
Hòa Thượng Thích Bửu Huệ
(1913-1991)
Phó Viện Trưởng Viện Cao Ðẳng Phật Học Huệ Nghiêm.
Phó Tổng Lý Tổ Ðình Ấn Quang
Viện Chủ Chùa Huệ Nghiêm
Uống
nước nhớ nguồn, bổn phận người thừa kế không quên ơn Thầy Tổ. Xin được
lật qua trang sử hương sen của cuộc đời Cố Hòa Thượng Thích Bửu Huệ.
I. Thân Thế:
Hòa
Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời
41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy
danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện
Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông
Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng
là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
Hòa
Thượng sanh trưởng trong một gia đình trung nông, giàu lòng kính tin Tam
Bảo, đầy đủ thiện duyên, giúp cho tương lai thêm nhiều rực rỡ.
Năm 7
tuổi, Hòa Thượng được song thân cho cắp sách đến trường học tập. Vì lòng
hiếu thảo đền đáp thâm ân, nên khi học hết chương trình Tiểu học Pháp,
Hòa Thượng xin tạm nghỉ, để lo phụng dưỡng cha mẹ ở gia đình.
Càng
lớn lên, Hòa Thượng thấy rõ cảnh vô thường tan hợp, sanh tử chia ly.
Nhất là tấm gương chí hiếu của Tôn Giả Mục Kiền Liên, luôn luôn nhắc nhở
trong tâm tư, nên Hòa Thượng quyết tìm một lối thoát.
II. Xuất Gia Học Ðạo.
Thuở
nhỏ, Hòa Thượng đã theo mẹ đi lễ Phật ở nhiều chùa. Ðầu tiên, Ngài thọ
giáo với Hòa Thượng Huệ Ðăng ở chùa Thiên Thai tại Bà Rịa.
Năm
1938, khi được song thân vui lòng chấp thuận, Ngài quy y với Hòa Thượng
Pháp Long, thuộc dòng Lâm Tế, Trụ trì chùa Thiên Phước tại Tân Hương.
Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư chỉ dạy kinh Phật và cho đọc tạp chí Phật
học như: Từ Bi Âm, Duy Tâm, Viên Âm, Ðuốc Tuệ v.v...
Nhờ đó,
đời sống nội tâm của Hòa Thượng ngày càng dạt dào phong phú. Hòa Thượng
tìm mọi cơ hội tốt đẹp để thực hiện ý chí sáng ngời của mình.
Năm
1944, Hòa Thượng được xuất gia tại Thiên Phước Tự nói trên. Tám tháng
sau, ở chùa Long Quang, Vĩnh Long mở Giới Ðàn Sa Di. Hòa Thượng Bổn Sư
liền gởi Ngài đến đó thọ Sa Di giới. Ít lâu sau, Ngài trở về bổn tự, ở
gần bên Hòa Thượng Bổn Sư để hầu hạ với tấm lòng báo ân phần nào trong
muôn một.
Năm
1946, Hòa Thượng Trí Tịnh và Hòa Thượng Thiện Hoa mở Phật Học Ðường tại
chùa Phật Quang, thuộc Rạch Bang Chang, quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư cho phép học lớp Sơ Ðẳng Phật học tại đây
hai năm.
Lúc này
chiến tranh Pháp Việt đang diễn ra ác liệt khắp mọi miền quê. Chùa Phật
Quang cũng không vượt khỏi tầm ảnh hưởng dao động ấy. Vì thế, Hòa Thượng
Trí Tịnh phải trở lên Saigon thành lập Phật Học Ðường Liên Hải đặt tại
chùa Vạn Phước, xã Bình Trị Ðông, cách Chợ Lớn 5 km.
Phật
Học Ðường này khai giảng năm Mậu Tý (1948). Hòa Thượng cùng một số đông
huynh đệ đã mãn lớp Sơ Ðẳng Phật Học tại Phật Quang, cùng nhau lên học
lớp Trung Ðẳng Phật Học trọn khóa ba năm tại Liên Hải, do Hòa Thượng Trí
Tịnh làm Giám Ðốc.
Năm
1949 tại đây mởi Giới Ðàn, Hòa Thượng được Ban Giám Ðốc cho đăng đàn thọ
Tỳ Kheo, Bồ Tát giới.
Tháng 3
năm Canh Dần (1950), sau 14 năm du học ở Huế và Bắc Việt, Hòa Thượng
Thiện Hòa đã trở về miền Nam. Ngài tham khảo ý kiến với một số quý vị
Pháp Sư cũng từng học ở Huế, đồng lòng thống nhất Phật Học Ðường Miền
Nam.
Học
Ðường Nam Việt ra đời vào ngày 16 tháng 7 năm Canh Dần (1950) đặt tại
chùa Sùng Ðức Chợ Lớn. Chư Hòa Thượng đồng học bầu Hòa Thượng Thiện Hòa
làm Giám Ðốc, Hòa Thượng Thiện Hoa làm Ðốc Giáo. Chức Giáo Thọ gồm nhiều
vị Pháp Sư như: Thượng Tọa Quang Minh, T. Tọa Huyền Dung, T. Tọa Trí
Minh, T. Tọa Quảng Liên.
Lúc này
Hòa Thượng Trí Tịnh đi Vũng Tàu nhập thất tịnh tu một thời gian... Quí
vị ở lại trường thì đảm nhận công việc điều hành giáo dục.
Cần
biết rõ Phật Học Ðường Nam Việt, là kết hợp của hai Phật Học Ðường Liên
Hải và Mai Sơn.
Sanh
năm Tân Mão (1951), Phật Học Ðường Nam Việt lại dời sang chùa Ấn Quang,
đường Sư Vạn Hạnh Chợ Lớn.
Lúc này
ngoài số học Tăng cũ, còn có nhiều học Tăng từ các tỉnh và Nam Vang đến
học, tổng số gồm một trăm vị. Hòa Thượng Thiện Hòa vẫn đương kiêm Giám
Ðốc. Những vị Pháp Sư như: Hòa Thượng Nhựt Liên, Hòa Thượng Trí Hữu đều
hợp tác công việc Giáo Thọ.
Hòa
Thượng Huệ Hưng được Ban Giám Ðốc và học chúng bầu làm Giám Trường kiêm
Tổng Thư Ký. Một thời gian sau, Ngài xin từ chức để nhập thất chuyên tu.
Ðến năm
1953, Hòa Thượng Thiện Hoa từ Trà Ôn lên cộng tác Giáo dục và điều hành
Phật sự với Chư Tôn Hòa Thượng tại trường.
Từ năm
1948 đến năm 1951, Hòa Thượng đã hoàn tất chương trình Trung Ðẳng Phật
Học tại Phật Học Ðường Liên Hải và Ấn Quang.
Tiếp
theo từ năm 1951 đến năm 1954, Hòa Thượng hoàn tất chương trình Cao Ðẳng
Phật Học tại Phật Học Ðường Nam Việt Ấn Quang với những vị đồng khóa: T.
Tọa Huệ Hưng, T. Tọa Thiền Tâm, T. Tọa Tắc Phước, T. Tọa Bửu Ðạt, T. Tọa
Tịnh Ðức, T. Tọa Tịnh Chơn v.v....
Trong
Ðại chúng lúc bấy giờ, Hòa Thượng là người cao tuổi hơn hết. Với đức
tánh hiền hòa khiêm tốn, bao dung nhẫn nại, giới hạnh trang nghiêm, Hòa
Thượng cùng với quý vị lớp Cao Ðẳng tiếp tay đắc lực cho Hòa Thượng Giám
Ðốc và Chư vị Pháp Sư trong việc điều hành sinh hoạt Ðại Chúng.
Hòa
Thượng làm Tri Sự, Hòa Thượng Thiền Tâm làm Tri Chúng. Hai vị này trở
thành bực Trưởng lão đảm trách nhiệm vụ trông nom nếp sinh hoạt nội
trường.
Hòa
Thượng luôn luôn hoàn tất mọi công việc do Ban Giám Ðốc và Ðại Chúng
giao phó. Vì thế, Hòa Thượng được bực trên khen mến, kẻ dưới thân thương
trong thời gian theo học tại Phật Học Ðường Nam Việt.
Ngoài
ra, quí vị lớn Cao Ðẳng còn lãnh trách nhiệm giảng dạy lớp Sơ Ðẳng nữa.
Hòa Thượng dạy môn Hán Văn. Hòa Thượng Thiền Tâm, Hòa Thượng Tắc Phước,
Hòa Thượng Bửu Ðạt thay phiên dạy môn Việt văn và toán pháp. Còn T. Tọa
Ðức thì dạy môn Pháp văn.
Năm
1954 lớp Cao Ðẳng tốt nghiệp. Lúc này Hòa Thượng Thiện Hòa đang huấn
luyện diễn giảng Phật Học Phổ Thông cho lớp Trung Ðẳng để chuẩn bị phân
bổ đi giảng các tỉnh Nam phần.
Từ năm
1955 những vị đã tốt nghiệp lớp Cao Ðẳng được phân công: T. Tọa Tịnh Ðức
đi Trà Vinh làm Giáo Thọ tại Phật Học Ðường chùa Phước Hòa.
Hòa
Thượng Tắc Phước làm Quản lý nhà in Sen Vàng của Phật Học Ðường Nam Việt.
Riêng Hòa Thượng Bửu Huệ và Hòa Thượng Thiền Tâm lại xin phép Ban Giám
Ðốc lui về quê nhà để ẩn tu Tịnh Nghiệp trong thời gian dài. Hai Hòa
Thượng này đã hứa với Ban Giám Ðốc, về sau sẽ gánh vác Phật sự tương lai
để trả ơn Tam Bảo.
Chí
nguyện tịnh tu vốn đã ấp ủ sẵn trong lòng, nên Hòa Thượng định tìm nơi
để thực hiện.

III. Nhập Thất Tịnh Tu.
Từ lúc
mới bước chân vào trường Phật học, trong tâm tư của Hòa Thượng đã vạch
sẵn một lối đi rõ rệt: “Tôi phát nguyện học Phật 10 năm, nhập thất tịnh
tu 10 năm và ra làm Phật sự 10 năm!”.
Kể từ
năm 1954 đến năm 1964, là thời gian tránh duyên bận rộn, bế môn từ khách,
Hòa Thượng ở yên trong ngôi Tịnh thất Nam Tuyền.
Ba năm
đầu, Hòa Thượng thúc liễm ba nghiệp rất nghiêm khắc, cô lập hóa sáu căn
với sáu trần. Chẳng khác nào người chăn dùng cây roi niệm Phật để chăn
con trâu vọng tâm, không cho nó chạy rong, ăn phá lúa mạ của người.
Hòa
Thượng phân ra thời khóa thích nghi cho việc tu tập của mình. Giờ nào
tụng kinh, niệm Phật. Giờ nào Sám hối, trì chú. Giờ nào tĩnh tọa tham
Thiền. Hòa Thượng tụng Kinh, là cốt để soi lại gương lòng, để quyết chi
lau chùi cho tâm mình sáng tỏ.
Hòa
Thượng niệm Phật Di Ðà, là nguyện đến lúc lâm chung được Phật Vô Lượng
Thọ và Thánh Chúng tiếp rước sanh về cõi Cực Lạc. Hòa Thượng Sám hối,
cho mau tiêu tội chướng trong nhiều đời.
Hòa
Thượng trì Chú, là để hàng phục nội ma ngoại chướng và cầu chư Phật,
chư Bồ Tát thùy từ gia hộ, được dễ bề tu tập. Hòa Thượng tĩnh tọa tham
Thiền, là để nhận ra cái nào giả, cái nào chân để bội trần hiệp giác.
Thời
khóa hằng ngày của Hòa Thượng, đều nhằm mục đích Thiền Tịnh song tu, Mật
môn trợ lực. Tuy ba là một, chánh trợ không hai.
Chuyên
tu suốt tháng trọn năm, Hòa Thượng nguyện không ra khỏi thất. Vẫn lặng
lẽ nhiếp tâm trong cảnh an lành tự tu tự độ.
Hòa
Thượng lặn sâu vào nội tâm, nơi đây bắt gặp Thầy mình, nghe tiếng nói
của tâm linh thật là kỳ diệu!
Nhờ đó,
Hòa thượng đã bỏ lớp áo phong trần, trở thành người say mê nhập thất.
Nhìn sự nghiệp thế gian là phù du ảo ảnh.
Mỗi khi
trong tâm niệm khởi lên một điều gì ưu tư thắc mắc, thì Hòa Thượng hóa
giải bằng bài kệ của Tổ Sư đã dạy:
Chỉ
hằng biết chiều chiều sớm sớm,
Duyên khởi lên phân biệt mà chi!
Muôn
vàn sai biệt cõi này,
Nhân
nào quả nấy nhọc gì đến ta?
Người
anh ruột là ông Ðặng Văn Thanh thấy Hòa Thượng tu hành chín chắn, nên
rất hoan hỷ, bèn sai người con gái là Ðặng Thị Tư phát nguyện chu toàn
phần hộ thất. Ðây là một công đức lớn lao sâu nặng mà Hòa Thượng hằng
tạc dạ ghi lòng.
Tiếp
theo là bảy năm sau, Hòa Thượng vẫn ở yên trong thất, nhưng thỉnh thoảng
ra ngoài, vừa nhiếp tâm làm việc tưới hoa sửa kiểng, trải duyên niệm
Phật chăn tâm...
Thời
gian này, là cơ duyên đưa đến cho Hòa Thượng sẽ thỏng tay đi vào chợ.
Sau giờ tu tập, Hòa Thượng lại xem Kinh, Luật, Luận. Bởi đó là cái bản
đồ cần thiết cho người băng lộ trình tìm về “Cảnh cũ quê xưa”, là kim
chỉ nam, giúp kẻ vượt qua sông sanh tử.
Nhất là
cảnh “Hổ khê tam tiếu” mà Hòa Thượng thường ấm ủ trong lòng. Hòa Thượng
kính mến Ấn Quang Ðại Sư, mỗi ngày niệm 10 muôn câu Phật. Vĩnh Minh Ðại
Thiền Sư đức hạnh sáng ngời, khiến cho Hòa Thượng luôn luôn cảm phục,
bởi vị ấy Tông, Giáo đều thông.
Hòa
Thượng lại còn quen thuộc với Thập Mục Ngưu Ðồ và thường đem ra giảng
dạy, để nhắc nhở Ðại chúng. Nghề chăn trâu vọng tâm của Hòa Thượng đã
trở thành một nghệ thuật tuyệt vời. Biết tánh ý của con trâu đen thế
nào, để tập luyện cho nó hóa ra trâu trắng.
Thời
gian lặng lẽ trôi qua, trâu cột đã thuần, tay chăn cũng giỏi. Ðó là điều
kiện đủ để chở cơ duyên cảm ứng.
IV. Thời Gian Làm Phật Sự:
Phật
Giáo đã trãi qua cơn Pháp nạn (1963) và trở lại nếp sinh hoạt bình
thường. Chư Tôn Giáo phẩm lo khôi phục và củng cố Phật Học Viện, là công
việc cần tiến hành gấp rút.
Vả lại,
Phật Học Ðường Nam Việt Ấn Quang lúc bấy giờ, bớt phần thuận lợi trong
việc đào tạo Tăng tài như trước nữa. Cơ sở giáo dục này đã thành trung
tâm Viện Hóa Ðạo của một nửa nước Việt Nam, dù Phật Giáo ba miền đã
thống nhất. Nhiều công tác Phật sự được đặt ra. Nhu cầu những vị Như Lai
sứ giả tài đức kiêm ưu, lại càng cấp thiết.
Lúc đó,
Hòa Thượng Thiện Hoa làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. Ðặc tránh Hòa Thượng
Thiện Hòa giữ chức vụ Tài Chánh Kiến Thiết. Hai Hòa Thượng bận nhiều
Phật sự, nên thiếu phần chăm sóc chu đáo cho lớp Học Tăng tại trường.
Cần nhắc lại:
Từ năm
1958 đến năm 1961, lớp Học Tăng Phật Học Ðường chùa Phước Hòa tỉnh Trà
Vinh, đã mãn khóa Tiểu học Phật Giáo. Số học Tăng này thi đậu và được
lên lớp Trung Ðẳng. Vì thế, Phật Học Ðường Ấn Quang mở rộng vòng tay đón
nhận thêm số Tăng sinh vừa trúng tuyển. Việc điều hành giáo dục lại bề
bộn thêm. Hòa Thượng Thiện Hoa đương kiêm chức Trưởng Ban Hoằng Pháp,
quyết định dời lớp học này vào An Dưỡng Ðịa. Nơi đây vắng vẻ, ít khách
tới lui, giúp cho Tăng Sinh dễ bề tu học.
Thời cơ
đã đến, nên trong phiên họp vào ngày 4 tháng 2 năm 1964 tại Chùa Ấn
Quang, Hòa Thượng Thiện Hòa và Hòa Thượng Thiện Hoa đồng ý cử Thượng Tọa
Thanh Từ đến Tịnh Thất Nam Tuyền thuộc xã Tân Hương mời Thượng Tọa Bửu
Huệ, đồng thời đi Bến Tre thỉnh Thượng Tọa Thiền Tâm xả thất để tác Như
Lai sứ, hành Như Lai sự trong việc giáo hóa lợi sanh.
Mừng
thay! Tại đất Tân Hương và Ðịa linh Bến Tre, hai cây Pháp Khí Ðại thừa
đã trưởng thành, đơm bông kết trái, thơm ngát hương sen sẽ làm lợi ích
cho nhiều Tăng, Ni, Phật tử.
Hai Hòa
Thượng đã biết rõ duyên tiếp chúng độ Tăng được đủ nên hoan hỷ nhận lời
của Hòa Thượng Thanh Từ chung vui cộng tác Phật sự.
A. Về Mặt Giáo Dục.
Ba Hòa
Thượng theo sự chỉ đạo của Ban Giám Ðốc Phật Học Ðường Ấn Quang để thành
lập Trường Trung Ðẳng Phật Học Chuyên Khoa đặt tại chùa Huệ Nghiêm thuộc
Huyện Bình Chánh, tỉnh Gia Ðịnh (Nay là TP. Hồ Chí Minh) với gần 40 vị
Tăng Sinh chánh thức theo học. Hòa Thượng Bửu Huệ làm Giám Ðốc, Hòa
Thượng Thiền Tâm làm Giáo Thọ, Hòa Thượng Thanh Từ làm Quản Viện.
Trường
Trung Ðẳng Phật Học Chuyên Khoa đầu tiên ra đời tại vùng An Dưỡng Ðịa,
do ba Hòa Thượng trông coi điều khiển học khóa ba năm. Phật Học Ni
trường Dược Sư đồng thời cũng được khai giảng, dưới sự lãnh đạo của ba
Hòa Thượng trên. Kể từ đây, Hòa Thượng đã chánh thức bước vào con đường
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.
Mãi đến
trong phiên họp vào ngày 4 tháng 5 năm 1965 tại chùa Ấn Quang, giữa Ban
Giám Ðốc với Tổng Vụ Tăng Sự và Phật Học Vụ, nội dung bàn về việc cải
thiện phát triển ngành Giáo Dục Phật Học, cuối cùng quyết định đổi tên
trường “Trung Ðẳng Phật Học Chuyên Khoa” thành “Phật Học Viện Huệ
Nghiêm” và nhận thêm khoảng ba trăm Tăng sinh vào tu học tại Viện.
Lớp này
bao gồm các trình độ từ Ðệ Thất (lớp sáu) đến Ðệ Nhất (lớp 12) theo
chương trình Phổ thông. Hòa Thượng vẫn giữ vai trò điều khiển trong chức
vụ Giám Viện.
Ngoài
ra, Hòa Thượng Quản Viện Thích Thanh Từ còn tuyển một số Tăng sinh trình
độ khá, từ Ðệ Tam đến Ðệ Nhất được theo học lớp “Trung Ðẳng Phật Học
Chuyên Biệt” để góp phần nhân lực theo nhu cầu của Giáo Hội.
Ðến năm
1968, Phật Học Viện Huệ Nghiêm gặp cảnh khó khăn về kinh tế, nên phải
phân tán nhiều nhóm Tăng Sinh, được theo học các Phật Học Viện như: Hải
Ðức ở Nha Trang, Liễu Quán ở Phan Rang, Bảo Tịnh ở Phú Yên, Nguyên Thiều
ở Bình Ðịnh...
Cũng
năm ấy, thể theo lời mời của Thượng Tọa Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa
Giáo Dục, Hòa Thượng lại đảm nhận chức Phụ Tá Vụ Trưởng Phật Học Vụ, đặc
trách chỉ đạo các Phật Học Viện Bắc Tông tại các tỉnh Miền Nam.
Phật
Học Viện Huệ Nghiêm chỉ duy trì khoảng năm mươi Tăng Sinh thuộc lớp
“TRUNG ÐẲNG CHUYÊN KHOA II”. Lớp Trung Ðẳng Chuyên Khoa I đã tốt nghiệp,
một số được thi vào học tại Viện Ðại Học Vạn Hạnh, đường Trương Minh
Giảng do Hòa Thượng Minh Châu làm Viện Trưởng. Số Tăng Sinh này theo học
ở Vạn Hạnh từ năm 1967 đến năm 1969.
Bước
sang năm 1970, Ðại Hội Văn Hóa Giáo Dục kỳ IV họp tại Ðà Lạt, Giáo Hội
quyết định thành lập một Viện Cao Ðẳng Phật Học đặt tại chùa Huệ
Nghiêm, suy cử Hòa Thượng Trí Tịnh làm Viện Trưởng và Hòa Thượng Bửu Huệ
làm Phó Viện Trưởng tại Viện này. Ðồng thời Hòa Thượng cũng đóng vai trò
thường trú trực tiếp điều khiển chương trình tu học của số Sinh Viên
Tăng ở đây, từ năm 1971 đến năm 1975. Theo chương trình đã hoạch định,
Hòa Thượng giảng dạy bộ môn luận Trung Biên cho Tăng, Ni sinh ở hai
trường Huệ Nghiêm và Dược Sư.
B. Quản Lý Cơ Sở:
Ngày 7
tháng 12 năm 1974, khi Hòa Thượng Thiện Hòa lâm bịnh nhiều, phải vào nhà
thương Hoàn Mỹ để chữa trị. Do đó, nên cần chọn người xứng đáng thay thế
và đảm nhận công tác quản lý điều hành các cơ sở do Hòa Thượng Thiện Hòa
sáng lập từ năm 1951 đến nay.
Thế nên
Hòa Thượng Thiện Hòa làm tờ ủy quyền Hòa Thượng Bửu Huệ trước mặt ông
Chưởng Khế Nguyễn Bích Lưu. Hòa Thượng có đủ thẩm quyền quản lý các cơ
sở trực thuộc với Tổ Ðình chùa Ấn Quang. Hòa Thượng vâng lời chỉ định
ấy, nên ký tên vào tờ ủy quyền để nhận lãnh trách nhiệm giao phó.
Ðồng
thời Hòa Thượng cũng được gia nhập làm thành viên chánh thức trong Hội
Ðồng Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang vốn đã thành lập, khi Hòa Thượng Thiện
Hòa còn sanh tiền.
Trong
Ban Tổ Ðình Ấn Quang gồm nhiều vị: Hòa Thượng Thiện Hòa đương vi chứng
minh. Hòa Thượng Trí Tịnh đương vi Cố Vấn. Hòa Thượng Huệ Hưng làm Tổng
Lý. Hòa Thượng Bửu Huệ làm Phó Tổng Lý trông coi các cơ sở như: Hãng vị
trai “Lá Bồ Ðề” tại chùa Giác Sanh ở đường Âu Cơ, Cô Nhi Viện “Diệu
Quang” v.v...
Trọng
trách đặc biệt, là Hội Ðồng Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang và Giáo Hội quyết
định suy cử Hòa Thượng Bửu Huệ làm Trưởng Ban Quản Trị để duy trì cơ sở
Huệ Nghiêm, cho đến ngày viên tịch.
Vốn sẵn
bản tính thích sống nội tâm, nên Hòa Thượng chỉ lo phần quản lý, về các
cơ sở Phật giáo thì phát triển thu gọn trong phạm vi tự viện. Tu bổ lại
hai ngôi thất lá bằng ngôi thất ngói khang trang, đầy đủ tiện nghi cho
người nhập thất. Tôn trí tượng Phật Thích Ca trên đài lộ thiên, ngồi
giữa khuôn viên, bao quanh những chậu kiểng quý giá.
Ðối
diện với Kim Thân Phật Tổ, Hòa Thượng cho thợ gắn lên một ngọn giả sơn
nguy nga sừng sững, làm sống lại cảnh núi Lăng Già, trông tựa hồ như lúc
Phật còn tại thế. Ðể nói lên hoài bảo ấy, Hòa Thượng còn để lại bài thơ:
Huệ
Nghiêm thể hiện bóng Lăng Già,
Thắng cảnh tồn tâm Pháp độ tha.
Phún
thủy ngư long bồi chúng đức,
Trừng thần dã hạc dẹp quần ma.
Thanh sơn chẳng ngại ngày mưa nắng,
Biển
lặng lo gì gió thoảng qua.
Tôn
trí Kim Thân An Dưỡng Ðịa,
Huệ
Nghiêm thể hiện bóng Lăng Già.
Mặc dù
điều hành nhiều Phật sự, song Hòa Thượng vẫn không quên lo phát triển
giới thân huệ mạng sẵn có cho hàng Tăng, Ni, Phật tử để lãnh thọ tu trì.
C. Khai Ðàn Truyền Giới:
Năm
1965, được sự ủy nhiệm của Tổng Vụ Tăng Sự, Hòa Thượng đã đứng ra làm
Trưởng Ban tổ chức và Giáo Thọ trong Ðàn Giới Sa Di, được tổ chức tại
Phật Học Viện Huệ Nghiêm để truyền giới cho hai trăm giới tử của Phật
Học Viện Huệ Nghiêm và Giác Sanh cầu thọ giới Sa Di.
Năm
1966, Hòa Thượng đã thừa lịnh của Tổng Vụ Tăng Sự đảm nhận làm Trưởng
Ban tổ chức Ðại Giới Ðàn niềm Quảng Ðức, được tổ chức tại Phật Học Viện
Huệ Nghiêm để truyền Tỳ Kheo và Bồ Tát giới cho Chư Tăng tại bản viện
và Chư Tăng các nơi khác đển cầu thọ.
Năm
1968, Hòa Thượng được Ban Giám Ðốc Phật Học Viện Nha Trang và Ban Kiến
Ðàn cung thỉnh làm Giáo Thọ trong Ðại Giới Ðàn Hải Ðức, được tổ chức tại
Phật Học Viện Trung Phần Nha Trang.
Năm
1969, theo sự chỉ đạo của Tổng Vụ Tăng Sự, Hòa Thượng lại nhận làm
Trưởng Ban Tổ Chức Ðại Giới Ðàn miền Quảng Ðức lần thứ hai, tại Phật Học
Viện Huệ Nghiêm để truyền Tỳ Kheo, Bồ Tát Giới cho Chư Tăng các nơi đến
cầu thọ.
Ngoài
việc tiếp chúng độ Tăng, dẫn dắt Phật tử nhiều nơi biết lo tu tập, hành
trì trai giới tinh nghiêm để kiện toàn sứ mạng: Trên đền bốn ân, dưới
cứu ba đường khổ, Hòa Thượng còn nghĩ đến việc lập Ðạo Tràng cho những
ai muốn đi vào cảnh giới tâm linh, thích sống ẩn tu nhập thất.
D. Dạy Chúng Tịnh Tu
Hòa
Thượng dạy: “Người xuất gia học đạo, không khác gì một lương tướng xông
vào trận giặc, đánh dẹp hiên ngang, trước hết phải tinh thuần võ nghệ.
Ðược như thế, thì cách vãn hồi an ninh trật tự cũng không khó.
Trọng
trách của người độ hóa quần sanh, cần phải giải thoát chính mình làm
trước. Cho nên việc nhập thất tịnh tu, là một pháp môn thiết yếu trong
nhiều pháp môn”.
Sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, mọi sinh hoạt
Phật sự đều nhịp nhàng theo hoàn cảnh xã hội được thu gọn. Ðây là thuận
duyên đưa đến cho Hòa Thượng thực hiện hoài bảo nếp sống nội tâm hướng
thượng và giải thoát. Chư Tăng nhờ đó để tránh duyên bớt cảnh, hầu duy
trì mạng mạch Phật Pháp, giữ vững đạo tâm, khi ra làm Phật sự.
Thế rồi
vào ngày 15 tháng 4 năm Bính Thìn (1976), Hòa Thượng đã đích thân chứng
minh sái tịnh khai thất, để mở màn chương trình tịnh tu của Chư Tăng tại
bản viện.
Thời
gian nhập thất, Hòa Thượng hướng dẫn nhiều giai đoạn. Bước đầu, tất cả
Chư Tăng tập sự nhập một tuần, để làm quen với không khí nhập thất.
Tiếp
theo, Hòa Thượng cho tăng lên 3 tuần, rồi 7 tuần, 15 tuần, 18 tuần và 21
tuần. Trong thời gian ở trong thất, cố gắng dứt bỏ muôn duyên, nhiếp tâm
niệm Phật, giữ gìn “Thân đâu tâm đó”. Mỗi khi vọng niệm khởi lên, thì
liền áp dụng theo lời Chư Tổ đã dạy:
Sớm
đem chánh niệm thay vào,
Di
Ðà sáu chữ tiêu dao vọng trần.
Ngày
đêm, thức ngủ sáu chữ Di Ðà chẳng rời tâm. Ðây là bước đi: “Theo dấu
chân xưa”. Dùng câu niệm Phật làm hàng rào, để ngăn cách sáu trần, tâm
khỏi bị chi phối.
Giai
đoạn kế chú trọng vào “Ưu cần tại niệm”. Nghĩa là bỏ cảnh để giữ tâm cho
khít khao, nhằm mục đích vô hiệu hóa ý thức.
Giai
đoạn sau cùng là “Bản lai diện mục”. nói lên ý muốn “Trở về cảnh cũ”,
theo chủ trương nhập thất tịnh tu của Hòa Thượng. Ở đây xin ghi lại phần
tóm lược mà thôi.
Hòa
Thượng còn dạy chúng: “Chúng ta không những làm Phật sự trong một kiếp
này, mà vẫn làm Phật sự cho đến khi Ðức Phật Di Lặc ra đời. Vấn đề trọng
yếu, là đừng cho mất thiện căn tu hành.
Phải
biết rằng, ngày nay chúng ta đang học và làm bài thi của Ðức Bổn Sư
Thích Ca. Nhưng Giám khảo chấm thi, đó là Ðức Phật Di Lặc. Ba vị Tam thế
Bổn Sư có nhân duyên lớn với chúng sanh trong cõi Ta Bà, ấy là Phật Di
Ðà, Phật Thích Ca và Ðức Di Lặc.
Như
vậy, chúng ta phải làm thế nào, được gặp Phật Di Lặc thọ ký trong hội
Long Hoa, mới đủ tư cách thượng hoằng Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”.
Vì
thích sống hòa mình, nên Hòa Thượng lấy đại chúng làm thiện trí thức.
Ngài thường nói: “Chúng ta nguyện làm Pháp lữ Ðại thừa với nhau, cho đến
khi Ðức Từ Thị ra đời!”
Do đó,
với hơn 300 Tăng sinh đã được Hòa Thượng dưỡng nuôi, giáo hóa trong hơn
25 năm qua, chính là những đứa con tinh thần biết lo tu học, để trở
thành nhiều cây trụ đá chống đỡ ngôi nhà chánh Pháp ở tương lai. Thật
đúng như lời cổ đức đã nói: “Sanh tiền giáo dưỡng đắc nhơn vô tử, như
hữu tử. Một hậu thanh danh tại thế tuy vong, dã bất vong”.
V. Lâm Bịnh
Trong
những năm chiến tranh, Hòa Thượng phải đi lánh nạn ở một vài tuần miền
quê hẻo lánh, nên không tránh khỏi bệnh sốt rét lâu năm. Mặc dù Hòa
Thượng đã uống nhiều viên ký ninh để chữa trị, song chứng sốt cũng tạm
qua, còn bệnh căn thì chưa dứt hẳn.
Mãi đến
giữa năm 1980, bệnh ấy đã âm thầm biến chứng, lại thành áp huyết cao,
khiến cho sức khỏe của Hòa Thượng phải thêm nhiều lo lắng...
Chư
Tăng đại chúng lo kiếm thuốc tìm thầy, để trị bịnh cho Hòa Thượng bằng
Ðông y, Tây y đủ cách. Nhưng cơn bịnh được thuyên giảm khả quan, chứ
không còn khỏe mạnh như xưa nữa.
Việc
điều hành tại viện, nhờ Ban Quản chúng đại lao, Hòa Thượng giữ vai trò
Cố vấn chỉ đạo, để lèo lái con thuyền Huệ Nghiêm vượt qua cơn sống gió.
Trước khi viên tịch, Hòa Thượng có giao phó những trách nhiệm lại cho
mấy huynh đệ:
Thích
Chơn Lạc
Thích
Minh Thông
Thích
Chơn Thanh
Thích
Thiện Quí
Ðể thay
nhọc cho Hòa Thượng về mặt đối nội cũng như đối ngoại...
Những
mong cơn bịnh và sức khỏe của Ngài ở mức độ bình phục được lâu dài.
Nhưng đáng buồn và lo lắng thay!
Vào
trung tuần tháng 9 âl (1985) cơn bịnh tái phát thêm phần trầm trọng. Vì
thế, Chư Tăng tại viện, quý Phật tử và quyến thuộc quyết định đưa Hòa
Thượng vào bệnh viện Nguyễn Trải điều trị. Bác sĩ nơi đây tận tâm săn
sóc, nên hơn hai tuần nằm điều dưỡng ở nhà thương ấy, sức khỏe của Hòa
Thượng dần dần bình phục, nhưng kém hơn trước.
Thấy
Hòa Thượng ăn uống, nghỉ ngơi bình thường, không còn lo âu nữa, nên Bác
sĩ cho xuất viện để trở về bổn tự tiếp tục chữa trị lâu dài, bằng thuốc
Ðông Tây phối hợp. Môn đồ tứ chúng cùng Phật tử hằng cầu nguyện Hòa
Thượng trụ thế trường tồn, để làm nơi quy ngưỡng cho hàng đệ tử xuất gia
cũng như tại gia ở hiện tại và tương lai.
VI. Ðức Hạnh:
Ngài
thường nhắc đến hạnh từ bi, hỷ xả của Hòa Thượng Thiện Hòa, Viện Chủ Tổ
Ðình Ấn Quang, đáng làm kim chỉ nam cho người con Phật.
Mỗi khi
gặp cảnh trái ý, Hòa Thượng vẫn nụ cười hoan hỷ trên môi, không tỏ thái
độ bực mình với ai, vào phòng đóng cửa, nằm yên tịnh niệm... cho qua cơn
chướng ngại. Tánh Hòa Thượng hiền hòa, không hề phản đối, tự đại, tự
cao.
Ðại
chúng sống bên Hòa Thượng hơn 20 năm, không bao giờ bị quở phạt nặng
lời. Ngài chỉ khuyên dạy bằng tình thương như Từ Mẫu. Dùng đạo hạnh để
giáo hóa những người xung quanh, nhiều hơn là lới nói.
Hòa
Thượng noi theo hạnh các bực Thiền Sư tiền bối: “Ðến trong âm thầm, khi
đi chẳng lưu dấu vết”. Cho nên không một Tăng Ni, Phật tử nào trong hàng
môn đồ Pháp quyến, lại ăn được chè xôi vào ngày kỷ niệm ra đời của Hòa
Thượng.
Ngài ôn
tồn nhắc lại: “Lúc đứa con mở mắt chào đời, ấy là ngày banh da, xẻ thịt
khổ đau của người mẹ! Ngày ấy càng tinh tấn tu niệm nhiều hơn nữa, để
hồi hướng công đức cho mẫu thân, báo ân hoài thai dưỡng dục, có rảnh
rang đâu mà lo vui chơi ăn uống?”.
Nếu gặp
kẻ bất kính chê bai, Hòa Thượng cũng hoan hỷ bao dung tha thứ, không giữ
lại trong tâm một niệm ưu phiền chán ghét.
Từ năm
1970 – 1980, Hòa Thượng cầu Pháp Y Chỉ Sư với Hòa Thượng Trí Tịnh, Viện
chủ chùa Vạn Ðức ở Thủ Ðức. Ðối với Hòa Thượng, Ngài Viện Chủ Vạn Ðức
rất thân mến, xem như một người đệ tử thật sự và đáng tin cậy.
Hòa
Thượng âm thầm nhập thất 10 năm, mà chân không hề bước qua khỏi cầu bắt
ngang mương chừng hai bước, nối liền bên nhà của người thân phụ.
Ngài
thích sống một cuộc đời mai danh ẩn tích, như người xưa ở nơi hoang dã
núi rừng. Thân đã già yếu theo thời gian, lại còn mang bịnh kéo dài gần
10 năm, bao nhiêu nỗi khổ dồn dập, giày vò lên thể xác, nhưng Hòa Thượng
vẫn thản nhiên chịu đựng. Huyễn thân tứ đại suy già, ốm đau nhức mỏi, đi
đứng khó khăn, song Hòa Thượng không đòi hỏi một nhu cầu bắt buộc nào,
để khỏi làm phiền người thân nuôi hầu hạ.
Trong
thời gian nằm bịnh tại chùa, Hòa Thượng thấy hoa sen lớn bằng mẫu đất
hiện ra trước mặt, ba ngày mới tan. Một vài Thầy trong hàng môn đồ đến
thỉnh ý Hòa Thượng Thiền Tâm ở Ðại Ninh, là một Pháp lữ đồng tu với Hòa
Thượng.
Ngài
cho biết: “Xem qua những gương Chư Tổ thời xưa, thì đây là một điềm lành
ứng hiện, để báo trước sẽ đến ngày viên tịch”.
VII. Viên Tịch
Thân tứ
đại đã mõi mòn theo năm tháng, một chiếc xe Ðại thừa quyết đưa khách lữ
hành đi một đoạn đường giáo hóa độ sanh. Giờ đây thì nó trở thành cũ kỹ,
sắp đến ngày hư hoại không lâu.
Mặc dù
Hòa Thượng nằm bịnh nhiều ngày, nhưng ngày môn đồ Pháp quyến vẫn thăm
nuôi không nản chí. Thấy Hòa Thượng Trí Tịnh đến hỏi han nhắc nhở niệm
Phật Di Ðà, Ngài niệm theo nghe rõ ràng tha thiết, niệm với tâm vui mừng
cảm động, đến nỗi khóe mắt lệ rưng, vì còn gặp lại lần chót vị ân sư
giáo huấn thuở nào!
Tăng,
Ni, Phật tử vội vả về thăm, như đàn con thảo ở các nơi trùng phùng sum
họp, tạo thành một tình đoàn kết càng thêm ấm áp. Tinh thần Hòa Thượng
vẫn còn tỉnh sáng, nhưng cơn bịnh lại cứ tăng dần, làm cho thân suy yếu
phải đến giờ kiệt quệ.
Áng mây bạc lạnh lùng sương bao phủ,
Lá vàng che ủ rủ khuất vừng trăng!
Ôi!
Biết bao niềm thương tiếc trào dâng, đúng vào lúc 2 giờ, ngày 27 tháng
10 năm Tân Mùi (2-12-1991), Hòa Thượng đã từ từ nhắm mắt xả báo thân,
theo Phật về miền Cực Lạc. Hưởng thọ 78 tuổi 42 Hạ Lạp.
Chư
Tăng tại Viện đồng thanh niệm Phật vang rền theo hồi chuông trống Bát
Nhã canh khuya, để tiễn đưa người cha lành trở về quê xưa cảnh cũ và
viên thành hạnh nguyện.
Lễ cung
tống kim quan Cố Hòa Thượng, được cử hành vào ngày 1-11 năm Tân Mùi
(6-12-1991) nhập Bảo tháp uy nghiêm, đặt ở phía trước, bên phương trượng
của Ngài.
VIII. Tổng Kết
Tóm lại,
Hòa Thượng đã hiến trọn cuộc đời tu hành của mình vì đạo Pháp, để làm
lợi ích cho Tăng Ni, Phật tử. Hơn 40 năm không kể gian lao, chẳng từ khó
nhọc, bằng tấm lòng vị tha bình đẳng bao dung, Hòa Thượng đem tình
thương của người mẹ hiền để nuôi nấng vỗ về những đứa con ham tu hiếu
học.
Về giáo
dục, Hòa Thượng là một bậc lãnh đạo nhiều kinh nghiệm tâm lý, đủ lối
nhìn thực tế vào hiện tại, nên hơn 25 năm qua đã đào tạo cho Giáo Hội
những nhân tài hữu ích để phục vụ Ðạo Pháp và chúng sinh.
Thật
xứng đáng là một bực chân tu thanh tịnh, Hòa Thượng cam chịu bỏ nguồn
vui an lành nhập thất, đem thân ra gánh vác Phật sự lợi tha. Ðến lúc cơ
duyên đã mãn, Hòa Thượng quyết định lui về Tịnh thất ngày xưa để tu
dưỡng, trong quảng đời còn lại tuổi già. Không muốn ai biết đến bổn phận
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức của mình, Hòa Thượng thích sống bình
thường như người ẩn dật.
Nhưng
vì Ðại chúng tha thiết thỉnh cầu nhiều phen, Hòa Thượng phải đành ở lại
trường, để làm tàng cây cổ thụ. Người Phật tử hay Tăng Ni, khi gặp Hòa
Thượng là hoan hỷ phát tâm, vì đạo phong vòi vọi khả kính của Ngài.
Dù Hòa
Thượng bịnh nhiều để trả nghiệp, nhưng căn cứ vào hạnh tu đức độ hiền
hòa trong hiện tại, thì biết chắc rằng ở vị lai sẽ trọn nên Ðạo quả.
Than ôi!
Hòa Thượng nhẹ gót về Tây, để lại một tình thương đức độ biển trời cao
cả, khiến cho người con Phật và thân quyến, mãi ngậm ngùi kính quý tiếc
thương!
Nam Mô Huệ Nghiêm đường thượng Từ Lâm Tế
Chánh Tông tứ thập tam thế, huý thượng Tâm hạ Ba tự Nhựt Quang, hiệu Bửu
Huệ đại lão Hòa Thượng giác linh thùy từ chứng giám.
---o0o---