|
''NHỚ CHÙA''
MỘT CHỮ
''THIỆN'' VÔ BỜ!
Ngọc
Thiên Hoa
http://www.ngocthienhoa.info/
NHỚ CHÙA
(Một trong những bài thơ bất hủ
của cố HT Mãn Giác)
Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình
Tối đến dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gởi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông
( Thơ của HT Mãn Giác, sáng tác 1949)
I. Khổ thơ đầu: Nỗi lòng
người xuất gia.
Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa
Phật pháp vô biên.
Lời thơ hướng
Phật với người
hữu duyên thì ''tương
đắc, tương tri''. Thi nhân hướng
về ''Bát nhã ba la mật'' thì thi nhân thành ''Nhân-
Thi'' -Người làm thơ
mang sắc diện nhân bản! Không lãng mạn. Không tràn giang.
Không tô sắc. Không vẽ vời!
Bãn ngã nhân sinh bộc phát từ lúc
tóc còn xanh. Duyên nhà Phật căn nguyên đã có từ
thuở còn xanh tóc! Sóng không có
gió làm sao thành cơn bão tố. Tâm
không có thiện làm sao lòng phát tâm lành!
''Nhớ chùa'' của HT Thích
Mãn Giác chỉ có thể được nhìn từ
góc độ: Sắc sắc, không không với
chữ ''Thiện'' vô bờ
đó!
''Người
đi, ta nhớ
con đò. Người
về ta nhớ
câu hò quê hương''.
Quê hương
của thi ca lãng mạn thiên về trữ
tình qua ẩn dụ tu từ.
Quê hương
của thi ca của sân Phật, cửa
Chùa chỉ có chùa chiền và tiếng chuông chùa với
lời kinh kệ
ngày hai buổi! Không lãng mạn. Kinh Phật dạy chúng sinh
nên hướng
tâm về với
điều lành. Thi ca Phật đưa
người về với
quê hương
bằng tâm lành của Phật!
Tuổi xanh của Võ Viết Tín đã gắn liền với
ngôi chùa quê hương.
Chất thơ bộc
lộ cũng thắm đầy tình yêu quê hương
với ngôi
chùa đầy kỷ niệm ở
đoạn thơ đầu
của bài ''Nhớ
chùa'':
Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Hai câu đầu là một khái niệm
về cuộc đời:
''Chuyện hơn
thua''.
Ở đời,
con người
sinh ra đã có sẵn những
''Tham. Sân. Si''. Đó là cội nguồn của tội lỗi! Hơn
thua về tài sắc. Hơn
thua về tiếng tăm. Hơn
thua về lời
lẽ. Hơn
thua về thế thời!
Người buôn
bán hơn
thua mà sinh lời.
Kẻ cuồng tâm hơn
thua mà có chức.
Lòng từ bi
chẳng hề có chữ
''hơn thua''.
Vậy là lòng bình lặng. Thế là tâm không sóng quấy! Nhưng
người hiểu
chữ ''Nhịn''
thì ít mà kẻ mù chữ
''Nhường''
thì nhiều. ''Đa tri thức
bất đoan tâm'' ắt thành Tâm
ác!
Trần Huyền Trang tiền kiếp là đứa
bé mồ côi Trần Vỹ (Trần Huy) thả con cá ra sông vì lòng
có chữ ''xót'':
Là xót vật, xót người!
Vật- Người
cũng là một sinh mạng. Người
cần không khí. Cá cần nước.
Người biết
xót. Cá há chẳng biết đau! Quyền sống của cây cỏ thực
vật, động vật cũng là ngang nhau. Tại sao người
ta mang chữ
''sát'' mà giết tận, giết tiệt? Phạm vào ''Duy thức''
của đời
mất rồi!
Hiểu thấu cội nguồn của chữ
''Duy Thức'',
Viết Tín chẳng còn là cậu bé họ Võ mà trở
thành Tỳ Kheo Mãn Giác. Trần Vỹ xuất gia lúc tuổi mười
ba. Viết Tín vào cửa
Phật năm mười
sáu. Trần Vỹ thụ giới
năm hai mươi
mốt tuổi, Viết Tín thành Tỳ Kheo Mãn Giác năm hai mươi!
