Kỷ
Yếu
Tưởng Niệm Đức Đệ Nhị Tăng Thống
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên
Sydney, Úc Châu
Phật Lịch 2537 - 1993
---o0o---
Mục lục
LỜI KHẢI ĐỀ
Kính Bạch chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức
Tăng Ni.
Kính thưa quý vị Phật tử cùng chư độc giả.
Đức Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật
Việt Nam Thống Nhất, Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, viên tịch
năm kỷ Mùi – 1979 trong lúc đất nước đang gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn.
Cố Đại Lão Hòa Thượng theo định
luật vô thường đã vĩnh viễn ra đi, để lại trong lòng Tăng Ni, tín đồ
Phật tử sự nhớ thương kính mến đối với bậc Cao Tăng đã suốt đời hiến
dâng cho Dân tộc - Đạo pháp.
Tang lễ của Ngài được Giáo Hội tổ
chức một cách trọng thể, do công hạnh tu trì của Ngài đã làm cho Tăng
Ni, tín đồ Phật tử khắp các miền đất nước về chung lo một cách thành
kính.
Đặc biệt ngày Đại lễ Chung Thất của
Ngài, Ban tổ chức tang lễ đã hoàn thành tập Kỷ yếu với mục đích ghi lại
cuộc đời hành đạo của Ngài để cho hậu thế noi theo.
Hoàn cảnh lúc bấy giờ và những năm
tháng về sau mọi phương tiện không được đầy đủ, do đó tập Kỷ yếu chỉ phổ
biến trong nội bộ Tăng Ni một cách giới hạn.
Chúng con là những người đệ tử của
Ngài và đã được giáo dưỡng từ buổi ban đầu học đạo dưới mái chùa Thuyền
tôn.
Trong hoàn cảnh ly hương, xa Thầy
Tổ. Ân Sư vẫn luôn khắc đậm vào thâm tâm, chính vì điểm ấy mà tập Kỷ yếu
này được tái bản tại hải ngoại trong ý niệm Tri Ân và Báo Ân. Tập Kỷ yếu
này được gởi đến quý vị hôm nay là nhờ sự phát tâm của chư Tôn Đức Tăng
Ni và quý Phật tử xa gần để chúng con được tròn ước nguyện.
Ngưỡng mong chư Tôn Đức Tăng Ni và quý Phật tử
trong và ngoài nước, hoan hỷ việc làm này của chúng con.
Viết tại Úc Châu mùa Thu năm Quý Dậu – 1993
Nay kính
Tỳ Kheo Thích Trường Sanh
^
---o0o---
LỜI MỞ ĐẦU
Hôm nay, Phật tử Việt Nam đang đốt
nén tâm hương quỳ niệm dưới chân dung Cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ Nhị TĂNG
THỐNG Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để cúng dường đại lễ Chung
thất của Ngài. Lòng chúng ta, chính giờ này, cũng không sao khỏi bồi hồi
xúc động trước sự vắng bóng của vị Đạo Sư dù đã biết: “Vô thường thị
thường” mà Đức THÍCH CA MÂU NI, đấng Giáo chủ của chúng ta hơn 2,500 năm
trước đây đã khai thị và đã thể nhập trong chân lý ấy.
“Sinh nhi bất sinh như Đạt Ma tằng
chích lý Tây qui.
Diệt nhi bất diệt nải Thích Tôn
song Lâm thị tịch”.
Giờ phút này, chúng ta làm sao diễn
đạt được trọn vẹn công hạnh của Ngài trong lúc thác sinh nơi cảnh phù
trần sinh diệt, làm nhà Đạo sĩ nơi Thiền lâm, nhưng không quên hạnh
nguyện nhiếp độ cuộc sống. Tình cảm của Ngài như hơi sương tuy không làm
ướt áo kẻ lữ hành, nhưng dần dần đã thấm thấu ở mọi đường tơ sợi chỉ,
nhập điệu trong lòng mọi người. Tư tưởng của Ngài lớn sáng như vì sao
tuy đã làm tan đi bóng tối, nhưng chân lý nhờ thế dần dần hiển hiện.
Nếp sống phạm hạnh của Ngài, sự nổ
lực hết mình của Ngài hơn một thế kỷ, cho xứ sở, cho Dân tộc cho Giáo
hội thật đã ngời sáng trong lòng quần chúng Phật tử Việt Nam. Ngôn ngữ,
văn tự sẽ bị ngưng đọng và hạn hữu trước ánh sáng đạo đức bình dị, giải
thoát của Ngài.
Nhân Đại lễ Chung thất hôm nay, để
góp một phần nhỏ công đức cúng dường Ngài đồng thời để các Phật tử khắc
sâu hơn đạo hạnh cao cả của Ngài. Ban Tổ chức Tang Lễ chúng tôi xin mạo
muội cống hiến tập Kỷ Yếu này bằng phương tiện đơn giản, và chính vì
phương tiện này chúng tôi chưa thực hiện được phần hình ảnh về Tang Lễ
của Ngài.
Trong khả năng hạn chế vì duyên
nghiệp còn phàm trần, cúi xin Ngài đại từ mẫn cố, và trong hoàn canh có
phần khó khăn, cho nên về hình thức cũng như nội dung cũng không khỏi
nghèo nàn thiếu sót. Ngưỡng mong Chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Tọa,
Tăng Ni và đồng bào Phật tử niệm tình tùy hỷ.
BAN TỔ CHỨC.
^
---o0o---
HỘI ĐỒNG TANG LỄ
CHỨNG MINH ĐẠI ĐẠO SƯ:
- Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NGUYÊN. Đương Kim
Tọa Chủ Tổ Đình TÂY THIÊN.
HỘI ĐỒNG CỐ VẤN TANG LỄ:
- Hòa Thượng THÍCH ĐÔN HẬU, Chánh thư ký Viện Tăng
Thống GHPGVNTN.
- Hòa Thượng THÍCH MẬT HIẾN, Thành viên Hội đồng
Viện Tăng Thống GHPGVNTN, Đặc ủy Tăng Sự Giáo Hội Thừa Thiên Huế.
- Hòa Thượng THÍCH GIÁC TÁNH, Thành viên Hội Đồng
Viện Tăng Thống GHPGVNTN, Chánh Đại diện Miền Liễu Quán.
