| ...... ... |
. |
THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM
CỐ GIÁC LINH HÒA THƯỢNG
THÍCH
NGUYÊN NGÔN
|
TIN BUỒN
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn:
Hòa Thượng THÍCH NGUYÊN NGÔN
Giảng sư Ban Hoằng Pháp TW và Thành Hội
Phật Giáo TPHCM.
Giáo Thọ Sư trường Trung Cấp Phật Học TPHCM.
Trụ trì chùa Khánh Vân Quận 11, TPHCM.
Sau cơn bệnh nhẹ đã xả báo an tường, thâu thần tịch diệt vào
lúc 18g45, ngày 12 tháng 4 năm Ất Dậu (nhằm ngày 19/05/2005)
tại chùa Khánh Vân, số 205 đường Đội Cung P9, Q11, Sàigòn,
trụ thế 69 tuổi, hạ lạp 46 năm.
Lễ nhập Kim Quan được tiến hành vào lúc 13g00 ngày 13
tháng 4 Ất Dậu (nhằm ngày 20/05/2005). Kim quan được tôn trí
tại chùa Khánh Vân.
Lễ cung tống Kim Quan được cử hành vào lúc 8g00 ngày
18 tháng 4 Ất Dậu (nhằm ngày 25/05/2005). Sau đó nhục thân
của Hòa Thượng sẽ được hỏa táng tại đài hỏa táng Bình Hưng
Hòa, huyện Bình Chánh, Sài Gòn.
Chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử có thể điện thoại phân ưu
trực tiếp với môn đồ pháp quyến tại Chùa Khánh Vân (Saigon):
84.8. 8584419.
Hoặc gởi điện thư về email:
quangduc@tpg.com.au,
Ban Biên Tập sẽ chuyển đến Ban Tang Lễ
( xem tiếp hình ảnh tang lễ)
Hình tang lễ 1
Hình tang lễ 2
Hình tang lễ 3 |

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
HOÀ THƯỢNG THÍCH NGUYÊN NGÔN
(1938-2005)
I. THÂN THẾ
Hoà thượng thế danh là Phan Thanh Bình, sau đổi
tên là Phan Chín, sinh năm Mậu Dần 1938 tại Làng Vĩnh Lộc, xã Bình Hoà, huyện
Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định.
Thân phụ là cụ ông Phan Liễn. Thân mẫu là cụ bà
Hà Thị Bộ. Hoà thượng có tất cả 10 người anh chị em; trong đó hai người mất sớm.
Các người anh của Hoà thượng đều là những người yêu nước, tình nguyện gia nhập
Đảng Cộng Sản Việt Nam vào những thập niên 1950.
Từ năm 1956 đến 1970, song thân và ba người anh
trai của Hoà thượng đã lần lượt nằm xuống, để góp phần bảo vệ quê hương, giành
lại độc lập khỏi ách thống trị của thực dân xâm lược.
Được sự hướng dẫn của song thân, gia đình của Hoà
thượng đều quy y Tam Bảo tại chùa Vĩnh Lộc với Tổ Huệ Chiếu, nhờ đó cả gia đình
đều trở thành các Phật tử thuần thành, hết lòng kính tin Tam Bảo. Riêng Hoà
thượng khi được Tổ Huệ Chiếu thí giới khai tâm, có pháp danh là Nguyên Ngôn, như
ngầm thọ ký rằng trong tương lai thiện nam tử này sẽ trở thành một bậc sứ giả
Như Lai với tâm nguyện truyền thừa nguyên ngữ chánh pháp của đức Phật.
II. THỜI KỲ XUẤT GIA TU
HỌC
Nhờ căn lành xuất thế đã gieo trồng trong nhiều
kiếp, lại có khuynh hướng ưa chuộng đời sống đạm bạc của nhà thiền, tham cầu học
đạo, Hoà thượng đã không bắt chước các người anh tiếp nối sự nghiệp cha theo
đường cách mạng, Hoà thượng đã chọn con đường thoát tục.
Năm 1952, khi vừa tròn 15 tuổi, được sự cho phép
của Mẹ, Hoà thượng đã được thế phát xuất gia với Hoà thượng Như Nguyện, hiệu Tâm
Đạo, tại tổ đình Nhạn Sơn - một trong các di tích lịch sử của thôn Nhạn Tháp, xã
Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Hoà thượng đã được Bổn sư đặt pháp danh
là Thị Lộc, tự Thành Văn.
Từ thập niên 1950, chốn Tổ này cũng chính là
Trường Sơ Cấp Phật Học của Tỉnh nhà. Dưới sự hướng dẫn của thầy Bổn sư, Hoà
thượng đã được theo học với các bậc danh tăng thạc đức thời bấy giờ từ những năm
1955 đến 1957.
Năm 1955, khi tròn 18 tuổi, căn lành tăng trưởng,
giới hạnh tinh chuyên, Hoà thượng đã được Bổn sư cho lãnh thọ giới pháp Sa-di.
Hai năm sau đó, tức năm 1957, Hoà thượng tiếp tục theo học lớp Trung Đẳng Phật
Học tại Tổ đình Thập Tháp, tỉnh Bình Định. Cũng tại nơi này, Hoà thượng đã lãnh
hội được yếu chỉ của Phật pháp, phát tâm dũng mãnh tu hành, trở thành một trong
những Học tăng ưu tú của Trường. Nhờ thành tích đặc biệt này, sau khi học xong
học kỳ một của năm thứ nhất, Hoà thượng là một trong bốn Tăng sinh xuất sắc được
chư tôn đức Ban Đốc Gíao tuyển chọn, gởi vào Phật Học Đường Nam Việt, tức chùa
Ứng Quang, nay là Tổ đình Ấn Quang. Tại Phật học đường này, Hoà thượng đã được
tham học với các danh tăng nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 chẳng hạn như quý Hoà
thượng Thiện Hoa, Thiện Hoà, Trí Tịnh, Trí Quang, Nhất Hạnh và Hoàn Quan. Vài
năm sau đó, Hoà thượng theo học Phật học viện Phước Hoà, thuộc tỉnh Trà Vinh,
dưới sự chủ giảng của HT. Thích Thanh Từ.
Năm 1960, sau khi tốt nghiệp lớp Phật Học tại
Phật học viện Phước Hoà, Hoà thượng lại trở về Tổ đình Ấn Quang, tiếp tục theo
học chương trình Trung Đẳng Phật Học, niên khoá 1960- 1964.
Từ năm 1966- 1969, để đào sâu nội điển song song
với ngoại điển như một nhu cầu không thể thiếu đối với các sứ giả hoằng pháp lúc
bấy giờ, Hoà thượng đã theo học chương trình Cử nhân Phật khoa tại Đại học Vạn
Hạnh. Cũng cùng thời điểm này, Hoà thượng vừa học thêm Cử nhân Hán Việt, và được
mời làm giáo thọ tại các trường Trung học Bồ-đề Sài Gòn - Chợ Lớn.
III. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
VÀ HOẰNG PHÁP
Với chí nguyện hoằng pháp lợi sanh, báo Phật ân
đức của bậc sứ giả Như Lai, khi còn ngồi ghế học đường, từ những năm từ 1966 đến
1973, Hoà thượng đã dấn thân giảng dạy cho rất nhiều tăng ni và Phật tử tại các
tự viện, đạo tràng ở Sài Gòn và Lục Tỉnh.
Năm 1974, với nhiều thành tích trong lãnh vực
hoằng pháp, Hoà thượng đã được chư tôn đức Viện Hoá Đạo bổ nhiệm chức vụ Tổng
thư ký Tổng Vụ Hoằng Pháp GHPGVNTN, đồng thời, cũng là trợ lý đặc biệt cho Hoà
thượng Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp Thích Huyền Vi.
Với khả năng kiêm ưu trong lãnh vực trước tác và
biên tập, Hoà thượng đã được mời làm Thư ký Đặc san Hoằng Pháp của Tổng
vụ Hoằng Pháp. Đặc san này mang hương vị pháp âm, gắn liền với tinh thần nhập
thế, đáp ứng nhu cầu học Phật đa dạng của quảng đại quần chúng thời bấy giờ.
Năm 1978, với tài đức kiêm ưu, Hoà thượng được
Viện Hoá Đạo bổ nhiệm làm Chánh Đại Diện Phật Giáo quận 10.
Từ năm 1980 đến 1984, Hoà thượng làm giáo thọ sư
Phật Học Viện Sơ đẳng Thiện Hoà tại chùa Giác Ngộ và Trung Đẳng Phật Học tại
chùa Ấn Quang, Q.10.
Từ năm 1984, khi các Phật học viện trong Sài Gòn
ngưng hoạt động, Hoà thượng vẫn tiếp tục giảng dạy gia giáo tại các tự viện
trong Thành phố như chùa Ấn Quang, chùa Giác Sanh, chùa Giác Ngộ, chùa Từ Nghiêm,
chùa Hưng Phước, chùa Bồ-đề Lan-nhã v.v…, theo phương châm: “nơi nào cần chánh
pháp, xin phát nguyện dấn thân.” Có những đêm mưa tầm tã, Hoà thượng vẫn không
ngại lao nhọc, cửi chiếc xe đạp cọc cạch, đến giảng dạy tại các giảng đường. Đôi
lúc vì hoàn cảnh khách quan, số lượng học viên chỉ còn vài ba người, Hoà thượng
vẫn không sờn chí nản lòng, tha thiết với những lời pháp âm trầm bổng, hùng hồn.
Khi Trường Trung Cấp Phật Học TP.HCM được thành
lập tại chùa Vĩnh Nghiêm, từ năm 1989, Hoà thượng tiếp tục tham gia giảng dạy.
Kể từ khi có Lớp Cao Đẳng Phật Học, Hoà thượng trở thành một trong các giáo thọ
sư để lại nhiều ấn tượng về kinh nghiệm tu học sâu sắc nhất, trong khi truyền
thụ cho nhiều thế hệ tăng ni sinh các chất liệu chánh pháp, vừa mang tính triết
lý nhưng lại không kém phần ứng dụng thực tế.
Nói chung, về giáo dục và hoằng pháp, Hoà thượng
là người tinh chuyên, chịu khó và kiên trì giảng dạy liên tục từ những thập niên
1960 cho đến những năm tháng cuối đời. Hoà thượng không bao giờ từ nan giảng dạy
Phật pháp cho bất kỳ các trường Phật Học, các trường hạ, các khoá bỗi dưỡng trụ
trù, các khoá đào tạo và bồi dưỡng giảng sư, cho đến các đạo tràng ở các tự viện,
bất luận lớn nhỏ.
Hoà thượng chẳng quản ngại đường xa, chẳng hề
than khó. Miễn sao thính chúng chí thành và cầu học, Hoà thượng đều phát tâm
giảng dạy với tất cả bầu tâm huyết của một bậc tiền bối vì tương lai và vận mệnh
của Phật pháp. Cuộc đời dấn thân và hoằng hoá của Hoà thượng đã thực hiện trọn
vẹn tôn chỉ hoằng pháp của cố Hoà thượng Viện Trưởng Thích Thiện Hoạ: “ Nơi nào
Phật pháp cần, con đến; nơi nào chúng sanh cần, con đi; chẳng ngại gian lao,
chẳng từ khó nhọc.” Với gương hạnh cao cả và đặc biệt đó, Hoà thượng thật xứng
đáng là vị đại sứ giả của Như Lai.
IV. TRỤ NHƯ LAI XỨ, TRÌ
NHƯ LAI SỰ
Trên đường hoằng pháp lợi sanh, lúc đầu Hoà
thượng chủ yếu tập trung vào hai Phật sự quan trọng là giáo dục và hoằng pháp.
Nhưng kể từ khi được Hoà thượng Thích Hoàn Quan, một bậc đại giáo thọ sư của các
Phật học viện, nhiều lần mời gọi làm Trụ trì, Hoà thượng đã về trú tại chùa
Khánh Vân, chăm lo ngôi Tam Bảo, tiếp tăng độ chúng. Ngày 12-11-1996 Hoà thượng
chính thức được Hoà thượng Trưởng Ban Trị Sự THPG TP.HCM lúc bấy giờ ký bổ nhiệm.
Từ ngày làm Trụ trì chùa Khánh Vân, Hoà thượng đã
xây dựng nhà thờ Tiêu Diện và Hộ Pháp, tu sửa bàn thờ Tổ, trang hoàng lại nơi
tôn thờ các Tổ sư hữu công với Phật giáo, kiến dựng bảo tháp (sinh phần) cho Hoà
thượng Nghiệp sư, xây dựng nhà thờ linh cốt, trùng tu Chánh điện và kiến dựng
mới dãy nhà Tăng rất khang trang, rộng rãi, lòng những mong làm nơi cư trú tu
học cho chư tăng hữu duyên, có phương tiện tốt trong sinh hoạt tu học.
V. TRƯỚC TÁC VÀ BIÊN
DỊCH
Mặc dù bận rất nhiều Phật sự, đặc biệt là công
việc giảng dạy, Hoà thượng vẫn không quên việc biên soạn và dịch thuật một số
tác phẩm Phật học trọng yếu.
Trong số các tác phẩm dịch và chú giải của Hoà
thượng, có thể kể: Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Bát-nhã Tâm Kinh,
Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Bát Đại Nhơn Giác, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Phát
Bồ Đề Tâm Luận, v.v... Ngoài ra, Hoà thượng còn biên soạn một số giáo trình
cho các lớp Trung đẳng và Cao đẳng Phật học như Duy Thức Học Cương Yếu,
Bát Thức Quy Củ, Bách Pháp Minh Môn Luận, Sáu Pháp Hoà Kính, Tam Vô Lậu Học
và hầu hết các bài khoá trong bộ Phật Học Phổ Thông, với một giáo
trình độc lập và chi tiết. Hầu hết các tác phẩm, dịch phẩm và giáo trình này đều
còn dưới dạng cảo bản, chỉ phổ biến nội bộ cho các tăng ni sinh nghiên cứu học
tập, chưa ấn hành chính thức.
VI. THUẬN THẾ VÔ THƯỜNG
Vì tấm lòng tha thiết với sứ
mạng giáo dục và hoằng pháp, vì nghĩ đến tương lai của thế hệ tăng ni trẻ, dù
mang bệnh tim và thể lực kém, Hoà thượng vẫn tham gia giảng dạy thường xuyên,
không hề gián đoạn và ngơi nghỉ. Dù biết tuổi hạc đã cao, Hoà thượng vẫn không
bận tâm về sức khoẻ, luôn miệt mài với năm tháng gió sương. Vì lẽ ấy, sức khoẻ
của Hoà thượng ngày càng sa sút.
Sáng ngày 18-5-2005 nhằm ngày 11 tháng 4 Ất Dậu,
cơn đau tim bắt đầu tái phát. Như biết trước huyễn thân sắp rời khỏi trần thế,
Hoà thượng đã thản nhiên không vào bệnh viện theo đề nghị của bác sĩ chuyên khoa,
để chuẩn bị xả bỏ báo thân. Hoà Thượng đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 18g45’
ngày 19-5-2005 nhằm ngày 12-4 Ất Dậu. Nhập đạo 54 năm. Hạ lạp 46 mùa an cư kiết
hạ. Trụ thế 68 năm.
Những tưởng, duyên hoá độ còn lâu hơn nữa,
Nào ngờ đâu, sớm cỡi hạc quy Tây.
Trong vô thường, vẫn điềm nhiên tự tại,
Sống chết dường gió thoảng mây bay.
Nguyện giác linh sớm hồi nhập Ta-bà
Cùng pháp lữ diễn xương chánh pháp.
Nam-mô Tự Lâm Tế Chánh Tông,
Tứ thập nhị thế, Nhạn Sơn Đường thượng, Khánh Vân Tự trụ trì, huý thượng
Thị hạ
Lộc, tự
Thành Văn, hiệu
Nguyên Ngôn Hoà thượng Giác
Linh, thuỳ từ chứng giám.

|
ĐIẾU VĂN
CỦA BAN HOẰNG PHÁP TRUNG ƯƠNG
VÀ BAN TRỊ SỰ THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP.HCM
---oOo---
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch Giác linh Hoà thượng,
Thương thay! Một đoá hoa đàm vừa rụng,
hương thơm ngát một vùng,
Tiếc thay! Cõi trần gian vắng bóng, bậc
sứ giả đại hùng.
Dẫu biết sống gởi thác về là quy luật
Nào ngờ vô thường tan hợp lẽ đương
nhiên
Mong sao, tình cốt nhục Linh Sơn còn
mãi
Tin rằng nghĩa pháp lữ Đại thừa hằng
ghi.
Nhớ giác linh xưa, chân tánh hiền hoà
Được Tổ Như Nguyện nhận làm đệ tử
Duyên lành đã sẳn, hạt pháp nảy sinh
Nguồn tâm thúc giục, tinh cần sớm hôm
Tuổi xuân trăng tròn, giác ngộ thế trần
Thương đời dâu bể, cắt ái từ thân
Xuất gia đầu Phật, quyết tỏ chân tâm
Dòng kệ Chúc Thánh tương truyền tiếp
nối.
Thị Lộc là pháp danh học đạo ban sơ.
Hạnh Sa Di giới đức giữ gìn, như minh
châu sáng sạch.
Thọ Cụ Túc phạm hạnh tròn đầy, tợ trăng
sáng trời cao.
Bối diệp đêm ngày nghiền ngẫm,
Pháp âm cần mẫn truyền trao.
Siêng học cần tu, bạn thầy thương mến,
Quyết tâm tinh tấn, vân du học đạo
Từ chùa gốc Nhạn Sơn ngày đêm kinh sử
Đến chốn Tổ Thập Tháp năm tháng rèn tâm
Phật học đường Nam Việt tiếp người chí
nguyện
Phật học viện Phước Hoà đón nhận chơn
tăng
Văn khoa Sài Gòn, tốt nghiệp cử nhân
Đại học Vạn Hạnh hoàn thành Phật học.
Khi đang khoa bảng, nối nghiệp thánh
nhân
Trong lúc hành trì, không quên hoằng
pháp.
Từ Sài Gòn, Gia Định và Lục Tỉnh miền
Tây
Đến các tự viện, Hạ trường trong và
ngoài thành phố
Bước chân giáo hoá không chút từ nan
Hạnh nguyên dấn thân, chưa hề mệt mỏi.
Gióng chuông chân lý, giục khách trần
lìa bể khổ,
Trổi tiếng pháp âm, giúp người vượt
thoát bờ mê
Gương hoằng pháp như pha lê ngời sáng
Đức dấn thân tợ dòng nước xuôi nguồn.
Phật sự hoàn thành, làm vẻ vang dòng
Thích
Hoá duyên ký tất, ra đi không chút bận
tâm.
Sáu mươi chín năm hiện thân cõi Ta-bà
Bốn mươi năm trường tinh chuyên giáo
dục
Hạnh nguyện mênh mông biển lớn,
Độ sanh không có điểm dừng,
Cõi phù du như gió thoảng mây bay
Đến và đi trong thản nhiên, vô uý
Mong giác linh trở về đời năm trược
Cùng chúng tôi chuyển hoá khúc đoạn
trường
Mang an lạc rãi khắp muôn nơi
Đem hạnh phúc truyền trao khắp chốn.
Ngưỡng nguyện giác linh Hoà thượng,
Tự Lâm Tế Chánh Tông, tứ thập nhị thế,
Nhạn Sơn Đường thượng, Khánh Vân Tự trụ trì, huý thượng
Thị hạ Lộc, tự Thành Văn, hiệu Nguyên Ngôn Hoà thượng
Giác Linh, thuỳ từ chứng giám.
|

|
Điếu Văn Cố Hoà Thượng Thích Nguyên Ngôn
Nguyên Trụ trì Chùa Khánh Vân, Sài gòn
(Chân thành tri ân Sư huynh Thích
Quãng Nghiêm,
Trụ trì Chùa Vạn An-Phước Hậu, Sydney đã báo tin buồn đến trể)
Đất Úc Châu chuyển mùa băng giá
Nát nhân gian, nghẹn cả trời sầu
Dù sắt đá cũng động lòng từ tạ
Thầy ra đi, con thức trắng đêm thâu
Hương hoa chí tâm xin cúng
Dâng lên lời mọn kính thành
Thầy về nát cuộc phù sanh
Để cho huyễn hoặc tan tành khói sương.
Kính nhớ giác linh xưa:
Đất Bình Định ứng thân thị hiện
Xã Bình Hoà ứng hoá phàm thân
Chùa Vĩnh Lộc quy y Tam Bảo
Giống đạo mầu tái tạo cuộc đời
Chốn Nhạn Sơn thệ nguyện xuất trần
Tuổi 15 ly gia, theo gót Phật Đà, thoát tục.
Kể từ đó:
Trường Thập Tháp, Thành Văn ngày đêm khổ luyện;
Trí giác như mặt trời bất biến
Nguyên Ngôn sâu thể nước nguồn, hạnh từ dạo ấy
chảy tuôn;
Tuệ giác sáng luôn bất kể.
Để rồi,
Nếp Phương đông giữ gìn nguyên thể
Ứng đối như Nho phong đúc vẻ
Vườn Như lai lập chí vun bồi
Nói năng đúng mực mẫu khuôn.
Năm 18 căn lành trưởng dưỡng;
Sa Di giới pháp tinh ba
Tuổi 20 căn tánh thuần hoà;
Giới thể từ đây thêm lớn.
Tức thì:
Chốn Thập Tháp đêm ngày un đúc
Cõi Phật tâm triết lý nhập tâm
Việt-Hán, Nho gia cũng đã uyên thâm
Ấn Quang, Việt Nam Phật Đường, từ lâu kết duyên
thọ giáo
Bao nhiêu phiền não, cũng cúi đầu nghe pháp của
Thầy
Không giờ rảnh, thức suốt đêm thâu, phòng đọc
sách đèn dầu hiu hắt.
Pháp hữu xa gần kính quý
Người đời cũng phải nể vì.
Còn đâu:
Lớp Sơ Đẳng Thiện Hoà, chùa Giác Ngộ từ bi
Mở bày Tám Điều Giác Ngộ, kẻ trí từ đó
tĩnh bừng;
Miền Ấn Quang, pháp âm tuôn chảy không ngừng
Tâm Kinh Bát Nhã
thường tuyên thuyết
Chỉ thẳng phàm thánh chẳng hai.
Hạ Tuyền Lâm, văn tự chẳng màn
Pháp Bảo Đàn thao
thao bất tuyệt
Chân tâm nơi Thủ Lăng Nghiêm…
Chùa Vĩnh Nghiêm chỉ bày
Đại Thừa Khởi Tín
Còn đâu:
Bồ Đề Tâm Luận
dõng phát, giảng dạy Bát Thức Quy Củ
Chốn Lan Nhã Bồ Đề, Ni đồ, Phật tử rõ ràng tánh
pháp
Chùa Hưng Phước, Bách Pháp Minh Môn
Tăng chúng, tín đồ hồi quy Duy Thức đại
thừa
Mọi người thấu rõ đường về
Tăng-Ni, đề huề tánh giác.
Nhưng bây giờ thì ôi thôi:
Sao Bắc Đẩu trên trời rụng xuống
Nẽo Không Môn Thầy quyết ra đi
Miềm Thiếu Thất đìu hiu trống vắng
Mặc Tăng Ni đau thấu tâm can
Mặc cho cỏ lặng trời Nam
Thầy quyết tìm về chốn cũ.
Vô thường ra tay tiếp đón
Thầy vào cõi ấy Chân Thường;
Pháp âm vẫn mãi ngàn muôn;
Mà con tưởng Thầy còn đấy.
Từ nay:
Phương trời cách trở
Nẽo nhân gian in bóng Thầy đi
Chùa Khánh Vân vắng vẻ quạnh hiu
Tăng chúng xôn xao mất hướng
Đất Sài gòn nỉ non tiễn biệt
Đàn hậu học kính tiếc ngậm ngùi!
Thôi thì:
Kính xin Thầy nhẹ bước tiêu dao
Nơi Cực Lạc thoát vòng sanh diệt
Để lại hoa thơm cỏ biếc
Hạnh đức một nét tinh anh
Cát bụi cũng ngát tâm thành
Dâng lời bái biệt Tử sanh một lần!
Chỉ một lòng:
Khắc cốt bậc Đống lương Phật pháp
Ghi tâm ân nghĩa Sư-đồ
Kẻ uống nước nhớ mãi về nguồn
Luôn khắc dạ những lời di huấn
Chén trà đạo ba tuần dâng cúng
Nén tâm hương phủ phục Phật tiền
Xin Thầy rẻ ngã tử sinh, lời kinh tụng thay lời
tiễn biệt
Chỉ mong câu “Đàm Hoa Lạc Tận” cõi dương trần ai
thiết tâm thành!!
Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ thập nhị thế,
Nhạn Sơn Đường Thượng, Khánh Vân trụ trì, huý thượng Thị hạ Lộc,
tự Thành Văn, hiệu Nguyên Ngôn Hoà Thượng giác linh chứng minh!
Chùa Phật Đà,
Ngày 03 tháng 06 năm 2005 (nhằm ngày 27 tháng 04 năm Ất Dậu)
Cựu học Tăng Chùa Giác Ngộ-Ấn Quang-Vĩnh Nghiêm-Vạn Hạnh
Hậu học Thích Thiện Hữu
|

|
LỜI CẢM NIỆM CỦA MÔN ĐỒ PHÁP
QUYẾN
Tại
lễ di quan HT. THÍCH NGUYÊN NGÔN
lúc 08g00 ngày 25.5.2005 nhằm ngày 18 tháng Tư năm Ất Dậu Phật
Lịch 2549
Kính bạch Chư Tôn ĐứcTăng Ni, quan khách và Phật tử. Hoan hỷ
dành thì giờ chứng minh, cho phép pháp quyến môn đồ, xuất gia,
tại gia, và học chúng được khấp thiết đôi lời dâng lên Thầy
chúng con, trước khi tiễn nhục thân Thầy giã từ quốc độ Khánh
Vân.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật,
Kính lạy Giác Linh Thầy,
Lời
cảm niệm còn niệm nào mà cảm ?
Dạ
bi ai để lại những ai bi?
Giờ
này tiễn biệt Thầy đi
Linh đài nhỏ lệ là khi: Thôi rồi!
Chuyện ngày xưa,
* Khi sư ông Tâm Tạo tổ đình Nhạn Sơn-Bình Định gần viên
tịch, triệu Thầy về giao chức trụ trì, giao phó thiền môn.
Thầy về, nhưng những ngày giao thừa khó khăn khi đất nước
thống nhất, Thầy đành trở lại Ấn Quang!
Từ đó các Sư đệ của Thầy lẻ loi ra sức chống chèo!
* Việc giáo dục, hoằng pháp, Thầy như con tằm thầm lặng
nhả tơ. Thầy như con cò lặn lội chốn bờ ao, không tính kể xác
thân còm cõi. Từng ngày, từng mùa, từng năm vẫn gánh gồng cho cổ
máy pháp âm chạy đều!
* Việc tăng chúng: Thầy y như tinh thần giới luật, tiếp
nhận một sinh linh là làm cho giải thoát!
Cho nên Thầy như tổ Lâm Tế: là roi, là vọt. Nhưng đòn roi
chí tử để ngộ ra Phật lý diệu huyền .
Thầy như tổ Đức Sơn: là la, là hét để tăng ni trực nhận
lý thừa đương bên bờ vực thẳm buông tay
Có những lúc Thầy im lặng, nhưng im lặng sấm sét của Lâm
Tế, làm cho chúng con vạn duyên phóng hạ!
Ấy vậy, mà bây giờ chúng con lại nhớ, tiếc, tìm cầu cái
Lâm Tế, Đức Sơn đó! Hèn chi, thương cho roi cho vọt, ghét cho
ngọt cho bùi cũng là lẽ thiên thu!
Thầy không tham lợi, tham danh; sống đời giản tiện, khiết
thanh. Đó là bài học ngàn vàng trọn kiếp đáng nói gương, chúng
con làm sao kịp!
* Việc chùa Khánh Vân, chúng con hàng xuất gia, tại gia
và học chúng đệ tử ngậm ngùi. Khi mà Thầy vừa giảng, vừa dạy,
vừa xây chùa, vừa viết bài, viết sách, trong thân thể gầy mòn
chứa nhóm đủ bệnh duyên, mà Thầy cưu mang trọn kiếp! Chúng
con xót xa thốn dạ, nhưng làm sao cản được khi đó là
nhiệm vụ của vị trụ trì, nhất là Thầy là người có trách nhiệm và
hiếu nghĩa?
Bạch Thầy,
Một sự kiện quan trọng hiếm có đã xảy ra: Khi nhục thân
Thầy chưa nhập kim quan: Sáng sớm cùng ngày nhập kim quan, sư
ông Khánh Vân-Hoàn Quan, khập khễnh từng bước nhỏ của người đã
bị tai biến, chống gậy qua thăm Thầy .
Sư ông ngồi bên Thầy hồi lâu, rồi sư ông tát Thầy
ba tát lên mặt, sao Thầy nghiễm nhiên chẳng thưa gởi lời
nào?
Sau đó sư ông ôm mặt khóc, chống gậy trở về phòng .
Thật là những đỉnh núi cao thì mới gặp nhau! Bài học và
nỗi đau khác đời này, trong đời dễ có mấy ai. Cũng lại hành
trạng của Lâm Tế-Nghĩa Huyền, của Đức Sơn-Tuyên Giám
Đây chính là pháp khí đại thừa, chúng con học suốt đời
bằng máu, bằng xương vẫn chưa giải ngộ.
Chúng con trầm tư, nghĩ ra Thầy có phước. Thương cho sư
ông, bỏ tất cả để được Thầy, nhưng rồi sư ông cũng không giữ
được Thầy, đành chịu cảnh gốc tre phải khóc tre già ! Gậy thiền
Thầy trao lại sư ông, đèn thiền leo lét chủ nhân đi rồi!
Trước khi Thầy ra đi, Thầy đã tâm sự với các pháp hữu
đồng hương rằng: để khỏi bị động Thầy đã để dành tiền bạc, lo
ngày về Tây của Sư ông Khánh Vân rồi. Và chúng con đã thấy biết
chút ít, ôi sao mà chuyến đi xa của Thầy chu đáo quá ! Việc
chùa việc hiếu vẹn toàn ! Thầy nằm đó, chúng con quỳ đây.
Đạo tình còn nồng thắm mà sao nghìn trùng!
Kính bạch Thầy,
Chúng con biết: Thầy không nhận và không có đệ tử xuất
gia. Dù vô tử nhi hữu tử, còn có chúng con từ Nhạn Sơn đến Phước
Hòa, từ Ấn Quang đến Giác Uyển, từ Khánh Vân đến các Phật tử các
lớp giáo lý xưa nay của Thầy, đều tiếc thương khi
nhớ về Thầy, sao Thầy không trụ lâu chút nữa?
Chúng con nguyện: Noi gương theo đời sống Thầy, thực tập
hạnh nguyện Thầy, gìn giữ đạo mầu, dẫu cho chùa đất nhưng
Phật mãi vàng.
Kính xin Thầy: Trần gian còn có chúng con, nhiều nghìn đệ
từ chờ Thầy, vẫn còn khát giòng sữa pháp.
Kính nguyện Thầy: Xin hãy an lòng, hân hoan nước Phật
tiêu dao. Nhẹ nhàng sự sinh như sự tử của Thầy.
Thưa Thầy, chúng con đang chánh niệm quán từ bi nhớ về
Thầy.
"Nhẹ nhàng
giã biệt sáng nay
Chúng con
lặng tiễn chiều nay khóc thầm"
Trong phút giây im lặng này, chúng con thành kính đảnh lễ
tri ân, thương nhớ và tiễn biệt Thầy ba lạy.
Nam Mô Nối
Truyền giòng pháp đời thứ 42, Trụ Trì Tổ Đình Nhạn Sơn-Bình Định,
Trụ Trì Chùa Khánh Vân, Húy thượng THỊ hạ LỘC Tự THÀNH VĂN hiệu
NGUYÊN NGÔN Giác Linh Hòa Thượng, Từ Bi Nạp Thọ.
|

|
LỜI TIỄN BIỆT
CỦA CHƯ PHÁP HỮU ĐỒNG HƯƠNG
Thưa
Thượng Tọa Nguyên Ngôn kính yêu
Thưa Giác
Linh Thầy,
"NGUYÊN
NGÔN im bặt không lời
Nghe
trong tâm thức khung trời biệt ly
Ngẫm đời
là một cuộc chơi
Lung
linh mộng ảo đầy vơi vô thường
Ngày mồng
Hai tháng Tư vừa rồi, chư pháp hữu trong chuyến thăm bệnh Hòa
Thượng Đổng Minh tại thành phố Nha Trang, Hòa Thượng có nhắc đến
Thầy, đâu ngờ rằng Thầy đang bình thường mà trở đột ngột; còn
Hòa Thượng đang trọng thương nhưng vẫn bình thường!
Bốn năm gần
đây, pháp hữu chúng tôi đau thương tiễn biệt những người con của
quê hương hành đạo nơi xa xứ lần lượt ra đi: Thầy Nguyên Pháp ở
Huệ Nghiêm, thầy Quảng Hiện tại Long Khánh-Đồng Nai, tiếp đến
thầy Nguyên Bình trú xứ Huệ Nghiêm, ngài Giác Hương quận 12, và
gần đây thầy Như Nhựt chùa Phú Thạnh quận Phú Nhuận vừa mới 68
ngày. Bây giờ đến lượt thầy. Niềm đạo là lẽ thường, nhưng thói
đời là cả nỗi đau.
Thưa giác
linh thầy Nguyên Ngôn,
Thầy là tấm
gương:
Nghiêm khắc
nhưng nghĩa tình.
Lớn lời
nhưng chẳng kể công
Nóng nảy
nhưng tinh khiết.
Khô gầy
nhưng khí chất tinh anh!
Khi thầy
được chọn vào Nam học Phật, thầy tổ huynh đệ mong chờ thầy ngày
trở về cố hương. Nhưng rồi tổ đình Ấn Quang nắng ấm, nước ngọt,
lại được nâng niu dưới đôi tay từ ái của cố Hòa Thượng Thiện Hòa
và cơ duyên Phật pháp nên thầy
trụ lại
hành đạo nơi chốn xa quê.
Những
tưởng,
Thầy sẽ còn
mặc áo Ta Bà, nắm tay cùng các đệ huynh, dạo chơi trong cõi nhà
thiền đôi ba năm nữa.
Ngờ đâu đột
ngột phân ly, xuân sanh mát dịu hạ về chói chang!
Thế là:
Pháp tướng của thầy đành biệt ly pháp hữu, thinh âm của thầy im
lặng chốn thiền gia.
Từ nay:
Nghĩa tình, đàm đạo, quê hương, Phật kinh, sách sử, giờ cũng lịm
buồn khi thấy kim quan.
Còn đâu nữa
cho đệ huynh nương tựa? Còn có nhau dẫu chẳng nói lời nào!
Anh em Tăng
ni nhớ Thầy, dù nhiều khi huynh đệ có lúc đượm buồn trong những
định kiến cá nhân, Thầy thanh thẳn góp ý, tranh luận và xây dựng
nhưng chúng tôi vẫn trân quí vì tranh luận để soi sáng trong đạo
nghĩa và lễ nghi!
Còn đâu
nữa, để huynh đệ thỉnh thoảng cần bàn luận, chia sẻ quan điểm
của Phật pháp trong những lúc, chung nhau trong một bàn trà!
Học Phật
thầy tinh chuyên, thuyết pháp thầy thâm niên, hoá độ thầy đơn sơ
nhưng sư phạm. Sự nghiệp hoằng pháp Thầy đáng là vị Đại Sứ của
đức Như Lai, làm người đi ươm mầm Phật chủng khắp muôn nơi. Bấy
nhiêu ấy đã làm cho pháp hữu chúng tôi trân quí, học hỏi.
Thầy mất đi
là xa rồi người pháp hữu chung lo Phật sự gánh vác nhiều nơi.
Thương cho
chúng tôi thay
Chợt nhớ
lời kệ cua cố Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải:
"Đêm khuya
trăng thấm lạnh lùng
Nhà thiền
leo lét đèn chong canh dài"
mà chạnh
lòng cho trụ xứ Khánh Vân.
Thưa Giác linh pháp hữu đai huynh,_
Vẫn biết:
Thầy đi trong mùa hạ, như là người cởi áo khoát. Sá gì, dù tử
sinh cách trở tình đạo vẫn chung đương. Sự mất của thầy nhẹ
nhàng và đơn giản như sự sống của thầy.
Nhưng pháp
hữu chúng tôi, những người còn nán lại không khỏi ngậm ngùi xúc
động, trong giây phút tiễn biệt này.
Thưa Thầy,
Trong giờ
phút biệt ly này, chuẩn bị tiễn nhục thân Thầy hòa trong lửa đỏ;
huynh đệ pháp hữu vẫn hãnh diện về Thầy, người đã cống hiến trọn
vẹn thân tâm trong giòng giáo lý của đức Như Lai. Kính phục Thầy,
trên giường bệnh vẫn niệm Phật, cho đến 5 phút trước khi Thầy
mất.
Chúng tôi,
những người còn ở lại vẫn luôn nhớ đến Thầy, nguyện cùng Thầy
trong tận cùng vô biên kiếp cùng là Pháp lữ thiền môn.
Xin Thầy hộ
niệm cho huynh đệ, pháp hữu còn lại, theo dấu chân Thầy, xả thân
hoằng dương chánh pháp, đáp đền nghĩa nặng bốn ân.
Thành kính
đảnh lễ và bái biệt Thầy"
Nam
Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông tứ thập nhị thế, Bình Định -Nhạn Sơn tổ
đình, Sài Gòn-Khánh Vân tự, trụ trì húy thượng THỊ hạ LộC, tự
THÀNH VĂN hiệu NGUYÊN NGÔN pháp hữu giác Iinh chứng giám.
|

|
BAN TỔ CHỨC LỄ TANG
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH NGUYÊN NGÔN
- Giảng sư Ban Hoằng Pháp Trung ương
GHPGVN
- Giảng sư Ban Hoằng Pháp THPG TP. HCM
- Trụ trì Chùa Khánh Vân - Quận 11
I. BAN CHỨNG MINH:
1. Hòa thượng
Thích Huệ Hải
2. Hòa thượng Thích
Hoàn Quang
3. Hòa thượng Thích
Viên Giác
II. BAN TỔ CHỨC:
1) Trưởng Ban:
- Hòa thượng Thích Trí Quảng
2) Phó Ban:
- Thượng tọa Thích Thiện Tánh
- Thượng tọa Thích
Nhật Quang
- Thượng tọa Thích
Huệ Minh
- Thượng tọa Thích Thiện Ngộ
3) Tuyên Pháp ngữ: -
Hòa thượng Thích Tắc Thành
4) Bố Tát:
- Hòa thượng Thích Như Niệm
III. CÁC TIỂU BAN:
1) Ban Nội Dung:
- TT. Thích Huệ Minh
- TT. Thích Tấn Đạt
- ĐĐ. Thích Nhật Từ
2) Ban Thư Ký: - ĐĐ.
Thích Quảng Hòa
- ĐĐ. Thích Nhật Từ
- Ni sư Thích Nữ Như
Huệ
- Phật tử Như Sơn
3) Ban Thủ Quỹ: - Ni sư
Thích Nữ Như Châu
- Ni sư Thích Nữ Như
Ý
- Ni sư Thích Nữ Như
Nguyệt
- Phật tử Nguyên
Hồng
4) Ban Tiếp Tân:
* Chư Tăng:
- TT. Thích Như Tín
- TT. Thích Thông
Niệm
- TT. Thích Nguyên Phẩm
- TT. Thích Đồng
Châu
- TT. Thích Hạnh
Quang
- TT. Thích Hạnh
Hải
- TT. Thích Thánh
Tâm
- ĐĐ. Thích Huệ
Thành
*
Chư Ni: - Ni sư Thích nữ Như Châu
- Ni sư Thích
nữ Từ Nhẫn
- Phật tử Quảng Khai
5) Ban Xướng Ngôn: - TT. Thích
Tấn Đạt
- TT.Thích Thiện Đức
- TT. Thích Giác
Liêm
- TT. Thích Nguyên
Thiện
- ĐĐ. Thích Trí Chơn
- ĐĐ. Thích Nhựt Hỷ
6) Ban Nghi Lễ & Kinh Sư: -
TT. Thích Huệ Minh
- TT.
Thích Phước Trí
- TT.
Thích Lệ Trang
7) Ban Trần Thiết: - TT.
Thích Thiện Kiên & Đại chúng chùa Giác Sanh
- ĐĐ. Thích Nhật
Thiện & Chúng chùa Giác Ngộ
- ĐĐ. Thích Quảng
Hương
8) Ban Trật Tự: - TT.
Thích Tâm Thanh
- ĐĐ. Thích Nhật
Thiện
9) Ban Tiếp Lễ: - Ni sư
Thích Nữ Từ Nhẫn
- Ni sư Thích Nữ Như
Nguyệt
- Sư cô Thích Nữ
Tịnh Nhã
- Sư cô Thích Nữ
Diệu Thiện
10) Ban Hầu Kim Quan: -
TT. Thích Minh Lý
- ĐĐ.
Thích Hoằng Đạt
11) Ban Hiếu Đồ: - ĐĐ.
Thích Quảng Hòa
- ĐĐ. Thích Hạnh
Trực
- ĐĐ. Thích Nhật Quý
- ĐĐ. Thích Viên Giác.
12) Ban Trai Soạn & Hạnh Đường:
Chùa Huê Lâm
13) Ban Thị Giả & Trà Nước: Chùa
Huê Lâm
14) Ban Vận Chuyển: - ĐĐ. Thích
Quảng Hòa
- ĐĐ. Thích Nhật Từ
15) Ban y tế: Phật tử Diệu Tâm,
Diệu Thiện
***
ĐỒ HÌNH DI
QUAN
(Đi
bộ)
1. 2 giỏ hoa tươi
2. Vòng hoa tươi
3. Vòng cườm
4. Trướng
5. Hoành
6. Tràng phang
7. Kiền chùy (Bảo chúng), Khay lễ
8. Bê, Tích, Lọng; 2chân đèn, 2 bình hoa
9. Đức Di Đà phóng quang
10. Chư Tôn Đức chứng minh
11. Cờ ngũ sắc
12. Ban Kinh sư
13. Bê, Tích, Lọng; Y Bát, Bát nhang; Long vị,
Di ảnh (Chân đèn, bình bông)
14. Kim Quan
15. Chư Tăng
16. Quan khách
17. Chư Ni
18. Phật tử
|

ĐIỆN THƯ
PHÂN ƯU
|
Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi Tân Tây
Lan
Tu Viện
Quảng Đức
ACN 002 2333 2V, ABN 83 235 571 574
105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060. Tel: 9357 3544. Fax: 9357 3600.
Email:
quangduc@quangduc.com ; Website: www.quangduc.com
---o0o---
Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật
THÀNH KÍNH TRUY
NIỆM
Kính gửi: Ban Tổ chức Tang lễ cố Hòa
Thượng thượng Nguyên hạ Ngôn
Chúng con vừa nhận được tin:
Hòa Thượng
thượng NGUYÊN hạ NGÔN
Giảng sư Ban Hoằng Pháp TW và Thành Hội
Phật Giáo TPHCM.
Giáo Thọ Sư trường Trung Cấp Phật Học TPHCM.
Trụ trì chùa Khánh Vân Quận 11, TPHCM.
Sau cơn bệnh nhẹ đã xả báo an tường, thâu thần tịch diệt vào
lúc 18g45, ngày 12 tháng 4 năm Ất Dậu (nhằm ngày 19/05/2005)
tại chùa Khánh Vân, số 205 đường Đội Cung P9, Q11, Sàigòn
Trụ thế 69 năm và 46 Pháp Lạp
Thành kính đãnh lễ và hồi tưởng công hạnh tu tập và hoằng pháp lợi
sinh của
Hòa Thượng Thích Nguyên Ngôn, đã cống hiến trọn đời mình để
phụng
sự Đạo Pháp và Dân Tộc.
Thành kính nguyện cầu Giác linh Cố Hòa Thưọng :
CHỨNG VÔ SANH QUẢ
證
無
生
果
Chân thành phân ưu cùng Chư Tôn Đức
Tăng Ni và Môn Đồ Pháp
của cố Hòa Thượng
trong và ngoài nước.
Melbourne, Úc Châu ngày 22-05-2005
Thành Kính Truy
Niệm:
Tỳ Kheo Thích Tâm Phương
Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức
Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Chủ biên Trang nhà Quảng
Đức
Tỳ kheo Thích Nữ
Hạnh Nguyên
Trưởng Ban Trai Soạn
Tu Viện Quảng Đức
Nguyên Dũng
Phạm Thanh Hùng
Gia Trưởng Gia Đình Phật Tử Quảng Đức
Nguyên Giác Đặng Thị Minh Chung
Phó Hiệu Trưởng Trường Bồ Đề Việt Ngữ
Quảng Đức
Cùng toàn thế Phật tử Tu Viện Quảng Đức,
Melbourne, Úc Đại Lợi
|

|
Thành Kính Phân Ưu
Nam Mô Tiếp dẫn đạo Sư A Di Đà
Phật
Chùa Huyền Quang Sydney, Úc Châu nhận được tin buồn:
Hòa Thượng
thượng NGUYÊN hạ NGÔN
Giảng sư Ban Hoằng Pháp TW và Thành Hội
Phật Giáo TPHCM.
Giáo Thọ Sư trường Trung Cấp Phật Học TPHCM.
Trụ trì chùa Khánh Vân Quận 11, TPHCM.
Sau cơn bệnh nhẹ đã xả báo an tường, thâu thần tịch diệt vào
lúc 18g45, ngày 12 tháng 4 năm Ất Dậu (nhằm ngày 19/05/2005)
tại chùa Khánh Vân, số 205 đường Đội Cung P9, Q11, Sàigòn
Nghe
tin buồn Hòa thượng vừa xả báo thân, thâu thần viên tịch.
ChÜ Tæng Ni và PhÆt tº chùa HuyŠn Quang Sydney
cảm niệm công đức một đời hy sinh vì thế hệ Tăng Ni trẻ, vì sự tiếp
nối mạch mạng của Đạo Pháp,
từ nơi xa
vọng về quê hương
nhất tâm đảnh lễ Giác Linh Hòa Thượng cao đăng Phật Quốc,
thành kính phân Üu
đến Ban Tổ Chức Tang Lễ cùng môn đồ Pháp quyến,
Thành
Kính Phân Ðu
Thܮng
T†a Thích B°n ñiŠn
ThÜ®ng T†a Thích ThiŒn HiŠn
ñåi ñÙc Thích Ph° HÜÖng
Đại Đức
Thích Giác Tín
SÜ Cô Thích N» HuŒ Khi‰t
Ban TÜÖng Tr® Chùa HuyŠn Quang
GñPT HuyŠn Quang
Toàn th‹ PhÆt Tº Chùa HuyŠn Quang
|

|
From: Chùa Khánh Anh
2821 N. Musgrove Ave
EL Monte, CA 91732
Tel: (626) 350 5183
U.S.A.
Kính gửi: Ban tổ chức Tang Lễ cố Hòa
Thượng Thượng Nguyên Hạ Ngôn,
Ðược tin cố Hòa Thượng thượng Nguyên
hạ Ngôn đã an tường thị tịch, chúng con nhóm học trò củ chùa Giác
Ngộ năm xưa. Thành tâm đảnh lễ và nguyện cầu Giác linh của Hòa
Thượng cao đăng Phật Quốc. Thành thật chia buồn cùng Môn đồ pháp
quyến. Vì đường sá xa xôi, chúng con không thể trực diện cùng chia
xẻ và hộ niệm. Chúng con xin thắp ném hương lòng hướng về quê nhà
vọng bái.
Thành kính,
Thay mặt cựu học Tăng
Tỳ kheo Thích Từ
Hạnh
|

|
Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật
Kính gửi: Ban Tổ chức Tang lễ cố Hòa Thượng
thượng Nguyên hạ Ngôn
Ðệ tử Thích Chúc Tánh, Tăng du học tại Hoa
Kỳ được tin Hòa Thượng thượng Nguyên hạ Ngôn vừa viên tịch tại chùa
Khánh Vân. Con vô cùng xúc động thành kính chia buồn cùng Môn đồ
pháp quyến và cầu nguyện Giác linh Hòa Thượng cao đăng Phật Quốc.
Hoa
Kỳ ngày 21 tháng 5 năm 2005
Ðệ tử
Thích
Chúc Tánh
|

|