Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Niệm


...... ... .

 


TƯỞNG NIỆM
HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NIỆM

(1937-2003)

P.L.2548-2005

 

----o0o----

 

Phần III-Thơ Văn Tưởng Niệm     

 

 

                                                Khóc Thầy

                                                                                    Diệu Thanh

Còn đâu nữa mỗi lần đưa rước

Rước Thầy về thuyết pháp giảng kinh

Đưa Thầy đi Cali miền nắng ấm

Phật Học Viện là nơi Thầy an trụ

Nuôi Tăng ni để đào tạo lớp sau

In kinh sách để hoằng dương chánh pháp

Hạng nguyện Thầy cao cả biết là bao

Con thương kính vô vàn thương kính

Nay Thầy đi con thương tiếc vô cùng

Giáo hội mất một cao tăng đức độ

Riêng chúng con mất Sư phụ hiền hòa

Con đau lắm Thầy ơi con đau lắm

Giờ phút nầy con biết nới gì đây!

Con chỉ biết cúi đầu niệm Phật

Cầu cho Thầy về với Phật Di Đà

Miền Cực lạc Thầy an vui đi nhé

Nơi trần thế con nhớ lời Thầy dặn

Phải siêng năng tinh tấn tu hành

Cầu  giác ngộ để giúp người và hộ đạo

Thôi vĩnh biệt ngàn thu vĩnh biệt

Chào tạ từ con kính chúc Thầy đi.

                                                Diệu Thanh Kính Bái

                                                Chicago,ngày 23-3-2003

 

                                                Ngọn Gió Cuối Thu

                                                                        Thích Như Điển

            Ca dao xứ Huế có câu:

                        “Trăm năm trước thì ta chẳng có

                        Trăm năm sau có cũng như không

                        Cuộc đời sắc sắc không không

                        Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi”.

            Đúng là như thế! Vì cái gì của ngày hôm qua, chẳng phải là của ngày hôm nay và cái gì của ngày hôm nay, sang ngày mai sẽ còn nhiều sự thay đổi nữa. Do vậy cuộc đời nầy có có không không là thế đó.

            Đứng trong khuôn viên Phật Học Viện Quốc Tế tại North Hills ngày hôm nay (2004), so với hơn 20 năm về trước, tôi thấy khác xa nhau nhiều lắm. Trong đó có niềm vui lẫn nỗi buồn xen lẫn. Vui vì ngày nay khuôn mặt  của Phật Học Viện đã đổi khác rất nhiều, đẹp hơn, xanh hơn và khung cảnh chung quanh chùa toát lên một vẻ thoát tục; những cây ăn trái như vươn cao mãi lên tận trời xanh; những đóa hoa nhiều màu sắc đã tô điểm cho viện thành ngôi Già Lam thật yên tĩnh trong không gian động của vùng thung lũng nầy.

            Xót xa và một chút buồn đã len lỏi vào hồn  tôi, như gợi nhớ về một bậc Tôn Sư khả kính, bây giờ không còn hiện hữu nơi cõi thế này nữa. Đó là cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm, người đã khai sơn ra Viện này.Ngài đã vĩnh viễn ra đi vào cuối tháng 3 năm 2003 vừa qua. Thấm thoát mà cũng sắp đến ngày Đại Tường rồi. Đúng là thời gian chẳng đợi chờ ai cả.

            Tôi gặp Ngài từ năm 1979/80 khi Ngài từ Đài Loan sang Hoa Kỳ; nhưng thật ra khi ở Nhật từ năm 1972 tôi đã có được liên lạc với Ngài  từ thuở ấy. Cái thuở mà tôi vẫn còn là một Tăng sinh du họa ở xứ Phù Tang. Còn Ngài cũng là người đang cặm cụi để chuẩn bị cho luận án Tiến Sĩ ra trường của mình tại Đài Loan nơi xứ lạ quê người ấy.

            Tôi đã gặp cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân,Viện trưởng Viện Đại Học Đông Phương và đã hầu chuyện  cùng Hòa Thượng Thích Đức Niệm bên chung trà tại trung tâm Quốc Tế Thiền Viện tại Los Angeles. Năm 79 khi Hòa Thượng Thích Thiên Ân còn tại thế, Hòa Thượng Thích Đức Niệm cũng đã góp công sức vào, như là một Phó viện trưởng của viện Đại Học Đông Phương. Sau khi Hòa Thượng Thích Thiên Ân viên tịch năm 1980 thì Hòa Thượng Thích Đức Niệm đã dời về nơi  hiện tại, mà suốt hơn 20 năm qua, Ngài đã ra công tô bồi vun đắp cho nơi này để trở thành một trung tâm đào tạo Tăng tài cũng như xuất bản kinh sách rất nhiều loại, để cung ứng cho nhu cầu học Phật của chư Tăng và Phật tử khắp nơi. Thật là một việc làm mà khó có ai có thể thực hiện được như thế.

            Năm rồi(2003) Hòa Thượng viên tịch, tôi đã không đến đưa đám được. Vì lẽ có nhiều Phật sự đã đề ra trước tại Âu Châu và năm nay nhân chuyến hoằng pháp tại Hoa Kỳ trong tháng 4 vừa qua, tôi có ghé thăm Viện và đảnh lễ giác linh Hòa Thượng, lại gặp được Hòa Thượng Thích Minh Tâm và Hòa Thượng Thích Bảo Lạc ở đây, sau khi dự tuần Tiểu Tường. Quý Ngài và anh  em Tăng Ni trong viện có ý muốn có những buổi học cho Tăng chúng trong Viện được tiếp tục như khi Hòa Thượng còn tại thế; nên tôi đã nhận liền và thế là năm nay (2004) có 2 lần sang Mỹ.Lần thứ 2 nầy được sắp xếp vào ngày 27 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 năm 2004. Đề tài mà tôi đã hướng dẫn cho Tăng Ni là: Đại Thừa Khởi Tín Luận, Yết Ma Chỉ Nam, huấn luyện trụ trì và diễn giảng. Còn đề tài mà tôi thuyết giảng cho các Phật tử tại gia vào 2 cái cuối tuần gồm 4 buổi giảng là Quy Nguyên Trực Chỉ. Đã có 17 vị tại Viện và các nơi về tham gia tu học trong suốt 2 tuần lễ qua, không khí thật vui tươi hoan hỷ. Giờ đây ngự trên liên tòa, chắc rằng Giác linh của Hòa Thượng sẽ hoan hỷ. Vì khi nhìn xuống thầy đệ tử của mình đang thực hành di huấn đã để lại. Đó là “tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”.

            Trong khi giảng, tôi đã có đề cập đến những kỷ niệm của tôi đã có với cố Hòa Thượng để học chúng Tăng Ni nghe và tưởng niệm về tôn sư của mình. Đó là một câu chuyện như bao nhiêu câu chuyện của thiền môn thuở trước.

            Một hôm Hòa Thượng bảo tôi rằng: “ Thầy Như Điển có biết không! Ngày xưa khi mới vô chùa, Thầy tôi giao cho tôi cái chuông và cái mõ. Bây giờ sau bao nhiêu năm sách đèn để học xong học vị Tiến Sĩ, rồi tôi cũng trở về vị trí của mình. Đó là cái mõ và cái chuông mà thôi!” Quả thật là như vậy. Đời người Tăng sĩ, cái trí tuệ mới là sự nghiệp, chứ đâu phải bằng cấp là sự nghiệp. Do vậy chuông mõ vẫn đi đầu, cho nên người xưa đã ví:

                        “Muốn đi tu công phu chưa có

                        Muốn lên chùa chuông mõ cũng không”.

Nếu người đi tu mà hành trình chuông mõ không có thì không thể nào đi vào cõi đạo được. Vì vậy chuông và mõ vẫn là 2 pháp khí quan trọng của nhà Thiền.

            Ngày xưa , cách đây 40 năm về trước. Năm ấy (1964) khi tôi mới vào chùa, xuất gia học đạo. Thầy tôi bảo: Con hãy mua sách vở để đi học. Tôi trả lời rằng: Bạch Thầy đi tu rồi, còn phải đi học để làm gì? ,Thầy tôi gõ yêu lên đầu một cái rồi bỏ đi. Lúc ấy  tôi tròn 15 tuổi.

            Thời gian qua , tôi nhờ câu niệm Phật và tiếng kinh lời kệ mà học hành rất tiến bộ v àvì thế,tôi rất hãnh diện về thành quả của mình. Thế rồi Thầy tôi bảo: “ Dẫu cho ông có bao nhiêu cái bằng của nhân. Tiến Sĩ cũng không bằng một bài kinh Bát Nhã” Tôi nghe lúc ấy cũng hơi bất đồng với Thầy, nên đã thưa lại rằng tại sao lại như vậy?

            Thầy bảo: Ông hãy nhìn xem, khi ông đến nhà Phật tử đưa cái bằng Tiến Sĩ ra, đâu có ai cho ông ăn được một bữa cơm nào, nhưng nếu ông tụng được một bài kinh Bát Nhã cho nhà họ, thì ông sẽ có cơm ăn liền”.Tôi thấy có lý: nên không giám hỏi tiếp nữa.

            Mấy mươi năm sau, đã tu, đã học, đã làm Phật sự đó đây, cử nhân tôi đã có, học vị Tiến Sĩ thì chưa, nhưng tôi đã cảm nhận được điều đó là chí lý. Nhưng khi dạy học trò, đệ tử thì tôi luôn nói như thế nầy:

            “ Sự học nó không làm cho người  tu giải thoát được; nhưng nếu muốn mở cánh cửa giải thoát kia thì không thể thiếu sự tu và sự học được”. Đó là thời buổi bây giờ. Vì ngoại giao, vì tiếp xúc với đời; nên bằng cấp, sự học nó chỉ là phương tiện mà thôi, chứ quyết không phải là mục đích. Nhiều người bảo tôi là xem trọng bằngcấp, nhưng thực tế  thì tôi quý những người có tu và có học; nếu không như thế, thì Phật giáo tương lai sẽ tiến về đâu?

            Nhớ lại lời cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm đã nói bên trên cũng giống như vậy thôi. Học cái gì, tu cái gì, thì cái chuông cái mõ đối với người tu vẫn là điều quan trọng hơn những bằng cấp khác. Điều ấy Hòa Thượng đã chứng thực.

            Sau  khi Hòa Thượng vắng bóng, học viện trở nên trống vắng. Tôi về đây mấy ngày đầu thấy lòng mình se thắt lạ thường. Vì tôi biết rằng: Ai rồi một ngày nào đó cũng phải ra đi thôi. Mấy ai biết  được rằng: cuộc sống này vốn vô thường và sự vô thường ấy có bỏ sót một ai đâu. Tôi đứng nhìn những cây nhãn sây trái, những quả lựu màu đỏ ối. Rồi những cây hồng cho ra những quả mọng chín, ngọt lịm nơi môi khi thưởng thức. Những trái thanh long v.v. công ấy ai vun bồi và cây ấy ai tưới nước, mà thế hệ thứ hai ở đây ngày nay đã gặt được quả? Vì vậy cho nên:

                        “Ẩm thủy truy nguyên=Uống nước nhớ nguồn”

                        Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”…

Là bổn phận của những người đi sau phải nhớ ơn vậy.