BAN TỔ CHỨC TANG LỄ:
- Trưởng ban:
HT. THÍCH TRÍ THỦ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
- Phó ban:
HT. THÍCH THANH TRÍ, Chánh đại diện Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
- Ban Thư ký:
TT. THÍCH ĐỨC TÂM, Phó Đại diện Giáo hội Thừa Thiên
Huế.
ĐĐ. THÍCH MINH TUỆ, Nguyên Phó Tổng thư ký Viện Hóa
Đạo.
ĐĐ. THÍCH MINH KIẾN, Phó Tổng thư ký Viện Hóa Đạo.
ĐĐ. THÍCH THIỆN HẠNH, Phó Đại diện Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
- Ban Tiếp tân:
HT. THÍCH ĐÔN HẬU, Chánh thư ký Viện Tăng Thống.
HT. THÍCH TRÍ THỦ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo.
TT. THÍCH THANH TRÌ, Chánh Đại diện Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
- Các tiểu ban:
• Nghi Lễ:
* Chấp lệnh:
HT. THÍCH MẬT HIỂN, Đặc ủy Tăng sự Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
HT. THÍCH HUYỀN KHÔNG, Trú trì chùa Quốc Ân.
* Chủ sám:
TT. THÍCH HƯNG DỤNG, Trú trì chùa Kim Tiên.
* Công văn:
TT. THÍCH TRÍ QUẢNG, Trú trì chùa Lam Sơn và các
Đại Đức THÍCH TÁNH THIỆT, THÍCH LƯU THANH, THÍCH HUỆ ẨN, THÍCH THANH
LIÊN, THÍCH CHÍ MẬU, THÍCH PHƯỚC TOÀN.
• Cung nghinh & Trang hoàng:
ĐĐ. THÍCH CHƠN HIỂN, chùa Tường Vân.
ĐĐ. THÍCH TÁNH THIỆT, chùa Linh Quang.
• Tri khách:
TT. THÍCH CHÁNH PHÁP, Trú trì chùa Phổ Quang.
ĐĐ. THÍCH GIỚI HƯƠNG, Đặc Ủy Kiến thiết Giáo hội
Thừa Thiên Huế.
ĐĐ. THÍCH KHẾ CHƠN, Đặc ủy Cư sĩ Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
• Tư thơ tư hoa:
Sư Bà THÍCH NỮ DIỆU TRÍ, Giảng sư Phật học Ni Viện
Diệu Đức.
Sư Cô THÍCH NỮ NHƯ MINH, Chùa Diệu Hỷ.
Đạo hữu BỮU CHỈ, Thu ký Văn phòng Giáo hội Thừa
Thiên Huế.
Đạo hữu ĐỖ XUÂN LƯỢNG, Đại diện môn phái Thiền Tôn.
• Trật tự:
ĐĐ. THÍCH GIÁC TRỰC, Chánh Đại diện Giáo hội Quảng
Trị.
ĐĐ. THÍCH THANH HUYỀN, Đặc ủy Thanh Niên Giáo hội
Thừa Thiên Huế, Gia đình Phật tử Thừa Thiên Huế.
• Hương đăng:
Các Thầy HUỆ PHƯỚC, VÂN ĐÀM.
• Âm thanh và Ánh sáng:
ĐĐ. THÍCH HẢI ẤN, chùa Bảo Quốc.
Thầy TRƯỜNG MINH, Đạo hữu KHÁNH ĐỊNH, Đạo hữu THIỆN
HOÀI, Đạo hữu DIÊN HIẾU.
• Trai soạn:
Ni Sư THÍCH NỮ CHƠN THÔNG, Trú trì chùa Diệu Viên.
Sư Cô THÍCH NỮ CHƠN NGUYÊN, Trú trì chùa Phò Quang.
• Y tế:
BS. THÍCH HẢI ẤN, Sư Cô THÍCH NỮ TỊNH GIẢI.
• Tạp vụ:
ĐĐ. THÍCH TRƯỜNG KHÁNH, Đặc trách Văn hóa Giáo hội
Thừa Thiên Huế.
ĐĐ. THÍCH LƯU ĐỨC, chùa Trúc Lâm.
^
CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ
ĐỨC TĂNG THỐNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁP VIỆT NAM THỐNG NHẤT
(Từ 02 đến 11 tháng 02 năm 1979).
Ngày 6 tháng Giêng Kỷ Mùi: (02/02/1979)
14g.00 - Lễ Nhập Quan,
15g.00 - Bạch Phật Khai Kinh,
15g.30 - Lễ Cung thỉnh Giác linh, Chư
Tăng Ni Phật tử thọ tang.
Ngày 7 đến ngày 13 tháng Giêng Kỷ Mùi:
(03-09/02/1979)
06g.00 - Cúng Trà,
08.00 - Luân phiên Tụng niệm, Chiêm lễ,
Thọ tang.
11g.00 - Cung tiễn Giác linh.
20g.00 - Tụng niệm.
Ngày 14 tháng Giêng Kỷ Mùi (10/02/1979)
06g.00 - Cúng Trà,
08g.00 - Lễ rước Long vị và di Ảnh đức
Tăng Thống bái yết TỔ ĐƯỜNG tại chùa Tây Thiên.
11g.00 - Cung tiễn Giác linh,
15g.00 - Chư TĂNG, NI tụng kinh PHẠM
VÕNG (tại Tổ đình Thiền Tôn).
16g.00 - Cung thỉnh Giác linh yết Phật
tổ.
20g.00 - Tụng niệm.
Ngày 15 tháng Giêng Kỷ Mùi: (11/02/1979)
06g.00 - Cúng trà,
08g.00 - Cúng tiễn Giác linh.
08g.30 - Lễ Di Quan.
10g.00 - Lễ Nhập Tháp (có chương trình
riêng).
11g.30 - Cung thỉnh Giác linh An vị.
^
Chương trình
LỄ CUNG NGHINH KIM QUAN
NHẬP BẢO THÁP
(Rằm tháng Giêng Kỷ Mùi - 11/02/1979)
I. Tại nơi tôn trí Kim Quan, từ 6g.00.
06g.00 - Cúng trà,
06g.15 - Khiển diện,
06g.30 - Điếu văn của các phái đoàn
Phật Giáo:
* Ban liên lạc Phật Giáo yêu nước Saigon.
