các vị trả lời giùm Thầy với!" Chỉ vỏn vẹn vài câu như thế làm cho huynh đệ trong bàn ăn đều im lặng, dù biết là Thầy có ý chê trách công việc hằng ngày như tụng kinh, hành thiền, chấp tác... của Chúng có phần xao nhãng

Hằng năm, huynh đệ thường gặp nhau ngày kỵ Tổ. Trước ngày kỵ huynh đệ hầu Thầy và họp mặt. Khi gặp nhau có nhiều chuyện để nói, nào là hỏi thăm sức khỏe, trai đổi kinh nghiệm tu tập bản thân... Có nhiều vị trao đổi lớn tiếng, bất chợt Thầy đi ngang qua nghe và chỉ dạy một câu: Ai đời nhà nhỏ mà hiếp nhà lớn. Rồi Thầy mỉm cười đi thẳng lên Thiền thất. Có lần huynh đệ hầu Thầy, thấy Thầy sọan những cuốn tập cũ còn sót lại đôi giấy trắng, Thầy cặm cụi lọc ra ngước nhìn chư huynh đệ bảo: Lọc giấy này để đó, chừ chưa có việc nhưng rồi cũng sẽ có để mà dùng, tích cốc phòng cơ, tích y phong hàn... Huynh đệ chúng tôi giờ ngồi lại bên nhau ai cũng đồng cảm qua lời dạy bảo của Thầy. Thầy là bóng cây che mát cho chúng con, là giọt nước cành dương thấm mát cho đời. Không ai bảo ai mà tâm nguyện suốt đời noi theo gót chân hành đạo của Thầy. Thầy là một bậc mô phạm, là đấng đống lương. Lời Thầy vừa nghiêm khắc thỉnh thỏang pha chút khôi hài nhẹ nhàng. Ðó là dòng nước tào khê mà huynh đệ chúng tôi xin nguyện uống cạn dòng tào khê ấy qua những câu chuyện Thầy kể. Những ví dụ Thầy kể là bài học quý báu cho huynh đệ, những ai có duyên ân triêm pháp nhũ. Thế nên huynh đệ gặp nhau gật đầu: "Thầy là rứa đó". Tóm lại, các câu chuyện Thầy kể đều có ý nghĩa giáo dục cách nầy hay cách khác cho chư huynh đệ chúng tôi.

Có hôm Thầy kể chuyện lớp học của Thầy ngày xưa: Khi còn học Tăng của An Nam Phật học Hội, Thầy học với Hòa thượng Trí Ðộ, 8 giờ một ngày với các môn Kinh, Luật, Luận tòan bằng chữ Hán. Hòa thượng Trí Ðộ là người cưu mang dạy dỗ gần 10 năm trời cho cả lớp học. Hòa thượng là bậc Thầy dạy học nghiêm túc nhưng cũng rất nghiêm khắc! Có lần Thầy kể: Một hôm, có một học Tăng tìm đâu ra tiểu thuyết phóng sự: Tôi kéo xe của Nguyễn Trọng Phụng đem vào lớp đọc nhưng bị Thầy bắt được và cả lớp đều bị phạt quì theo. Thầy giáo giới gần cả tiếng và kể từ đó, chả ai đem sách ngòai đời vào lớp nữa. Học là vậy, nhưng ăn, giải trí, áo mặc thì sao? Aên theo sự phân phối vì hồi đó chùa còn nghèo. Trưa tối sáng chiều có gì ăn nấy, nhưng đa số thì không được no. Giải trí thì chỉ một vài trò chơi đơn giản như ù mọi và đánh bi. Mặc thì một năm được các nữ Phật tử như bà Cao Xuân Xang, bà Ðốc Xướng, bà Tham Ngô, bà Trợ Các... may cho một người hai bộ áo bằng vải to. Vải to là một lọai vải mà người Tàu dệt, sợi rất thô và nhiều hồ nên mặc rất nặng. Cuộc sống, học tập, tu hành như vậy ngày này qua ngày khác, gần 10 năm mà cả lớp đều vượt qua được. Cuộc sống học Tăng thời ất so với học Tăng bây giờ thì khác một trời một vực. Bây giờ có điện, chứ ngày xưa học bằng dầu mù u khói xông lên ngẹt cả mũi. Ngày xưa làm gì có Ti-vi, xe Honda và Thầy kết luận: Tóm lại là các Thầy cô bây giờ sướng hơn trước nhiều.

Ở Huế mùa hè rất nóng, nhất là những ngày có gió Nam từ Lào thổi về, mang theo hơi nóng của núi lùa vào lòng chảo của Huế, những lúc như thế thì có trời mới chịu nổi. Thầy ở trên thiền thât cũng thấy khó chịu nên thường xuống phòng nhà Tăng. Có hôm Thầy đem xuống cho một hộp bánh của đạo hữu vời mới cúng cho Thầy, Thầy nói: cả chùa Từ Ðàm chỉ có chỗ cửa sổ của Hải Ấn là có gió mát nhất, rồi Thầy ngồi rất lâu và kể chuyện: Hồi thời Nhật đánh Pháp, học Tăng phải tản cư. Thầy Minh Châu đưa học Tăng ra ngòai Thế Chí, mùa đông vừa đói vừa lạnh, thầy Minh Châu vấn thuốc lá to bằng ngón tay hút cho đỡ lạnh, nhưng sau đó thầy quyết tâm bỏ thuốc, kể cũng lạ. Nghĩ lại chuyện cũ mà thấy ớn lạnh. Bom đạn tụi Pháp nó trút như mưa. Mạnh ai nấy lo thân. Tôi và thầy Minh Châu ở Thế Chí một thời gian coi bộ không yên, nên anh em bàn nhau trở lui về Huế. Nhưng về cách nào? Thầy Minh Châu xung phong đi tiền trạm coi có yên ổn thì mới đưa học Tăng về Huế. Và sau lần tiền trạm đó, Thầy quyết định đưa học Tăng về Huế. Trên đường về phải thuê đò. Ðò thì phải đi đêm vì sợ máy bay Pháp tấn công. Có hôm phải thay đò, gặp cụ Ưng Bình Thúc giạ thị cũng đi đò. Mấy đồn bót của Tây từ hai bên bờ bắn ra và la chí chóe, sợ quá, Cụ nói chủ đò cho đò ghé vô. Hai người nói tiếng Pháp và giải thích một hồi nó mới cho đi. Ði được một hồi thì bị ách lại...; khổ, sợ lại thêm đói, lạnh, thế rồi cũng vào được Huế. Khi vào được vùng Huế, Thầy phải đi bộ về lành để chờ bắt liên lạc và nghe ngóng động tĩnh ở các chùa ra sao, coi có yên thì mới về. Thầy Minh Châu lại xung phong đi mở đường. Một vài ngày sau thầy nói có thể về được. Trên đường đi bộ về Thuyền Tôn, đồn Pháp cứ chĩa mũi súng ra la oai óai, thầy Minh Châu lại phải giải thích, nó cho qua và sau mới về được Thuyền Tôn. Thật hú hồn. Cái sống cái chết coi như có số. Nghĩ lại, tôi rất thương thầy Minh Châu.