            Khi lên chánh điện Phật Học Viện Quốc Tế, tôi thấy một câu thật có ý nghĩa được treo trên tường như sau:

                        “Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

                        Nghĩa ân sư muôn thuở khó đáp đền”.

Hai câu này thật quá hay. Ơn giáo dưỡng đối với nghĩa ân sư. Một đời nên huệ mạng đối với muôn thuở khó đáp đền. Quả là tuyệt diệu. Người xuất gia không có gia đình riêng; nhưng chúng ta có một đại gia đình. Đó là cộng đồng Tăng lữ. Chúng ta sống trong pháp Lục Hòa và cái đức chúng ầy như biển cả mênh mông vô tận.

            Tôi đứng từ trên bảng, nhìn xuống phía dưới, thấy mặt mày rạng rỡ của Tăng Ni khi hiểu bài, và cũng đọc được nơi tâm họ, khi thấy họ buồn vời vợi với những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Đó là lúc nhắc lại hình bóng của Tôn Sư. Đúng là: “Làm con muốn báo ơn cha mẹ, nhưng giờ đây cha mẹ không còn nữa”.

            Thông thường là thế, những gì người ta đang có  trong tay, người ta ít trân quý, để khi bị mất  đi rồi thì giá trị ấy mới vô song, không có  gì sánh kịp.

            Sau gần 2 tuần, quý Tăng Ni học với Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Thượng Tọa Thái Siêu, Thượng Tọa Nguyên Siêu và tôi hướng dẫn; vào ngày  cuối, có một giờ tâm sự cũng như nói lên cảm tưởng của mình.

Bao nhiêu tiếng nói tri ân, cảm niệm những  tấm lòng đến Thầy Giám Viện, đến các vị giảng sư. Còn có thêm những tiếng nói thổn thức từ cõi lòng của những đứa con đã mồ côi sư phụ.Ngày xưa người ta bảo:

                        “Còn cha gót đỏ như son
                          Mai kia cha chết gót con đen sì”

            Rất đúng với trường hợp và hoàn cảnh nầy. Tôi thấy họ, những người đệ tử của Hòa Thượng bây giờ có những giọt nước mắt cảm thông hơn, yêu thương nhau hơn trong  tình  huynh đệ pháp lữ. Tình Linh Sơn cốt nhục. Quả thật là phép Phật nhiệm mầu. Xin Giác Linh Thầy hãy về đây chứng giám.

            Tôi cũng bị cảm động lây, mắt tôi cũng tự nhiên cay xé và không  chờ đợi, những giọt nước mắt đã lăn tròn trên 2 gò má. Tôi thật sự xúc động. Tôi cũng mong rằng những sợi dây liên kết thiêng liêng ấy sẽ xâu lại thành sợi dài, để kết nối sự yêu thương, đùm bọc trong huynh đệ với nhau khi tôn sư vắng bóng, thì dẫu cho có ở cõi nào đi nữa, Giác Linh Hòa Thượng cũng hoan hỷ vô cùng.

Sau hơn 2 giờ tâm sự như thế vào ngày 11 tháng 10 năm 2004 tại phòng học, tất cả học chúng rời phòng học, ra sân rồi về phòng riêng. Bỗng nhiên tôi thấy trời đất đổi thay; gió thổi xào xạc, nhưng chỉ riêng trong vườn chùa của học viện mà  thôi. Dường như Thầy đã về đây để chứng giám những gì mà đệ tử của Thầy đã thành tâm sám hối và ngưỡng vọng về giác linh Hòa Thượng.

            Tôi  hơi lạnh  người, vì khung cảnh về đêm; nhưng tôi cũng tin là điều ấy có thật. Bởi lẽ trời hôm đó trong lắm; nhưng tại sao lại có gió mạnh, mà gió ấy chỉ xảy ra chỉ tại một  chỗ, đó là Phật Học Viện Quốc Tế. Chắc rằng giác linh Thầy đã về để chứng  giám cho lòng thành của những người đệ tử vậy.

            Nghe đâu hôm lễ cung tiến kim quan của Hòa Thượng cũng như thế. Quý Thầy trong Ban Tang Lễ đã dựng lều để dự định sáng mai đưa kim quan ra đó để an trí cho rộng rãi hơn. Thế nhưng đêm về gió lộng, khiến cho lều bay hết cả. Điều ấy có nghĩa là tâm niệm của  Hòa Thượng muốn được  viếng thăm chánh điện của chùa lần cuối. Nhất là từ sau khi xây xong (2003) đến nay, vì bệnh duyên nên Hòa Thượng đã không có dịp lên lễ Phật, cũng như dẫn lễ cho chư Tăng và Phật tử như lúc bình sinh. Cuối cùng rồi ước nguyện của Hòa Thượng cũng đã được thành tựu.

            Sau khi thiêu, theo lời di chúc, thân cát bụi của Hòa Thượng, đã được rãi vào lòng của biển cả. Thế là hết một đời. Những  gì của đất, gió, lửa xin trả về cho đất, nước , gió, lửa vậy. Đến và đi vô ngại giải thoát như vậy, thật là tự tại của một nhà tu, mà nhà tu ấy không lấy danh lợi hay học vị của mình để đi độ sanh, mà chỉ lấy lòng từ bi và trí tuệ để đi chuyển hóa nhân sinh đây đó trên khắp nẻo luân hồi nầy.

            Ngọn gió thu đã đổi chiều, hiu hiu thổi đến. Những lá dâu vàng rực đã lìa cành, rơi rụng khắp sân cỏ của chùa, dệt nên những  tấm thảm chen lẫn màu xanh vàng, như một giải lụa có nhiều màu sắc, đẹp tuyệt vời. Ngọn gió càng ngày càng thổi mạnh làm  cho nhiều loại lá trên các thân cây bắt đầu đổi màu, để rồi rơi rụng khắp đó đây. Như để tô điểm thêm cho khuôn viên của Phật Học Viện, vốn đã nên thơ rồi, lại càng đẹp hơn nữa bên ánh sáng mùa thu đã dịu bớt đi sau một mùa hè rực rỡ và chính những cơn gió thu ấy cũng đang mang đến sự mát dịu cho biết bao nhiêu tâm hồn hướng thượng tại nơi đây.

            Trước giác linh Thầy, tôi đã thầm khấn nguyện là mong Hòa Thượng gia hộ cho Phật Học  viện Quốc Tế ngày càng thêm phát triển và đồ chúng nơi đây , xuất gia cũng như  tại gia, lúc nào cũng như lúc nào phải biết thương yêu nhau hơn theo tinh thần Lục Hòa,như bài kinh thường tụng vào giờ ngọ trước khi chư Tăng thọ thực, thì quả là đáng quý, đáng ghi nhớ biết là dường bao !

            Mùa thu, vốn là mùa đẹp nhất của thi nhân, mùa của sự tưởng niệm và cũng là mùa  của những người đang mất cha hay mẹ. Ở đây quý Thầy, Cô tại Viện cũng đã mất đi một bậc Thầy khả kính. Nhưng trong sự mất mát ấy quý vị hãy còn rất nhiều. Đó là một lối để đi về theo hạnh nguyện độ sanh của Sư Phụ mình.

            Kỷ yếu sắp thành hình để đánh dấu ngày Đại Tường của Hòa Thượng, chúng tôi bậc hậu học, xin đốt nén tâm hương để dâng lên Ngài và cầu nguyện cho giác linh Ngài cao đăng thượng phẩm. Cùng lúc xin dâng cảm nghĩ thô thiển này lên Hòa Thượng và kính nguyện Hòa Thượng thùy từ chứng giám cho.

                                                                        Thích Như Điển

                        Viết xong vào một sáng cuối thu tại Phật Học Viện Quốc Tế (12-10-2004)

                                                Tỳ Kheo Quê Mùa

                                                                                    Thích Quảng Điền

            Hồi đó, những ngày đầu mới vào cửa Phật, tôi thường hay chạy giỡn nô đùa. Dường như bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho tôi bật cười được cả.

            Mấy điệu nhỏ thức dậy công phu khuya gục lên gục xuống tụng thần chú Lăng Nghiêm chữ còn chữ mất, lộn xộn làm cho Sư chú Minh D. gõ mõ kiểu nào cũng không đều nhịp, bực quá, chú liệng dùi chuông xuống chỗ mấy Điệu.Mấy Điệu giật mình hoảng vía, hết ngủ gục, tụng lên om sòm. Thế là sáng hôm ấy chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện hồi khuya, ai nấy ôm bụng mà cười. Chú Minh C.tụng kinh líu lưỡi chữ này ra chữ kia, Sư cô Diệu T. xướng lộn giọng tụng cầu siêu thành ra vọng cổ v.v.. nhiều lắm và chuyện nào cũng vui cả.

            Thật ra, khi xuất  gia tôi cũng đã 20 tuổi rồi, đâu còn nhỏ gì nữa. Vậy mà ngộ lắm, hình như hễ làm Điệu thì tự nhiên giống như con nít. Lúc ấy tôi chỉ biết : tụng kinh, học kinh, niệm Phật, trực nhật, hành đường, quét lá, vậy thôi. Tôi không lo lắng, nghỉ ngơi gì hết, dù trời sập tôi cũng không lo không sợ. Nói vậy, chứ mà sợ Sư phụ lắm. Hễ Thầy kêu lên một tiếng là xếp ra liền. Lần nọ, tôi giỡn vui quá, chạy băng ngang qua chánh điện mà cũng không để ý, không hay biết  gì cả. Tôi bị Thầy bắt gặp. Thầy không rầy về việc này mà lại nói: “ Con xếp mền chưa ngay” Tôi liền xá Thầy rồi trở về phòng để xếp mền lại. Nhưng mền đã rất ngay ngắn, thẳng thóm. Tôi chợt ngờ lại, Thầy còn đứng ngoài chánh  điện, chưa vào phòng mình mà, làm sao biết được mền mình xếp ngay hay không? Tôi suy nghĩ hoài mà cũng không thông.Vì vậy, suốt ngày hôm ấy tôi không chạy giỡn mà cứ suy nghĩ mãi câu nói của Thầy. Sáng hôm sau, tôi chịu hết nổi, đi ngay vào tịnh thất định hỏi Thầy cho rõ mọi việc vì rõ ràng Thầy chưa vào phòng mình và mình đã xếp mền rất ngay sao Thầy lại nói không. Tôi vừa bước chân vào tịnh thất, chưa kịp đảnh lễ, chưa kịp thưa hỏi gì cả thì Thầy đã nói; “ Trọn ngày hôm qua  con xếp mền rất ngay ngắn”. Tôi giật mình, và chợt hiểu ra, Thầy mượn chiếc mền xếp không ngay để nói lên thân tâm mình còn động quá, cứ mãi nô đùa đến nỗi chạy ngang qua chánh điện mà không biết. Tôi không còn nói được gì và cũng không cần phải nói gì nữa vì tôi đã hiểu rồi. Tôi bèn đảnh lễ Thầy và lui ra, lòng cảm thấy lâng lâng nhẹ nhỏm  vô cùng.