* Ban Quản trị Tổ đình ẤN QUANG.
* Ni bộ Bắc tông.
07g.00 - Lễ Phất trần.
07g.30 - Triệt Linh sàng, - Cung nghinh
Kim quan.
II. Tại Bảo tháp, từ 10g.00.
- Giới thiệu quan khách và thành phần tham dự.
- Tiểu sử Đức TĂNG THỐNG, do Hòa Thượng THÍCH GIÁC
TÁNH, Chánh Đại diện Miền Liễu Quán. Thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung
ương tuyên đọc.
- Điếu từ của Viện Hóa Đạo, do Hòa Thượng Viện
trưởng cung tuyên.
- Lễ hạ Kim quan.
- Rải hoa tiễn Kim quan vào Bảo tháp.
- Lời cảm tạ của Ban Tổ Chức.
- Tiễn đưa Quan khách.
- Cung thỉnh long vị và di ảnh trở về nơi tôn thờ
tại Tổ đình.
BAN TỔ CHỨC
^
---o0o---
CÁO PHÓ
Hội đồng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất, thành kính báo tin đến toàn thể Tăng Ni và Phật giáo đồ
trong ngoài nước được biết:
Đức Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN TĂNG THỐNG
thứ 2 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã Viên tịch hồi 6 giờ
30 ngày mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Mùi, tức 02/02/1979 tại Huế, hưởng thọ
102 tuổi.
Kim quan của Ngài hiện quàng tại Tổ đình Thiền Tôn
Huế. Lễ Nhập Tháp sẽ được long trọng cử hành vào hồi 10 giờ, ngày Rằm
tháng Giêng Kỷ Mùi, 11/02/1979, tại khuôn viên Tổ Đình Thiền Tôn.
TM. Hội Đồng Viện Tăng Thống Chánh thư ký
Hòa Thượng THÍCH ĐÔN HẬU.
^
---o0o---
TIỂU SỬ
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC NHIÊN
TĂNG
THỐNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
DANH HIỆU:
Trên phương tiện tôn
vinh và nhiệm mệnh thực tế, chức vụ TĂNG THỐNG có từ đời Vua Đinh Tiên
Hoàng (theo tài liệu; Con người Bồ Tát, tạp chí Hải Triều Âm số 4-5, của
Thạch Trung Giả). Sau khi khai đạo cho Vua, Khuông Việt thiền sư đã
nghiễm nhiên trở thành vị TĂNG THỐNG đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam, do
Vua Đinh Tiên Hoàng sắc phong. Năm tháng trải dài trên mười thế kỷ, chức
vụ đó, có khi được hoán vị thành hình, sự suy tôn TĂNG THỐNG được bắt
đầu phục hồi. Đặc biệt trong lúc này, việc tấn phong không do Triều đình
hay Chính quyền mà do đại diện của toàn thể TĂNG NI tín đồ Phật Giáo suy
tôn.
Lúc này, vị đệ nhất Tăng
Thống của Giáo hội là Đức cố Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT. Kế đến là Đức
Đệ nhị TĂNG THỐNG Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN, mà hôm nay,
chúng ta đang ôn lại quảng đời của Ngài. Ngôi vị đó, kết tinh công hạnh
Phụng Đạo Cứu Đời trong dòng truyền thừa Chánh pháp.
THÂN THẾ:
Ngài tên thật là VÕ CHÍ
THÂM, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1878, tại làng Ái Tử, quận Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị. Con của Cụ VÕ VĂN XƯNG, và Bà TRẦN THỊ DIỀU.
ẤU THỜI:
Năm lên 7, Ngài bắt đầu
theo học chữ Nho, với tư chất thông minh, không bao lâu, Ngài đã tinh
thông Nho học. Nhờ túc duyên của nhiều đời, chí xuất trần cưu mang trong
chủng tử, Ngài đã phát tâm xuất gia Thọ giáo với Hòa Thượng TÂM TỊNH (Trú
trì Chùa Tây Thiên-Huế, lúc bấy giờ) và được ban Pháp danh là (Thượng)
TRỪNG (hạ) THỦY, Pháp tự là CHÍ THÂM, Pháp hiệu là GIÁC NHIÊN.
THỜI GIAN TU HỌC:
Sau hai mươi ba năm tu
học, Ngài chuyên tâm nghiên cứu tinh yếu của Kinh Luật Đại thừa, đặc
biệt Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian trong việc Thiền định. Vì thế,
đạo phong của Ngài, ngày càng đượm nét Thiền sư.
Đến năm Canh Tuất,
(1895), Triều Duy Tân, Ngài cùng với Hòa Thượng TỊNH KHIẾT (Cố Đệ nhất
Tăng Thống Giáo hội PGVNTN) Thọ Tam đàn Cụ túc tại Giới đàn Chùa Phước
Lâm (Hội An). Đại giới đàn này do Ngài VĨNH GIA làm Đàn đầu, Ngài TÂM
TRUYỀN làm Yết ma và Ngài HOẰNG PHÚ làm Giáo thọ. Từ đó, giới đức tinh
nghiêm, pháp thạn thanh tịnh là kim chỉ nam trong suốt cuộc đời hành hóa
của Ngài sau này.
CÔNG NGHIỆP HOẰNG PHÁP:
Mãi đến năm 1932, cùng
các Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ (Chùa Thập Tháp, Bình Định), GIÁC TIÊN, HT.
TỊNH HẠNH, cư sĩ TÂM MINH, TRƯƠNG XƯỚNG ... Sáng lập Hội An Nam Phật Học.
Hội đã Cung thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chứng minh Đại Đạo sư và kiêm
nhiệm Giám đốc Phật học đường TÂY THIÊN-HUẾ.
Năm 1934, Ngài làm Trú
trì Quốc tự THÁNH DUYÊN (Túy Vân, Huế), một trong ba Quốc tự lớn tại
Thừa Thiên (Linh Mục, Thánh Duyên, Diệu Đế).
Năm 1936, Triều đình
phong chức Ngài làm TĂNG CANG. Cùng năm đó, Tạp chí VIÊN ÂM, phương tiện
hoằng pháp cua Phật Giáo, do Ngài và Hòa Thượng GIÁC TIÊN Chứng minh.