*

Bình sanh, Thầy là người ưa đọc sách. Những sách gì đã vào tay Thầy dù hay dù dở bao giờ Thầy cũng coi hết. Khi có đọan nào hay thì Thầy ghi lại trong sổ tay. Cho đến nay, sư đệ Nguyên Anh còn giữ lại 5 quyển sổ tay của Thầy ghi, chữ chi chít, Hán có, Việt có. Chúng tôi là đệ tử, từ xa về thăm Thầy, gặp lúc Thầy đang đọc sách, dịch kinh thì chỉ cúi chào và lui xuống. Những lúc ấy, Thầy chỉ ngước mắt nhìn và ngúc một cái rồi lại tiếp tục đọc, mọi việc diễn ra xung quanh coi như không có. Có lần, một vài vị khách đến hầu Thầy, gặp lúc Thầy đang xem sách và đang tra cứu các điển tích, khi họ chào Thầy, Thầy chỉ chào lại bằng cái ngúc, rồi chú tâm vào sách vở. Có người nói Thầy là người lạnh nhạt, nhưng thật ra, huynh đệ chúng tôi lúc đầu chưa biết ý Thầy cũng có cảm tường hụt hẩng ấy. Sau n ày biết ra rằng, lúc đã đọc kinh sách thì Thầy thường không để ý đến cảnh chung quanh. Thầy kể: Thầy họ hay đến thăm tôi, gặp lúc đang đọc hay tra cứu, lúc ấy, lòng tôi không yên, phải tìm cách cho ra để khỏi vướng bận trong lòng. Vì họ là người quen, nên tôi nghĩ chắc cũng chỉ là chuyện thăm bình thường, nên tôi chỉ ngúc một cái rồi tiếp tục tra cứu tiếp, có nhiều vị không hiểu đâm ra buồn, nói tôi là người lạnh nhạt. Nhưng tôi có tật hễ đã đọc kinh sách là như nhập tâm, không rời xa nó được, nên có người cho tôi là con mọt sách. Ðối với kinh sách thì Thầy rất quí. Có sách gì mới xuất bản nghe hay là Thầy cho người đi tìm mua ngay cho dù ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội.

Có hôm tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra dạy ở Học Viện Phật giáo Huế, lên hầu Thầy, Thầy ngước lên gật đầu rồi tiếp tục đọc. Lần sau biết ý, trước khi ra Huế tôi đi mua một chồng sách mới xuất bản và chuyện cổ tích đông tây kim cổ, tôi chào Thầy và để ngay chồng sách ấy lên bàn, nhẹ nhàng cuối đầu chào rồi rút lui. Trưa ăn cơm, Thầy hỏi chuyện ở thành phố Hồ Chí Minh. Chiều thức dậy, Thầy ra ngồi ở bàn sách, dở từng cuốn ra coi và thế là Thầy nằm đọc luôn cho đến chiều, tới giờ cơm mới xuống và lúc ấy Thầy vui vẻ nói chuyện cùng cả đại chúng. Thế cho biết, hễ có sách là như có chất men kích thích và Thầy như là con ong hút mật, bao giờ hết mật (hết sách) thì thôi.

Sư đệ Nguyên Anh là người thích văn hóa và rất quí trọng sách vở. Biết Thầy là người yêu sách và quí sách nên huynh đệ chúng tôi bàn cách sưu tập cái bài giảng của Thầy thành sách và đóng góp từng tập đem lên Thầy xem và xin Thầy một tựa đề. Thầy nghĩ một lúc và nói: Trí Ðức Văn Lục được không? Chúng tôi dạ. Từ đó, bao nhiêu bài giảng, bài viết, chúng tôi đều sưu tập thành bộ Trí Ðức Văn Lục, được 9 tập. Tuy quí sách vở nhưng Thầy thích đọc hơn là dịch. Vì thế khi một bộ sách của Thầy xuất bản bao giờ cũng co nhân duyên của nó, ngọai trừ 2 tập đã ra trước đây là Trường A-hàm và Pháp Cú, lúc ấy chúng tôi không được ở bên Thầy, các cuốn còn lại đều do huynh đệ chúng tôi sưu tập trình Thầy xem và xin in cho ra mắt độc giả. Sư đệ Nguyên Anh và tôi có cái thuận lợi, mỗi khi đề xuất in ấn sách thì Thầy hoan hỷ ngay. Cộng thêm sự ủng hộ của một số sư đệ như: Hải Liên, Minh Thông, Kiên Tuệ..., nên cũng coi như đồng thanh tương ứng, trong việc xuất bản. Trong các tác phẩm, dù dịch hay tuyển tập của Thầy đã xuất bản, đều có những kỷ niệm mang đậm dấu ấn của thời gian và không gian của nó.

    1. Vô Ngã là Niết Bàn – 1990 (tuyển tập). Tuyển tập gồm một số bài viết và bài giảng tại các Phật học viện và các trường Cao cấp Phật học. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm in ấn. Thế là sách được hình thành. Cuồn này mới đầu lấy tên là Vô Ngã và Niết Bàn. Thầy sửa lại Vô Ngã là Niết Bàn. Sách ra đời được nhiều người hoan nghênh và tái bản nhiều lần để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.

    2. Tỏa ánh quang từ – 1992. Ðây là bài sọan để dạy cho các Tăng Ni sinh ở các Phật học viện. Sư đệ Nguyên Anh và tôi xin in để cho lớp trẻ Gia đình Phật tử có tài liệu đọc thêm. Aûnh bìa thì do sư đệ Nguyên Anh chụp ờ liêu chùa Từ Hiếu. Khi bản thảo được đưa lên cho Thầy xem lại, Thầy hỏi nên lấy tựa đề gì? Và cuối cùng Thầy nói: thôi lấy đề Tỏa ánh từ quang. Thầy quay qua hỏi thầy Giác Quang, lúc đó cũng có mặt, đề như vậy có được không? Thầy Giác Quang và chư huynh đệ thưa: Thưa Ôn, đề hay quá. Thế là Thầy đã quyết định và sách được in. Cuốn sách này được tái bản nhiều lần và nay đã hết.

    3. Câu Xá luận Ðại cương – 1978. Cuốn này sọan để giảng cho Tăng sinh Viện Cao đẳng Phật học Hải Ðức – Nha Trang. Sau này Thầy tiếp tục giảng cho Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin phép in thành sách. Thế là Thầy đồng ý.

    4. Thành Duy thức luận – 1995. Ðây là bộ luận được dịch khi Thầy vào ở Nha Trang. Nguyên do là khi ở Huế, lúc khai giảng trường Trung cấp Phật học ở Thừa Thiên thì có sự cố. Thầy bị một số người quấy nhiễu nên phải bỏ Huế để vào tịnh cư Nha Trang. Khi Thầy dịch bộ Thành Duy Thức này xong, chúng tôi xin Thầy in thì Thầy đồng ý.

    5. Lối vào Nhân Minh học –1995. Ðây là tập hợp các bài sọan để dạy cho Trường Cao cấp Phật học ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi thầy dạy xong, theo yêu cầu của chư Tăng Ni và các học giả trí thức Phật giáo muốn có thêm tài liệu để nghiên cứu, nên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam gợi ý xin in và Thầy đã chấp thuận.

    6. Kinh Pháp hoa giữa các kinh điển Ðại thừa – 1997. Ðây là tuyển tập các bài giảng về kinh Pháp hoa cho Tăng Ni ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế và các đạo tràng ở Huế, Sài Gòn. Chúng tôi sắp xếp lại đưa Thầy xem và Thầy đồng ý cho in. Thầy dặn nên đưa một số bài đã đăng trong cái báo Phật giáo vào để cho nội dung sách thêm phong phú.

    7. Ngũ uẩn vô ngã – 1997. Là bài giảng của Thầy cho Tăng Ni sinh tại Huế. Sau đó được in thành sách để đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu cho Tăng Ni sinh các trường Trung cấp, Cao cấp và các Học viện cũng như giới trí thức Phật giáo.

    8. Bộ Luận Ðại Trí Ðộ –1997-2001. Sau khi đọc một số dịch giả dịch Trí độ luận ra tiếng Việt, Thầy quyết định dịch, vì các bảnh dịch trước có nhiều chổ Thầy không đồng ý. Khởi đầu dịch năm 1997, Thầy dự định dịch mỗi năm 1 cuốn. Dịch xong cuốn nào in cuốn đó. Và đã in được 3 tập thì Thầy phát bệnh. Tuy nhiên, với quyết tâm và sự thỉnh cầu của chư huynh đện nên Thầy đã cố gắng dịch. Dịch đến cuốn 5 thì bệnh tái phát nặng. Sách được in trọn bộ 5 tập từ năm 1997 đến năm 2001. Ðây là bộ sách mà Thầy ưng ý nhất vì dịch trọn vẹn.

    9. Trung luận – 2001. Duyên khởi là sau khi đọc các bảnh Việt dịch về Trung luận, Thầy không vừa ý nên chư huynh đệ chúng tôi tranh thủ thời cơ xin Thầy dịch lại cho bộ này. Trước mắt huynh đệ chúng tôi thấy khó được Thầy chấp nhận vì sức khỏe đã yếu; tuy nhiên, còn nước còn tát nên mấy tuần sau đó, chư huynh đệ chúng tôi ước muốn sau khi dịch xong bộ Trí độ luận sẽ xin Thầy dịch tiếp Trung luận nhưng chưa ai dám thưa. Thầy dịch đến cuốn 3 Trí độ luận thì bệnh trở nặng, nhưng Thầy vẫn cố gắng dịch cho xong cuốn 4 và 5. Ðến Trung luận là cuốn manh nhiều dấu ấn để lại cho chư huynh đệ, cũng là quyển dịch cuối cùng trong cuội đời của Thầy, và chư huynh đệ chúng tôi cũng bị Thầy phiền lòng nhiều nhất trong giai đọan nầy. Tư tưởng chúng tôi rất mâu thuẫn, phần lo cho sức khỏe của Thầy, phần lo Thầy không còn thời gian nữa để dịch. Nghĩ đến đây chư huynh đệ chúng tôi rất hối hận. Nhưng vì đàn hậu học, chúng tôi lại vắt cạn sức khỏe trước khi Thầy hòan thành Trung luận. Ở đây phải kể đến sư đệ Vương Anh tác động thêm, bằng cách gửi thư điện tử đến Giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp và Phật tử Kim Lan ở Ðức để nhờ hai vị thỉnh Thầy dịch. Thế là người trong kẻ ngòai quyết tâm thỉnh Thầy dịch. Khi biết Thầy đã thuận ý, chúng tôi đã viết thư cho Giáo sư Hồng Dương đang ở Mỹ, email bản Việt mà Giáo sư hiện đang có để Thầy tham khảo. Ðọc xong Thầy quyết định dịch bộ này khi cơn bệnh đã đến thời kỳ nguy kịch, nhưng Thầy đã nhiếp tâm chịu đựng cơn đau cho đến khi hòan tất và coi lại bản thảo lần cuối. Sau đó một tháng thì Thầy viên tịch.

    10. Chữ nghiệp trong đạo Phật – 2002. Ðây là tuyển tập gồm các bài giảng, nói chuyện của Thầy đã đăng ở các báo Phật giáo. Khi Thầy còn ở thành phố Hồ Chí Minh, chư huynh đệ chúng tôi cũng đã đem bản thảo cho Thầy xem, Thầy có chỉnh lại một vài chỗ, xong trao lại cho chúng tôi để in. Ðây có thể là tập cuối cùng có bút phê của Thầy trong bảnh thảo.

*

Chư huynh đệ chúng tôi là người có duyên may được làm đệ tử của Thầy. Thầy có rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia. Chư huynh xuất gia lớp trước có thầy Huệ Minh, thầy Ðạo Dung, thầy Hải Thanh, thầy Hải Minh, thầy Hải Tịnh, thầy Thái, thầy Hải... Lớp giữa có thầy Nguyên Tịnh, Nguyên Vương, Phước Tú, Hải Ấn, Pháp Hải, Huệ Trí, Hải Vương, Như Tâm, Như Tánh, Huệ Thông, Ðạo Chí, Thành Tín, Thành Ðức, chú Kính, chú Thiện... Lớp sau có thầy Kiên Tuệ, Kiên Niệm, Kiên Ðịnh và Ðạo Thông. Lớp Y chỉ có thầy Minh Thông, Minh An, Minh Thông (Canada)... Về phía chư Ni có Ni sư Chơn Cẩn, Hải Liên, Diệu Châu, Hải Hiền, Hải Minh, Như Tâm, Diệu Ý, Chơn Tu, Huệ Hiền, Chơn Châu, Huệ Nhẫn, Hải Châu, Huệ Dung, Huệ Hải, Chơn Ðạo, Tịnh Trí, Tịnh Diệu, Tịnh Liên, Tịnh Tâm, Tịnh Ðức, Minh Thuận, Hạnh Tòan, Thọai Tú, Thọai Thanh, Tuệ Nhẫn, Thiền Ý, Tịnh Hòang, Như Trang, Như Thuần, Liên Như, Viên Ðức, Viên Trung, Viên Niệm, Viên Từ, Chánh Tuệ, Thông Tịnh, Nguyên An, Nguyên Chơn, Nguyên Huyền, Nguyên Thế, Nguyên Châu... Chư huynh đệ trên, có huynh đệ là người phụ giúp Thầy trong việc sưu tầm và in ấn kinh sách; có huynh đệ là thị giả hầu Thầy, có huynh đệ là người chăm sóc sức khỏe lúc Thầy ốm đau... Dù là huynh đệ ở cương vị nào đi nữa, chúng tôi nghĩ, huynh đệ chúng tôi đã được sự giáo dưỡng trực tiếp từ bậc Thầy kính mến của mình, như là người thừa tự Pháp chứ không phải thừa tự tài vật. Ðó là điều chư huynh đệ chúng tối rất biết ơn Thầy và nguyện suốt đời là người Thừa tự Pháp như Thầy đã từng dạy dỗ trong suốt cuộc đời của Thầy.

 

 

MỘT THOÁNG VỀ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

Tỳ kheo THÍCH NHƯ Ý

Hôm nay là ngày bát nhất của Hòa thượng Thích Thiện Siêu. Tôi vô cùng xúc động và hân hạnh được Ban tổ chức cùng Môn đồ Pháp quyến gởi thiệp nhờ viết về Hòa thượng. Thực ra thì tôi không được gần Hòa thượng cho lắm, vì sau những ngày Hòa thượng rời Hải Ðức – Nha Trang để trở về Cố đô xứ Huế, nhưng những hình ảnh của Hòa thượng luôn hiện rõ trong tâm trí tôi.

Hồi ấy, Hòa thượng còn ở Hải Ðức – Nha Trang, Hòa thượng là Viện trưởng của Cao đẳng Phật học viện Hải Ðức. Một con người có đức độ bao dung, một lòng nhân tù phúc hậu, một bậc thầy khả kính vô biên. Cho nên, Tăng chúng rất dễ học hỏi nơi Ngài. Nơi Linh Sơn Pháp Bảo chúng tôi là một Trường Sơ cấp nhỏ của Viện, có lần Hòa thượng ghé đến để khuyên răng chúng tu học, hành trì giới luật, sáng kệ, chiều kinh siêng năng tu hành, hạ thủ công phu để báo đáp ơn Phật, đàn na. Tại nơi đây, Hòa thượng cũng đã để lại một kỷ niệm lớn lao cho chùa Linh Sơn Pháp Bảo và cũng là dấu tích cuối cùng trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng ở nơi xứ đất Nha Trang thùy dương sóng nhịp. Ðó là hai câu đối nơi hậu tổ:

"Tham thiền tu thấu tổ sư quan, văn tự hề vi trọng tại niêm hoa vi tiếu

Diệu ngộ yếu cùng tâm lộ tuyệt, ngũ ngôn hà dụng tòan bằng khấu chí tam thinh"

Thế nhưng việc đời có sinh ắt có diệt, có đến ắt có đi, có tồn tại ắt có ly tan, rồi bước chân vân du ấy cũng phải chịu sự chi phối của qui luật sinh tồn và Hòa thượng đã rời Nha Trang ra đi để về lại miền đất Cố đô xứ Huế. Nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng ha lớn lên trong tình xứ Huế. Duyên hội ngộ, đức cù lao Hòa thượng đã trở về Huế để xây dựng Phật giáo tại Huế cho đến ngày cuối cùng trong cuộc đời Hoằng pháp củamình. Từ đó cho đến nay, tôi ít có dịp được gặp Hòa thượng vì tuổi già sức yếu, Phật sự đa đoan, Hòa thượng cũng ít có dịp trở lại đất Nha Trang, nhưng nơi đây luôn vọng trông về ân đức lớn của Hòa thượng để Phật pháp đươc xương minh. Mỗi lần Hòa thượng vào Nha Trang đều ghé đến chùa Linh Sơn Pháp Bảo để thăm Tăng chúng, hoặc hỏi thăm trông nom về nơi ấy. Mãi cho đến năm 1997, tôi nghe Hòa thượng mở trường Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tôi thật sự bất ngờ và đầy xúc động, nghĩ thầm: "Hòa thượng già rồi mà còn lo cho đàn hậu tấn về sau, thật là một tình thương vô biên không ngằn mé".

Thời gian thấm thóat trôi qua, Học viện đã hình thành và đã đào tạo ra trường 170 Tăng Ni sinh có đủ pháp lý, pháp nhân để vào đời hành đạo, kế tục tiền nhân. Và tôi cũng đã mấy lần về Huế để dự lễ khai giảng, khánh thành Học viện, lễ Tốt nghiệp Tăng Ni sinh và đã mấy lần ghé thăm, đảnh lễ hầu chuyện với Hòa thượng. Lúc ấy, tôi thấy sức khỏe của Hòa thượng đã héo dần theo năm tháng, nhưng tiếng nói, trí tuệ vẫn còn rực sáng như ngày nào. Nhớ lại lần đầu tiên tôi bước ra xứ Huế, giống như đã trở về miền đất thân quen của bao năm tháng xa cách. Huế, một kinh thành cổ kính, một trung tâm Phật giáo đã một thời lãnh đạo cả miền Trung. Nơi sông Hương, núi Ngự đã gắn liền với cát trắng thùy dương Nha Trang gần nữa thế kỷ qua mà giờ đây Huế vẫn uy nghiêm hùng vĩ một dáng vẻ tự có muôn đời. Ngôi Tổ đình Từ Ðàm đánh dấu mốc lịch sử của thời gian hàn gắn và là nơi chôn nhau cắt rốn của bao hệ phái phát triển về sau, là trung tâm Phật giáo miền Trung đã xây dựng lên một con người vĩ đại. Tôi đã lặng lẽ bướn từng bước lên thang cấp của Từ Ðàm mà lòng ngậm ngùi nhớ lại cảnh xưa trong từng xúc động. Bước qua phòng khách, đưa mắt nhìn quanh một cảnh thuở nào rực rỡ, mà giờ đây lại im lìm nhưng đang tắt lịm giữa hòang hôn chiều tàn. Hòa thượng ngồi trên chiếc ghế mấy, tay cầm cuốn chữa Hán, đang nghiên cứu tìm tòi những yếu chỉ của kinh điển mà làm giáo án dạy cho học trò. Tôi bước vào nghiêng mình cúi chào trong niềm vui xúc động, Hòa thượng đưa mắt nhìn lên và nhận ra tôi trong niềm vui, Hòa thượng nói: "Thầy Như Ý đó àh!". Một giọng Huế thân quen ngày nào, giờ đây tôi mới nghe lại được. Tôi nói: "Bạch Hòa thượng, con mới từ Nha Trang ra đây và ghé thăm Hòa thượng".

Qua câu chuyện tâm tình thầy trò, tôi đã thăm hỏi sức khỏe của Hòa thượng và biết rằng Hòa thượng đã già đi rất nhiều, nhưng sức khỏe vẫn còn tốt. Ngồi hầu chuyện rất lâu và tôi cũng phải xin phép về để Hòa thượng còn viết bài và nghiên cứu ngày mai phải lên lớp. Nhìn mái đầu bạc trắng, bàn tay run run của Hòa thượng mà lòng tôi thấy bùi ngùi xúc động vô cùng. Ðó là lần đầu tiên tôi trở về xứ Huế và những lần sau tôi ra lại Huế đều ghế đến Hòa thượng tại Tổ đình Từ Ðàm và thấy Hòa thượng một già đi.

Ấy thế mà thời gian thấm thoắt trôi qua không bao giờ dừng lại, bốn năm của Học viện đã viên mãn, tôi lại trở về xứ Huế một lần nữa để dự lễ tốt nghiệp mãn khóa. Lúc ấy tôi thấy Hòa thượng càng yếu dần đi, sau cơn bệnh đã qua, nghĩ rằng chắc Ngài chưa "đi" đâu. Thế mà một hôm, vào chiều ngày 17-8 âm lịch, tôi đang niệm Phật tại tư thất thì nghe Hòa thượng đã viên tịch, lòng tôi bùi ngùi xúc động vô cùng. Thôi rồi! Phật giáo đã mất môt bậc thầy khả kính, một con người đức độ bao dung, một nhà giáo dục quên mình đang đau yếu. Tôi liền niệm Phật tiếp để nguyện cầu cho Giác linh Hòa thượng được dự kiến đức Phật A Di Ðà để sớm hồi nhập Ta Bà.

Giờ đây, bên dòng sông Hương vẫn đang lượn mình chuyển tiếp, núi Ngự Bình vẫn sừng sững uy nghiêm, đất Cố Ðô vẫn một màu bát ngát, cho Kinh thành cây cỏ cũng đơm hoa, ấy thế mà đã mất đi một con người vĩ đại, một trụ cột của tăng chúng Thừa Thiên, hàng giáo phẩm của Phật giáo Việt Nam và người thầy khả kính của bao nhiêu lớp trẻ, khói trời đang cuồn cuộn chảy trôi, thời gian như kéo mãi nỗi đau năm tháng... Tất cả đều úa tàn theo giấy phút ngậm ngùi tiễn biệt, đều cúi đầu trước Giác linh của bậc xuất thế, để tiễn biệt người trong niềm thương nhớ vô biên.

Thật vậy, chân lý mà đức Thế Tôn đã nói ra không bao giờ sai cả. Vì, hễ cái gì sinh ra thì phải có diệt đi, nó là do nhân duyên sinh giả hợp. Bởi vậy, cách đây 2545 năm, tại Ta La song thọ đức Thế Tôn cũng hiện tướng Niết-bàn để gọi là chấm dứt một cuộc đời giả sinh con người trên trần thế. Ngày hôm nay, Hòa thượng cũng tùy thuận theo quy luật con người là sinh, già, bệnh, chết, mà xả báo thân vĩnh viễn nới thế giới Ta Bà này, Nhưng pháp thân của Hòa thượng vẫn còn vang mãi phương xa.

Nam Mô Lâm Tế Chánh Tông tứ thập tam thế trùng kiến Thiền Tôn, Từ Ðàm nhị tự Trú trì húy thượng Tâm hạ Phật tự Ðức hiệu Thích Thiện Siêu Hòa thượng thùy tự chứng giám.

Nha Trang, ngày 10-12-2001

Chùa Linh Sơn Pháp Bảo

Viện Chủ

 

 

HÒAI NIỆM ÂN SƯ

Pháp đệ THÍCH LIÊM CHÍNH

Kính lạy Giác linh Ôn

Người trọn đời quy kính

Ngàn vạn lời thưa thỉnh

Cũng chỉ là ngữ ngôn

Ôi! Ân đức cao cả của Ôn đối với Tăng Ni và Phật tử đàn hậu học chúng con làm sao nói hết!

Trọn cuộc đời vì sự nghiệp "Hoằng pháp lợi sanh". Trọn cuộc đời vì cônh hạnh "Giáo dục Tăng Ni", bất cứ ở đâu và lúc nào Ôn cũng luôn thể hiện đức tính hiền hòa mà nghiêm khắc, luôn xứng đáng bậc Thầy mô phạm, thạch trụ Tòng lâm và bất cứ ai, dù chỉ một lần gặp gỡ, cũng đủ cảm nhận sâu sắc về sự quy hướng và giá trị cao quí của kiếp làm người. Riêng con, hồi tưởng lại những tháng năm dài dưới mái trường Trung đẳng Ling Quang, ngay hai buổi nắng mưa không quản, kết Kinh rồi Luận như thầm nhắn gởi, như nhắc nhở khuyên lơn, ấm áp làm sao tình nghĩa Thầy trò, hồi đó con còn nhỏ dại có biết gì đâu, để bây giờ thật sự vắng Ôn rồi, mới cảm thấy mất mát lớn lao và xót xa vô hạn!

Con còn nhớ có lần, sau giờ ngọ trai mùa An cư kiết hạ năm nào tại Từ Ðàm, với giọng nói của Ôn ôn tồn nhưng khẳng khái, ngắn gọn mà sao âm vang rung động mãi hồn con!

Ôn bảo: "Các Thầy luôn ghi nhớ điều nầy: tại sao trong Quán tường thọ thực có câu "Ngũ vi thành Ðạo nghiệp, ứng thọ thử thực?"

Lạy Ôn ! Con biết đây không phải là môn triết lý Phật học uyên thâm mà chỉ là một trong những công phu tật nhật dụng của Chư Tăng, thế mà khi nó được phát ra bằng một âm thanh hiền từ mà trân trọng của bậc Thầy khả kính như Ôn , tức khắc nó thành một định đề triết lý nhân sinh, một công án chuyển động tâm thể Thiền sinh, một thọai đầu bặt dứt phan duyên của người tu học. Không những chừng ấy, mà con còn cảm nhận tất cả những sinh họat bình thường nhất của Ôn , từ tiếng cười, ánh mắt, từ những bước đi khoan thai nhẹ nhàng, từ một cái chỉ tay đơn giản, cho đến cử chỉ thăng tòa "Khai đạo giới tử" nghiêm trang v.v... Hầu như đều trở thành những bài thuyết pháp có tính thuyết phúc nhất định và giá trị vô cùng suốt cả đời con.

Kính lạy Ôn ! Giờ đây tất cả đều trở thành quá khứ, con thật sự xa Ôn rồi! Còn chăng chỉ là sự ảnh hiện trên từng trang Kinh Luận, trọn đời Ôn đuổi bắt thời gian, để lại cho đời, cho chúng con, nào Pháp tướng Duy thức, Câu Xá, Hữu tông, nào Pháp tánh trí Ðộ, Trung quán, Không tông. Lạy Ôn ! Con nào dám lạm bàn tư tưởnng Hữa, Không, con chỉ muốn khơi lại hình ảnh những ngày cuối cùng trên giường bệnh, thời gian chỉ tính bằng giời, vậy mà Ôn vẫn không quên ý nguyên hòan thành Trung quán luận, một kiệt tác trứ danh của Tổ sư Long Thọ, vừa mới ra đời. Phải chăng đây sự biểu hiện nhiệm màu, Pháp thân thường trú của Ôn? Không phải từng trang mà là từng câu, từng chữ khi ẩn khi hiện quyện chặt hồn con! Giây phút cảm hứng này, nếu không phải "tức hữu tức vô" thì đúng là yếu lý "Bát bất Trung đạo", nếu thế thì Ôn và con, Thầy trò thôi không còn ngăn cách!

Pháp thân nào thường trú uy nghi, Báo thân nào an nhiên thi tịch, tất cả đều biến hóa vô cùng linh họat trong từng câu, từng chữ Kinh, Luận của Ôn. Ðúng là:

"Bất sanh diệc bất diệt..."

"Bất nhất diệc bất dị..."

Nào ai biết được những giây phút ngắn nhất của đời Ôn , lại là khõang thời gian dài vô tận của đời con!

Kính lạy Giác linh Ôn !

Ân đức thì vô cùng, ngôn từ lại hữu hạn. Xin mươn:

Vầng trăng sáng, tiết mạnh Ðông,

Cảm tác đôi dòng thị sắc không

Ngưỡng vọng Giác linh thùy chứng giám

Thành tâm khấn bái, trọn tấc lòng.

Trăng leo lơ lửng giữa lưng trời,

Trăng là Ðịnh Tuệ tỏa muôn nơi

Trăng Tâm Giới đức ngàn đời chiếu

Trăng sáng như Người, một cuộc đời.

Trăng sáng như Người, một cuộc đời.

Trăng thường phổ chiếu, mặc đầy vơi

Trăng soi lối nhỏ cho con bước

Trăng cổ ngàn sau, ánh trăng rơi.

Trăng cổ ngàn sau, ánh trăng rơi,

Trăng in đáy nước vẫn rạng ngời

Trăng kia dù mấy tầng mây khuất

Trăng vẫn là trăng giữa lưng trời.

 

 

BẬC CHÂN TU, NHÀ LÃNH ÐẠO,

NHÀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ÐÃ RA ÐI

Thượng tọa Thích Thiện Bảo

Khi nhận được tin báo Hòa thượng Thiện Siêu viên tịch, lòng chúng tôi như có một điều gì mất mát lớn lao dù biết Hòa thượng bệnh nặng từ lâu, tâm lý mọi người đã chuẩn bị trước. Rồi đây Phật giáo sẽ mất đi một bậc chân tu, nhà lãnh đạo, nhà giáo dục Phật giáo mà chúng ta không dễ gì tìm lại được, lòng cứ mãi bâng khuâng, như nuối tiếc ở một thời điểm cần có những "cây đại thụ". Không phải chỉ có trong tâm tôi cảm nhận điều này mà có lẽ trong lòng hàng triệu người con Phật xuất gia, tại gia đều cảm thấy một sự mất mát lớn lao của Phật giáo Việt Nam trong lòng Giáo hội. Tất cả mọi người con Phật đều nhận thức rằng cuộc sống là vô thường, sinh diệt là lẽ đương nhiên, nhưng đứng trên bình diện tục đế không ai không cảm thấy mến thương tiếc nuối khi mất đi một vị tôn túc đầy khả kính!

Tôi còn nhớ và xin ghi lại một trong những lần đến thăm Hòa thượng, ngài ngồi nói chuyện hàng giờ về nội tình Phật giáo, nhất là trong lãnh vực giáo dục Phật giáo đối với thế hệ Tăng Ni trẻ hiện nay. Có lẽ câu chuyện thắp đền dầu ngồi học kinh thời kỳ thập niên 30 làm tôi nhớ mãi. Ngài ôn tồn kể lại: "Năm 1934, lúc 14 tuổi tôi vào chùa, và đó cũng là năm tôi được vào trường Phật học tại Phật học đường Báo Quốc ở Huế. Lúc đầu chỉ học Phật học qua Hán văn do cố Hòa thượng Trí Ðộ dạy, sau này mới học thêm chữ Quốc ngữ. Thời kỳ đó chưa có điện, ban đêm phải đốt đèn dầu để học. Thầy dạy rất nghiêm khắc, vì thế Học tăng học rất có căn bản. Sau mỗi bài học được thầy giảng, Học tăng luân phiên nhau viết bài tóm tắt vào một quyển tập gọi là tập luân hóa. Ðây là một phương pháp học, theo tôi, vẫn rất tốt... Từ nhỏ tôi rất ham đọc sách, mỗi khi vào thư viện, hễ cầm quyển sách đọc là không muốn bỏ xuống, thói quen đó vẫn giữ cho đến ngày hôm nay...". Việc học đã chăm chỉ như thế nhưng việc tu không vì thế mà lơ là, dù trăm công ngàn việc bận rộn trong công tác của Giáo hội, nhưng tất cả đều được ngài sắp xếp chương trình sinh họat một cách khít khao, khoa học mà qua lời ngài chúng ta có thể thấy được điều gì ngài đưa lên hàng đầu, điều gì là thứ yếu. Ngài ngồi kể cho chúng tôi nghe quá trình dịch thuật của ngài và chúng tôi thực sự nhận ra một con người có tâm huyết như thế quả là một bài học kinh nghiệm cho nhiều thế hệ Tăng Ni Việt Nam noi gương: :"Năm 1943, Phật học đường Báo Quốc dời về Kim Sơn, quí Hòa thượng Giáo thọ có ý thành lập một Ðại tòng lâm nhưng không thành, vì năm 1945 chiến tranh Pháp – Nhật bùng nổ và nạn đói xảy ra nên trường phải ly tán. Lúc 38 tuổi (1959), tôi đi dạy và dịch chú giải quyển sách đầu tiên là kinh Pháp Cú. Tại nước ta lúc đó chưa có bản tiếng Pàli hay tiếng Anh, tiếng Pháp như hiện nay; tôi may mắn gặp được bản kinh Pháp Cú bằng chữ Hán của Pháp sư Liễu Tham. Quyển sáchnày đến nay còn lưu hành và tái bản nhiều lần, với tên dịch giả Thích Trí Ðức. Quyển thứ hai là kinh Trường A Hàm. Ðây là bảnh kinh mang tư tường Phật giáo Nguyên thủy lần đầu tiên được dịch và giới thiệu bằng tiếng Việt; vì lúc bấy giờ ở Việt Nam ít quan tâm đến A Hàm, mà chỉ chú ý đến các bản kinh Ðại thừa như Lăng Nghiêm, Viên Giác. Thời gian trước 1975, tôi không dịch được nhiều do tham gia vào các phong trào Phật sự của Giáo hội. Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, tình hình xã hội và Giáo hội ổn định, tôi mới có điều kiện thuận lợi thực hiện tâm nguyện dịch những bộ luận chính của ba tư tường Phật giáo lớn là Câu-xá luận (Hữu Bộ), Thành Duy thức luận (Pháp tướng tông) và Ðại Trí độ luận (Pháp tánh công). Riêng Ðại Trí độ luận gồm 100 quyển hiện tôi đã dịch được 80 quyển và đã in in thành bốn tập, tập cuối cùng sẽ được in vào dịp lễ Phật đản 2001. Như vậy sẽ hòan tất việc dịch tòan bộ 100 quyển. (Dịch phẩm cuối cùng Hòa thượng hòan tất là Trung Luận)..."

Tôi có hỏi Hòa thượng về việc học Phật của Tăng Ni trẻ hiện nay và tâm huyết của môt vị tôn túc có kinh nghiệm của một người đi trước mà Hòa thượng đã đào tạo qua nhiều thế hệ Tăng Ni, Hòa thượng có nhắn nhủ điều gì. Ngài ôn tồn nói: "Tôi có đôi lời gởi đến các Tăng Ni trẻ nói riêng và các Phật tử nói chung, là đã có tâm xuất gia thì phải nên cố gắng học tập để biết đường lối tu tập đúng theo tinh thần Phật dạy. Học Phật không phải chỉ học lý thuyết mà còn phải thực hành, vận dụng để sống. Như thế mới có thể phân định điều Phật dạy và điều không phải Phật nói, vạch ra sự sai lầm có thể lan tràn do sự ngộ nhận làm lấp đi sự trong sáng vốn có của Phật pháp. Có hiểu biết đúng mới có thể xây dựng được niềm tin trong sáng và giúp người khác được".

Lần cuối cùng tại bệnh viện Chợ Rẫy, với gương mặt gầy hơi xanh do căn bệnh hòanh hành nhưng nét mặt vẫn tỉnh, đôi mắt vẫn sáng, Hòa thượng nói với chúng tôi: "Tôi đã đi được hai cửa sanh và già, còn một cửa nữa là trọn một đời người...". Có lẽ đối với tôi câu nói đó là câu nói cuối cùng không còn có cơ duyên gặp lại Hòa thượng nữa cho đến khi nhận được tin ngài viên tịch. Viết những dòng nầy tôi không mong nói hết những công hạnh của Hòa thượng, nhưng xin góp một chút hương nhỏ tưởng niệm về công hạnh của bậc Tôn túc lãnh đạo Giáo hội, nhà giáo dục Phật giáo vĩnh viễn ra đi. Một bậc chân tu suốt đời vì sự nghiệp dịch kinh, giảng dạy cho nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử trong nhiều thập niên trên quê hương Việt Nam.

 

 

 

TUỆ GIÁC SIÊU NHIÊN

Thương tọa THÍCH ÐẠT ÐẠO

Tôi còn nhớ trong quãng thời gian Ôn Già Lam (tức Hòa thượng Thích Trí Thủ) đang làm Viện trưởng Viện Hóa Ðạo thì Ôn Từ Ðàm (tức Hòa thượng Thích Thiện Siêu) là Tổng Thư ký, lúc đó tôi là thị giả của hai Ôn. Mỗi ngày phải lái xe đưa hai Ôn đến văn phòng chùa Ấn Quang để làm việc. Ôn Già Lam thường hay nói với tôi: "Thầy Từ Ðàm mà làm Tổng Thư ký thì tôi tha hồ mà yên tâm ký văn bản". Qua câu nói đó của Ôn Già Lam cũng đủ chứng tỏ rằng Ôn Từ Ðàm làm việc rất cẩn thận và chu đáo. Chính vì sự cẩn thận ấy mà việc trước tác, biên sọan, dịch thuật kinh điển của Ôn ít được thực hiện trong những thập niên 80, 90. Những năm về trước, mặc dù Ôn Già Lam luôn động viên Ôn Từ Ðàm về việc viết sách, nhưng Ôn Từ Ðàm cứ do dự mãi và hàng ngày chỉ biết đọc hết quyển kinh này đến quyển kinh khác của Bộ Ðại tạnng bằng Hán ngữ để chờ ngày tư tường Phật đà được tích lũy chín mùi và thuận duyên thì sẽ xuất bản. Các tác phẩm sau đó đã xuất bản như ở hai thập niên sau này. Ôn Từ Ðàm vốn là một bậc chân tu học, tốt nghiệp hạng ưu tại Phật học đường Báo Quốc – Huế cùng quý Hòa thượng Trí Tịnh, Trí Quang, Trí Nghiêm, Trí Thành...

Có một lần, Thượng tọa Giác Tòan thay mặt Hệ phái Khấtsỉ thỉnh Ôn Già Lam đến dạy luật Tứ phần cho chư Tăng Khất sĩ, Ôn Già Lam mời Ôn Từ Ðàm cùng đi. Tại giảng đường Tịnh xá Trung tâm có mặt đầy đủ các bậc tôn túc Hệ phái Khất sĩ, Ôn Già Lam giới thiệu: "Hòa thượng Thiện Siêu chuyên nghiên cứu Kinh Luật Luận trong nhiều năm qua, Hòa thượng nhỏ tuổi hơn tôi, thuộc lớp đàn em của tôi. Nhưng từ trước đến nay, trong lòng tôi luôn kính trọng và xem Hòa thượng là bậc Thầy của tôi. Nay tôi giới thiệu Hòa thượng đến đây để hướng dẫn chư Tăng Hệ phái Khất sĩ học hỏi về Luật tạng Ðại thừa". Chỉ bao nhiêu lời giới thiệu của Ôn Già Lam đối với Ôn Từ Ðàm, thế cũng đủ biết Ôn Từ Ðàm tinh thông Phật học như thế nào. Những lời của Ôn thốt ra, văn nói cũng như văn viết. Nếu chúng ta kết tập lại sẽ thành môt bài văn không dư, không thừa, câu cú và lời văn gãy gọn sắc bén.

Hôm nay, dù Ôn Từ Ðàm đã viên tịch, nhưng những áng văn bất hủ của Ôn vẫn còn sống mãi trong nền học thuật Phật giáo Việt Nam. Những lời dạy của Ôn vẫn còn đọng lại trong trái tim của Tăng Ni và Phật tử Việt Nam. Thật xứng đáng là bậc tuệ giác siêu nhiên. Con thành tâm kính lễ.

 

VỌNG BÁI TÔN SƯ

Ðệ tử THÍCH PHƯỚC TÚ

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy,

Con từ giã gia đình

Làng Mỹ Á trước biển sau sông

Lên Từ Ðàm xuất gia học đạo

Nhờ ơn Thầy giáo dưỡng

Con biết nẻo qua về.

Những năm tháng ở cạnh Thầy, con chưa kịp suy nghĩ về lời Thầy, vì con còn nhỏ nên cứ vô tư trong nếp sống đạo đồng. Lớp anh con có chú Phú, chú Vỹ, chú Trung, chú Thuần... Lớp đồng môn có chú Kỳ, chú Chiến, chú Hướng, chú Dược, chú Phước... Ngay trong hai lớp vừa kể, có người đã qui Tây. Ðến khi con xa Thầy, tha phương du hóa, lòng cảm thấy đơn côi chới với. Lúc ấy con tưởng nhớ đến Thầy vô hạn. Trong số điệu chúng Từ Ðàm thuở ấy, con là đứa ngỗ nghịch nhất, có lúc làm Thầy phải phiền lòng, nhất là vu đấu tranh 63 để bảo vệ Ðạo pháp. Nay tuổi lục tuần hướng về Tổ đình thì Thầy đã đi xa. Con thật là vô duyên bạc phước.

Kính bạch Thầy,

Nhiều người nói, Thầy nghiêm mà từ. Con nghiệm ra lời họ nói có phần đúng. Cuộc đời Thầy là bài thuyết pháp vô tận. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ, mỗi việc làm của Thầy là những bài thuyết pháp vô cùng sinh động. Thầy thuyết pháp trên tòa. Thầy thuyết pháp trong giảng đường, Thầy thuyết pháp giữa đạo tràng, Thầy thuyết pháp khi còn khỏe mạnh, và Thầy thuyết pháp ngay cả khi nằm trên giường bệnh lúc ốm đau. Ở đâu có Thầy là ở đó có thuyết pháp. Có tiếng Thầy thuyết pháp là có a