Trước sau
gì họ cũng gặp nhau ở
chữ ''Phật''
với tâm
lành.
Nhưng
con người
làm sao thoát được
những cạm
bẫy cuộc đời
phủ vây cùng sinh và cùng diệt thì người
xuất gia cũng nào có thoát khỏi những
sợi dây
ràng buộc cần phải có mới
tồn tại: Là quê hương!
Người đi
tu vất bỏ ''Thất tình lục dục''. Thái tử
Tất Đạt Đa đã từ
bỏ hoàng cung, từ
bỏ vợ con
để tu thành chánh quả. Cái chánh quả của Thích Ca còn
nhiều chuyện cần bàn nhưng
rõ ràng, Tỳ Kheo Mãn Giác đã không từ
bỏ quê hương.
Không có quê hương
thì làm sao có mái chùa cho người
tu hành để qua cái ải ''Luân hồi'', ''Giải thoát''
trước
khi nhập cõi ''Niết bàn''?
Và như
vậy, niềm ''xao xuyến'' của Tỳ Kheo chính là cái
xao xuyến ''động'' mà ''tĩnh''. Người
không biết xao xuyến thì sao gọi là Người.
Phật chẳng chút biết xót xa thì sao gọi là Phật!
Đoạn đầu đã nhá lên hào quang của trí tuệ
''Tam thế Phật'' chính là trí tuệ của quá khứ,
hiện tại và tương
lai!. Mối quan hệ dắt dây này chính là một chữ
''Yêu''. Yêu quê hương
vì nơi đó
là nơi ta
đã được
sinh ra, đã nuôi ta lớn
khôn và đưa
ta vào chốn thanh tịnh để đại độ chúng sinh!
Đáng phục thay cho một trái tim hiền diu
đập cùng với
nhân loài! Hài hòa như
một lời
kinh cầu và ước
mơ chân
thiện mỹ:
Trong tôi bừng
dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ
về lại cảnh xưa
''Cảnh xưa''
của vị Tỳ Kheo hai mươi
tuổi đang ''xao xuyến mơ''
là những
gì?
II. Sáu đoạn tiếp theo:
Giải đáp về hồi
ức của người
mang tâm Phật:
1. Hai khổ thơ
thứ ba và
bốn:
Miêu tả cảnh chùa qua hồi
ức ''cảnh xưa'':
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười
Tỳ Kheo Mãn Giác đã vẽ nên bức
tranh làng quê qua hồi ức.
Làng quê của thi nhân trẻ tuổi này cũng như
làng quê của những
tâm hồn lai láng văn chương
mà Quảng Thông trong ''Tiếng chuông chùa''- Tập
san nghiên cứu
Phật học đã xuống bút:
''Dù trăm năm ai quên lũy tre làng
Dù ngàn năm ai quên tiếng mẹ ru.
Lũy tre làng, lời mẹ ru, dù người ta
có thể quên, quên vì sự lãng quên, quên trong những cuộc
rong ruỗi kiếm tìm trong cuộc đời. Nhưng âm hưởng của
lời ru, hình ảnh lũy tre làng sẽ còn mãi đó trong lòng
người. Đó là những hình ảnh êm đềm, nhẹ nhàng sau những
tháng năm miệt mài lao đao''.
Âm hưởng
''Lũy tre làng, lời
mẹ ru... êm đềm, nhẹ nhàng''
đó đã theo chân Huyền Không khoắc khoải nhịp bước
quay về nơi
cố hương với
ngôi chùa ''ngập nắng vàng''. Màu nắng của trí
tuệ Phật học và màu sắc nhiệm màu thiên biến vạn hóa của
thế giới
tâm linh.
Quá khứ
làng quê của Huyền Không trước
năm 1949 cũng dần dần hiện lên hiền hòa, giản dị trong
thơ với
''con đường
đỏ'', ''hàng tre'', ''cây mai''
. Những
cảnh vật này chẳng vô hồn mà chúng như
có cảm xúc. Thứ
cảm xúc được
truyền từ
người hồi
ức hiền
lành: ''Có con đường
đỏ chạy lang thang...''. Đường
được nhân
cách hóa qua con người.
Con đường
đến chính Đạo cũng thế: Lang thang...lang thang
mãi...mới
tìm được
bến bờ.
Ta bắt gặp ''hàng tre''- biểu tượng
mềm mại mà mạnh mẽ của đất nước
''gợi
hồn sông núi''. Và bỗng
nhiên, thi nhân trẻ này cũng hòa nhập vào vườn
thơ ca
nhân loại yêu quê hương
không phải chỉ qua ''từng
trang sách vở''
như
Giang Nam mà còn phải mở
đôi mắt, lấy trái tim của trí tuệ ''tâm tâm thức''
mà nhìn...
Quê hương
của Tế Hanh trong ''Nhớ
con sông quê hương''
xanh mướt
''nước
gương
trong soi tóc những
hàng tre''. Tre của Tế Hanh
là tre của tuổi xanh mềm mại như
từng tiếng
hát ngọt thầm. Còn ''Làng tôi'' của Chung
Quân thì dạt dào thơ
mộng:
Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam.
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng tre ru bên mấy hàng cau.
Đồng quê mơ màng!
Khúc ca đồng quê với
lũy tre xanh còn có Nguyễn Duy trong ''Tre Việt
Nam'':
Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh...
Và ''Cây tre Việt Nam'' của Thép Mới
hiên ngang trên trận tuyến chống thù! Mượn
tre nhớ
quê hương.
Nhờ tre nhớ
thôn làng. Tre là chất liệu không bao giờ
cạn kiệt trong thi ca và văn học cũng như
là chứng
nhân lịch sử
Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc hay hóa thân vào cổ tích
răng đời với
''cây tre trăm đốt''. Tre cũng là chất nhạc êm
đềm trong lòng người
nhạc sĩ: ''Làng tôi'' của Văn Cao là làng quê
xanh bóng tre nhưng
nhiều đau thương
vì giặc giã:
Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều,
tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu bóng cau với con thuyền,
một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng
triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống
tan hoang...
Nhưng
tiếng chuông của Văn Cao là tiếng chuông nhà thờ
ngân lên thành những
nốt nhạc. Tiếng chuông của Mãn Giác là tiếng chuông chùa
ngân nga từ
bãn ngã nhân sinh. Hai tiếng chuông hai sắc áo Đạo đời!
Khác nhau ở
tôn chỉ và mục đích thì đối nghịch nhau ngàn đời!
Người
thơ nói
chuyện thơ.
Người văn
viết chuyện văn. Người
nhạc ca lời
nhạc. Người
võ thuật múa quyền võ thuật: Tre quê hương,
tre làng quê đã thành một thứ
tre ''cương
nhu phối triển'' trong Võ sư
Nguyễn Văn Sen (vovinamus.com):
''Nếu vòng đạo thể trên huy hiệu là biểu tượng cho
nguyên lý cương nhu phối triển về phần siêu nhiên để
giải lý vũ trụ, thì cây tre lại là biểu tượng và thực
thể chiêm nghiệm về nhân sinh quan của môn phái VOVINAM
VIỆT VÕ ÐẠO.
Nói cách khác, nghiên cứu cây tre là
nghiên cứu một yếu tính sống, một quần thể sống để từ đó
định hướng cho một cuộc sống của người môn sinh VOVINAM
VIỆT VÕ ÐẠO: sống hiến ích, giúp ích người khác sống và
sống cho người khác.
CÂY TRE là một hình ảnh thân quen mộc
mạc trong sinh hoạt dân gian Việt Nam. Tre tuy thanh
mãnh song gai góc, cường kiện, mang phẩm tính cương nhu
và nhiều đặc tính đa năng đa dụng trong đời sống xã
hội''.
Nhưng
tre nhà Phật mới
là thứ tre
tổng hợp
của văn, thơ,
nhạc, họa và võ thuật...bởi
vì tre của Mãn Giác đã ''gợi''
được
cái ''hồn dân tộc'' mà Vũ Đình Liên xót xa:
''Những
người muôn
năm cũ. Hồn ở
đâu bây giờ?''.
Vậy thì cái ''đắc'' của từ
''gợi
hồn dân tộc'' của thi
nhân Tỳ Kheo Mãn Giác chính là chỗ tóm hết được
những chấm
phá, những
ý tưởng
tuyệt vời
về đất nước,
quê hương,
làng xóm.
Hồi ức
là những
trang quay lại bằng tâm tưởng,
là sự nhắm
mắt của cõi lòng lắng động trong Mãn Giác.
Nhắm mắt không
tìm về ''một thoáng hương
xưa''
như
Phạm Đình Chương
mà nhắm mắt là để mở
lòng. Tâm có Tịnh thì lòng mới
Thông. Đấy chính là nhãn quang của người
tu hành. Quê hương
năm 1949 sau khi Việt Minh cướp
chính quyền thắng lợi,
lập nên Việt Nam dân chủ cộng hòa thì vẫn còn lắm cái
nghèo: Đói nghèo của trước
đó hai triệu đồng bào chết đói năm 1945. Đói nghèo của sự
tồn sinh và đói nghèo trí tuệ. Nhưng,
cái nhìn của Mãn Giác thưở
hai mươi
đã không chìm vào những
hiện thực
đọa đày. Người
tâm Phật đã nhìn thấy sự
biến thiên qua từng
cảnh vật thiên nhiên: Thiên nhiên vẫn là hồn nhiên, chân
chất và cái chính là sự
bất tử của
chúng: Người
tu hành đắc đ0ạo không hề thấy chữ
''Tàn''. Thiên nhiên cây cỏ, cảnh vật không có chữ
''Tử''.
Sinh-Tử
chỉ là phù du. ''Dục cùng sanh tử
thọ. Khuất hóa độ xuân thu''.
Phải chăng là ý niệm của người
tâm Phật muốn thoát khỏi nẻo luân hồi thì chỉ còn cách
hóa thân vào thiên nhiên với
bốn mùa mưa
nắng đi về?
Mái chùa của Mãn Giác thời
niên thiếu cũng lặng lẽ theo thời
cuộc: ''Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng'' . Sự
''im lặng'' của một chữ
''Thiền'' có những
biểu tượng
tinh khiết, thanh cao của cây Tùng, cây Bách, cây Mai mà
Nguyễn Trãi đã ví lòng. Chúng mãi ''mãi xanh tươi',
''sống trọn đời''
với
''hồn sông núi''. Giá trị của hai từ
''Bất tử''
chính là ở
đây. Và chữ
''Từ Bi''
cũng chỉ có ở
nơi không
thanh tịnh mà thanh tịnh vì lòng thanh tịnh tức
tâm thanh! Câu chữ
hồi ức
cũng chạy về dưới
chân ''đức
Phật từ bi
miệng mỉm cười''.
Sự
hài hòa cảnh sắc với
từ tâm
chính là cái bãn ngã mà con người
cần đạt tới
để xua tan nỗi đau, chạy qua khó nghèo và làm giàu tri
thức. Một
sự ngộ
giác đáng cho người
ta ngưỡng
mộ!
Vượt
lên sự ngộ
giác hòa nhập với
thế giới
cỏ cây thì thực
tại vẫn là niềm thương
nhớ vô
biên, khởi
nguyên của căn duyên nhà Phật: Nhớ
chùa!
2. Bốn đoạn thơ
tiếp theo:
Tấm lòng hiền lương
hướng
Phật:
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình
Tối đến dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
Ta nghe như
trong tiếng chuông chùa có hình ảnh những
con người
nhà quê lam lũ với
cuộc sống ''sắn ngô gạo bắp'' và tâm thức
hiền lương
không có chữ
''Hơn
Thua'' tranh quyền, đoạt lợi.
Khi con người
có được
cõi lòng thanh tịnh, liêm khiết như
thế thì đi đâu cũng có quê hương,
ở đâu cũng
có chữ
Phật. Ngày thì có chữ
''Nhàn''. Đêm thì được
chữ
''An''. Cuộc đời
không lấy chữ
''đói nghèo'' là huệ lụy! Nhiệm màu thay! Một tiếng kinh
cầu là ngàn lời
giải thoát. Một tràng tụng niệm thay thế khối
ưu tư.
Tâm sinh loạn tất tâm diệt loạn. Lòng nổi giông, lòng
tất diệt giông! Giới
cảnh đạt được
như thế
thì ngàn vàng cũng hóa hư
không, bạc tiền cũng tan theo gió thổi!
Vào cửa
Phật tức
là:
Thân hòa cùng ở,
Miệng hòa không tranh cải,
Ý hòa đồng vui,
Giới luật hòa đồng giữ,
Hiểu biết hòa cùng giải,
Lợi hòa chia đồng.
Vào cửa
Phật chính là quy y Tam Bảo. Đó là: ''Quy y Phật,
không quy y Thiên, Thần, Quỷ, Vật" như
Thích Thanh Từ
(win.org) có giảng: "Quy y Pháp, không quy y ngoại
đạo tà giáo". "Quy y Tăng, không quy y bạn
dữ nhóm ác". Chúng ta đã chọn lựa những vị
hiền đức nương theo, khiến đời mình về gần với đức hạnh.
Bạn dữ nhóm ác đối với người biết đạo cần phải tránh xa.
Bởi vì "gần mực thì đen gần đèn thì sáng" hay "gần đồ
tanh hôi mình bị hôi lây, gần vật thơm tho mình được
thơm lây". Vì thế chúng ta phải can đảm đi đúng đường
của mình đã chọn, dù có bị khinh khi mạ lỵ, ta cũng cứ
thế mà đi. Bởi vì chúng ta đâu phải là kẻ mù quáng, mà
đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẵng định lập trường rõ
ràng là người có ý chí cương quyết. Nếu người tu hành mà
thiếu ý chí nầy, dễ bị gió lung lay''.
Người học Phật là người
biết kinh Phật. Phật tử không thể
thiếu lời ''Kinh''.
Tỳ Kheo không lặng thinh chữ
''Kệ''. Chùa chiền không thể vắng hồi
chuông. Lời cầu nguyện làm sao
quên tiếng mõ? Cho nên, chuông mõ là biểu tượng
của chốn tu hành thanh tịnh và là nơi
dung chứa những
kẻ bỏ đồ đao, lập tâm thành Phật hay là nơi
mở lòng cho Lan chôn cành Lan,
cho Điệp vùi xác Bướm! Thế nhưng:
Tâm có oan nghiệt thì dù có ở
chùa nào thì lòng cũng tâm động cảnh trần gian!
Ở nơi đâu
cũng sầu tình lục dục! Ấy mới là
khổ đau của nhân thế! Mượn hồi
chuông, muợn tiếng mõ để quên đời
là ý này!
Trong ''Nghi thức chuông mõ''
(win.net), Phúc Trung có cắt nghĩa: ''Chuông luôn
luôn ở bên tay trái của tượng
Phật hay Bồ Tát, mõ bên tay phải. Nguời thỉnh chuông gọi
là Duy na, người gõ mõ gọi là Duyệt chúng. Tiếng chuông
phát ra âm thanh lắng động, đêm khuya nghe tiếng chuông
lòng chúng ta sẽ lắng động, thanh thản, phiền não dường
như tiêu tan. Bài kệ đọc khi nghe có tiếng chuông:
Văn chung thinh phiền não khinh,
Trí huệ trưởng Bồ đề sanh,
Ly Ðịa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật độ. chúng sanh
Án Dà Ra Ðế Da Ta Bà Ha (3 lần)
(Nghĩa là: Nguyện cho tiếng chuông nầy vang khắp nơi,
ở Ðịa ngục u ám Thiết vi cũng được nghe, ở trần thế được
thanh tịnh chứng quả, hết thảy chúng sanh đều thành bực
chánh giác và bài kệ sau: Nghe tiếng chuông, phiền não
nhẹ đi, trí tuệ tăng trưởng thêm, sanh tâm Bồ đề, rời
khỏi địa ngục, không bị lửa địa ngục thiêu đốt, nguyện
thành Phật để độ hết chúng sanh.)...Cho nên tiếng chuông
rất quan trọng, lại nữa trong khi tụng kinh, tiếng
chuông báo hiệu cho người dự được biết sắp chuyển qua
niệm danh hiệu khác, sắp hết một bài kinh hay kệ, bắt
đâu lạy xuống cũng như khi đứng lên được nhịp nhàng.
Thỉnh thoảng trong bài kinh dài có thỉnh chuông để cho
người dự tĩnh thức trong lúc tụng kinh.''
Và ta hiểu vì sao Nguyễn Du trong truyện Kiều đã đem
tiếng chuông chuyển thành ''tiếng chày nện sương''
buồn thê thiết:
Sớm khuya lá bối phiến mây
Ngọn đèn khiêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Nhưng nhà thơ
vĩ đại đã để cho Thúy Kiều vào chùa tu hành mà chẳng thể
nào đắc đạo chính vì Kiều tâm không yên, không thể tĩnh
như Thiền sư
Nhất Hạnh trong ''Pháp môn thực
tập, langmai.org):
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe!
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm
Với Mãn Giác, vị thi nhân tuổi
trẻ này cũng trải qua thử thách
của sự nhận thức
bằng tâm. Nhưng hồi
ức rồi cũng qua. Thực
tại mới nằm lại. Chúng gậm nhấm
tâm hồn thi nhân. Kỷ niệm có đong đầy thì hiện tại mới
thương vay. Khổ vậy đó. Ta hãy
xem, thi nhân Huyền Không đã biến giải nỗi lòng này như
thế nào qua hai đoạn thơ cuối
cùng?
III. Hai đoạn cuối:
Niềm ray rứt và mơ
ước an lành:
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gửi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông
Lòng khoắc khoải với tiếng
chuông chùa vọng mãi thành nỗi ''nhớ
lạ lùng''. Hiện thực trước
mắt của thi nhân vẫn là: Xa quê, xa làng, xa chùa. Cảnh
đất nước trong giai đoạn chung
của lịch sử vẫn còn ''tang thương''
trong điển tích ''Tang điền thương
hải'' (ruộng nương hóa biển
xanh). Quách Tấn tác giả ''Xứ
trầm hương'' nổi tiềng cũng
có bài ''Nhớ chùa'':
Nhớ chùa lòng muốn lên thăm
Sườn non đã dốc, đá dăm lại nhiều
Lắng tai nghe tiếng chuông chiều
Mặt hồ lắng sóng, mây điều bay qua
Nhớ chùa của Quách Tấn là cái nhớ
khó vượt qua bởi
thiên nhiên tạo: ''Sườn non đã
dốc, đá dăm lại nhiều''. Lòng người
có phải do dự vì ngại núi, e
sông?
Hóa ra, ngôi chùa cũng là nguồn cảm hứng
của thi ca, âm nhạc! Là nơi mà
''hồn dân tộc'' được ''chở
che'' bằng tấm lòng từ bi của
Phật. Và cửa chùa cũng nói
lên được ''nếp sống muôn đời
của tổ tông''. Đó là sự khẳng
định Phật giáo đã có nguồn gốc từ
Trung Hoa qua giáo phái ''Đại tông'' và Phật giáo Việt
Nam đã hơn mấy nghìn năm trải qua
bao thăng trầm vẫn tiếp tục thể hiện sức
sống mãnh liệt của nó. Kinh Bắc là cái nôi của nhà
Phật. Chùa Một Cột biểu tượng của
một nền Phật giáo chính thống Việt Nam song song cùng
Nho Giáo trước khi Thiên chúa
giáo nhập nội! Những ngôi chùa
nghìn năm cổ kính đã là chứng
nhân cho ''nếp sống muôn đời
của tổ tông'' với những
câu ca dao, tục ngữ kêu gọi người
ngườ33i thương
yêu nhau: ''Nhiểu điều phủ lấy giá gương.
Người trong một nước
phải thương nhau cùng'' hay
''Thương người
như thề thương
thân'' hoặc ''Bầu ơi thương
lấy bí cùng. Tuy là khác giống nhưng
chung một giàn'' cũng từ cái
nền Phật giáo thấm nhuần tình nhân đạo mà ra. Những
vị vua đời trước
như Lý Công Uẩn đã hết lòng nâng
niu truyền thống văn hóa mang đặc thù màu áo Phật pháp
đầy tình nhân đạo bằng cách lập nhiều chùa chiền và xây
dựng thánh miếu. Vua nhà Trần như
Trần Nhân Tông bỏ cung son, phát nguyện, thụ giới
theo Phật. Đạo Phật ngàn năm trước
đó từ Ấn Độ mà đức
Thích Ca đã sáng lập nên.
''Người Việt Nam đã kế thừa và phát huy được tinh hoa
của nền Phật Giáo Ấn độ, nhưng vẫn mang bản sắc riêng
của dân tộc. Sĩ Nhiếp là bậc hiền tài được nhân dân tôn
trọng như Vua nên được gọi là Sĩ Vương đã thừa nhận điều
nầy:
Nước Nam sông núi dáng thần linh
Văn hiến mở khai dạng Phật kinh
Thánh Mẫu quả nhiên sanh Thánh tử
Mưa lành nhuần tưới giúp dân sinh
(Trích sách đồng)
Những ngôi chùa cùng song song
tồn tại với người
tu hành. Người xa nhà nhớ
nhà. Người ly hương
nhớ quê. Người
tu hành không nhớ chùa thì còn
biết nhớ cái chi?. Chùa chiền
phải có sắc màu huyền diệu, tạo cho người
cảm giác bình yên khiến cho người
cảm thấy thiêng liêng mà cuối đầu thành tâm ngưỡng
mộ.
Ngôi chùa của Chu Mạnh Trinh trong ''Thú Hương
sơn'' xa vời,
kiểu cách quá thể:
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.
Chùa Trong của Nguyễn Nhược Pháp
thì như sang trọng, quý phái:
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu trần thạch nhủ
Ngọc nhuốm hương trầm rơi
(Chùa Hương, Võ Văn Tường,
Huỳnh Như Phương,
win.net)
Thơ của người
tu hành thường ''Không bến
hạn'' lại khô khan nhưng thơ
của Huyền Không thời hai mươi
như ''Mây trắng thong dong''
vẫn có chút ướt át của nắng
ngập vàng, của con đường chạy dài
theo kỷ niệm, của những hàng tre
biết nói và tiếng chuông gợi nhớ
quê hương biến ''không gian
thành chiếc áo'' nhiệm màu. Tràn ngập nắng và
có mùi thơm của trầm hương,
thơ Huyền Không với
bài ''Nhớ chùa'' coi như
cho ta nếm chút ''Hương trần
gian'' khi làm ''Kẻ lữ
hành đơn độc''.
Ngôi chùa của Huyền Không là ngôi chùa nào hay chỉ là
một ngôi chùa trong tâm tưởng?. Mười
tuổi, Viết Tín đã được anh chị
chú bác cho đi học ở chùa Thiên
Minh, Huế. Nhưng ngôi chùa này giờ
đây không biết có còn không? Không mà có. Có mà không.
Cái không nằm trong cái có và cái có lại chẳng hiện thân.
Miễn là trong Huyền Không, ngôi chùa là đỉnh cao của
lòng từ bi, là phát quang của trí
tuệ cứu nhân, độ thế. Còn hay mất?
Tồn tại hay không tồn tại chẳng có gì phân vân...Lòng có
chùa thì chùa ở trong lòng. Tâm
có Phật thì Phật chứng trong tâm.
Tiếng chuông chùa Mãn Giác gợi
cho ta một ''Phong Kiều dạ bạc'' của Trương
Kế bất hủ:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bản dịch hay nhất là bản dịch của Tản Đà Nguyễn Khắc
Hiếu:
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ .
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Tiếng chuông Thiên Mụ hay chuông chùa Hàn San hoặc
chuông Thiên Minh vẫn là những
tiếng chuông báo cho người thức
tỉnh trước thời
gian vang trong không gian buồn man mác...
So sánh về giá trị thẩm mỹ trau chuốt của thi ca, thơ
Huyền Không chỉ mới
ở vòng thực
tập nhưng vượt
lên trên tất cả để tồn tại, để bất hủ, Huyền Không đã
không uổng một kiếp hiến thân cho nhà Phật khi tìm ra
chân lý sống cho đời: Hãy sống
bẳng tấm lòng. Tấm lòng tự nhiên
không cần trâu chuốc vẫn sáng trong như
ngọc, như hoa Ưu
Đàm nghìn năm chỉ nở một lần. Tìm
trong cái Không để cho Có và hoán chuyển cái Có thành
Không mới chính là sự
nhiệm màu của Phập pháp vô biên! Đó là sự
thông minh mà một tôn giáo chính thống, hiện đại cần
phải có như Mahathera Dhammananda
có viết trong ''What is this religion?'': ''Every
man must have a religion and that religion must be one
which will appeal to the intellectual mind''.
Năm mươi tám năm sau, Huyền Không
đã chứng minh cho ta thấy sự
biến hóa diệu kỳ của Phật pháp. Ngài đắc đạo với
hơn ba mươi
lăm tác phẩm để đời mà bài thơ
từ thời
hai mươi này là một trong những
điều kỳ diệu bất tử của Huyền
Không.
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông
Mãn Giác đã...mãn nguyện
khi về với
đời.
Ra đi hay trở
về cũng chỉ là sự
luân hồi của một kiếp con người!
Dù sao đi nữa,
Mãn Giác cũng vẫn là con người.
Xác người
thì phải trả về cát bụi và tâm linh mới
là tồn tại như
''mây trắng thong
dong...''
Tiếng chuông chùa ngân lên.
Nỗi nhớ
chùa trở
về. Mùa thu kết thúc
ở
trên cây không còn bóng lá nhưng
mái chùa ngày xưa
và bây giờ
ở
nơi
đâu của Huyền Không vẫn ngập tràn nắng vàng trí tuệ và
chỗ che chở
cho ''hồn dân tộc'' thoát khỏi kiếp nạn thiên
tai, nhân tai. Lời
kinh cầu nguyện của Người
chắc chắn là như
thế!
''Nhớ
chùa''
bài thơ
thất ngôn, chín khổ, không kiểu cách, mộc mạc như
chân lý hiển nhiên không dấu chấm phẩy như
''con đường
đỏ chạy lang thang...''
và người
đến đích thì hiếm hoi mà kẻ còn nặng nợ
''ngũ giới''
thì còn nhiều. Sự
giác ngộ bằng tâm linh để thương
cha, hiếu mẹ không biết đến bao giờ
mới
hạnh thông!
Mỗi chúng ta có sẵn một mái
chùa. Và song thân ta đấy chính là Phật trong chùa. Tìm
ở
đâu cho xa xôi vời
vợi!
Đó là một chữ
''THIỆN''
vô bờ
mà Huyền Không để lại cho ta!
Nam mô Mãn Giác siêu linh về
miền cực
lạc!
Tháng 10/15/06
Ngọc Thiên
Hoa
(thành tâm hương
bái)
Tư
liệu tham khảo có sử
dụng:
1. ''Nhớ
chùa''. Thơ
HT Mãn Giác (quangduc.com).
2. ''Đường
Huyền Tông'' (vi.vikipedia.org)
3. ''Bước
đầu học Phật'' (Thích
Thanh Từ,
cusi.fee).
4. ''Nhớ
chùa''. Thơ
Quách Tấn
5. ''Chùa Hương''
(Võ Văn Tường,
Huỳnh Như
Phương,
win.net).
6. ''Nghi thức
chuông mõ'' (Phúc
Trung, win.net).
7. ''Tiếng chuông chùa''
(Quảng Thông, Tập san nghiên cứu
Phật học
thuvienhoasen.org).
8. ''Làng tôi'' (Văn
Cao, vietnammusic.com).
9. ''Làng tôi'' (
Chung Quân, vietnammusic.com).
10. ''Cương
nhu phối triển...'' (Nguyễn Văn Sen, vovinam.com).
11. ''Pháp môn thực
tập'' (Nhất Hạnh,
langmai.org).
và một số trang web site có
liên quan datviet.com, asiafanatic.net...
Xin trân trọng cám
ơn.
|