Năm 1937, do ủy nhiệm
của các vị Tôn đức Thiền gia, Ngài nhận chức Trú trì Tổ đình THUYỀN TÔN
(Thừa Thiên). Tổ đình này, thuọc phái LÂM TẾ, do Tổ LIỄU QUÁN khai sơn
vào khoảng năm thứ IV niên hiệu Vĩnh Thịnh (1708). Ngài là đời thứ VIII,
dòng THIỀN LIỄU QUÁN.
Năm 1956, Ngài được Giáo
hội Phật Giáo Trung phần cung thỉnh vào chức vụ Viện trưởng Phật học
viện HẢI ĐỨC – Nha Trang (Cơ quan đào tạo Tăng tài của Phật Giáo Trung
phần).
Năm 1958-1962, Ngài liên
tiếp đảm nhận chức Chánh Hội trưởng TỒNG TRỊ SỰ HỘI PHẬT GIÁO TRUNG PHẦN
trong suốt 4 niên khóa. Trong thời gian này, với tuổi trên 80, Ngài vẫn
chu toàn nhiệm vụ, kinh lý, nhiều lần đến các Hội Phật Giáo khắp nơi ở
Cao nguyên và Trung nguyên.
Xúc động hơn nữa, cũng
chính Ngài, năm 88 tuổi, sức yếu thân gầy, trong tay chiếc gậy trúc,
Ngài không từ nan, quyết một lòng hy sinh vì Đạo, đích thân dẫn đầu cuộc
biểu tình của Tăng tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế, mở đầu phong trào
vận động đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng Tôn giáo vào chiều ngày
14 tháng 4 năm 1963 (Quý Mão). Trong công cuộc vận động và đấu tranh,
Ngài đã không ngừng chung lưng đấu cật, xẻ đắng chia cay cùng với phong
trào cho đến ngày thành tựu mỹ mãn.
Một công việc Hoằng pháp
trọng yếu hơn nữa, Ngài đã nhiều lần làm Đàn đầu Hòa Thượng truyền giới
cho đồ chúng xuất gia tại gia qua các Đại Giới Đàn: Giới Đàn HỘ QUỐC tại
Phật học viện Trung phần, Chùa Hải Đức, Nha Trang (1956), Giới Đàn VẠN
HẠNH tại Chùa Từ Hiếu, Huế (1965), Giới Đàn VĨNH GIA tại Phật học viện
Phổ Đà, Đà Nẵng (1970).
Môn đồ của Ngài không
nhiều, người còn kẻ mất, đều đã góp công làm nên lịch sử Phật Giáo hiện
đại, và hầu hết là những cấp lãnh đạo của Giáo hội từ Trung ương đến các
Miền, Tỉnh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như Thượng Tọa THIỆN SIÊU,
Thượng Tọa THIỆN MINH, Thượng Tọa THIỆN BÌNH ...
Trang trải đã quá nửa
đời người, nghịch cảnh, chướng ngại vẫn còn bủa vây Giáo hội cùng dân
tộc. Tuy nhiên, nhất thâm nhật hậu, với bản chất cố hữu “Vô ngôn bất
động” của Ngài qua Giới, Định, Tuệ, đã tạo nên một sức mạnh nội tại phi
thường như để tiếp sức cho những đứa con tinh thần, đang trên đường làm
sứ mệnh Phật giáo Việt Nam.
Rồi tin ngưng bắn được
loan đi vào ngày 28/01/1973, đất nước rẽ sang một giai đoạn mới, từ đó,
Giáo hội cũng bắt đầu đối mặt với một hoàn cảnh khá phức tạp ... Không
bao lâu, sau Đức Tăng Thống của Giáo hội thị tịch (1973) – Sinh hoạt của
Giáo hội trở nên chông chênh không người lèo lái.
Trước hoàn cảnh đó, Ngài
đã nhận chức vụ Đệ nhị Tăng Thống do Đại hội Phật giáo kỳ V suy tôn vào
ngày 10 tháng 12 năm 1973, trong Chí nguyện Thiệu Long Tam Bảo, để kế
tục lãnh đạo Giáo hội. Đây là chức vụ vừa tối cao, và cũng là cuối cùng
của đời Ngài.
VẬN ĐỘNG HÒA BÌNH CHẤM
DỨT CHIẾN TRANH:
Sau ngày tân nhiệm,
chiến tranh vẫn tiếp diễn khốc liệt, gieo rắc chết chóc tang thương trên
khắp đất nước, nền hòa binh dân tộc đang là bóng dáng mù khơi. Ngài đã
và đang chứng kiến những chiến tích được dệt bằng máu và nước mắt của
không ai khác hơn là dân tộc Việt Nam nói chung và quần chúng Phật tử
nói riêng. Ngài đã đau khổ nổi khổ đau của chúng sinh. Cho nên, ngoài sứ
mệnh lãnh đạo Giáo hội đi đúng con đường Chánh pháp, Ngài vẫn hằng quan
tâm đến vấn đề hòa bình đất nước và sự an lạc của toàn dân. Niềm suy tư
và ước vọng này của Ngài, đã được thể hiện qua các THÔNG ĐIỆP kêu gọi ý
thức trách nhiệm của mỗi người để dập tắt chiến tranh, đem lại hòa bình
cho đất nước và sự an lạc nghiệp cho toàn dân.
Sau ngày nước nhà được
hòa bình thống nhất, sự nghiệp lãnh đạo Giáo hội và nhiếp hóa chúng sinh
của Ngài lúc này là huấn dụ Tăng Ni tinh tấn nghiêm trì Giới luật, Ngài
dạy: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”. Ngài cũng khuyên Tăng Ni hãy
sống nếp sống phạm hạnh, theo tinh thần BÁCH TRƯỢNG THANH QUY. Ngài dạy:
“Tôi nay đã già rồi, hơn trăm năm qua, tôi đã sống và đã chứng kiến bao
đổi thay của đất nước thân yêu. Tôi thấy không có gì hơn là sống nếp
sống phạm hạnh. Cho nên, tôi chỉ mong hàng Phật tử xuất gia hãy sống
hoan hỷ trong nếp sống phạm hạnh, gìn giữ Giới-Định-Tuệ để hành đạo,
giúp Đời ... Với hàng Phật tử tại gia, hãy tu tâm dưõng đức, biết thương
yêu mọi người, làm tròn trách nhiệm của mình đối với Đạo, với Đời để
cùng nhau phát huy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ của Đạo Phật và xây dựng một
nước Việt Nam vinh quang giàu mạnh”. (Thông điệp Phật Đản 2522) (1978).
