PHẦN III
Thơ văn tưởng niệm
(1)
NHỮNG KỶ NIỆM VỚI THẦY THIỆN SIÊU
Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU
Chúng tôi được biết thầy Thiện Siêu từ năm
1936, khi Thầy còn là một học Tăng đang theo học tại trường An Nam
Phật học hội đặt tại chùa Trúc Lâm. Hồi ấy Thầy còn rất trẻ, tính
tình hiền từ, dáng người mảnh khảnh nhưng tỏ ra hiếu học và thông
minh. Lúc bấy giờ chúng tôi tìm đến học giáo lý Phật giáo với Cụ
cố Hội trưởng Tâm Minh Lê Đình Thám. Song song với việc học giáo
lý, chúng tôi được Hội bầu làm Chánh văn phòng của Hội. Mặc dầu,
với tư cách là cư sĩ, nhưng chúng tôi thường lui tới gặp được quý
Thầy đang theo học lớp Phật pháp để lo phần kinh tế cho quý thầy
Thiện Siêu.
Có lẽ trong số quý Thầy của trường An Nam Phật
học hội, người mà tôi cộng tác và làm việc nhiều nhất chính là
thầy Thiện Siêu. Chúng tôi còn nhớ những tháng ngày mưa phùn lạnh,
gió se thắt mùa đông của xứ Huế, lúc chiến tranh Nhật-Pháp bung
nổ, chúng tôi phải đưa các Thầy đi sơ tán, chạy qua những cánh
đồng hoang vắng, từ Huế chạy về Thế Chi (Quảng Điền) bom đạn oanh
tạc liên tục, khi đó mạng sống như là
sơi chỉ mành treo chuông. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy
chúng tôi và Thầy vẫn gắn bó trong từng điếu thuốc, từng chén cơm.
Thế rồi, thời gian mãi trôi đi không dừng lại, chúng tôi được xuất
gia học đạo với cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, có lẽ đây
là điểm tương ưng giữa tôi và thầy Thiện Siêu, chúng tôi được làm
đệ tử Hòa thượng Tường Vân còn thầy Thiện Siêu thì được Hòa thượng
Tường Vân thương yêu và dạy dỗ. Đến năm 1949, Thầy và tôi cùng
được thọ Cụ giới tại Đại giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc cũng chính
do Hòa thượng Tường Vân làm đàn đầu. Sau khi thọ giới, chúng tôi
vẫn tiếp tục diễn giảng Phật pháp khắp các chùa, hội thuộc Thừa
Thiên – Huế. Còn Thầy thì lo đảm nhận trọng trách giảng sư của
Phật giáo Trung phần. Năm 1951, chúng tôi có đủ thiện duyên xuất
dương du học tại Srilanka (Tích Lan) và Ấn Độ trong thời gian hơn
10 năm. Chính trong quãng thời gian này chúng tôi tiếp xúc với
kinh tạng Nguyên thủy (Pali), có những đọan nào liên hệ đến Hán
tạng thời chúng tôi chia sẻ với Thầy qua thư tín, bởi lẽ Thầy
thông thạo về Kinh, Luật, Luận thuộc Hán tạng.
Sau khi về nước, chúng tôi được Giáo hội giao
đảm nhiệm Tổng vụ trưởng Văn hóa và Giáo dục, lại còn làm Viện
trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, song song với những Phật sự ấy,
chúng tôi lo phiên dịch Kinh tạng Pàli ra Việt ngữ; còn Thầy thì
nhận trách nhiệm Giáo thọ cho các Đại tòng lâm ở Huế, Đà Nẵng, Sài
Gòn và Nha Trang. Thế nhưng sự liên hệ giữa Thầy và chúng tôi vẫn
luôn gắn bó. Chúng tôi còn nhớ ngày Đại học Vạn Hạnh làm lễ giới
thiệu và phát hành Kinh Trung bộ tập II do chúng tôi phiên dịch ra
Việt ngữ, nhận lời mời của Viện, Thầy có đến dự và phát biểu rất
trung thực. Thầy nói:
“Ngày nay, được đọc Trường bộ kinh I, II, III
và Trung bộ kinh I, II, bản dịch của Thượng tọa Thích Minh Châu,
tôi thấy sáng lên các nghi điểm của mình ở Hán tạng tương đương và
Đại thừa Hán tạng. Tôi xác nhận rằng, đạo Phật chỉ có một. Không
có Nam hay Bắc, Đại hay Tiểu. Với tôi không có sự khác biệt trong
tên gọi Đại thừa hay Tiểu thừa, bởi vì tôi không muốn chúng ta rơi
lại vào vùng ngộ nhận cũ, không muốn chúng ta bị đánh lừa bởi một
số tu sĩ Bà la môn trong âm mưu gây hiểu lầm giữa các Phật tử Nam
tông hay Bắc tông. Chúng tôi cũng không muốn chúng ta bị đánh lừa
bởi một cạm bẫy khác không kém nguy hiểm, bề trái của âm mưu đó mà
cho rằng tất cả kinh điển Đại thừa đều đi xa truyền thống Phật
giáo nguyên thủy…”, và cuối cùng Thầy đưa ra nhiều dẫn chứng trong
kinh Trung bộ để soi tỏ những luận chứng của mình.
Những bản kinh của chúng tôi dịch, có thể nói
nhờ tiếng nói của Thầy mới được giới thiệu rộng rãi đến với giới
nghiên cứu Phật học. Phật sự của Thầy Thiện Siêu và chúng tôi cứ
như thế mà vận hành. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, đến
năm 1979, Thầy cùng chúng tôi gánh vác Phật sự của Giáo hội và kết
quả là năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Thầy lãnh
trách nhiệm Trưởng Ban Giáo dục Tăng, Ni toàn quốc, còn chúng tôi
thì lo điều hành và giảng dạy tại trường Cao Cấp Phật học Việt Nam
cơ sở I (Chùa Quán Sứ) rồi đến Trường Cao Cấp Phật hoc Việt Nam cơ
sở II (Thiền Viện Vạn Hạnh) nay là học Viện Phật giáo Việt Nam tại
Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Hai cơ sở Đại học này Thầy cũng góp
phần không nhỏ để chúng tôi giáo dục thế hệ tương lai. Ngoài những
trọng trách Phật sự của Giáo hội, chúng tôi và Thầy còn được Nhà
nước mời vào Đại biểu Quốc Hội. Nhớ mới ngày nào đó, Thầy và chúng
tôi cùng đi họp Quốc Hội, với cái nắng gay gắt của mùa hạ và cơn
gió rét đậm của mùa đông. Thế mà, ngoài những buổi họp ra, Thầy và
chúng tôi tranh thủ bàn bạc với nhau về những phương pháp giảng
dạy Tăng, Ni sinh sao cho phù hợp với thời đại mới. Qua những thì
giờ thảo luận ngắn ngủi ấy có thể nói, sự nghiệp giáo dục và lo
tương lai cho đạo, lúc nào cũng khắc khoải trong tâm tư của thầy
Thiện Siêu.
Tháng tư năm Canh Thìn (2000) tôi được mấy thầy
cho biết Thầy bị bệnh nan y, Thầy vào Sài Gòn nằm điều trị tại
Bệnh viện Chợ Rẫy và hai lần dưỡng bệnh tại Thiền Viện Vạn Hạnh,
mỗi chiều chúng tôi đi dạo quanh sân Viên và thỉnh thoảng có đến
thăm, nhưng lúc nào trên nét mặt của Thầy vẫn an nhiên tự tại, lại
còn thảo luận với chúng tôi những vấn đề trong kinh điển và đôi
lúc pha một vài chuyện ‘tiếu’ để thay đổi không khí.
Thế rồi, cái gì đến phải đến. Sau một thời gian
trở lại Huế, căn bệnh của Thầy lại tái phát, chúng tôi ngỏ ý muốn
về Huế thăm Thầy lần cuối, nhưng sức khỏe không cho phép.Chúng tôi
không về Huế để dự Lễ tang của Thầy, nhưng với chúng tôi Thầy
Thiện Siêu, chùa Từ Đàm lịch sử, xứ Huế đất thần kinh vẫn luôn gợi
nhớ thật nhiều.
Hôm nay, Thầy đã giả từ cõi thế để trở về nơi
cõi Chơn thường tịch diệt, chúng tôi mất đi môt Pháp hữu kính
trọng, một người bạn đồng lao cộng khổ trong sự nghiệp Giáo dục
đào tạo Tăng, Ni. Nay chúng tôi xin ghi lại mấy dòng để kỷ niệm
những tháng ngày hành Phật sự với Thầy Thiện Siêu
Phật
lịch 2545
Vạn
Hạnh
Trọng Đông Tân Tỵ
-2001
CẢM NIỆM VỀ CỐ HÒA
THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Hòa thượng THÍCH THANH TỨ
Do Phật sự đa đoan, được tin Hòa thượng ốm tôi
không vào thăm trực tiếp được, mà chỉ hỏi thăm qua điện thọai. Sau
khi kết thúc công tác tại Trung Quốc, tôi và quý Thượng tọa công
tác tại Văn phòng I Trung ương Giáo hội đã đi vào thăm Hòa thượng.
Sau gần hai ngày đường ô tô, chúng tôi đã vào đến chùa Từ Đàm,
thành phố Huế, nơi Hòa thượng đang dưỡng bệnh. Hôm đó, trời Cố đô
Huế rất đẹp. Ánh sáng mặt trời chiếu những tia nắng sớm, tạo nên
một bầu không khí ấm áp và thanh tao, gợi cho chúng tôi một cảm
giác rất đặc biệt của xứ Huế.
Chúng tôi đến bên cạnh Hòa thượng để vấn an sức
khỏe. Mặc dù lúc này, sức khỏe Hòa thượng rất xấu, nhưng hình như
Hòa thượng cũng cảm nhận được sự hiện diện của chúng tôi. Sau đó
chúng tôi về nghỉ tại chùa Báo Quốc. Đến giờ chiều hôm đó, tôi
được quý Thầy bên chùa Từ Đàm báo là Hòa thượng đang trong cơn hôn
mê, có lẽ không còn nhiều thời gian nữa. Quả thực, Hòa thượng đã
từ bỏ xác thân này trong lúc chúng tôi đang ở thăm Hòa thượng. Ai
có ngờ đâu, đến ngày thăm Hòa thượng cũng là ngày Hòa thượng ra
đi. Sự ra đi của Hòa thượng đã để lại cho tôi vô cùng xúc động.
Trong tâm mình, tôi luôn đặt ra câu hỏi: phải chăng sự ra đi của
Hòa thượng hôm đó là một đặc ân đối với tôi? Song dù sao, đối với
tôi, đây là một kỷ niệm không bao giờ phai.
Lúc sinh thời, tôi cũng có nhiều dịp tiếp kiến,
trao đổi với Hòa thượng về những họat động Phật sự của Giáo hội.
Ngay từ những ngày đầu tham gia vận động thống nhất Phật giáo, rồi
sau này tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Và mỗi khi
Hòa thượng ra Hà Nội họp Quốc hội hoặc tham gia đoàn đi nước ngoài
họat động Phật sự; những dịp như thế, tôi luôn cảm nhận ở Hòa
thượng những tình cảm cao quý chân tình, và rộng mở.
Quả thực, Hòa thượng là một tấm gương sáng, một
bậc Danh Tăng, cả cuộc đời vì Đạo pháp và Dân tộc. Tôi nguyện cùng
với tập thể trong Ban Thường trực Hội đồng Trị sự sẽ đi tiếp những
bước đi còn dang dở mà Hòa thượng bỏ lại. Từ nay tuy vắng bóng
Người, nhưng Hòa thượng đã để lại cho đời nhiều gương sáng.
Hà Nội, mùa Đông năm
Tân Tỵ, 2001
ĐÔI LỜI TÂM SỰ
Hòa thượng THÍCH HIỂN PHÁP
Môn đồ pháp quyến cũng như Ban biên tập Ban văn
hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có đề nghị tôi viết đôi
lời cảm niệm về cố Trưởng lão Hòa Thượng thượng Thiện hạ Siêu,
nguyên Phó Chủ Tịch thường trực Hội đồng Trị sự, kiêm Trưởng ban
Giáo dục Tăng, Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam để đăng
tập san kỷ niệm nhân dịp Tiểu tường Hòa thượng. Tôi rất cảm kích
tấm thịnh tình ấy nên vội viết những dòng này dù biết rằng tôi sẽ
không nêu hết ý được, cũng như hôm đưa tiễn Giác linh Hòa thượng
tôi đã nghẹn ngào xúc động không đọc được trọn bài điếu văn của
Trung ương Giáo hội.
Tôi vốn kính mộ Hòa thượng từ rất lâu trước khi
được gần gũi Ngài. Từ rất lâu, Ngài đã nổi danh là Thầy của nhiều
bậc Thầy trong các lĩnh vực tu hành phạm hạnh, giáo dục và đào
tạo, nghiên cứu và dịch thuật, tổ chức và điều hành…Từ 20 năm qua,
tôi càng lúc càng được gần gũi Hòa thượng qua các Phật sự của Giáo
hội, qua tình cảm ưu ái mà Hòa thượng dành cho tôi và qua nỗ lực
của tôi được thúc đẩy bởi lòng kính mộ Hòa thượng. Từ đó, càng lúc
tôi càng nhận thấy rõ ở Hòa thượng một đức độ thâm sâu, một trí
tuệ cao vời và đặc biệt là sự nhu hòa, từ ái, ân cần, khi thì thầm
kín tế nhị, khi thì cởi mở, tươi vui trong một phong cách thanh
thoát, nhẹ nhàng.
Tôi có duyên may được Hòa thượng trực tiếp chỉ
đạo, bàn bạc, lắng nghe, động viên… Do đó, trong những năm sau
này, theo với sự phát triển không ngừng của Giáo hội, các Phật sự
càng lúc càng nhiều và những thành tựu cũng như những khó khăn mới
cũng dồn dập, tôi vẫn vững tâm đóng góp công sức mình vào sự
nghiệp Phật giáo và Dân tộc, và luôn nghĩ rằng Hòa thượng đang chỉ
đạo, theo dõi và chia sẻ vui buồn, thông cảm những khổ nhọc của
tôi. Mối dây liên lạc vì Phật sự và vì thân tình giữa Hòa thượng
và tôi chẳng biết tự bao giờ đã trở nên bền chặt và riêng tôi, tôi
cảm nhận đấy là duyên nghiệp từ nhiều kiếp trước, cụ thể dường bao
mà cũng thiêng liêng lắm vậy.
Nay thì Hòa thượng đã hóa thân vào cõi Tịnh. Sự
nghiệp của Ngài để lại cho Phật giáo và Dân tộc Việt Nam vẫn còn
đó, vô thường ảo hóa vẫn là kia, nhưng mỗi khi nghĩ đến Hòa
thượng, tôi vẫn cảm nhận một sự hụt hẫng, tiếc nuối mà chỉ có sự
hồi ức về hình ảnh, về công đức của Ngài mới có thể giúp tôi bình
tâm trở lại để tiếp tục các Phật sự hằng ngày.
Nhớ thương kính tiếc ấp ủ trong lòng, ngưỡng
vọng trời Tây, xin cúi lạy Hòa thượng.
HÒA THƯỢNG
THIỆN SIÊU BẬC THẦY CỦA NHIỀU THẾ HỆ
Hòa
thượng THÍCH TRÍ QUẢNG
Tôi không trực tiếp học với Hòa thượng Thiện
Siêu, nhưng có cơ hội gần gũi Ngài trong những dịp hội họp của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước kia và Giáo hội Phật
giáo Việt Nam ngày nay.
Ngoài những nhận thức về thời cuộc, về sinh
họat của Giáo hội, tôi có nhiều quan điểm đồng với Hòa thượng. Đặc
biệt vào năm 1981, tôi còn nhớ rõ là Hòa thượng làm Trưởng đoàn
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và tôi làm Thư ký của
đoàn, nên mỗi việc phát biểu trong hội nghị, nhất là những phát
biểu của Hòa thượng, tôi luôn để tâm theo dõi. Và có một vài việc
mà tôi đắn đo suy nghĩ về lời phát biểu của Hòa thượng thì được
Ngài giải thích thấu tình đạt lý. Tiếp nhận được những lời chỉ dạy
quý báu ấy khiến tôi kính trọng Ngài như một bậc Thầy trên bước
đường phục vụ Giáo hội.
Ngoài ra, cũng có những dịp được Hòa thượng
trao đổi về các bộ kinh mà tôi đang giảng dạy. Chính nhờ thiện
duyên đuợc Ngài góp ý thêm về tinh ba của giáo pháp một cách chân
tình như vậy, đã giúp cho tôi được gần gũi các bậc Tôn túc hơn.
Giờ đây, Hòa thượng đã vắng bóng trên cuộc đời,
nhưng tôi tin tưởng rằng lời dạy của Ngài vẫn còn vang vọng trong
tâm tư của những vị đã được trực tiếp hay gián tiếp thọ học với
Ngài. Và chắc chắn những thế hệ sau này vẫn còn cơ hội tham khảo
những tinh hoa của Hòa thượng lưu lại trên nhiều quyển sách có giá
trị, nhất là thể hiện đậm nét trong nếp sống tu hành vô ngã vị tha
của Ngài trên bước đường độ sanh.
Khể thủ
SIÊU THÓAT LÒNG THÀNH
(Cảm niệm Đại lão Hòa
thượng Thích Thiện Siêu )
HUYỀN KHÔNG
Người đi theo lối Phật
Thuở lòng thơ ngời trong
Đã biết là Tâm Phật
Cùng nhật nguyệt thong
dong
*
Năm mươi năm sống đạo
Hạnh lành như núi cao
Gió hương thơm Trí Đức
Thổi qua đời lao xao
*
Chùa xưa tay dựng lại
Cho sóng từng về thăm
Chùi rêu trên tháp Tổ
Cho trăng Pháp đẹp rằm
*
Trang kinh xưa chờ chữ
Người Pháp tử chờ lòng
Ai đã muôn trùng hiện
Trong dòng suối sắc không
*
Thân đã về hư ảo
Tâm đã tới hoàng hoa
Kính lạy mười phương Phật
Siêu thoát lòng Thích Già.
Los Angeles, Chùa Việt Nam,
ngày 7-10-2001
HÚ HỒN HÚ VÍA TÔI!
Tỳ Kheo THÍCH ĐỒNG MINH
Năm 1955, trong thời gian tôi ở bên chùa Từ
Quang qua thọ giáo Ôn Thiện Siêu tại chùa Từ Đàm, thỉnh thoảng Ôn
bảo tôi đi với ôn đến các chùa của Giáo hội để Ôn giới thiệu cho
giảng. Lần đầu tiên ôn dẫn tôi xuống An Truyền. Ôn dẫn tôi ra Bến
Ngự rồi đi đò tới An Truyền. Đây là lần đầu tiên, (mà e cũng là
lần cuối cùng) tôi đi đò của xứ Huế. Khi đến An Truyền, Gia đình
Phật tử đứng sẵn trên bờ sông để đón Ôn Thiện Siêu. Đặc biệt là
các cháu Oanh Vũ cầm hương hoa, trầm và đèn quỳ gối, hát bài “Hôm
nay Thầy về đây…”. Tôi cảm động quá chảy nước mắt ròng ròng. Ôn
Thiện Siêu thấy… nắm tay tôi bóp một cái, khi bước lên bờ và nói
nhỏ “chi lạ rứa Đổng Minh”. Tôi liền niệm Ngài Quan Âm cho khỏi
chảy nước mắt… Đồng bào Phật tử ở đó họ nhầm tôi là Thầy Thiên Ân
nên họ xôn xao hỏi: “Chú Thiên Ân về hồi nào?” vì thầy Thiên Ân
đang đi du học mà màu da và bộ dạng của tôi hơi giống thầy Thiên
Ân…Tối đó làm lễ xong, Ôn thiện Siêu giới thiệu cho tôi giảng với
đề tài Tứ Đẳng tâm, được đồng bào Phật tử chăm chú nghe (có lẽ do
cái giọng khác lạ, Bình Định của tôi). Sau đó họ khen đến tai Ôn
Thiện Siêu. Để khích lệ, Ôn có cho tôi biết điều nầy…
Lần thứ hai, Ôn dẫn tôi xuống Túy Vân để giảng.
Phải đi thuyền mới đến Túy Vân. Tôi cảm thấy chuyến đi này thú vị
không kém chuyến đi trước. Tôi trang bị tư tưởng để khỏi xúc động
như chuyến đi An Truyền. Lạy Phật, điều này đã không xảy ra! Tối
đó, làm lễ xong, Ôn Thiện Siêu nói vài lời rồi giới thiệu để tôi
giảng. Đề tài hôm đó tôi giảng là “Tứ Nhiếp Pháp”. Tôi nói thao
thao bất tuyệt, rồi tôi ngon miệng đem phối hợp với “phương pháp
tam cùng” (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm). Đồng bào Phật tử vỗ tay
hoan hô nhiệt liệt. Giảng xong tôi vô Phương trượng, chào Ôn Thiện
Siêu, Ôn có vẻ buồn và nói: “Đổng Minh giảng kiểu này, không biết
ngày mai có về được đến Từ Đàm hay không”! Tôi nhớ lại trước đó,
chú Kim Phú, đệ tử của Ôn, nói động thời sự sao đó, bị chính quyền
ông Diệm bắt nhốt nơi Chín Hầm chưa được tha, không biết sống chết
như thế nào. Tôi niệm Phật Quan Âm suốt đêm đó, không giám ngủ,
cầu nguyện sao cho đừng có chuyện gì xảy ra trong chuyến đi nầy…
lạy Phật, sáng ngày mai về đến chùa Từ Đàm tôi nhẹ nhỏm cả người.
Tôi đem câu chuyện nầy kể lại cho bác Trợ Luyến nghe. Bác cười và
nói “Túy Vân là chỗ đồng bào Phật tử, một số là Cộng sản quả, còn
hầu hết là Cộng sản hướng, Thầy giảng như thế họ vỗ tay hoan hô
nhiệt liệt là phải”. Tôi hú hồn hú vía! Từ đó về sau Ôn Thiện Siêu
không dẫn tôi đi giảng nũa. Mô Phật ! Đây là một bài học thấm thía
cho đời tôi.
Lạy Ôn! Con xin sám hối, do con lỡ dại vì không
biết nên đã làm cho Ôn lo trong chuyến đi Túy Vân trước đây 46
năm!
Khấu
thủ
HÒA THƯỢNG LÀ NGỌN HẢI ĐĂNG
Tỳ kheo THÍCH THIỆN BÌNH
Hòa thượng Thích Thiện Siêu là Pháp huynh, là
ân sư, cũng là hải đăng của đời tôi trên bước đường tu học và
phụng sự Đạo Pháp.
Năm 1964 tôi được Giáo hội đề cử về phụ trách
Phật sự tại tỉnh Quảng Trị. Đây là tỉnh địa đầu giới tuyến, bất an
và khó khăn về mọi mặt.
Sau năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống
nhất được thành lập, mọi Phật sự tại các tỉnh, thành đều thực thị
theo Hiến chương của Giáo hội. Về đây vị tiền nhiện đã ra đi từ
lâu, với trách nhiệm tôi phải có kế họach tổ chức lại từ đầu.
Nhưng với phong tục, tập quán và tánh chất địa phương nơi đây
không giản đơn. Cũng may là tôi đã đảm trách Phật sự một vài nơi
và khi ở Báo Quốc tôi đã có một vài lần ra diễn giảng tại đây, nên
đã có sự quen biết và học hỏi được một ít phong tục và tập quán.
Với tỉnh địa đầu bất an, khó khăn với trọng trách phải gánh vác,
có những lúc tôi cảm thấy mình gần như bị bế tắc. Những lúc như
thế tôi lại vào chùa Từ Đàm gặp Hòa thượng để trình bày và xin
được chỉ dạy. Đối diện với Hòa thượng, với dáng điệu hiền hòa,
hiền trí và trầm lặng của Ngài đã khôi phục lại cho tôi một nguồn
sinh lực, đạo tâm đã bị hao hụt.
Hòa thượng dạy: “Tôi cũng đã gánh vác Phật
sự khi tuổi còn nhỏ như các Thầy, nên tôi cũng có những sự khó
khăn nầy. Năm 26 tuổi, tôi đã nhận chức vụ Trú trì Tổ đình Từ Đàm.
Năm 30 tuổi tôi được bầu làm Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo
tỉnh Thừa Thiên. Các Thầy ra làm việc phải giữ cho được “Đức
Hạnh”. “Lễ Độ”, gần gũi với các vị xuất gia, Phật tử có đạo tâm,
thiện chí với đạo để học hỏi, để được góp ý trong các Phật sự,
không được tự cao, không nên tùy tiện, đừng để địa vị, quyền lợi
chi phối trong ý nghĩa và việc làm dù nhỏ hay lớn. Nếu các Thầy
thực hiện được như thế, tôi tin các Thầy sẽ vững vàng vượt qua
được những sự khó khăn”.
Noi vào gương sáng, sự hướng dẫn chỉ dạy của
Hòa thượng, tuy có nhiều khó khăn trong sự sống và điều hành,
nhưng tôi đã vượt qua được trở ngại, khó khăn trong những năm đảm
trách Phật sự tại đây.
Năm 1968, vì nhu cầu Phật sự tại Khánh Hòa,
với sự nhất trí của Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích
Trí Nghiêm, Giáo hội bổ nhiệm tôi làm Chánh Đại diện Tỉnh hội Phật
giáo tỉnh Khánh Hòa, thay thế cho Hòa thượng Thích Trí Nghiệm vì
tuổi cao sức yếu.
Trước khi vào Khánh Hòa, tôi đã vào đảnh lễ Bổn
sư và đến hầu Hòa thượng để được sự chỉ dạy. Cũng với dáng điệu
hiền hòa, Hòa thượng đã tâm tình chỉ dạy: “Quảng Trị có cái khó
khăn của Quảng Trị, Khánh Hòa có cái khó khăn của Khánh Hòa, tôi
nghĩ với kinh nghiệm những năm qua, Thầy hãy tùy theo đó để thực
hiện Phật sự của mình, đừng phụ lòng quí Hòa thượng trong ấy”.
Khánh Hòa có cái khó khăn của Khánh Hòa. Vào
đây ngoài công việc của Tỉnh hội, Hòa thượng Trí Thủ còn dạy tôi
đảm nhận thêm thư ký cho Phật học viện Hải Đức để cùng quí Thầy lo
cho cơ sở Giáo dục Phật giáo miền Trung nầy.
Năm 1973, Hòa thượng được bổ nhiệm làm viện
trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức – Nha Trang, tôi cũng được
đề cử làm Tổng thư ký của Viện.
Năm 1982-1988 Hòa thượng được cung thỉnh làm
Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, tôi cũng được
đề cử làm Phó Ban Thường trực để giúp Ngài điều hành Phật sự của
Tỉnh hội. Hòa thượng thường nhắc nhủ chúng tôi: “Tôi bận dạy dỗ
bên Viện, việc Hội các Thầy cố gắng lo cho. Các Thầy nên nhớ: Việc
quản lý chúng Tăng trong một cái Viện, hay việc điều hành Phật
sự của một Tỉnh hội không phải dễ đâu. Vì chúng ta không điều hành
bằng giáo quyền, không bằng danh, bằng tiền mà chỉ có giải thích
thuyết phục. Vì vậy các Thầy phải kiên nhẫn, mọi Phật sự lớn nhỏ
phải bàn bạc với nhau cho kỹ rồi sẽ thực hiện. Phải lắng nghe,
không nên tùy tiện, phải đeo đuổi mục đích, không nên đánh trống
quăng dùi trước khó khăn, nếu cần sẽ góp ý cùng quí Thầy”.
Trong những năm Hòa thượng vào thường trú tại
Hải Đức và Long Sơn, nhất là năm 1997 với sự bất bình thường đã
xảy đến với Hòa thượng tại Huế, với hoàn cảnh như thế Hòa thượng
vẫn thản nhiên, nhẫn nhục kiên trì trong công việc. Vào Nha Trang,
Ngài vẫn bình thản, chuyên chú dịch thuật hoàn thành tập Thành Duy
thức luận và bước đầu chuẩn bị cho việc phiên dịch tập I bộ Trí Độ
luận (Bộ Trí độ luận có 5 tập, trên 4000 trang. Hòa thượng đã kiên
trì qua bốn năm (1997-2001) sự phiên dịch mới hoàn thành).
Được gần gũi và chỉ dạy của Hòa thượng, với trí
đức, giới hạnh của Ngài là ngọn hải đăng để tôi vuợt qua những cơn
bão táp trên bước đường tu học và phụng sự Đạo pháp.
Ngày nay, tuy Hòa thượng đã viên tịch nhưng
hình ảnh, lời dạy của Ngài luôn hiển bày trước mắt và khắc sâu vào
trong lòng tôi.
Hòa thượng là ngọn hải đăng của đời tôi trên
bước đường tu học và phụng sự Đạo pháp.
Nha Trang, Xuân Nhâm Ngọ -
2002
THI ĐIẾU
(của Hệ phái Nam tông Việt
Nam đọc trước Giác linh cố Trưởng lão Hòa thượng
Thích Thiện Siêu)
Hỡi ôi!
Sinh tử đốm hoa
Trăm năm như ánh chop
Cõi trần thế sát na tan
hợp
Lẽ vô thường ai kham
nối sắc, không?
Một đời nghiêm tu,
Mặt nhật tuệ hồng,
Bỗng chốc thoáng khuất
chìm non lặng!
Rừng chiều sơn môn,
Đổ dài nghiêng bóng,
Cõi thiền lâm thưa thớt
bá tùng ôi!
Trưởng lão ra đi,
Sông nước bồi hồi,
Sương rũ ba ngàn thu lệ
xám!
Bậc Sa môn buông tay
rỗng lặng,
Đễ lại cho đời muôn vạn
tiếc thương!
Nhớ Giác Linh Xưa
Tịch mịch con đường,
Đêm vắng lặng đốt đèn
soi chữ!
Vạn quyển trăm kinh
nghiên tầm ngữ nghĩa,
Thương Tăng đồ hậu tấn
lớp măng non,
Đâu quản gian lao sương
tuyết cao sơn,
Đâu ngại khó khăn,
Mở Đại học,
Giáo dục Tăng, Ni,
Kế thừa ân di giáo!
Thuyền lục độ xá gì
dông bão,
Bỏ ngoài tai tám pháp
thế gian!
Phong lai sơ trúc,
Phong khứ nhi trúc bất
lưu thanh!
Nhạn quá hán đàm,
Nhạn khứ nhi đà vô ảnh
hiện!
Vì vậy cho nên,
Việc đến tùy nghi tiếp
diện,
Việc đi rồi tâm để rỗng
rang!
Sương khói mông lung,
Ai hiểu Con Đàng!
Bậc Đại Trí giữa đời,
Như ngôi sao đêm đông
giá lạnh!
Chân vững bước uy nghi
giáo hạnh,
Mặc thế tình cát bụi mù
sa!
Yêu non sông, tổ quốc,
quê nhà,
Yêu Phật giáo,
Con thuyền thiếu bàn
tay đại trương!
Gánh Phật sự trên vai,
Dẫu nhẹ nhàng không
trọng lượng,
Vì đại bi,
Mà cũng vì đại nguyện,
Đuốc ngũ minh thắp sáng
nhiều đêm!
Thiện xảo cơ duyên,
Vô ngại chợ triền,
Tâm Bồ-tát đóa hoa tinh
khiết!
Nào thị, nào phi,
Pháp trần sinh diệt!
Quyết chí vì đời khoác
áo Như Lai!
Phố thị, non xanh,
Thanh thản đạo hài!
Nhặt lá rụng,
Viết bài thơ Linh Sơn
tuyệt diễm!
Bây giờ Trưởng lão
ra đi!
Dường như đã hoàn
thành sự nghiệp!
Nền mong xây rồi,
Chờ hậu duệ tiếp tay!
Mưa gió qua đi,
Trăng vẫn sáng non Tây!
Gót xuất thế,
Giữa chân không,
Muôn đời còn hiển hiện!
Cánh vạc vàng ôi!
Mây lạnh mười phương,
Cung nghinh đưa tiễn,
Cõi vô sanh,
Hoa trắng dặm hàng!
Vô lượng đạo tình
Tich mặc vô ngôn!
Mong Giác linh thậm
trí, chứng hiểu!
Vô vàn trân trọng.
Hệ phái Nam Tông
Việt Nam
Kính điếu.
THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM CỐ HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT
NAM TẠI HUẾ
Tỳ Kheo THÍCH CHƠN THIỆN
Vậy là sắp đến ngày Tiểu tường
cố Hòa thượng. Thời gian đi qua nhanh quá, nhanh đến nỗi cảm giác
trống vắng trong ngày Hòa thượng viên tịch chưa
kịp tan đi chút nào!
Đạo tình mà sinh tiền Hòa thượng đã dành cho
Học viện thì vô cùng. Lòng ái kính Hòa thượng của quý vị Giáo thọ
và Tăng, Ni sinh Học viện thì chi xiết kể, làm sao những dòng
tưởng niệm với ngôn từ hạn chế có thể chuyên chở được? Đạo tình và
lòng ái kính ấy chỉ dành riêng cho chiêm ngưỡng, phải chăng?
Hôm ấy, bài Điếu văn của Ban Trị Sự Tỉnh hội
Phật giáo tỉnh Thừa Thiên – Huế, Học viện Phật giáo Việt Nam tại
Huế và Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên – Huế như đã nói lên
những dòng tâm tư chân thật của Ban điều hành Học viện. Học viện
đã, đang và sẽ tiến hành các Phật sự giáo dục như là đang thực
hiện những lời chỉ giáo của Hòa thượng, những lời chỉ giáo luôn
đem lại sự khích lệ và niềm tin phát triển.
Năm nay kỉ niệm ngày Hòa thượng viên tịch; năm
sau, năm tiếp theo và năm sau nữa,… lễ vật ý nghĩa nhất của Học
viện để dâng lên Hòa thượng chỉ có thể là thành quả của dạy tốt,
học tốt và tổ chức điều hành tốt, bởi đó là những gì Hòa thượng
mong chờ lúc sinh tiền. Đấy cũng là hình thức mà toàn thể Học viện
biểu hiện lòng kính nhớ Hòa thượng, mãi mãi kính nhớ.
Phần con
cũng thế!
Kính lễ
TƯỞNG NIỆM
GIÁC LINH HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Hòa thượng THÍCH TRÍ TÂM
Trưởng lão Hòa thượng
Thích Thiện Siêu là bậc Danh Tăng, trí đức song toàn, đã trọn đời hiến
dâng cho Đạo Pháp, nên không thể dùng lời lẽ mà diễn tả hết được.
Con xin đầu thành đảnh lễ,
cầu nguyện Giác linh Hòa thượng Cao đăng Phật quốc, đồng thời nguyện noi
gương của Ngài mà đem hết tâm lực đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào
công việc Hoằng dương Chánh pháp. Đến đây con có vài lời tưởng niệm Giác
linh:
Thiện duyên
hoằng đạo: Bắc, Trung, Nam
Siêu nhân trụ xứ tại Từ
Đàm.
---o0o---
[Mục lục
] [ 1 ] [
2 ] [ 3] [
4
] [ 5] [
6]
---o0o---
Đánh máy vi tính: Bích Ty - Huyền Phi; Sửa lỗi: Hải
Hạnh
Trình bày: Nhị Tường - Nhân Văn
Cập nhập ngày 01-10-2004