            Lời Thầy bình dị nhưng dường như có lúc chứa đầy mật ngữ trong ấy. Vài hôm sau, có Phật tử Minh H. đến viện làm công quả. Tôi đem việc trên kể cho chú nghe. Chú cười và nói rằng: “ Tại chú  mới vào viện nên  chưa biết, chứ tôi thì biết. Thầy tuy nói lời giản dị, nhưng mình phải suy nghĩ kỹ mới hiểu. Hình như Thầy muốn mình phải suy nghĩ để hiểu ý của Thầy. Nhiều năm trước, lúc ấn quán Ananda của viện còn hoạt động, cả gia đình tôi thường hay về viện giúp Thầy xếp giấy đóng kinh sách. Khi ấy, Thầy ươm rất nhiều vạn thọ. Một hôm, Thầy bảo với má tôi: “ Phật tử Diệu H. cần bao nhiêu cây vạn thọ, Thầy tặng cho”.Má tôi thưa ‘Mô Phật.bạch Thầy, cho con xin 80 cây’. Thầy nói ’80 cây à’. Thôi 100 cây nhé’. Má tôi lại trả lời: ‘Dạ 80 cây thôi’ cây đủ rồi. Thầy lại nói: ‘Vạn thọ mà 100 cây nhé’. Má tôi trả lời: ‘Dạ 80 cây thôi’

            Lúc đó , má tôi không hiểu ý Thầy. Khi về đến nhà, má tôi mới suy nghĩ; Thầy muốn tặng mình vạn thọ. Mình xin 80 cây, sao Thầy cứ bảo mình lấy 100 cây hoài. Một hồi , má tôi chợt hiểu, thì ra Thầy muốn chúc má tôi sống lâu 100 tuổi mà má tôi không chịu nhận. Má tôi nói: biết vậy. lúc đó má nhận 100 cây, bây giờ nghĩ lại tiếc quá”.

            Cuộc sống của Thầy vô cùng giản dị. Quần áo của Thầy có khi vá 5 vá 7. Không phải Thầy không có quần áo lành lặn để mặc, nhưng Thầy muốn dùng cho đến khi hết vá được mới thôi. Mỗi lần chúng tôi thưa hỏi Thầy về việc này , Thầy  chỉ nói: “ Tín thí khó tiêu”. Có khi Thầy dạy chúng tôi: “ Các con phải biết tiếc  của Tam Bảo đừng có xài phung phí. Chuyện gì cần xài, đáng xài thì mới xài, không cần thì thôi; của đàn –na tín thì rất khó tiêu, nếu phung phí thì dù sống giữa thành phố cũng không có mì gói để ăn; kiếp sau phải mang lông đội sừng để đền trả cho thí chủ”.

            Đã có nhiều lần Phật tử không ngờ được Thầy làm việc vô cùng vất vả. Nhiều người nghĩ rằng làm Thượng tọa hay là Hòa thượng thì không cần làm gì cả. Kỳ thật, không phải như vậy. Làm lớn phải lao nhọc lắm, không lao thân thì lao tâm, không lao tâm thì lao thân. Thầy tôi thì kiêm cả hai thứ. Phải rồi, bởi lẽ, càng làm lớn thì bổn phận càng nhiều. Danh càng cao thì việc làm càng vất vả để tương xứng với cái danh ấy,nếu không thì chỉ là hư danh. Thầy thường dạy như vậy.

            Ngoài giờ dịch kinh, soạn sách, giáo dưỡng huynh đệ chúng tôi. Thầy còn để nhiều thời giờ chăm lo vườn tượt, cây cối ở Tịnh viên xanh tươi hữu tình. Tịnh viên tuy nhỏ, nhưng ai bước  vào đây, nhất là vào những ngày nắng ấm, ngồi dưới những băng ghế đá, đứng dưới những tàng  cây tươi mát, sẽ cảm nhận một cảnh thiên nhiên thanh tịnh vô cùng an lạc. Tất cả đều do bàn tay và sự hướng dẫn của Thầy tạo nên.

            Có một lần nọ, Thầy bận quần ống cao ống thấp, áo bà ba ngắn tay đã bạc màu, đầu đội chiếc nón lá tưa vành, chân mang đôi dày cũ kỷ, quá date, đến nổi chắc không thể tìm đâu ra được ngoài viện bảo tàng, mồ hôi nhễ nhại, đào đất trồng cây tỉa nhánh ngoài vườn. Có hai Phật tử tuổi ngoài thất tuần dẫn theo con cháu về chùa lễ Phật. Nhìn thấy Thầy ông bà không biết , hỏi:

-Thưa bác, bác đến chùa làm công quả hả?

-A Di Đà Phật, dạ phải. Thầy đáp.

-Làm công quả siêng năng như bác phước vô lượng đó.

-Dạ

-Bác qua Mỹ được mấy năm rồi?

-Dạ cũng lâu rồi.

-Bác đi theo diện gì vậy? HO phải không?

-Dạ NHÂN ĐẠO.

-Bác được mấy cháu rồi?

-Dạ cũng đông.

-Sao bác không đợi chiều hãy làm, bây giờ trời nắng gắt quá.

-Dạ , tôi quen rồi.

-Bác làm công quả ở chùa này chắc lâu lắm phải không?

-Dạ phải , cũng mấy chục năm rồi.

-Ồ! Vậy à. Chắc bác quen thân với thầy Đức Niệm lắm hả?

-Dạ, tôi thân với Thầy lắm.

-Vợ chồng chúng tôi nghe băng Thầy thuyết pháp thôi chứ chưa từng biết mặt. Nghe nói Thầy xuất thân từ chùa Ấn Quang. Tôi quen nhiều Thầy ở Ấn Quang lắm, nhưng chư Tăng đông quá, tôi chưa có dịp được tiếp xúc với Thầy Đức Niệm. Hôm nay, nhân dịp lên chùa lễ Phật, chúng tôi cũng muốn gặp đế vấn an Thầy. Thôi chào bác nhe.

-A Di Đà Phật.

Hai vị Phật tử ấy và con cháu lạy Đức Quán Âm lộ thiên, lạy Phật A Di Đà ( tượng cũ), lúc bấy giờ chưa có tượng ngài Di Lặc lộ thiên, rồi đi vào chánh điện. Hai bác lễ Phật xong thưa với Sư cô tri khách:

-Thưa Sư cô, gia đình chúng con hôm nay về chùa trước lễ Phật, sau là vấn an Thầy. Hôm nay Thầy có ở chùa không?

-Dạ có. Ủa , hình như hai bác gặp Thầy rồi mà.

-Dạ thưa chưa.

-Hình như trước khi hai bác vào đây, hai bác có thưa chuyện với Thầy rồi mà?

-Nãy giờ chúng con chỉ gặp bác làm vườn  thôi, chưa gặp Thầy nào cả.

Sư cô cười:

-Bác làm vườn nào đâu, chính là Thầy đó.

-Mô Phật. Trời ơi! Tội lỗi quá! Hồi nãy giờ con gọi Thầy bằng bác không hà.

Hai bác vội vã ra vườn xin sám hối:

-Bạch Thầy, chúng con xin sám hối. Hồi nãy thưa chuyện với Thầy mà tại Thầy đội nón, con không biết; con tưởng là Phật tử đến chùa làm công quả.

-Dạ, có sao đâu. Bác làm vườn hay Thầy Đức Niệm cũng đều làm công quả như nhau

Nói xong, Thầy  cười và thân mật tiếp chuyện với hai bác Phật tử cùng các cháu.

            Thầy tôi như vậy đó. Ai muốn gọi Thầy sao cũng được. Ai tưởng Thầy thế nào cũng tốt. Thầy vẫn là Thầy: vẫn bình  thường, mộc mạc, chịu đựng, vẫn với những câu nói giản dị nhưng chứa đầy đạo vị, vẫn khiêm tốn như tự hiệu của Thầy: Tỳ Kheo Quê Mùa.

                                                            Khể thủ Tỳ kheo Thích Quảng Điền

                                                            California, trời chuyển lạnh, 2004

            NHỮNG KỶ NIỆM VỚI HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NIỆM

                                                                                                Thích Tín Nghĩa

            Riêng tặng quý thầy đệ tử của cố Hòa thượng như thầy Minh Chí (đương kim Giám viện PHVQT, thầy Minh Quang (hiện đang theo học chương trình Tiến sĩ tại Đại học đường FL.), thầy Quảng Độ, thầy Quảng Thiện, thầy Quảng Đình và thầy Quảng Đạo- cùng Sư cô Thích nữ Diệu Tánh- Quý đệ tử: Diệu Hải, Diệu Hậu, Quảng Huệ, Chơn Quang, Minh Kiến, Thanh Chánh, Phước Hảo, và một số đạo hữu đã tùng học với Hòa thượng trên hai chục năm.

            Tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979. Hòa thượng Thích Đức Niệm đến trước tôi độ hai ba tháng gì đó. Những vị cómặt và làm việc với Giáo hội lúc bấy giờ gồm có quý Ngài; Thiên Ân, Mãn Giác, Trí Chơn, Đức Niệm, Thiện Thanh, Nguyên Đạt, Tịnh Từ, Trí Đức và tôi ( Tín Nghĩa). Đây là nói về Giáo hội tại miền Nam, nói đúng hơn là tiểu bang California và một vài tiểu bang phụ cận, còn vùng Hoa Thịnh Đốn và phụ cận, lúc đó Pháp sư Giác Đức đang lo cho chùa Giác Hoàng, tôi không được rõ là có bao nhiêu vị.

            Bây giờ, tôi chỉ đi vào sự liên hệ giữa tôi và Hòa thượng Thích Đức Niệm. Chú Tánh Thiện đón tôi  từ phi trường về chùa Việt Nam. Tôi được bảo lãnh là do hai ngài Thiên Ân và Mãn Giác. Đến chùa đúng sáu giờ tối cùng ngày. Nghỉ ngơi một đêm. Trưa mai, ngài Thiên Ân đi dạy học về, trước giờ thọ trai, ngài nói chuyện rất vui vẻ và niềm nở làm sao. Ngài bảo:

            -Bây giờ  Giáo hội bảo trợ thầy qua đây, trả ơn hai chúng tôi bằng cách  đi làm Phật sự .

            Tôi chỉ dạ và mỉm cười . Hòa thượng Mãn Giác nói tiếp:

            -Ở Denver, họ đang cần Tín Nghĩa nhiều lắm. Ở đó đang thiếu vị lãnh đạo Tinh thần và Trú trì.

            Tôi cũng  cười và vâng vâng dạ dạ vậy thôi, vì mới đến Mỹ chưa được hai ngày. Giờ cơm đã đến, ngoài cổng có một vị tu sĩ trong chiếc áo nâu bạc thếch, ung dung đi vào chùa rất tự nhiên. Mới bước lên khỏi cầu thang, Hòa thượng Thiên Ân vừa cười vừa giới thiệu cho tôi:

            -Đây là Thượng tọa Đức Niệm, tôi mới thầy qua làm Phó Viện trưởng Đại Học Đông Phương, bữa nào khỏe mời thầy ( tức là tôi) ghé thăm Đại học cho biết.

            Tôi cũng dạ, đồng thời quay qua thầy Đức Niệm, tôi chấp tay cuối chào và cùng vào bàn ăn. Cơm nước xong tôi hàn huyên với thầy Đức Niệm khá lâu, rồi thầy xin kiếu để về nghỉ trưa. Thầy bảo:

            -Trưa nào tôi cũng phải nghỉ một chút mới làm việc cho ban chiều và tới khuya, không nghỉ cũng được.

            Nói xong, thầy từ từ bước xuống cầu thang. Tôi cũng không biết là thầy ở đâu nữa, vì quá mới nên cái gì cũng xa lạ hết.

            Cứ thế, ngày nào Thầy cũng qua ăn cơm trưa, còn tôi thì được mấy người  trong đó có anh Hồng Quang chở đi chơi cho biết đó đây. Chủ nhật đầu, tôi nói chuyện với đồng bào Phật tử chùa Việt Nam, rồi sinh hoạt với Gia đình Phật tử Long hoa; Chủ Nhật kế, được ngài Trí Chơn lên đón bằng xe Bus để về nói chuyện và thăm đồng bào Phật tử chùa Vạn hạnh vùng San Diego. Ngài Trí Chơn rất chân tình và niềm nở đối với tôi, khi mời tôi về thăm  chùa Vạn Hạnh, mặc dầu Thầy và tôi chỉ biết nhau lờ mờ hồi còn ở quê nhà, trên ba mươi năm. Chúng tôi đều là môn phái Tây Thiên, thuộc dòng Liễu Quán, trên nguyên tắc, Thầy là vai vế chú bác trong đạo.

            Được mười tám hôm, tôi lên đường nhận lãnh nhiệm vụ mới. Trước khi đi, ngài Mãn Giác có đãi một bữa ăn thịnh soạn. Thầy Đức Niệm thì chúc mừng cho tôi. Tôi cũng có theo Thầy một hai lần đến nơi mà Thầy thường nghỉ và làm việc. Thấy mà tội, mang danh Phó viện Trưởng, ở cái phòng chỉ một chổ ngủ, một cái bếp cỏn con dùng nấu nước pha trà. Còn nhà máy in là một cái Garage cũ được tạm chỉnh trang lại để dùng in kinh sách. Điều đáng chú ý là số kinh sách cung ứng từ năm 1979 cho đến năm 1983 khắp đó đây đến những chùa ở hải ngoại và các trại tị nạn đa phần đều từ nơi này mà có.

            Ngày từ giã, ra phi trường tiễn tôi có ngài Thiên Ân và ngài Đức Niệm. Ra đến phi trường LAX, ngài Thiên Ân bảo:

            -Thầy là người đặc biệt mà tôi tiễn đưa ra tận phi trường. Tôi chưa đưa tiễn ai bao giờ.

            Thầy Đức Niệm nói thêm:

            -Hòa thượng nói đúng.

            Riêng , ngài Mãn Giác thì hướng dẫn tôi lên tận Denver, tiểu bang Colorado để bổ nhiệm với chức vụ Lãnh đạo tinh thần Cộng đồng Phật giáo kiêm Trú trì chùa Việt nam ở đây. Phải nói rằng : Khi tôi lên Denver, hai vị gọi điện thoại hỏi thăm đủ điều cũng như khuyến khích làm Phật sự là Thầy Mãn Giác và Thầy Đức Niệm. Có lẽ vấn đế làm việc  ở xã hội mới chưa quen thuộc cũng như tâm đạo của hàng Cư sĩ tại hải ngoại từ 1975 đến ngày tôi rời Denver chưa thuần nhất, chưa nhuần nhuyễn, sự tu học và tin vào Phật pháp cũng chưa vững chắc lắm; cứ xem vị Tu sĩ như chúng tôi là một ông từ giữ chùa không hơn không kém. Vả lại, vốn liếng sinh ngữ để nghe điện thoại hoặc đi đường cũng không có được một chữ,nên  tôi phải trở về Los Angeles để có cơ duyên đi học Anh ngữ. Tôi cộng tác với Thầy Đức Niệm từ đó.

            Tôi lái xe hai ngày hai đêm về tận chùa Việt nam, vào chào Thầy Mãn Giác và rồi ra xe về trụ sở Phật học viện Quốc tế. Ngủ một đêm, sáng dậy tôi và thầy Đức Niệm nói chuyện hơi dài, Thầy bỏ buổi học Anh văn.

            Thầy nói:

            -Thầy về đây làm việc với tôi. Chỗ ngủ nghỉ cùng phòng ốc, bếp núc để nấu nướng thì không được thoải mái cho lắm; nếu thầy ngủ ở phòng nầy, tôi qua chánh điện tạm thờ Phật để ngủ. Hai chúng ta nương nhau làm Phật sự.

            Tôi nói:

            -Thầy yên tâm, Thầy cứ ngủ đây. Tôi qua bên đó. Trường hợp ai bị đau ốm, thì ngủ tại phòng nầy. Còn từ nay về sau, chúng ta tự túc nấu ăn. Buổi sáng Thầy đi học, tôi ở nhà nấu cơm và đóng kinh sách. Chiều Thầy lo nhà in, nấu cơm chiều, tôi đi học Anh văn ban tối.

            Phật sự ngày một thêm nhiều. Thầy Đức Niệm còn bổn phận phải lên Fresno để giảng pháp mỗi một nửa tháng. Tôi thì xuống giảng và truyền giới Bát Quan trai cho hàng Phật tử mỗi tháng một lần tại Trung tâm Phật giáo Huệ Quang tức chùa Huệ Quang bây giờ của Thượng tọa Minh Mẫn ở đường Bishop.

            Tuy tôi làm việc và ăn ở với Thầy ĐứcNiệm, nhưng , mỗi nửa tháng tôi đều qua chùa Việt nam để cùng hàng Phật tử nơi đây làm lễ lạy Sám hối .

            Sự sinh hoạt ngày một đa dạng. Hàng Phật tử ngày một thêm đông, nên thầy Đức Niệm và tôi đều bỏ học và bắt đầu cho chương trình mới là : vừa tiếp tục in kinh sách, vừa tìm đất hoặc nhà để kiến tạo cơ sở cơ sở thực sự cho Phật Học Viện Quốc Tế.

            Những ngày chúng tôi ở tại Los Angeles, tiền bạc rất eo hẹp. Tôi mua một chiếc xe mới từ Denver đem về, nợ nần chưa trả hết. Mỗi tháng Thầy cho $140.00 để phụ trả tiền xe. Những lúc túng thiếu, tôi thưa với Thầy là:

            -Thầy đế Tín Nghĩa xuống với anh Lê Viết Tấn ở Irvine, xin cắt cỏ một tuần hai ngày, trả xong xe là tôi sẽ nghỉ cắt cỏ, nhưng, dù thế nào tôi cũng phải chu tất công tác đóng kinh sách, Thầy đừng lo.

            Thầy nói:

            Tui mới vừa học xong, bên Tàu qua đây chân ướt, chân ráo, chẳng có gì trong tay ngoài mảnh bằng. Vả lại, bằng cấp ở Tàu đâu có xài gì được cho xã hội Tây phương này. Thầy cũng vừa từ trại tỵ nạn qua, cho nên hoàn cảnh nầy hai chúng ta đều thiếu thốn thốn, ráng cùng nhau đều chịu thiếu thốn. Có lòng thí chư Phật, Bồ tát cũng  thương, cũng gia hộ cho chúng ta, không sao đâu?

            Tuy Thầy nói và an ủi thế, nhưng, những lúc không có tiền in kinh sách, Thầy cho các chùa thỉnh luôn những chuông mõ lớn, tượng Phật lớn để có tiền mà tiếp tục theo hạnh nguyện. Tượng Phật lớn nhất hiện giờ đang thờ tại chùa Liên Hoa ở Canada, do cố đạo hữu Trịnh Minh Cầu làm Hội trưởng nguyên là của thầy Đức Niệm. Chính bản thân chúng tôi lo đóng thùng và gởi đi. Hàng Phật tử ở Fresno thấy Thầy không có phương tiện, họ quyên góp nhau được chú đỉnh mua chiếc xe cũ với giá $1,800.00, Thầy cũng bán và đưa vào chuyện in ấn kinh sách. Phật tử lấy làm ngạc nhiên, liền thưa hỏi:

            -Sao Thượng tọa bán xe, lấy  gì để đi lại khi cần?

            Thầy cười, rồi nói;

            -Qúy vị nên biết đức Phật dạy rằng: trong các vấn đề bố thí, thì bố thí Pháp là quan trọng hơn hết. Riêng Thầy thì sao cũng được. Khi cần lắm thì nhờ Phật tử nào đó có phương tiện, cùng lắm thì đi xe Bus, miễn sao có kinh sách cho hàng Phật tử trì tụng là tốt rồi,…

            Có nhiều lúc Thầy nhường lại những  bộ y-hậu, pháp cũ tốt  cho quý thầy để lấy tiền in kinh sách. Thầy chủ trương hoằng truyền Chánh pháp và đào tạo Tăng tài lên hàng đầu.

            Sau một thời gian tìm kiếm, tức là  điạ điểm Phật  Học  Viện bây giờ, hạ tuần tháng ba năm 1982, chúng tôi dời từ Los Angeles để về đây. Ngôi nhà mấy phòng dùng để cho bốn hoặc năm người ở thì tốt, dùng làm  nơi tu học cho  quần chúng Phật tử thì không  thể được. Mọi sinh hoạt  trong khiêm  tốn, nhưng vẫn gặp khó khăn với lối xóm, vì toàn là người Mỹ da trắng. Những lễ lớn như Phật đản, Vu lan thì phải thuê mướn  hội trường của  trường bên cạnh. Số Phật tử đến sinh hoạt mỗi lúc một đông. Trong những Phật tử thân quen, thương tình khuyên bảo con cháu của họ rằng:

            -Nếu , những nhà chung quanh Phật Học  Viện, cái nào bán thì các con mua lấy, vừa gần với gia đình, vừa giúp cho Thầy Đức  Niệm khỏi bị kiện cáo lôi thôi.

            Ý kiến rất hay, nên một số Phật tử dù ở xa Phật học viện cả một giờ lái xe cũng lên mua nhà gần viện. Nhờ vậy mà Thầy đã không gặp khó khăn mà lại thuận duyên khi phát  triển cơ sở.

            Trong tình đạo gắn bó giữa tôi và Thầy thì rất nhiều kỷ niệm từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng có hai  chuyện  đáng  ghi nhớ nhất  trong hai chúng tôi, tuy không mấy đặc sắc, thế mà mỗi lần nhắc lại là cả hai cùng ôm bụng cười. Nhơn đây tôi cũng ghi lại vài dòng  để gọi là làm lưu niệm cho cuộc đời hành đạo xứ Hoa Kỳ.

            Số là: Khi cơ sở mới đưa lên vùng này, chúng điệu chưa có, duy nhất có chú Ân Hạnh, đệ tử của Hòa thượng Thiên Ân cùng trú xứ. Chú nầy vì có bệnh nên kinh điển chẳng thông  thuộc là bao, chỉ biết  tụng kinh ngắn, đánh chuông và làm công quả lặt vặt như nấu ăn, gói kinh sách để gởi đi cho những nơi cần đến, hoặc tiếp bổn đạo dẫn vào lễ Phật trước khi gặp quý thầy, hoặc trông chừng nhà  cửa.

            Chuyện thứ nhất: Số là hai  chúng tôi, một ngày như mọi ngày, lo quét dọn vườn tược, trồng cây này bới cây kia, vun quén những luống rau mới trrồng, sứa sang ngôi nhà mới mua này, những gì của thế gian biến thành cảnh thiền môn thanh tịnh. Công việc chỉ có vậy mà ngày nào cũng như ngày nào mất gần 10 tiếng  đồng hồ. Có khi chỉ tụng kinh ban sáng, tối lại chỉ niệm Phật chứ không đủ thì giờ. Sáng sớm tụng kinh xong, cả hai chúng tôi ra vườn làm say sưa quên cả ăn uống và cứ tưởng là có chú Ân Hạnh bên trong, nên chẳng để ý gì cho bữa cơm trưa. Đến khi mệt liền đi vào nhà để chuẩn bị ăn cơm trưa, nào ngờ chú đi gởi sách bị lạc đường, không biết đường về. Chúng tôi kiếm thức ăn chẳng có. Thế rồi, hai chúng tôi chấp nhận ăn mì  gói với rau đã trồng sẵn. Bữa ăn ngon lành làm sao, chúng tôi mỗi người ăn hết  bốn gói mì và cộng thêm rau sống. Ăn uống xong là hai giờ chiều, rồi đi ngủ và ngủ li bì cho đến ba giờ sáng hôm sau. Cả hai đều khát nước không thể tả và no luôn gần như cả ngày kế. Cho nên mỗi khi nói đến chuyện ăn mì gói là đều cười ngất và cũng không thể nào ăn hai gói rưỡi chứ nói gì đến bốn gói như dạo ấy.

            Chuyện thứ hai: Nhà mua xong, trả nợ đưọc tám tháng. Kinh tế bắt đầu eo hẹp. Tiền nhà tháng kế tiếp không tài nào có đủ. Hỏi mượn quanh thì ai cũng bảo là đang kẹt. Số tiền thiếu độ ba trăm Mỹ kim. Túng thế,liền khui thùng phước sương. Tay Thầy bưng thùng tiền thì nghe tiếng kêu toàn lẻng kẻng, nên cả hai nhìn nhau, rồi tôi liền ra cửa trước để trông chừng khách khứa ra vào, Thầy mang thùng phước sương vào phòng để đếm tiền cắc. Gần một tiếng đồng hồ, Thầy đi ra với khuôn mặt vui và nói: Dư rồi thầy Tín Nghĩa ơi, đừng lo! Và cả hai cùng cười.

            Cá nhân tôi thì không nói, nhưng, tôi cười và tội cho thân phận của Thầy, một người có học vị thật sự với văn bằng Tiến sĩ, lại chơn tu, giới thể châu viên; thế mà khi ra làm Phật sự cũng không phải là chuyện dễ dàng.

            Có cơ sở xong, Thầy và tôi nghĩ ngay đến vấn đề đào tạo Tăng tài. Chúng điệu bắt đầu có khoảng năm đến bảy vị, Thầy làm Giám đốc, tôi làm Giáo thọ Tăng ni sinh của Viện. Chương trình tu học ở đây tiến đều, đặc biệt là phần kinh luật ở đây rất khá. Khi thọ giới, Giới tử tụng luật tiểu Trường hàng thuộc lòng đến độ hàng Thập sư và Tuyên luật sư phải tấm tắt khen. Tháng ba năm 1982, Thầy đi Âu châu cũng như các chùa tại địa phương để thăm và cung thỉnh chư tôn đức vào những ngôi vị Thập sư, chuẩn bị cho Đại Giới Đàn đầu tiên, lớn nhất tại hải ngoại, được khai thị tại Phật Học Viện Quốc Tế. Đại giới đàn mang tên vị Cao Tăng Thiện Hòa, Thầy làm Chánh chủ đàn, tôi làm Trưởng ban điều hành kiêm Công văn ( Hiện Kỷ yếu còn lưu lại tại Viện).

            Cũng trong bổn phận và trách nhiệm hoằng truyền Chánh pháp, cũng như phát triển cơ sở, tôi đến vùng Dallas, tiểu bang Texas để vận động thành lập Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại vào tháng 10-1983, Thầy đã cố vấn và tận tình giúp đỡ về mọi mặt. Thầy đã từng hy sinh quyền lợi của phần mình để giúp cho Từ Đàm Hải Ngoại trong những khó khăn lúc ban đầu về mặt tài chánh. Từ đây, tôi và Thầy đều có cùng một trách nhiệm riêng mà đường lối sinh hoạt thì hỗ tương cho nhau. Những công tác Phật sự chính như thành lập Giáo hội hoặc những đại lễ Phật đản, Vu lan đều có nhau. Phải thành thật mà nhìn nhận một điều, kể từ khi thầy Đức Niệm có mặt tại hải ngoại, không một Phật sự nào mà Thầy bỏ sót, đặc biệt là đường hướng của Giáo hội. Thầy đóng góp một cách tích cực từ vật chất đến tinh thần và đóng góp tối đa. Tôi còn nhớ mãi lần đầu tiên  Thầy đến thuyết giảng  và Chứng minh Đại lễ Phật đản năm 1984 tại Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại. Lúc ấy, Từ Đàm chỉ là một ngôi nhà cũ, không có phòng ngủ, không có phòng tắm. Tôi phải gởi Thầy đến một nhà Phật tử để ngủ qua đêm và có phương tiện cho bản thân. Thầy chỉ ngủ một đêm, qua đêm sau, Thầy ở lại với tôi và chấp nhận chịu mọi sự thiếu  thốn  như tôi. Thầy phải ngủ dưới thảm không có nệm,không có nước nóng, không buồng tắm; tôi rất ái ngại, nhưng Thầy rất hoan hỷ và Thầy còn nói:

            -Tôi chịu đựng quen rồi. Nhờ sự chịu đựng đó mà những năm tôi học ở bên Tàu, khỏi nấu nướng mới có thì giờ theo học chương trình Cao học và Tiến sĩ.

            Theo tôi nghĩ: Có lẽ Thầy thương hoàn cảnh của tôi lúc ấy thì phải, nên Thầy nói ra như vậy để tôi yên lòng hoặc Thầy an ủi để tôi có nghị lực một phần nào mà tiến tu và dõng mãnh mà lo cho ngôi nhà Phật pháp thì đúng hơn. Tôi không thấy một vẻ gì buồn hiện lên nơi khuôn mặt hiền hậu và phúc đức ấy. Cũng may, mùa Phật đản và Vu lan đều là mùa hạ, khí trời của vùng Texas nóng nhiều hơn lạnh.

            Hạnh nguyện độ sanh và trách nhiệm với Phật pháp đang trên đà hạnh thông Thầy thọ bệnh.

            Vào trung tuần tháng 12-2001, vừa đi tụng kinh công phu sáng xong, tay bưng tách trà đi quanh để nhìn cây cảnh, tiếng chuông điện thoại lại reo lên, tôi nhấc ống nghe, đầu dây nói tiếng của Sư cô Diệu Tánh báo cho hay là:

            -Thầy con vừa mới vào bệnh viện, con tin cho thầy hay để thầy cầu nguyện cho Thầy con.

            - Hai thầy trò nói chuyện với nhau chưa được mấy phút, Sư cô xin gác máy để lo những chuyện cần  thiết trước khi vào chăm sóc cho thầy Đức Niệm tại bệnh viện.

            Tôi biết Thầy bệnh từ lâu rồi, nhưng , những tưởng là được gặp thầy, gặp thuốc. Tôi gọi điện thoại cho anh Bùi Ngọc Đường để hỏi thăm bệnh tình của Thầy ra sao.

Anh trả lời:

            -Thấy Thầy tuần trước có hơi mệt, nhưng vì tuần này có mấy việc cần làm cho bản tin của Ban Bảo trợ phiên dịch Pháp tạng Việt nam nên tôi chưa lên viện được . Có chi chút nữa tôi chạy lên xem, về gọi cho Thầy hay sau.

            -Như vậy, anh vẫn chưa biết Thầy đi bệnh viện?

            -Dạ, chưa.

            -Bây chừ , anh theo dõi tin tức,có gì anh gọi cho tui hay với. Có lẽ,tui cũng sắp đặt và về với Thầy vài ngày.

            Thế rồi, tôi quyết định lấy vé và bay về Phật học viện Quốc tế để biết rõ tình cảnh ra sao. Anh Đường đến phi trường Burbank chở thẳng tôi vào tận bệnh viện. Vừa bước vào là Thầy đã cảm động và cả hai đều chảy nước mắt. Chúng tôi không chịu đựng được và sợ Thầy quá xúc động làm cho mệt thêm, nên chúng tôi tìm cách ra ngoài một lát. Bốn mươi lăm phút sau, chúng tôi đi vào ngồi bên cạnh Thầy gần hai tiếng đồng hồ; sau đó, về viện. Tôi ở lại được mấy hôm, thấy Thầy có vẻ khá, tôi xin trở lại Từ đàm. Khi tôi rời khỏi bệnh viện thì Thượng tọa Tịnh Từ lái xe từ Tu viện Kim sơn ghé thăm.

            Bác sĩ quyết định mổ cái bướu trong gan, nhưng , Thầy từ chối và chỉ chữa bằng thuốc. Bệnh tình thuyên giảm, Thầy trở lại Viện, tiếp tục dưỡng bệnh. Bệnh tạm khá, tôi qua thăm và ở lại gần cả tuần. Trong lần này, tôi thưa Thầy nên  tổ chức giỗ Tổ Liễu Quán (đây là lần giỗ Tổ thứ hai tại Hoa Kỳ, lần đầu tại Từ đàm Hải ngoại), vì không thể lên chùa của Thầy Vân Đàm ở Falls, Church, tiểu bang Virginia được. Lý do, lúc nầy vấn đề khủng bố đang xảy ra trầm trọng, sự di chuyển khó khăn và có phần nguy hiểm. Và trong ngày Giỗ Tổ, Thầy tổ chức luôn Đại lễ an vị chư tôn tượng Phật và Bồ tát tại Tân chánh điện mới rất trọng thể và đông đảo quần chúng Phật tử, mặc dầu mới hoàn tất chương trình xây cất được ba phần tư công tác.

            Tôi và Thầy hay trao đổi cho nhau những tâm tình Phật sữ của Viện, của Từ Đàm và của Giáo hội.

            Tôi biết Thầy có bệng Tiểu đường, đi đâu, Thầy cũng lè kè những bình thuốc do đệ tử chưng nấu hẳn hoi để mang theo mỗi khi đi diễn giảng các hội Phật giáo xa xôi khắp Hoa kỳ và Canada. Không một đơn vị nào dù là trong hay ngoài Giáo hội, dù là nhỏ hay lớn, một khi đã cung thỉnh Thầy về thuyết giảng, chứng minh mà Thầy không tận tình trong nhiệm vụ Sứ giả Như llai, của một bậc Sư trưởng, một nhà dìu dắt đầy chân tình và tận tụy. Đi đến đâu, Thầy cũng khuyến tấn đàn hậu học dù xuất gia hay tại gia, phát tâm tu học, hướng về con đường mà Giáo hội từ ngàn xưa đã gầy dựng, xiển dương và duy trì.

            Hình ảnh của Thầy đi đến đâu là ban rãi tình thương đến đó. Những ai đã được gặp Thầy một lần, thì bằng mọi cách cũng tìm về Phật Học Viện để xin cận kề học hỏi.

            Những lần Đại hội sơ khởi để thành lập Giáo hội, hay là sau khi đã được hình thành, nếu chọn Phật Học Viện làm nơi hội họp, thì Thầy lo lắng và phục vụ hết mình từ vật chất đến tinh thần. Thầy nghe chư Tăng cung tựu là Thầy vui vẻ, giống như mở hội chính trong lòng. Thầy tận tình chăm sóc, hỏi han từng vị một, cho dù Tăng hay Ni, lớn hay nhỏ. Riêng mối thâm tình keo sơn giữa Hòa thượng Hộ Giác và Thầy nối dài từ quê nhà ra hải ngoại thì không nói.

            Thầy đã cư xử, đối đãi với chư tôn đức, dù sơ giao hay thâm giao, thường hay nhường chỗ nằm nghỉ thường nhật của mình cho các vị lớn trong đó có hai vị thường lấy làm cảm động và hay tâm sự với tôi: đó là Hòa thượng Thắng Hoan và thầy Thiện Trì.

            Hai vị, mỗi khi trà đàm với tôi, đều nói:

            -Ông cũ Đức Niệm cứ nhường chỗ nằm của cụ để mình ngủ nghỉ, thấy ngại quá. Chúng tôi từ chối.

            Nhưng Thầy nói:

            -Quý Ngài về đây thành tâm chung lo Phật sự và hết lòng xây dựng Giáo hội, xiễn dương Chánh pháp, phục vụ quốc gia dân tộc là quý lắm rồi. Chúng tôi phục vụ các ngài có sao đâu. Miễn sao các ngài hoan hỷ.

            Kể từ khi Thầy lâm trọng bệnh gần một năm rồi, cách một hoặc hai tháng, tôi lại về với Thầy một lần và mỗi lần như thế cả tuần lễ. Những lúc Thầy có sực khỏe tương đối, tôi cùng Thầy thường hay đi bách bộ có khi thì trong vườn thiền của Phật Học Viện, có khi đi xa hơn ra ngoài đường phố để tâm sự với nhau về những  Phật sự đã làm trong những ngày sống đời xa xứ. Thầy thường bảo:

            -Nếu tôi được bình phục, bằng mọi cách, tôi sẽ tạo dựng một cơ sở tương đối khá lớn hơn Phật Học Viện hiện nay để cúng dường cho Giáo hội làm cơ sở, văn phòng sinh hoạt được tốt và thuận duyên hơn. Những Đại lễ mà đặc biệt là Phật đản, Đại hội,v.v …cũng dễ dàng cho Giáo hội.

            Nghe Thầy nói, tôi lấy làm cảm động và hồi tưởng lại những ngày đầu, chư tôn đức Tăng Ni, không phân biệt tông phái, môn phái, đã vâng Giáo chỉ của đức Tăng Thống Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, về dự phiên họp đầu tiên để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ- Làm lễ Tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu-Đại hội Thường niên Một, nhiệm kỳ I-Đại hội Khoáng đại Tám do Giáo hội Mẹ phó thác đều cử hành tại Phật Học Viện.

            Những chi phí căn bản cho những Đại lễ hoặc Đại hội, tuy nói là Giáo Hội lo liệu, nhưng thật ra, Thầy gánh vác tất cả. Chính tờ báo Phật giáo Thống nhất cũng vậy. Điều nầy, tôi biết rõ và rất rõ. Và, chư tôn Thiền đức đều thấy.

            Cơn bệnh trầm trọng của Thầy khoảng hơn một năm lại tái phát. Thầy vừa vào bệnh viện lần thứ hai chưa được hai hôm thì tôi đã có mặt bên giường bệnh cùng Thầy. Tôi cầm tay Thầy và nói những câu chuyện vui để cho Thầy có thể quên đi cái đau và quên đi một phần nhỏ lo lắng trong cái lo lắng bao la mà cuộc đời Thầy đang gắn bó với Đạo pháp và Quê hương.

            Thân bệnh mà tâm không bệnh. Thầy vẫn cố gắng dạy đồ chúng và vẫn hướng dẫn thợ thuyền làm cho xong chương trình xây cất Tân chánh điện cũng như dựng các tôn tượng Phật A Di Đà và Di Lặc trong khuôn viên của Viện. Thầy rất mong được chứng kiến và được tự thân dự lễ An vị.

            Bệnh tình tái phát khá trầm trọng. Thầy vào bệnh viện trở lại trước tết Quý mùi. Chư Tôn Giáo Phẩm và hàng Phật tử rất lo ngại. Tăng chúng của Viện cũng như anh Đường báo cho tôi biết là Hòa Thượng bệnh nặng lắm. Bác sĩ bảo chỉ vài ngày nữa.

            Tôi thưa với anh Đường:

            -Bây giờ chỉ biết cầu nguyện. Ngoài tha lực của Phật thì không cách nào hơn. Chúng ta  mong cầu làm sao để Hòa thượng qua khỏi đêm Giao thừa là quý rồi.

            Anh Đường nói:

            -Tôi cũng mong như vậy.

            Tôi thành  tâm cầu nguyện trước Phật đài; đồng thời, tôi cũng sắp đặt việc chùa và thưa trước với Phật tử của Từ đàm là:

            -Hòa thượng Đức Niệm có thể hầu Phật bất cứ lúc nào. Thầy mua sẵn vé trong tay. Nếu Ngài đi ngoài Tết thì quý. Giá như Ngài đi trong tết thì quý vị theo Sư cô Trú trì mà chu tất mọi việc. Thầy phải qua Phật Học Viện để lo liệu.

            Hàng Phật tử của Từ Đàm chỉ biết y giáo phụng hành.

            Qua khỏi tết, rồi qua khỏi rằm Thượng nguyên Quý mùi, lòng tôi mừng khấp khởi. Mua vé về với Thầy và ở lại gần tuần. Trong rằm tháng hai, tôi hướng dẫn đồ chúng của Phật học viện lạy Thù ân, sám hối và tụnh Lương hoàng Sám pháp để hồi hướng cho Thầy. Trước khi tụng, tôi thưa với Thấy rằng:

            -Nếu , trong ngày Rằm này, Thầy xả bỏ báo thân để về với Phật thì tốt, nhưng nếu Thầy nhắn nhủ và thị hiện điều gì thì đến ngày 19 tháng hai, vía Bồ tát Quán Thế Âm, Thầy hầu Phật cũng được.

            Thầy cười vui vẻ.

            Hằng ngày, tụnh kinh bái sám cầu nguyện cho Thầy, nhưng cũng trực tiếp sám hối cho chính mình và ở luôn bên Thầy cho đến giờ thầy ra đi.

            Cách ngày vía Quán Thế Âm, thấy thần sắc của Thầy vui và khỏe hẳn ra, tôi định đổi vé trở lại Dallas để làm lễ. Vé chưa kịp đổi thì chiều ngày 17, Thầy có vẻ như yếu và muốn ra đi, tôi mặc áo và ngồi suốt bên Thầy. Thầy bảo thì thào;

            -Mặc áo hậu và đỡ tôi ngồi dậy cho trang nghiêm để nghe chư Tăng hộ niệm.

            Thầy ngồi rất nghiêm trang, vừa nghe chư Tăng hộ niệm vừa đưa mắt nhìn từng vị một. Trong đêm 17 âm lịch nầy, có một lúc Thầy bảo:

            -Cho Thầy ăn uống một tí gì đi.

            Cô Diệu Tánh lấy muỗng đút cho Thầy ăn chút bánh bông Lan và uống nước ngọt.

            Trong lúc đang ăn, tôi hỏi:

            -Sao Hòa thượng ăn thấy ngon không?

            Thầy cười và gật đầu. Tôi nghiêng tai nghe Thầy nói:

            -Ngon.

            Tôi cười to và Đại chúng cùng cười lên. Lúc ấy, ai nấy đều thấy cõi lòng của mình vui chi lạ. Và, hình như không thấy ở nơi Thầy có một cử chỉ đau nhứt nào. Khuôn mặt hiền hậu, dễ thương.

            Có lẽ, những giây phút rtong đêm 17, là ngọn lửa bùng cháy rực lên lần cuối trước khi vĩnh viễn không còn được cháy sáng nữa. Suốt ngày 18, Thầy yếu dần nhưng vẫn tỉnh thức. Tôi và anh Đường cứ theo dõi và chuẩn bị mọi thứ để sẵn sang công bố.

            Trong ngày 18 âm lịch, đúng 11 giờ, Hòa thượng Mãn Giác, từ chùa Việt Nam lên Phật Học Viện để gặp Thầy lần cuối cùng. Rất dể thương trong những giây phút gặp gỡ giữa Hòa thượng Mãn Giác và Hòa thượng Đức Niệm. Hòa thượng đến rất bất ngờ, làm tôi cũng bối rối. Tôi cho gọi môn đồ của Viện, y hậu chỉnh tề, đảnh lễ Hòa thượng Mãn Giác, trước khi đưa Ngài vào thăm. Tôi hướng dẫn Hòa thượng Mãn Giác vào bên giường, Hòa thượng Đức Niệm, chấp tay xá và ngài Mãn Giác nói:

            -Nghe thầy bị đau, thầy ni lên thăm.

            Tôi đưa tay nắm tay Hòa thượng Mãn Giác để lên tay của Hòa thượng Đức Niệm. Tay trong tay và bốn mắt nhìn nhau, không ai nói với ai câu nào. Hòa thượng Mãn Giác thì nước mắt lưng tròng, Hòa thượng Đức Niệm thì niệm Phật thì thào qua hơi thở không được đều lắm.

            Sau gần một giờ thăm viếng, tôi tiễn đưa Hòa thượng Mãn Giác r axe. Trước khi ra về, Hòa thượng có nhắn nhũ dạy bảo cho môn đồ của Viện những điều rất chân tình.

            Tôi lại trở vào và bắt ghế ngồi bên cạnh Thầy, miệng niệm Phật, mắt đưa về khuôn mặt của Thầy để theo dõi từng phút, từng giây. Hơi thở của Thầy khi dài, khi ngắn, khi thì thông suốt, khi thì mệt nhọc. Hai mắt bắt đầu nhắm nghiền lại. Chốc chốc lại hé ra như muốn nhìn hay nói lên một điều mà không thể làm được. Chúng tôi cũng chỉ biết niệm Phật và nhìn trở lại.

            Vào khoảng hai giờ rưỡi chiều, ngày 18, Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Châu từ Los Angeles lên thăm. Hòa thượng, đến đột ngột và tôi cũng bối rối, nhưng tất cả đều thông cảm cho nhau. Hòa thượng theo tôi vào tận giường của Thầy để thăm. Hòa thượng Tâm Châu nhìn và niệm Phật, đồng thời, Ngài bảo:

            -Thôi thì hết duyên độ sinh thì về với Phật.

            Hòa thượng nói đến đó, và liên hồi niệm Phật độ hai mươi phút, ngài từ giã trước khi ra về, ngài còn nói thêm:

            -Có Tín Nghĩa ở đây thì tôi yên tâm. Bây giờ tôi về trở lại trên Los. Có gì Thượng tọa cho tôi hay.

            Tôi dạ và tiễn Hòa thượng lên xe, rồi cũng quay trở lại với Thầy.

            Cái dễ thương đặc biệt của hai Hòa thượng là: Vị nào cũng gọi điện thoại trước khi lên Viện thăm Thầy, nhưng, không được. Vì trong giây phút sau cùng nầy quá sức bối rối, cho nên không ai nhận điện thoại hoặc điện thoại bận. Thế nhưng, nhị vị Hòa thượng vẫn bảo thị giả lấy xe chở đi. Hai Ngài cũng có chung một ý nghĩ như nhau là :

            -Con cứ chở Thầy lên thăm Hòa thượng Đức Niệm đi. Nếu không vào thăm được, đứng ngoài phòng nhìn vào, Thầy cũng đủ yên tâm lắm rồi.

            Bởi thế, khi có các vị vào cho tôi hay là có Hòa thượng lên, tôi chạy ra là các Ngài đã ngồi đợi bên ngoài rồi.

            Gần tám giờ tối, đêm 18, tôi cho gọi hết đồ chúng và cung thỉnh nhị vị Hòa thượng Trí Chơn, Huyền Dung cùng vào và đồng thanh niệm Phật. Câu Nam Mô A Di Đà Phật vang lên cả gian phòng. Không ai nói năng gì chỉ chuyên một lòng niệm Phật và chăm chú vào Thầy. Hơi thở dồn nhanh dần và có những lúc như dứt khoảng. Tôi, thầy Minh Chí, Sư cô Diệu Tánh đồng ghé vào tai Thầy để nói:

            -Hôm nay là ngày 19 tháng hai, vía Bồ tát Quán Thế Âm, Thầy về với Phật là rất tốt.

            Nhị vị Hòa thượng thức suốt đêm hôm đó. Đồng hồ vưa điểm hai giờ sáng, của ngày vía, Thầy trút hơi thở và vĩnh viễn xả bỏ tấm thân nhỏ bé vô thường để về cảnh giới thường tịch trong tiếng niệm Phật của Đại chúng.

            Tôi đã trực diện từ đầu đến cuối sự ra đi thanh thản của Thầy. Thoải mái, an nhiên, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cơn bệnh trầm trọng của Thầy. Tôi rất cảm phục. Tuy thế, lòng tôi vẫn đau buồn thương tiếc. Để gói lại những sự liên hệ giữa tôi và Thầy, tôi có những câu thơ mộc mạc gởi đến Thầy:

                        Chúc Thầy thanh thản, an nhiên,

                        Tây phương Thánh cảnh là miền an vui,

                        Thầy nay mây trắng lưng trời,

                        Còn tôi ở lại, đầy vơi hồng trần.

                        Di Đà trì niệm chuyên cần,

                        Mong ngày tái ngộ tri âm cùng Thầy.

            Đám tang của Thầy được Giáo hội tổ chức trọng thể. Đây là đám tang lớn nhất xưa nay tại hải ngoại kể từ khi có làn sóng vượt biển 1975.

                                                                        Tỳ Kheo THÍCH TÍN NGHĨA

                        TƯỞNG NIỆM CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NIỆM

                                                                                                Trần Quang Thuận

                                                            Không nói mà nói

                                                            Nói mà không nói

            Mỗi lần qua Phật Học Viện Quốc Tế tôi thường đến trước di ảnh của Hòa Thượng Đức Niệm đặt trên bàn thờ ở Tổ đường để đảnh lễ vị khai sơn Chùa, hồi tưởng lại những ngày Ngài còn sống trên trần thế, với những cái vui cái buồn của thế gian, cái âu lo khắc khoải, cái âm thầm hoan hỷ về Phật Giáo thăng trầm biến thiên; hồi tưởng lại những ngày đầu tiên cùng ngài ngồi trước thềm nhà Ananda, Quốc Tế Thiền Viện,Los Angeles, bàn việc thành lập Phật Học Viện Quốc Tế.Ngày tháng trôi qua như tên bắn, bao nhiêu vật đổi sao dời.

            Giờ đây nhìn di ảnh ngài điềm nhiên tự tại,lẳng lặng như chứa chấp những gì muốn nói mà không nói, hay không nói những điều muốn nói, giống như độ nào, trong chuyến hành hương Ấn Độ cách đây gần 15 năm. Hòa Thượng đứng nhìn di tích điêu tàn của ngục thất giam vua Tần Bà Ta La tại ngoại ô thành Vương Xá. Lúc ấy Hòa THượng cũng không nói một lời, mặt trầm ngâm, thể hiện nỗi buồn nhân thế. Tại đây vào thời xa xưa, Phật đã vì bà Vi Đề Hy, hoàng hậu của vua Tần Ba Ta La và mẫu hậu của vua A Xà Thế nói Kinh A Di Đà, tả cảnh Tây Phương Cực Lạc… Không biết lúc đó Hòa Thượng có nghĩ đến số phận của ngôi chùa Nhật Bản ở Little Tokyo, Los Angeles, ngôi chùa thành lập cách đây 100 năm, tiếp nối và truyền thừa dòng Tịnh Độ của Nhật Bản cách đây 780 năm, có thể sống còn trên mảnh đất mới Hoa Kỳ hay không, mà theo thống kê, số người Nhật theo Phật Giáo, theo Tịnh Độ Tông ngày càng ít. Thống kê thực hiện vào năm 1998-2000 cho ta thấy 37.4% số người tuổi từ 65 trở lên theo Phật Giáo, 35.7% theo Cơ Đốc Giáo, 7% theo các tôn giáo khác, 20 % không theo tôn giáo nào, trong khi thanh niên thuộc hạng tuổi từ 18 đến 29, chỉ 10.7% theo Phật Giáo, 21.5 % theo Cơ Đốc ,32.1% theo các tôn giáo khác, 35.7% không theo tôn giáo nào . Với thời cực thịnh đầu thập niên 1960, chùa có 20 đội thể thao, có tổ chức thanh thiếu niên Phật Tử, có những khóa học Phật Pháp. Giờ đây những đội thể thao, có tổ chức thanh thiếu niên Phật Tử, những lớp học Phật Pháp đã vắng bóng, số người dự lễ hàng tuần không quá 100, so với trước đây hàng nghìn người. Sự im lặng của Hòa Thượng, còn sấm sét hơn tiếng rống của sư tử trong rừng hoang.

            Trước khi lên đường trong chuyến hoằng hóa cuối cùng, đức Thế Tôn ngự tại Núi Linh Thứu ở thành Vương Xá, thủ đô của nước Ma Kiệt Đà, ngày nay là tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Núi Linh Thứu cao. Đầu núi nhô ra như đầu của con chim ưng, bao tỏa khu rừng rậm bao la. Đức Phật đặt chân nơi đây, dù chưa nói một lời, đã chuyển hóa được A Xà Thế, trở thành người hộ pháp đắc lực. Tại đây đức Phật đã nói Kinh Vô Lượng Nghĩa, nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ Định, giảng thuyết kinh Pháp Hoa, khai thị tri kiến Phật, cho chúng sinh biết đức Như Lai không rời thế gian. Ngài đắc đạo là do quán sát thế gian pháp. Lìa bỏ thế gian thì tu hành không thể thành tựu. Trên núi hiện nay còn có di tích chỗ Phật ngồi thuyết pháp, hang động của các đại đệ tử. Tại nơi này cách đây gần 15 năm Hòa Thượng Đức Niệm đã đảnh lễ pháp tọa của đức Như Lai, im lặng chấp tay thành kính, hướng đến đức Thế Tôn. Hòa Thượng muốn tâm sự gì với Phật? Lời lẽ có đủ sức chuyên chở ước mơ, kỳ vọng của Hòa Thượng?

            Sau một thời gian cư trú tại Núi Linh Thứu, Phật và hàng thánh chúng đi đến Ambalathika, Nalanda, nơi sau này một trung tâm Phật Giáo nổi tiếng, một trường đại học Phật Giáo vang danh thế giới, nơi dung chứa trên 10,000 tăng sinh tu học trong đó có Đường Tam Tạng được thành lập, nhưng giờ đây chỉ còn những đống gạch vụn, Hòa Thượng âm thầm đứng nhìn nền của thư viện mà quân Hồi phải mất ba ngày đốt cháy trước sự hoan hô của hàng nghìn vạn quân chiến thắng. Người ta sung sướng, vui mừng trong sự khổ đau của người khác. Hòa Thượng hồi tưởng lại lời nói của Quận Công Wellington sau trận chiến Waterloo, khi nhìn cảnh chết choc điêu tàn sau trận đánh lừng danh: “ Nothing except a battle lost can be half as melancholy as a battle won…” Chiến tranh để lại nỗi buồn tê tái cho kẻ thắng trận cũng như người chiến bại.

            Từ Nalanda Phật và hàng thánh chúng đi đến Pataligama , Nadika, Vesali. Vesali là nơi sinh của Mahavira, là trung tâm của Kỳ Na Giáo, vừa bị hạn hán, dân chúng đói khổ và chết chóc  rất nhiều. Nghe tin Phật đến, Mahali, bạn của vua Tần Ba Ta La, đại diện cho dân Vajjins, ra thành đón tiếp. Phật và 500 Tỳ kheo vừa bước chân vào thành Vesali thì một trận mưa rào đổ xuống, một điềm lành và là một món quà tặng cho dân chúng thành Vesali.

            Sau mùa kiết hạ an cư,Phật và hàng thánh chúng từ giả Vesali trên đường đến Kusirana. Đến sông Kakuttha, Phật xuống sông để tắm. Tắm xong,Phật lên bờ, đi về một vườn xoài gần đó, báo cho A Nan biết bữa cơm do Cunda cúng dường là bữa cơm cuối cùng. Sau thời gian nghỉ ngơi Phật đi qua bên kia sông Hirannavati để đi vào rừng cây Sala của bộ tộc Mala. Rừng cây này nằm giữa ngã ba đi vào thành phố Kusinara. Trời đã xế chiều nhưng khí trời oi ả, Anuruddha đứng bên cạnh Phật quạt hầu, Phật hỏi A Nan vào khuyên nhủ và nói bài pháp cuối cùng mà sau này gọi là Kinh Đại Bát Niết Bàn. Nói xong Ngài từ từ nhắm mắt. Đại địa rung động, hoa Sala rụng xuống như mưa. Đức Phật đã nhập niết bàn.

            Thành phố Kusinara chiều này sao mà cô tịch. Không một bóng người qua lại. Từ ngôi nhà trọ bên này đường, Hòa Thượng Đức Niệm và phái đoàn hành hương hướng nhìn tháp Phật, rào rạt niềm xúc cảm, muốn khóc, muốn nói mà khóc không lên tiếng, nói không lên lời, tại sao Phật nhập niết bàn, tại sao số phận của chúng con qua hẩm hiu, tại sao Phật không ở lại với hàng chúng sinh đang còn quằn quại trong biển sinh tử luân hồi?

            Hòa Thượng có biết không, những người đệ tử của Hòa Thượng, những người mến mộ Hòa Thượng giờ đây cũng cùng một tâm sự, cũng than thân trách phận.

                        Tuy hai mà một.

                        Tuy một mà hai.

            Hôm đó Phật Học Viện Quốc Tế đứng ra tổ chức đón tiếp đại diện các tôn giáo bạn trong phong trào vận động đòi tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Cố Hòa Thượng nhân danh Viện Chủ, Giám Đốc Phật Học Viện Quốc Tế và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, tỏ lời chào mừng và cám ơn quan khách. Hòa Thượng nhấn mạnh vận mệnh Phật Giáo đi đôi với vận mệnh dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước, để đi đến kết luận Dân Tộc và Đạo Pháp là một. Đại diện các tôn giáo ngồi lắng nghe đạo lý tuy hai mà một , tuy một mà hai của Phật Giáo đối với dân tộc Việt.

            Sau buổi gặp gỡ, mạn đàm, Phật Học Viện Quốc Tế đãi đại diện các tôn giáo và quan khách một bữa cơm chay thân mật. Ngồi cạnh vị đại diện Cơ Đốc Giáo tôi hỏi cảm tưởng của vị ấy về lời phát biểu của Hòa Thượng Viện Chủ, vị ấy khéo léo cho biết Phật Giáo, trong dòng sinh mệnh Việt Nam, đã đóng góp lớn. Tôi hỏi vị ấycó thoải mái không khi phải dùng hai đôi đũa, một đôi dùng để và cơm và một đôi dùng để gắp đồ ăn. Vị ấy cho biết hơi bỡ ngỡ lúc đầu. Tôi nói nếu dùng lâu rồi sẽ quen, sẽ rất tự nhiên, sẽ thấy tuy hai đôi đũa mà giống như một đôi, không khác gì Dân Tộc và Đạo Pháp, nói nhiều lần sẽ thấy tự nhiên không có gì trở ngại, không chê, không khen , không thành kiến, không độc tôn, giống như Hòa Thượng đã nói, đã phát biểu mà vẫn bình dị, khiêm cung, tận tâm, phục vụ.

            Vào Mùa Tạ Ơn, Giáo Hội Thống Nhất Tin Lành, the United Church of Christ dự định phát động chương trình quảng cáo toàn quốc trên hệ thống truyền hình, mở cửa, dang tay đón tiếp mọi thanh niên nam nữ đồng tình luyến ái. Lời nhắn nhủ rất giản dị: “ Chúa không từ bỏ bất kỳ người nào, vì vậy Giáo Hội đón nhận tất cả.” Nhưng các đài truyền hình không nhận lời quảng cáo nói trên, vì cho rằng lời quảng cáo ấy sẽ gây nên nhiều sự chống đối v.v…

            Thế giới ngày càng phức tạp. Tại sao không giản dị nó đi, tại sao không tuy hai mà một, tuy một mà hai?

                        Tuy có mà không.

                        Tuy không mà có.

            Trong chuyến hành hương Ấn Độ cách đây gần 15 năm, phái đoàn Việt Nam do cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm cầm đầu, được hai vị sư Tích Lan ở Calcutta và Bồ Đề Đạo Tràng thay phiên túc trực, hướng dẫn đi chiêm bái khắp nơi. Giờ phút chia tay thật hết sức cảm động. Cảm động ở chỗ giản dị của nó. Hòa Thượng chấp tay từ giã, hai vị sư Tích Lan cũng chấp tay từ giã như không có chuyện gì xảy ra.

            Về Mỹ một thời gian nghe tin vị sư Tích Lan sắp sửa trùng tu chùa ở Bồ Đề Đạo Tràng, Hòa Thượng gởi tiền cúng dường, âm thầm và giản dị như không có chuyện gì xảy ra. Vị sư Tích Lan trẻ tuổi giờ đây đến Hoa Kỳ tu học,nghe tin Hòa Thượng viên tịch, đến đảnh lễ di ảnh để trên bàn thờ, dấu vết cuối cùng còn lại Hòa Thượng, không mồ, không tháp, cát bụi trở về với cát bụi, nắm tro tàn đã rải xuống biển Thái Bình Dương, hòa với nước, với sóng. Cuộc đời tuy có mà không, nhưng trong cái không ấy có vô lượng cái có, cái có thường hằng của thể tánh Như Lai, hiện tượng và thể tánh hòa thành một.

            Không cần di ảnh, tôi vẫn có thể hình dung một cách rõ ràng hình bóng Ngài, tôi vẫn cảm thấy ngài ở bên cạnh, hiền hòa, dung dị, vừa khuyến khích đường tu , vừa ân cần trò chuyện…

                                                            Tưởng Niệm

                                                                                    T.N.Như Đức

            Con xin phép trở về quá khứ, những ngày Thầy còn dạy Ni trường Dược Sư, những ngày rất bình yên của chúng con.

            Lớp học nằm một bên sân, cạnh cây Sapôchê già cỗi, gốc to sù sì đen bóng, một cái giếng đậy miệng cẩn thận, mấy hàng bông vui vẻ đơm hoa lá rì rầm. Những bộ bàn ghế học trò lên  nước có thể soi mặt được vì ngày nào cũng có người ngồi, áo lam nhật bình hay áo tràng rộng, quét mãi trên mấy mặt bàn ghế. Ở đó chúng con để những trang qua khứ của mình trong cái hộp bằng vàng, mỗi lần nhờ kỷ niệm , giở ra cẩn trọng.

            Thầy dạy môn Sử Phật Giáo Việt Nam. Con nhớ hình ảnh Thầy rất vui, luôn tạo không khí sinh động cho môn học vốn đã hứng thú. Khi Thầy nói đến các vị thiền sư một thời giúp vua giúp nước, Thầy cũng muốn gởi tâm huyết của mình, muốn nhắn nhủ chúng con. Hoài bảo của Thầy, là chúng con phải học giỏi, tu giỏi để có thể làm việc được, gọi là tiếp nối trang sử rực rỡ của người xưa. Hồi đó chúng con chỉ cảm nhận, nhưng còn thói quen ham chơi, và đôi lúc Thầy cũng phải thấy tội nghiệp khi có đứa vừa dứt câu niệm Phật…đã ngủ .Trả bài thuộc lòng với Thầy, đôi lúc phải thông minh khi Thầy hỏi những câu ngoài bài. Một vị Thầy trẻ, năng động, có nhiều nguyện ước cần thực  hiện, gởi những điều kỳ vọng của mình khi dạy các vấn đề liên quan đến mạch sử quê hương.

            Con hay bị lôi kéo theo trí tưởng . Cuộc đời của các vị Cao Tăng thời kỳ đầu tiên mở nước, có nhiều hành tung khó hiểu. Có vị ở ẩn non cao, cất am trong mây, vui với chim rừng vượn khỉ. Có vị vào ra chốn triều đình, danh lợi chức quyền trọng vọng. Có vị đầy huyền thuật, dời núi thâu đường, trị bịnh vua quan. Các Ngài hiện diện bên cuộc đời thường, chung một niềm lo nước nhà, hòa mình với mong ước của dân, đôi lúc chì là mong có mưa thuận gió hòa để cày bừa gặt hái. Chỉ hé lộ cái siêu nhiên của mình lúc sắp ra đi, việc cần làm đã làm xong, gởi cho môn đồ một cành mai y nhiên sân trước. Con vừa kính phục mà cũng thấy khó đoán định, đâu là cách sống thật.

            Bài học Sử Phật Giáo là điều chúng con khắc khoải, như hoài vọng của người tu sĩ hôm nay. Khi con gặp lại Thầy, ở Los mùa hạ năm 2002, Thầy chừng như chứng nghiệm đầy đủ. Tuy vậy,Thầy hiền từ điềm nhiên hỏi thăm công việc chúng con, tỏ vẻ hoan hỷ và khuyến khích, bảo nên gắng làm Phật sự trong khi còn có thể. Thầy cũng có nói về bịnh  của Thầy, như là chuyện phải bịnh, phải trị liệu, kiên nhẫn với mình. Thầy không nói  chuyện lâu được, và con cứ xót xa trong tâm. Khi Thầy vô phòng nghỉ rồi, con dạo quanh vườn chùa, khuôn viên êm ả thanh tịnh, biết bao công lao chăm sóc của Thầy để dựng lại hồn dân tộc trên nước người.

            Kính bạch Thầy, con nghe tin Thầy viên tịch, trong ngày vía đức Bồ Tát Quán Thế Âm, bùi ngùi hướng về phương trời xa kính lễ. Thế giới vật chất có cách trở nhưng gần gũi với chúng con, là hình ảnh Thầy dạy học ngày xưa, là những  điều tâm nguyện mà Thầy luôn nhắc nhở. Nghĩ về cuộc đời của Thầy, về lẽ vô thường sanh diệt, nhân duyên của thân, nhân duyên của thời đại. Con như được mở mắt ra. Con hết thắc mắc vọng  tưởng về các bài học Sử. Không cần phải tìm xa xôi. Thầy chính là cách sống, cách suy tư làm việc của các bậc Tăng sĩ Việt Nam. Tùy thời, tùy hoàn cảnh, phù hợp với nhịp sống quanh mình, làm hết khả năng của mình, luôn nghĩ đến an lạc cho chúng sanh. Mọi thứ đều biến chuyển, hôm nay không phải ngày xưa nên không thể đem khuôn mẫu nào để áp đặt. Thầy hiện diện trong từng ấy năm, để lại cho chúng con một tấm gương rất thật, lời dạy và việc làm của Thầy chỉ cốt vẽ cho chúng con đường phải đi tới. Tu học trong ý thức Phật Đà, nhớ mình là người sống ở đời nhưng cũng