NHIẾP HÓA ĐỒ CHÚNG:
Mặc dầu công việc đối
ngoại của Giáo hội đa đoan và phức tạp, Ngài vẫn không xao lãng việc
Nhiếp hóa đồ chúng. Ngài từng huấn dụ Tăng Ni: “Đạo Phật tồn tại, không
chỉ ở những hình thức Chùa Tháp, Lễ nghi, Kinh điển. Mặc dù Kinh điển là
chỉ nam hướng dẫn ta đến đạo quả vô thượng Bồ đề, nhưng sự tồn tại đích
thực chính là ở sự thể hiện Đạo phong. Những nếp sống gương mẫu của các
bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ Chánh pháp, để
Chánh pháp mãi mãi tồn tại với thế gian và làm lợi ích chúng sinh ...” (Thư
gửi Tăng Ni, nhân mùa An cư 1976).
Thật vậy, mặc dầu đã 102
tuổi, nhưng nơi Ngài không hề thấy có triệu chứng thông thường của những
bậc luống tuổi. Pháp thể tuy có gầy ốm nhưng Ngài vẫn đi đứng bình
thường. Dáng đi mạnh mẽ khoan thai, oai nghiêm đỉnh đạc, không phiền
người dìu dắt, không hề nắm gậy, ngồi hàng giờ lưng không biết đau, gối
không biết mỏi. Mắt không mờ, tai không lãng, nói năng rõ ràng không hề
lẫn lộn và trí tuệ minh mẫn một cách lạ thường.
Mắt mờ, tai lãng, gối
mỏi, lưng đau, nói năng lẫn lộn, trí nhớ mất đi và đi đâu cũng phải
chống gậy, đó là những triệu chứng thường tình, có ở nơi các bậc luống
tuổi. Nhưng ở Ngài thì không. Phải chăng nhờ công hạnh tu trì của Ngài
đã làm thay đổi được những triệu chứng thường tình cua thế nhân. Ngần ấy
đức tánh đặc hữu nơi Ngài, đủ làm chúng ta kính phục và tăng trưởng đạo
tâm.
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG:
Trong dịp đầu Xuân Kỷ
Mùi khi Hòa Thượng Đôn Hậu, Chánh thư ký Viện Tăng Thống và quý Hòa
Thượng, Thượng Tọa, Đại đức trong Giáo hội Thừa Thiên đến Tổ đình Thiền
Tôn đãnh lễ và Chúc Thọ đầu năm (04/01 Kỷ Mùi). Hôm đó trời trở lạnh,
Ngài đang nghỉ, Hòa Thượng Đôn Hậu và Ban Đại diện Giáo hội vào tận chỗ
nghỉ. Ngài hỏi bằng một giọng nhẹ nhàng và vô cùng cảm mến: “Ai đó?”.
Sau khi được trình lại, Ngài sửa soạn định ngồi dậy, Hòa Thượng Đôn Hậu:
“Xin thỉnh Ông cứ nằm, cho phép chúng con được đãnh lễ chúc Thọ đầu năm”.
Ngài dạy: “Để tôi ngồi dậy một tý với các Thầy, nằm ri e không phải lễ
với các Thầy chừ”. Đoạn Ngài ngồi dậy nhìn quanh rồi hỏi: “Thầy Đức Tâm
mô, sao không vào cho tôi thăm với?”. Hôm đó Thầy Đức Tâm, phó Đại diện
Giáo hội Tỉnh Thừa Thiên-Huế bị bệnh, không đi được). Ngần ấy lời lẽ, đủ
thấy Ngài sáng suốt đến chừng nào.
Sau lễ Chúc Thọ, như một
vị Bồ Tát “Dự tri thời chí”, linh cảm trước được sự ra về vĩnh viễn của
mình, Ngài ân cần dạy bảo những lời đầu năm vô cùng xúc động: “Tôi nay
tuổi đã già rồi. Tôi thấy sức khỏe tôi kém nhiều. Chưa biết chừng sự
chết sẽ đến nay mai. Nay, nhân dịp đầu năm, Hòa Thượng và các Thầy đến
thăm tôi, tôi xin cám ơn và xin cầu Phật gia hộ Hòa Thượng và các Thầy
nhiều sức khỏe, cố gắng kiên nhẫn trước mọi nghịch cảnh, để phục vụ Giáo
hội, dìu dắt Tăng Ni Tín đồ tu niệm. Tôi thật không có gì vui hơn”.
Ngờ đâu, lời huấn thị
đầu Xuân và cũng là lời Di giáo tối hậu của Đức TĂNG THỐNG. Chỉ vỏn vẹn
một ngày sau, và cũng chỉ sau vài giờ pháp thể khiếm an, Ngài dạy: “VÔ
THƯỜNG THỊ THƯỜNG” rồi an nhiên xã báo thân vào hồi 6 giờ 30 ngày 06
tháng Giêng Kỷ Mùi, 01/02/1979. Ngài hưởng thọ 102 tuổi đời, 84 Hạ Lạp.
Bảo Tháp của Ngài hiện tôn trí tại khuôn viên Tổ Đình Thiền Tôn Huế.
Ngài ra đi, để lại mối
cảm hoài vô hạn trong lòng mọi người con Phật ...
VĂN PHÒNG VIỆN TĂNG THỐNG PHỤNG SOẠN
---o0o---
The life
of the Late
Most
Venerable Thich Giac Nhien
Second Supreme Patriarch
of United Vietnamese Buddhist Congregation
The Most Venerable Thich Giac Nhien was a
person who achieved the appointed position of the Sangha leader of the
Order of Monks and Nuns, known by his Dharma title as the Most Supreme
Patriarch of the United Vietnamese Buddhist Church on October 12, 1973.
Background to the title of Most Supreme
Patriarch of the United Vietnamese Buddhist Church: Originally this
title and position had been created during the Dinh Tien Hoang Dynasty
(968-979 AD). It was created after a particularly effective Dharma talk
delivered to Kinh Dinh Tien Hoang, the ruler of the country, that Zen
Master, Khuong Viet was appointed under this then newly created
position; the First National Supreme Patriarch of Vietnamese Buddhism.
Over the past ten centuries, occasionally
this title was unused. However during the 20th century, this title was
once again officially recognized and employed. The title is unusual, not
being granted by Kings or Government, but by the Buddhist Congregation
members, that is the lay Buddhist followers and their monks, nuns.
It was as a result of the passing away of the
First Supreme Patriarch, The Most Venerable Thich Tinh Khiet, that Most
Ven Thich Giac Nhien was requested to accept this position in 1973.
This title is crystallized by virtue and labor
in services for sentient beings and propagating the Buddha Dharma. In
the Pali language this position is known as Sarigharāja
(Sanskrit).
Early
days & Family Life:
Born on January 7th 1878 in Ai Tu Village,
Trieu Phong District, Quang Tri Province, Vietnam. Most Venerable Thich
Giac Nhien’s lay name was Vo Chi Tham. His father was Vo Van Xung and
his mother was Tran Thi Dieu. At the age of seven, he commenced
studying ancient Chinese, soon becoming proficient due to his natural
intelligence and dedication to study and due to his virtue from previous
lives; he left home vowing to become a Buddhist novice at Tay Thien
Temple. His Master was Most Venerable Thich Tam Tinh and renamed him as:
Thich Trung Thuy.
Buddhist
Training:
As a novice, Most Venerable Giac Nhien
commenced his studies in Buddhism, studying the Sutras (Buddhist
scriptures) and Vinaya (law) and meditating as does the life of a
Buddhist Monk seeking liberation and wisdom. In 1895, during the Duy Tan
Dynasty, he and Most Ven Tinh Khiet attended the Bhikkhu Full Ordination
Ceremony at Phuoc Lam Temple in Hoi An city, Da Nang Province. This Full
Ordination was conducted by Zen Master Vinh Gia, Tam Truyen and Hoang
Phu. After this, the master-to-be continued to maintain the pure
precepts as a dedicated and outstanding Monk.
Dharma
Propagating:
In 1932, Most Venerable Phuoc Hue, from Thap
Thap Temple, Binh Dinh Province, Most Venerable Giac Tien, Most
Venerable Tinh Hanh, Brother Tam Minh, and brother Truong Xuong, founded
the An Nam Buddhist Institution. This Institution invited Most Venerable
Giac Nhien to be an adviser to the Institute and a Rector of the Tay
Thien Buddhist School in Hue.
In 1934, most venerable Giac Nhien was
appointed Abbot of Thanh Duyen, National Temple at Tuy Mountain, Hue it
being one of three largest temples in the country along side Linh Mu
Temple and Dieu De Temple in Thua Thien, Hue.
It was in 1936, the Duy Tan Dynasty granted
him a position as Leader of Monks and in the same year, he was asked to
be an Adviser to Vien Am Buddhist Magazine; and the Buddhist newspaper
that published Buddhist-Dharma.
In 1937, due to the accrediting of all Senior
Monks in Hue, Most Venerable Giac Nhien became the Abbot of Thien Ton
Temple in Hue. This temple belonged to the Tendai Buddhist Sect founded
by Zen Master Lieu Quan in the Nguyen Dynasty in 1708. Thus, he was
appointed as the eighth Patriarch of Lieu Quan Zen Sect.
In 1956, Most Venerable Giac Nhien was
requested to be a Rector of Hai Duc Buddhist Institute in Nha Trang, a
college that trained monks and nuns working in Central Vietnam. From
1958-1962, the master was the Chief Director of the General Central
Buddhist Society for 4 terms and, although 80 years of age, he continued
to perform his duties meet his role propagating Buddhism, taking time
to visit many different Buddhist temples throughout mountainous areas of
central Vietnam.
On 14 April 1963, aged 88 years old,
suffering poor health at the time and only able to walk with the aid of
a bamboo stick, remaining true to his cause, he led a landmark
demonstration of a delegation of monks, nuns and lay Buddhists in Hue.
This was the commencement of the campaign for human rights and equality
in religion during the repressive days of the Diem Government which was
deeply anti-Buddhist. Never wavering in his commitment to Buddhism,
making supreme sacrifices on behalf of all beings, Most Venerable Giac
Nhien was supremely protective of the Dharma and Sangha but was always
able to relate to the common life. He shared the difficulties of
ordinary people and made constant representations on their behalf and
towards the relief of their suffering.
The Master also held the position of the
Preceptor Leader, (Master of Ceremonies) for monks, nuns and lay
Buddhists at the Ordination of Sangha members at Ho Quoc Precept
ceremony, Hai Duc Temple (1956), at the Van Hanh Precept ceremony at Tu
Hieu Temple (1965), and the Vinh Gia ceremony at Pho Da Buddhist
Institute in Da Nang. The Masters ( and many disciples too) who were
inspired by his example and leadership, contributed greatly to modern
Vietnamese Buddhism, some of these being; Most Venerable Thich Thien
Sieu, Most Venerable Thich Thien Minh, and Most Venerable Thien Binh.
‘Stop the
War’, Campaigning for Peace:
Shortly after assuming his role as the second
Supreme Patriarch, the war in Vietnam intensified with terrible
suffering and terror expanding to all corners of the nation. His role
within the peace movement became an enormous burden in such trying
times. As Supreme Patriarch, Most Venerable Giac Nhien witnessed living
history of the nation being born of blood fire and tears during those
turbulent times. Vietnamese Buddhist followers, particularly the Supreme
Patriarch himself, deeply shared the suffering with all Vietnamese and
others involved in those bitter days. Throughout it all, the master
remained a firm and resolute guide to the Buddhist Congregation. In his
striving for peace and for the safety of his people, the Master was
intensely involved and worked as an advocate on behalf of all sentient
beings during those dreadful times and events that shaped modern world
history and the nation itself. His concerns, wishes and advice were
conveyed through his messages, requesting all people to develop self
awareness, mindfulness and responsibility, also for people to stop the
war and carry out peace and happiness on behalf of others the country
and the greater world through personal effort and right action. Finally
cease-fire news was broadcasted on January 28 1973, the nation turning
into the new phrase in its history.
The Top
Job:
After such a long life, full of great depth of
experience, after constantly facing and dealing with the many obstacles
which was facing the Buddhist Congregation and Vietnamese people as a
whole, the wonderful master- with his deep and profound characteristics
of silence and non-action through deep morality, concentration, and
wisdom- had developed an enormous energy in the spiritual disciplines
for the benefit of propagating and supporting Vietnamese Buddhism and
due to this was in an excellent position to face a new challenge.
When the First Supreme Patriarch Most Ven
Thich Tinh Khiet passed away in 1973, the Buddhist congregation’s
activities became difficult, lacking a supreme leader. Faced with this,
Most Venerable Thich Giac Nhien assumed the position of the Supreme
Patriarch of the United Vietnamese Buddhist Church in replacement of Ven
Thich Tinh Khiet. It was at the Vietnamese Buddhist Conference on
October 12 1973, that he assumed the highest position in his life with
the vow “ Protect and develop Buddhism”.
In his Message, he advised monks and nuns to
practice and keep the precepts constant, saying that: “As the Vinaya
(Law) is constant, so would the Buddha Dharma remain relevant and true”.
He advised monks and nuns of maintenance of the simple and pure way of
life. He said : “ I am old now, and over past 100 years, I have
lived and viewed all of the changes, up and down this country, I see
nothing else can be valued as is the simple and pure life and in
keeping the precepts, of developing concentration and wisdom in
practicing Buddhism and to help all sentient beings. With lay Buddhists,
you should train and cultivate your body and mind, being kind with
people, being fully responsible in life and religion, and working
together to develop the spirit of Compassion and Wisdom of Buddhism and
to build up a new peaceful Vietnam.”
Despite world events, national politics and
the war, he did not neglect the teaching of the Dharma to his people. He
taught the monks and nuns that “Buddhism remains; it is not only
the appearances and forms of temples, that is important, Stupas towers,
and rituals and sutras (Buddhist scriptures) are devise. But a compass
that leads beings to the fruit of Buddhahood and, the real existence of
Buddhism is displayed through the vigor and manners of monks and nuns.
The brilliant example through the pure lifestyles of monks and nuns in
keeping to the precepts and propagating the Buddha’s teachings enables
the Dharma to remain forever relevant in this world in order to bring
the profit to all sentient beings’.
Last
Days:
At 102 years old, the Master did not feel
unusual symptoms alike other aged people; his body was thin and weaker
but his activities still normal. His walking looked relaxed, unhindered
and stately. He was able to do sitting meditation for hours without
back-pain, his knees weren’t tired, his eyes were not dim, nor was he
hard of hearing. His voice was still clear, and his wisdom was
extraordinarily brilliant. It was thanks to his morality and virtue in
practicing Buddhism that his old aged was unlike other people and
enabled him to keep his typical lifestyle as usual.
It was on the occasion of the Lunar New year
of Ky Mui that the master received visits from Most Venerable Thich Don
Hau, the chief Secretary of Patriarch Institute and many Most-Venerables,
Very-Venerables, Venerables, Monks and Nuns at Thuyen Ton temple in Thua
Thien Hue Province. He was in his bed, when delegation arrived and he
asked “who is that?” Most Venerable Thich Don Hau replied to him to “
Please master, we request that you remain lying down and rest, we hope
to prostrate and wish you longevity on the occasion of New Year”.
They prostrated themselves to Supreme Patriarch and wished him well.
Afterwards, the Supreme Patriarch as a Bodhisattva who may have foreseen
what happiness in the future awaits him, felt that his time was cutting
short. He offered advice on the New Year coming: “I am old now, my
health is weak and I do not know when death will ultimately arrive, but
on this the occasion of beginning of year, all of you have come to visit
me. I am most grateful and I do hope the Buddha blesses you all with
healthier and stronger lives. Be patient facing obstacles, in the
service the Congregation, and lead the monks, nuns and lay Buddhist in
practicing Buddhism well as good examples. If you can do that then I am
happy.”
Surprisingly, that advice on the Ky Mui New
Year 1979 was the last words of the Supreme Patriarch. The following
day, he felt unwell, and as with his teachings that “impermanence is
permanent”, Most Venerable Thich Giac Nhien passed away in peace at
6.20am on February 2 1979 at the age of 102, Dharma age- 82 years. His
remains were then stored within a Stupa, which is housed within the
Thuyen Ton Temple, Thua Thien, Hue as an enduring reminder of his great
importance to us all.
His passing away left behind enduring respect
and love for such a wonderful person who contributed so much across the
nation, internationally and within the hearts of Vietnamese people.
Translated
by Venerable Nguyen Tang, Chris Dunk & Tam Lac
(Melbourne, December 2004)
---o0o---
Tưởng niệm
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC NHIÊN
TĂNG
THỐNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
|
Kính lạy Ngài tâm thành con tưởng
nhớ
Bóng hình Ngài thấp thoáng núi rừng
sâu
Với tháng năm sống giữa cuộc cơ cầu
Của muôn vạn nẽo lòng nơi trần thế
Và Ngài đã, đã làm không thể kể
Cho sinh linh tràn ngập sóng yêu
thương
Cho nhân gian vơi cạn nổi đoạn
trường
Cho ánh Đạo ngàn sau không mờ tối
Chừ đã đến lúc Ngài về nguồn cội
Nơi Ngài xa muôn vạn đạm từ ly
Nơi cảnh cũ ngày xưa từng mở lối
Còn lại đâu đó dẫu trần gian đầy
tội
Vẫn ân triêm cao Đức Thánh Hiền
Tăng
Vẫn bước đi không để lại vết lằn
Mà non nước mãi muôn đời ghi nhớ
Ở đâu đây có nổi gì ngờ ngợ
Của những lòng mới thấy ánh từ
quang
Bao tháng năm đã tiếp giấc mơ màng
Bây chừ đó cũng cùng niềm hỷ lạc
Tâm thành con xin lần đầu ghi tạc
Một bóng hình, một lối sống siêu
linh
Một cuộc đi tự cánh nhạn băng mình
Mà mãi mãi vẫn còn là mãi mãi.
Phước Viên
|
---o0o---
BÀI
MINH KHẮC TRÊN BẢO THÁP
THUYỀN TÔN TỔ ĐÌNH ĐƯỜNG
THƯỢNG GIÁC NHIÊN ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÁP MINH
• Từ Phiến Xuân Phong,
Bi Triêm Hạ Vũ, Thu Nguyệt Vô Viên, Đông Tùng Độc Tú.
• Đại Châu Sa Giới, Phi
Khứ Phi Lai, Tế Nhập Vi Trần, Vô Thanh Vô Xú.
• Đồng Niên Hướng Phật,
Phước Trí Kiêm Tu, Nhất Ngộ Nhập Thần, Sư Tu Thọ Thọ.
• Phi Y Trì Bát, Lợi Phổ
Nhân Thiên, Phú Kệ Đàm Kinh, Đạo Thông Tri Tố.
• Tăng Cang Nhĩ Nhật,
Hải Chúng Hàm Y, Hòa Thượng Dương Thời, Giới Châu Quảng Bố.
• Việt Nam Phật Giáo,
Tăng Thống Kế Thừa, Đại Đạo Chiếu Thùy, Hàm Linh ngưỡng mộ.
• Diêm Phù Hóa Mãn, Trục
hướng Vô dư, Tứ Chúng Kiển Cầu, Tháp Lưu Tư độ.
Tạm dịch:
“Bài MINH khắc trên Tháp
của Đại Lão Hòa Thượng
GIÁC NHIÊN, đường thượng
Tổ đình Thiên Tôn”.
Từ phong là gió xuân về,
Bi lòng mưa thắm bốn bề
hạ rang.
Trăng thu rọi ánh tâm
quang,
Tùng đông xanh thẩm giữa
ngàn tuyết sương.
Lớn thay sa giới muôn
phương,
Không đi không lại mọi
đường lãng xao.
Nhỏ thời cát bụi khó vào,
Tăm hơi vắng lặng ai nao
suy lường!
Đồng niên quy Phật mười
phương,
Phước đức trí tuệ đôi
đường vẹn đôi.
Thần quang ngộ nhập tâm
hồi,
Thầy trò truyền đạo trau
dồi pháp thân.
Cà sa bình bát ân cần,
Lợi người lợi vật thiên
nhân cúi đầu.
Đàm Kinh thuyết Kệ thâm
sâu,
Người Tăng kẻ Tục đạo
mầu cảm thông.
Tăng cang thuở ấy Vua
phong,
Đạo Đời thất chúng một
lòng quy y.
Đôi phen Hòa Thượng
truyền trì,
Ngọc Châu giới đức rộng
thi khắp miền.
Việt Nam Phật Giáo chơn
truyền,
Suy tôn TĂNG THỐNG nối
liền ngôi cao.
Sáng ngời đạo cả dạt dào,
Muôn linh ngưỡng mộ
trông vào làm gương.
Huyển thân hóa mãn mười
phương,
Vô dư tốc chứng thẳng
đường về quê.
Lòng thành đại chúng đề
huề,
Dựng BIA xây THÁP lưu đề
mai sau.
---o0o---
ĐIỆN TÍN
Toàn khối Phật học Nam
Việt đồng thanh mật niệm tâm Kinh trong dịp cố Hòa Thượng TĂNG THỐNG
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất liễu Đạo Quy Châu. Chùa Xá Lợi tổ
chức lễ Truy điệu vào 7 giờ sáng Rằm tháng Giêng. Nguyện thọ Tân tang
cùng GHPGVNTN và toàn thể Phật Giáo đồ trong ngoài nước, chân thành đảnh
lễ.
Ban Quản Trị Hội Phật
Học Nam Việt
ĐIỆN TÍN
Vô cùng đau đớn được tin
Đức đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN, Đệ nhị TĂNG THỐNG GHPGVNTN, thị
tịch ngày 02-02-1979.
Thay mặt Hội đồng Lưỡng
Viện Giáo hội các cấp và Tứ chúng thành kính phân ưu cùng Hội đồng Viện
TĂNG THỐNG, Hội đồng Giáo phẩm Giáo hội và Tổ đình Thiền Tôn, đồng thời
thành tâm cầu nguyện Giác Linh Cố Đại lão Hòa Thượng cao đăng Phật Quốc.
TM. Hội đồng Lưỡng Viện
Viện Trưởng Viện Hóa đạo.
HT. THÍCH TRÍ THỦ
ĐIỆN TÍN
Tăng Tín đồ Giáo hội
quận 10, Thành phố HCM, vô cùng đau đớn trước tin Đức TĂNG THỐNG viên
tịch.
Thành kính đảnh lễ Đức
TĂNG THỐNG và Phân ưu tứ chúng Tổ đình Thiền Tôn.
TM. Ban Đại diện Giáo
hội quận 10
TT. THÍCH NGUYÊN NGÔN
ĐIỆN TÍN
Đức TĂNG THỐNG Cao đăng
Phật Quốc, Ban Đại diện GHPGVNTH
quận GÒ VẤP chúng con
thành tâm kính lễ.
ĐIỆN TÍN
Được tin Đức Đại lão Hòa
Thượng Đệ nhị TĂNG THỐNG GHPGVNTN viên tịch. Ban đại diện cùng toàn thể
Tăng Ni Tín đồ GHPGVNTN LÂM ĐỒNG – ĐÀ LẠT vô cùng xúc động. Giáo hội
chúng con thành kính cúi đầu đãnh lễ Giác linh Hòa Thượng và cầu nguyện
Giác linh Đại lão Hòa Thượng cao đăng Phật quốc.
TM. Ban Đại Diện
GHPGVNTN Lâm Đồng – Đà Lạt
TT. THÍCH TỪ MẪN
ĐIỆN TÍN
Đau đớn được tin Đại lão
Hòa Thượng đệ nhị TĂNG THỐNG đã viên tịch.
Kính nhờ quý Giáo hội
chuyển lời phân ưu của Giáo hội tinh Ninh Thuận (củ) lên Viện Tăng Thống
và môn đồ Tổ đình Thiền Tôn. Thành kính cầu nguyện Giác linh cố Hòa
Thượng cao siêu Thượng phẩm.
THÍCH MINH TÂM.
ĐIỆN TÍN
Tổng Vụ THANH NIÊN vô
cùng thương tiếc Đức Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN, TĂNG THỐNG
GHPGVNTN vừa viên tịch. Thành kính phân ưu cùng Hội Đồng Viện Tăng Thống
và Tổ đình THIỀN TÔN.
Tổng Vụ Trưởng Vụ Thanh
Niên
TT. THÍCH TRÍ QUