Tiểu Sử
Ni Trưởng Thích Nữ Tâm Đăng
Ni
Trưởng Thích Nữ Hạnh Viên Tọa Chủ Chùa Linh Sơn, phường Vĩnh Nguyên,
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ni Trưởng, thế danh BÙI THỊ HẢI, húy thượng TÂM hạ ĐĂNG.
Tự HẠNH VIÊN, hiệu CHƠN NHƯ, đời thứ 43 dòng Lâm Tế.
Sanh
ngày 25 tháng chạp năm Ất Mão (1915) tại Thành nội Huế, tỉnh Thừa
Thiên, trong một gia đình nhiều đời tin Phật.
Thân phụ là ông Đốc Học BÙI CHƯƠNG, Pháp danh: HỒNG HUY.
Thân mẫu là cụ bà TRẦN THỊ LAN – Pháp danh: TÂM ĐỨC.
Ni Trưởng là con cả trong gia đình có 8 chị em, 5 gái, 3
trai.
Năm 18
tuổi (1933 – Quí Dậu) xuất gia, thọ giới Sa-Di-Ni với Ngài thượng
TRỪNG hạ PHƯỚC, hiệu HUYỀN Ý tọa chủ chùa Liên Tôn Bình Định.
Năm 24
tuổi (1939 – Kỷ Mão) thọ Cụ Túc Giới tại Đại Giới Đàn chùa Bình
Quang, Phan Thiết do Hòa Thượng TÔN THĂNG PHỔ THIÊN làm đàn đầu.
Năm 25
tuổi (1940 – Canh Thìn) được Bổn Sư cho phép vào học Phật Pháp tại
chùa Hội Sơn Thủ Đức Sài Gòn.
Mùa An
Cư năm 1942 (Nhăm Ngọ) tùng hạ tại chùa Phổ Đà - Đà Nẵng và được thọ
giáo với Hòa Thượng TÔN THẮNG. Sau mùa An Cư, Ni Trưởng được Hòa
Thượng TÔN THẮNG gởi ra học tại Ni Trường Diệu Đức Huế. Trong thời
gian tu học tại đây, Ni Trưởng đã phát nguyện chặt ngón tay út (tay
phải) cúng dường cầu nguyện quốc thái dân an, và nhân dân thoát khỏi
thiên tai bão lụt.
Từ năm
1943 – 1947, vân du tham học tại các Tổ Đình danh tiếng từ miền
Trung đến miền Nam tới tận miền Tây Sa Đéc, nơi nào cũng đựoc các
danh Tăng truyền thọ những cốt lõi thâm sâu của Kinh Luật Luận…
Năm 33
tuổi (1948 – Mậu Tý) mới dừng bước vân du và nhận Trú trì chùa Linh
Sơn (Chutt) Vĩnh Nguyên Nha Trang Khánh Hòa, bắt đầu thực hiện tâm
nguyện: Kiến Lập Đạo Tràng Hoằng Dương Chánh Pháp.
Năm 36
tuổi (1951 – Tân Mão) tiếp nhập và Đại Trùng tu chùa Minh Hương tại
Diên Toàn – Diên Khánh và đổi tên chùa là Minh Phước, trạch cử Đệ tử
thứ hai là Ni Sư Thích Nữ Thông Ấn Trú trì để chăm lo phật sự tại
đây. Hiện nay Ni Sư Thông Thuận và Ni Sư Thông Định kế thừa.
Năm 39
tuổi (1954 – Giáp Ngọ) Trùng tu chùa Linh Sơn (Chutt) Vĩnh Nguyên
lần thứ nhất.
Năm 47
tuổi (1962 – Nhăm Dần) kiến lập Tịnh Thất Linh Sơn tại đồi núi Cầu
Đá để hàng năm nhập thất Kiết Đông. Cũng vào năm 1962 Ni Trưởng được
bầu làm Chánh Thư ký ban Kiến thiết sáng lập Ni Viện Diệu Quang.
Năm 48
tuổi (1963 – Quí Mão) tích cực tham gia cuộc tranh đấu bất bạo động
chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Ni Trưởng đã phát nguyện thiêu
thân nhưng Mẹ già và Huynh đệ không đồng ý. Do đó Ni Trưởng phát
nguyện chặt tiếp ngón tay áp út cúng dường cầu nguyện.
Năm 49
tuổi (1964 – Giáp Thìn) do việc phát nguyện thiêu thân vào Pháp nạn
1963 không toại, Ni Trưởng lại phát nguyện chích lưỡi lấy máu để tả
“ Tâm Kinh Bát Nhã và Phẩm Phổ Môn trong
Kinh Pháp Hoa” tại chùa Hoa Nghiêm Sài Gòn.
Cũng
vào năm (1964 – Giáp Thìn) Ni Trưởng kiến lập chùa Tịnh Đức tại đồi
Trại Thủy – Mã Vòng – Nha Trang làm nơi cư trú cho Ni chúng đang
theo học Văn hóa tại các trường Trung Học Bồ Đề, Nữ Trung Học Nha
Trang v.v… Và trạch cử Trưởng tử là Ni Sư Thích Nữ Thông Huyền (Thông
Thoại) làm Trú trì.
Năm 51
tuổi (1966 – Bính Ngọ) nhận chức Ủy Viên Ni Bộ Bắc Tông Vụ, kiêm
Trưởng ban Ni Bộ Bắc Tông GHPGVNTN tỉnh Khánh Hòa .
Năm 53
tuổi (1968 – Mậu Thân) Đại Trùng tu Bảo Điện chùa Linh Sơn và xây
dựng Trường Trung, Tiểu học Bồ Đề Linh Sơn, đồng thời mở Cô, Ký nhi
viện tại chùa Linh Sơn.
Cũng
vào năm (1968 – Mậu Thân) Ni Trưởng làm Đệ Nhị Tôn Chứng Ni tại Đại
Giới Đàn Phước Huệ chùa Hải Đức, Ni đặt tại Ni Viện Diệu Quang Nha
Trang.
Mùa hè
đỏ lửa năm Nhăm Tý – 1972 trứoc cảnh chiến tranh tàn khốc tại Cổ
Thành Quảng Trị, Ni Trưởng quá đau lòng nhưng chẳng biết làm sao nên
phát nguyện chặt ngón tay út của bàn tay trái cúng dường cầu nguyện
đất nước thái bình, nhân dân an lạc.
Năm 58
tuổi (19-2-Quí Sửu – 1973) Ni Trưởng được thỉnh làm giáo thọ A-Xà-Lê
truyền giới Sa-Di-Ni tại Tiểu Giới Đàn chùa Linh Phong Đà Lạt.
Cũng
vào năm 1973 (19-9-Quí Sửu) Ni Trưởng làm phó ban Kiến Đàn tại Đại
Giới Đàn Phước Huệ – Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang. Ni đặt tại
chùa Linh Sơn (Chutt), đồng thời là Đệ Nhất Tôn Chứng Ni tại Đại
Giới Đàn này.
Kể từ
năm 78 tuổi – 86 tuổi (1993-2001) Ni Trưởng luôn được thỉnh mời làm
Phó ban Kiến đàn và là Hòa Thượng Đàn Đầu Ni tại Đại Giới Đàn Trí
Thủ I – Trí Thủ II – Trí Thủ III tổ chức tại chùa Long Sơn Nha Trang,
Ni đặt tại Ni Viện Diệu Quang.
Ngoài
ra, trong suốt quá trình hành đạo Ni Trưởng đã mở nhiều Tiểu Giới
Đàn và làm Đàn Đầu Hòa Thượng truyền thọ giới Thức-Xoa-Ma-Na và Sa-Di-Ni
các Chùa trong và ngoài tỉnh.
Song
song với việc phục vụ Phật sự chung trong Giáo Hội và khiến lập, mở
mang, tu bổ Đạo tràng, từ khi hành đạo đến nay Ni Trưởng đã liên tục
thu nhận và đào tạo bao thế hệ Ni sinh, nhiều vị đã thành tài đang
phục vụ trong các cơ sở Giáo Hội, chăm lo Phật Sự tại khắp moi Miền
đất nước.
Trong
những tháng ngày gần đây, mặc dầu đã trải qua những cơn bệnh của
tuổi già nhưng tinh thần luôn sáng suốt, minh mẫn. Ngài thường nhắc
nhở hành hậu tấn phải luôn ghi nhớ bài Kệ của chư Phật đã dạy để làm
Kim chỉ nam trên con đường tiến đến quả vị Giải thoát:
NHẪN NHỤC ĐỆ NHẤT ĐẠO
PHẬT THUYẾT VÔ VI TỐI
XUẤT GIA NÃO THA NHƠN
BẤT DANH VI SA MÔN.
Như
trái cây đã chín mùi, như đi cuộc hành trình đã đến đích. Ni trưởng
an nhiên thị tich vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày mồng 05 tháng 10 năm
Ất Dậu (06/11/2005), tại chùa Linh Sơn, thành phố Nha trang. Trụ thế
91 tuổi. Hạ lạp 66 năm.
NAM
MÔ TÂN VIÊN TỊCH TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ LIÊN TÔN PHÁP
PHÁI KHAI KIẾN LINH SƠN TỰ TRÚ TRÌ HÚY thượng TÂM hạ ĐĂNG Tự HẠNH
VIÊN Hiệu CHƠN NHƯ ÂN SƯ GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.
---o0o---

Ý NGHĨA VIỆC LÀM CỦA
BỔN SƯ THƯỢNG TÂM HẠ ĐĂNG
ếu như Cố Ni Trưởng Thể Quán giáo hoá chúng sanh
bằng những mẫu chuyện “tình đời ý đạo”, những dịch phẩm”Kinh Pháp Hoa”,
Cố Sư Trưởng Như Thanh vận dụng những vần thơ trí huệ, những tác phẩm
trước tác, những dịch phẩm “Kinh, Luật”…; thì Thầy lại sử dụng ngay thân
liễu yếu của mình để làm Phật sự và giáo hoá chúng sanh. Nếu như Bậc
Thầy, Pháp Tỉ đem ánh sáng trí huệ chiếu soi nhân gian; thì Thầy lại
gieo hạt giống từ bi vào lòng người.Thầy hay bảo:”Người nhỏ làm việc nhỏ
tuỳ theo sức của mình”.
Thật vậy, nếu ai
đã từng đến Chùa Linh Sơn nương bóng từ bi của Thầy tu học, thì họ đều
cảm nhận tình thương Thầy dành cho mọi người không thiên lệch. Thầy sống
bằng tinh thần lục hoà đúng mức, không phân biệt đệ tử quy y hay đệ tử
y chỉ. Bất kỳ người xuất gia nào đã vào chùa,là tăng chúng thì phải sống
bằng giới luật phạm hạnh, không thể sống theo mô hình gia đình thế gian,
đệ tử quy y là con ruột, y chỉ là con nuôi, càng không thể kết bè kéo
cánh gây chia rẽ, làm mất sự đoàn kết Tăng đoàn, đó là lý do Thầy chọn
chữ “Thông”. Không phải Thông một đời mà Thông cả ba đời ( quá khứ, hiện
tại, và tương lai). Thầy muốn rừng Thông ngút ngàn reo khắp không gian
vô tận và thời gian vô cùng.
Nếu như “Minh” là
ánh sáng trí huệ, thì “Thông” chính là lòng từ bi. Cũng như ánh sáng
mặt tròi đem lại sự sống cho trái đất,nhưng trong đó có cả tia cực tím
gây bệnh cho con người ;thì rừng Thông có công cứu con người, bằng cách
kết oxy lại với nhau, tạo thành tầng ozon, ngăn chặn tia cực tím, bảo vệ
con người. Như vậy, Thông và Minh không thể tách rời nhau.Cũng như Trí
huệ và Từ Bi luôn hoà quyện trong hạnh nguyện người xuất gia, như nước
hoà với sửa, như hai cánh con chim không thể thiếu một. Nếu hành giả chỉ
có lòng từ bi mà không có trí huệ, thì lòng từ bi đó sẽ trở thành tình
thương mù quáng. Nếu hành giả chỉ có trí huệ mà không có lòng từ bi, thì
dễ dàng trở thành kẻ độc đoán chuyên quyền.
Chữ “Thông” hiểu
theo nghĩatừ bi trí huệ, thì không chỉ dành riêng cho môn đồ pháp quyến,
càng không thể hạn hẹp trong ba đời, theo nghĩathế gian là đòi Thầy, đời
Trò, và đời cháu. Mạng mạch của Phật Pháp tồn tại vĩnh viễn trong thời
gian vô cùng và không gian vô tận, thì rừng Thông này cũng tồn tại miên
viễn như vậy. Bất kỳ hành giả nào không có khả năng dùng kim khẩu mình
giáo hoá chúng sanh, mà sử dụng lòng từ bi và trí bình đẳng đem an lạc
lại cho đời thì đó cũng là Thông rồi, dù họ có mang họ”Minh, Trí, hay
như”…; nhưng nếu hành giả mang họ Thông mà còn đầy đủ chấp ngã và ngã sở
hữu, thì đó cũng chỉ là “Thông” trên danh nghĩa mà thôi .
Suốt cả đời mình,
Thầy không đầu tư riêng cho những người mang họ “Thông” trở thành nhân
tài xuất sắc để đối lại những dòng họ khác. Bỡi Thầy biết rất rõ:”Một
người xuất gia mà còn chấp có họ “Thông, Minh, hay Trí…”, hoá ra xuất
gia là xa lìa một dòng họ nhỏ, để tìm một dòng họ lớn hơn”.Do vậy,bất
luận là ai có khả năng đổ vào các trường Cao Cấp Phật học ở TP.HCM, huế,
Hà Nội, hay du học Aán Độ, đến đảnh lễ mình, Thầy đều cho lộ phí như
nhau kia mà ! Thầy càng hiểu rõ hơn:” đặt hy vọng vào một người đệ tử
nào đó,nếu họ làm được theo ý mình thì mình vui, làm không đúng theo
nguyện vọng mình thì mình buồn”. Một hành giả bị chi phối bỡi sự vui,
buồn, được, mất, thì vị ấy đang còn ở trong vòng đối đãi, chưa đạt được
mục đích giải thoát mà người xuất gia vươn tới.
Pháp nạn Việt Nam
1963-1964, Thầy đã lấy máu mình viết:” Bát nhã tâm kinh, Phổ môn kinh”.
Ý nghĩa việc làm này, Thầy muốn gióng tiếng chuông thức tĩnh chế độ độc
tài biết rằng:” Sự nghiệp của người xuất gia là trí huệ. Trí huệ không
dành riêng cho Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Quốc, hay Phật giáo
Aán Độ mà là sự nghiệp chung của toàn thể Phật giáo trên thế giới. Nơi
đâu có phật pháp, nơi đó có trí huệ”. Một dòng họ cỏn con như dòng họ
Ngô làm sao diệt được Phật Pháp chứ ! Chẳng qua các người bị lòng tham
làm mù quáng, không liệu được sức mình, dùng” Trứng chọi đá” mà thôi.
Kinh Phổ Môn nói về tiếng lòng , niềm tin người Phật tử, đặc biệt là
niềm tin của các bà già trầu .Nếu tầng lớp tri thức làm cho Phật Pháp
đạt đến đỉnh cao của sự hưng thịnh, thì chính niềm tin của các Bà Già
Trầu này lại duy trì làm cho mạng mạch Phật Pháp tồn tại mãi mãi . Do
vậy, việc làm của dòng họ Ngô không sớm thì chày cũng đi đến thất bại”.
Con xuất gia đầu
thập niên 80. Đêm nào cũng vậy, sau thời tịnh độ, con đều nghe Thầy phục
nguyện thật to cầu cho các ngài Huyền Quang, Quãng Độ, Tuệ Sĩ, Lê Mạnh
Thát, và Ni Sư Trí Hải được phóng thích. Thời gian đó, nước ta ở giai
đoạn giao thời, chiến tranh vùng biên giới, và nạn di dân ồ ạt của
người Việt Nam.Chính sách nhà nước lại chưa được thông thoáng như bây
giò.Vậy mà, Thầy cứ gào thật to:”Tôi là người Việt Nam, rất yêu đất nước
Việt Nam và dân tộc Việt Nam;sẵn sàng chặt bỏ đi những ngón tay mình, để
kêu gọi đồng bào Việt Nam:” Hãy vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh bản thân
mình , con cái mình, của cải mình, phục vụ chiến tranh đem lại hoà bình
cho dân tộc”. Vì nước có an thì nhà mới ổn. Đồng thời , Tôi cũng là một
thành viên trong Tăng đoàn. Thấy các Bậc Thầy, Pháp hữu mình bị lâm nạn,
Tôi không thể làm ngơ”. Thầy càng kêu to lên:” Hãy thả các Bậc trí huệ
của Phật giáo ra, Tôi đoan chắc rằng các Ngài không thể đem trí huệ mình
làm việc có hại cho Tăng đoàn, càng không thể làm việc có hại cho Quốc
gia Dân tộc được”.Thầy cứ biểu lộ lòng kính mến của mình, đối với các
danh Tăng, bằng cách vận động Phật tử quanh vùng , thăm nuôi các Ngài.
Việc Thầy làm không ít người cho là liều lĩnh, thiếu trí huệ. Nhưng theo
con, Thầy nắm rất rõ quy luật nhà nước:”Nếu trong gia đình nào đó có
người thân phạm pháp bị án tử hình, thì các nhà chức trách vẫn cho thân
nhân thăm nuôi kia mà ! Huống hồ ở đây, các nhà trí huệ Phật giáo chưa
làm gì có hại cho Quốc gia, Dân tộc, không có lý do gì thân nhân không
được quyền thăm nuôi”.
Việc Thầy làm rõ
ràng đầy đủ bi, trí,và dũng đấy chứ ! Sao gọi đem sinh mạng mình ra đùa
bởn được ? Bỡi vì, Thầy biết rất rõ:” Mạng sống này tuy giả huyển, do
duyên sinh hợp thành, thể của nó là không; nhưng không có chiếc bè
này,làm sao vượt qua biển khổ, đến bờ giác được chứ ? Thật ra Bồ Đề,
Niết Bàn, hay Phật Tánh đâu có thể tìm ngoài pháp tướng. Cõi tịnh độ đâu
thể tìm ngoài nhân gian, bằng chứng Đức Bổn Sư Thích Ca đạt được quả vị
niết bàn ngay trên cuộc đời này. Thiền Sư Trung Hoa nói:” Hằng đêm ôm
Phật ngủ, mỗi sáng cùng thức dậy”. Bỡi vì thế giới này Phàm Thánh đồng
cư mà. Nếu như Phật giáo Trung Hoa có các Ngài ăn, ngủ, làm việc, nói
chuyện với Phật như Lục Tổ, Huyền Giác, cư sĩ họ Bàng…;thì Phật giáo
Việt Nam cũng có các Ngài như Sơ Tổ Trúc Lâm, Mãn Giác, cư sĩ Tuệ Trung
Thượng Sĩ vân vân và vân vân
.Dĩ nhiên, không
thể so sánh Thầy với các Bậc Tiền Bối được,song từ lúc quy y với Thầy
đến nay, theo quan điểm con,Thầy quả là một chiến Sĩ đấu tranh không
mệt mỏi trong vấn đề xả ngã và ngã sở hữu. Thật tuyệt vời ! giây phút
cuối cùng, Thầy đã xả ngã một cách trọn vẹn nhất.Thầy đã chuẩn bị cho sự
ra đi thật chu đáo, cám ơn và sám hối các em đã chăm sóc mình trong
những năm gần đây, dặn dò đắp hai y vào người xong,Thầy an nhiên thị
tịch vào lúc 5:30 ngày 05 tháng 10 năm Ất Dậu .
Linh Sơn Ni Tự
Đệ Tử
TKN,
Thích Nữ Thông Nhàn
KHÔNG BAO GIỜ
BIỂU LỘ TÌNH THƯƠNG CHO ĐỆ TỬ BIẾT
Nhờ
nuôi bệnh Sư Thông Giải, con mới có cơ hội diện kiến Thầy. Vừa trông
thấy Thầy, con đã phát tâm nhưng cơ duyên chưa đến. Năm sau con vào chùa
Tịnh Đức xin xuất gia, vì Sư Thông Giải đang dưỡng bệnh ở đó. Trong thời
gian ở chùa Tịnh Đức, con nhận thấy Ni Sư Viện chủ chùa Tịnh Đức tính
tình vui vẻ, lời nói dịu dàng rất dễ thân cận. Đồng thời, con cũng nghe
danh Thầy rất nghiêm khắc nhưng cũng rất bình đẳng. Hai từ bình đẳng này
thúc đẩy con chọn Thầy, để đón nhận phương châm của Thầy là không bao
giờ biểu lộ tình thương cho đệ tử biết.
Ngay
đêm đầu tiên xuất gia, Thầy đã tiếp con bằng một cuộc phỏng vấn hết sức
căng thẳng. Thầy hỏi: “Lý do vì sao con xuất gia?”. Thấy con do dự, Thầy
tiếp: “Lý do phù hợp cho xuất gia, bằng không trả về gia đình”. Vận dụng
giáo lý học được, con thưa; “Vì đời vô thường”. Thầy nghiêm giọng bảo:
“Trước đây, vùng này chỉ có một cái Am tranh nằm giữa bãi cát hoang, bây
giờ là một ngôi chùa đồ sộ. Đường xá ngày xưa là đường đất, xe kéo, bây
giờ là đường nhựa, xe hơi, máy bay Vô thường chỗ nào? Nói mau!”. Trong
sách dạy cho hàng sơ cơ, chỉ nói mặt biến hoại của vô thường, còn về mặt
tích cực không thấy nói đến. Do đó, con không trả lời được. Thấy con im
lặng hơi lâu, Thầy gằn giọng nói tiếp: “Nói không được xách gói về ngay
đêm nay”. Vạn bất đắc dĩ con đành thưa thật: “Con sợ nhất việc sinh con
của phụ nữ”.
Lý do
của con hết sức tầm thường, con định để bụng chết mang theo. Không ngờ
vừa nghe xong Thầy vui vẻ hẳn lên và chấp nhận liền. Con thở phào nhẹ
nhỏm như vừa trút được gánh nặng vạn cân. Song con vẫn thắc mắc lý do
chẳng cao cả tí nào sao Thầy lại vui như vậy nhỉ? Nhưng bây giờ con hiểu
và thật sự hiểu Thầy ơi! Tuy con chỉ mới thấy được “một trong bốn khổ”
mà Đức Bổn Sư Thích Ca Từ Phụ thấy trước lúc xuất gia, nhưng điều làm
cho Thầy trân trọng là bản thân con tận mắt nhìn thấy cái khổ của cuộc
đời, đặc biệt là nỗi khổ của người phụ nữ. Và chỉ có thế là lập nguyện
mới kiên cường được.
Thỉnh
thoảng, cửa sổ phòng Thầy xuất hiện những quyển sách nói về nỗi khổ của
phụ nữ lập gia đình. Hồi đó, con và điệu Tường đều mê sách, nhưng điệu
Tường mới 11 tuổi, nên khi mất sách, Thầy liền đi tìm. Đến hành lang
chùa, thấy con đang đọc, Thầy chẳng la rầy mà còn bảo “Ừ, đọc được đấy”.
Thầy
nghiêm từ Giới-luật, không cho chúng xem tivi, nhưng Chư Pháp tỉ lén xem
vào những tối thứ bảy; Thầy biết nhưng Thầy không hề bắt. Hễ tối thứ bảy
nào, vắng bóng con học bài ở phòng khách, Thầy ra ngay chỗ xem tivi để
tìm. Con thường đứng vòng ngoài lại nhanh chân nên Thầy chẳng bắt được,
song điệu Tường nhỏ thấp lúc nào cũng đứng vòng trong nên bị Thầy bắt
quả tang. Thầy hỏi cung một hồi, điệu Tường khai hết, nhưng chỉ có mình
con bị quỳ hương. Cũng may lúc đó, con mê giải toán hơn xem tivi. Do vậy,
Chư Pháp tỉ tha hồ xem, đôi khi còn cười lớn nữa chứ, song Thầy cứ phớt
lờ như chẳng nghe thấy gì cả. Chư Pháp tỉ lại gắn cho con biệt danh “cụ
bà tám mươi”.
Con
chuyên môn quên khóa cổng trước giờ hô canh, Thầy đã cảnh cáo hai lần.
Đêm thứ ba con lại tái phạm. Hết chịu nổi, Thầy phạt con quỳ ngay cổng,
nhưng chỉ 5 phút thôi, Pháp tỉ tri sự ra bảo nhỏ với con: “Hãy vào sám
hối Thầy đi”. Sáng hôm sau, con mới vỡ lẽ vì con mà tối hôm đó tỉ tri sự
bị Thầy la: Em còn nhỏ “ăn chưa no lo chưa tới, làm chị phải nhắc nhở
chứ. Thấy em bị Thầy phạt, quỳ dưới cát trong đêm muỗi cắn, đành tâm ngủ
được sao”.
Duy
nhất một lần, con bị Thầy cú lên đầu 2 cái. Tay Thầy rất mảnh mai, vậy
mà đầu con mềm đến 3 ngày vẫn còn đau. Lúc mới xuất gia, tay chân lóng
ngóng thế nào, hễ đụng chén thì chén bể, đụng tách thì tách sứt quai.
Lần đó, con làm bể nắp phích lọc nước sản xuất tại Nhật. Nước ta ở giai
đoạn bao cấp và chiến tranh vùng biên giới làm gì có hàng ngoại. Cũng
may, nắp chỉ vỡ làm 3 mảnh có thể dùng keo dán xài tạm. Lần đó Thầy đày
con lên chùa Minh Đức làm khổ sai. Tuy nói khổ sai, nhưng Pháp tỉ Viện
chủ chùa Minh Đức và các pháp hữu chẳng cho con làm việc nặng như nấu
cơm, làm vườn, tưới nước… công việc con làm mỗi ngày là 3 thời tụng niệm
(khuya, ngọ, cúng thí). Suốt cả tháng trời chẳng thấy bóng Thầy ghé thăm
chùa. Con nghĩ chắc chuyến này Thầy từ luôn rồi. Nào ngờ, đến cuối tháng
Pháp tỉ gọi con vào phòng dạy: “Sư thấy chú có tiến bộ, không gây lỗi
lầm gì, mai chú về chùa sám hối Thầy và tinh tấn tu học nhé”.
Thật
ra, không phải Thầy không biểu lộ thương nhưng do con không nhận ra đấy
thôi. Con vừa hầu Thầy vừa đi học, giờ Thầy dùng điểm tâm chính là giờ
con vào lớp. Do vậy, con phải dọn cơm cho Thầy sớm hơn nữa tiếng. Thầy ở
tuổi thất thập cổ lai hy vậy mà sáng nào cũng xơi cơm canh nguội lạnh,
nước và đồ tráng miệng Thầy tự phục vụ lấy. Buổi trưa tan học về, con
nấu qua loa vội vàng, nhưng Thầy vẫn dùng hết, chẳng nghe Thầy than
phiền ngon dỡ gì cả.
Lần đó
trường cho nghỉ hai giờ cuối, con không về chùa mà vào tiệm sách cũ đọc
hết quyển này sang quyển khác, khi chợt nhớ ra thì muộn một giờ, con
chạy bay về chùa, thấy phòng Thầy tối om, con nghĩ may quá Thầy không có
ở nhà. Thật hú vía! Cất xe đạp xong, con ung dung đi ngang qua phòng
Thầy. Từ trong bóng tối vang lên hai tiếng khô khốc “đứng lại” khiến tim
con đập thình thịch như sắp rơi ra ngoài, đèn phòng Thầy sáng choang lên,
Thầy từ từ bước ra, giọng Thầy nghiêm khắc đến lạnh lùng “bây giờ mấy
giờ rồi?”, con thưa: “dạ con không có đồng hồ”. Thầy bảo Thầy đã chờ hơn
một tiếng rồi. Đi đâu? Làm gì? Con thưa thật: “con vào tiệm sách, sách
hay quá con đọc quên cả giờ giấc”. Thầy vẫn lạnh lùng hỏi: “đọc tiểu
thuyết phải không?”. Con thưa: “con tìm những quyển sách toán nâng cao”.
Thầy không tin và Thầy lục cặp, không thấy gì Thầy mới cho đi ăn tối.
Thức
khuya học bài, khi buồn ngủ quá, con nằm xuống ghế thiếp đi khoảng 5
phút, thì nghe bước chân Thày nhè nhẹ đi ra. Thấy con ngủ, Thầy chẳng
đánh thức mà vặn nhỏ tim đèn xuống và nói “ngủ rồi”; song, Thầy lại về
phòng.
Mỗi
người chỉ thị giả Thầy một năm. Riêng con hầu Thầy đến 3 năm, song việc
xoa bóp cho Thầy cộng lại chưa đến 1 ngày. Thầy biết con bài vở nhiều,
khi nào chùa không có người, Thầy mới gọi con xoa bóp. Song cũng chỉ 5
phút thôi Thầy đã cho nghỉ rồi.
Năm
con đậu vào Cao cấp Phật học, Thầy vui nhiều hơn con tưởng. Thầy dẫn con
đi đảnh lễ hết Hòa thượng Ban Trị sự Tỉnh, rồi đến Quý Ni Trưởng. Nhớ
bóng dáng Thầy hồi đó, thân thiệt tròn hai chân nhỏ xíu, Thầy leo lên
cốc Ôn Thiện Bình thật vật vả. Gặp ai Thầy cũng khoe làm con xấu hổ muốn
chết.
Tình
thương Thầy dành cho con không phải là những viên kẹo, những cái bánh
như Thầy dành cho điệu Tường; mà là những cái cú, những lần quỳ hương,
và những câu hỏi lạnh lùng như băng giá; Song, đằng sau đó là những sự
quan tâm lo lắng sâu sắc đến ngọt ngào.
Sau
mỗi lần phạm lỗi rồi lên sám hối Thầy, Thầy dạy: “Vì chuyện của con cả
đêm Thầy không chợp mắt được”. Rồi Thầy nói tiếp: “Khi nào làm Thầy con
sẽ hiểu Thầy”. Thầy ơi! Tuy bây giờ con chưa có đệ tử, nhưng may mắn cho
con có dịp cọ xát thực tế. Trong thời gian dạy các điêu học và tìm hiểu
tâm lý các em, con mới hiểu hết giá trị lời Thầy dạy. Quả thật làm Thầy
đúng nghĩa chẳng dễ chút nào. Thật diễm phúc cho con, suốt cả thập niên
con nương đức từ bi của Thầy để tu học dưới mái chùa Linh Sơn này, đó là
thời gian Thầy rât khỏe và hầu như chẳng có bệnh hoạn gì. Càng may mắn
hơn, suốt 3 năm hành điệu, Thầy chỉ nhận có 2 đệ tử, con và điệu Tường.
Do vậy, mỗi bước bước chân, mỗi hành động con làm, mỗi lời nói của con
đều được Thầy theo dõi và quan sát thật tỉ mỉ.
Thầy
ơi! Khi Thầy cần con về, thì năng lực con chưa đủ. Khi con về, bệnh Thầy
đã nặng rồi. Hai bộ phận quan trọng nhất trong cơ thể con người đó là
đôi mắt và đôi chân Thầy bị đau cả hai. Nên nguyện vọng Thầy dành cho
con, con vẫn chưa thực hiện được vì thiếu sự giúp đỡ của Thầy. Con tuy
buồn nhưng không khổ, vì con biết rằng: “Mọi việc đều do nhân-duyên cả
mà”. Nếu nhân duyên đến, con nguyện đem hết sức mình phục vụ mới ngỏ hầu
đền đáp công ơn Thầy trong muôn một. Song, con lại tự hỏi mình: “Phải
chăng Thầy ra đi lúc này để con tự thử sức mình khi không có Thầy bên
cạnh? Phải chăng Thầy muốn con tự đi bằng chính đôi chân mình?” Con biết
như vậy sẽ khó khăn rất nhiều. Nhưng Thầy ơi! Con nguyện sẽ cố gắng hết
sức mình để không phụ hoài bão đã Thầy dành cho con.
Linh Sơn Ni Tự
Đệ
tử
TKN Thích Nữ Thông Nhàn.
---o0o---
NAM MÔ BỔN
SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
CÁO BẠCH
Ni Bộ tỉnh
Khánh Hòa cùng Môn Đồ Pháp Quyến vô cùng kính tiếc báo tin :
- Ni Trưởng THÍCH NỮ HẠNH VIÊN – Trưởng ban Ni Bộ tỉnh Khánh Hòa – Viện
Chủ chùa Linh Sơn đã an nhiên viên tịch vào lúc 17h15 ngày 06/11/2005
(05/10/ Ất Dậu)
Trụ thế 91 tuổi, Hạ lạp 66 năm
Lễ Nhập Quan chính thức cử hành vào lúc : 15h30 ngày 07/11/2005 (06/10/Ất
Dậu)
Lễ Di Quan Nhập Bảo Tháp chính thức cử hành vào lúc : 06h30 ngày
12/11/2005 (11/10/Ất Dậu)
Nay Ni Bộ và Môn Đồ Pháp Quyến chúng con xin thành kính cáo bạch đến chư
Tôn Đức Tăng Ni và quí nam nữ Phật Tử xa gần được biết.
NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ TÂN VIÊN TỊCH TỰ LÂM TẾ
CHÁNH TƠNG TỨ THẬP TAM THẾ KHAI KIẾN LINH SƠN TỰ TRÚ TRÌ HÚY thượng
TÂM hạ ĐĂNG Tự HẠNH VIÊN Hiệu CHƠN NHƯ
NI TRƯỞNG GIÁC LINH
TM.Ban Tổ Chức Tang Lễ
Trưởng Ban
Ni Trưởng Thích Nữ Viên Minh |
|
Thay mặt Ni Bộ và
Môn Đồ Pháp Quyến
Ni Trưởng Thích Nữ Viên Minh
Ni Sư Thích Nữ Thông Huyền |
---o0o---
|
CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ
CỐ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ HẠNH VIÊN
Lãnh đạo Ni Bộ tỉnh Khánh Hòa – Viện Chủ Chùa Sư Nữ Linh
Sơn
Viên tịch lúc 17h30 ngày 06-11-2005 (05-10-Ất Dậu)
---o0o---
( Ngày 07-11-2005 (06-10-Ất Dậu)
14g00: Cung an Chức sự
15g00: - Thỉnh nhục thân nhập
Kim Quan
- Thiết Linh sàng – Phát tang
( Ngày 08-11-2005 (07-10-Ất Dậu)
06g00: Tiến trà
07g00: Lễ viếng
10g00: Cúng ngọ – Tiến Giác
Linh
13g00: Lễ viếng
16g30: Tiến chúc
17g00: Lễ viếng
21g00: Luân phiên tụng niệm
( Ngày 09-11-2005 (08-10-Ất Dậu)
06g00: Tiến trà
07g00: Lễ viếng
10g00: Cúng ngọ – Tiến Giác
Linh
13g00: Lễ viếng
16g30: Tiến chúc
17g00: Lễ viếng
21g00: Luân phiên tụng niệm
( Ngày 10-11-2005 (09-10-Ất Dậu)
06g00: Tiến trà
07g00: Lễ viếng
10g00: Cúng ngọ – Tiến Giác
Linh
13g00: Lễ viếng
16g30: Tiến chúc
17g00: Lễ viếng
21g00: Luân phiên tụng niệm
( Ngày 11-11-2005 (10-10-Ất Dậu)
06g00: Tiến trà
07g00: Lễ viếng
10g00: Cúng ngọ – Tiến Giác
Linh
13g00: Lễ viếng
17g30: Thỉnh Giác Linh – Lễ
Phật – Yết Tổ
21g00: Luân phiên tụng niệm
( Ngày 12-11-2005 (11-10-Ất Dậu)
06g30: Lễ Khiển Điện
06g45: Lễ Tưởng Niệm (chương
trình riêng)
08g00: - Phất trần – Thỉnh Kim
quan nhập Phù đồ
-
Quải Chân dung.
|
Liên lạc phân ưu:
Chùa Sư Nữ Linh Sơn
75 Trần Phú,
VĩnhNguyên
TP. Nha Trang, T. Khánh Hòa
Điện thoại: 84.58. 590881
---o0o---
Xem : Hình ảnh tang
lễ > lễ viếng> Lễ Cung Tống
Kim Quan nhập bảo tháp >
Chùa ở Nha
Trang

(Vào xem)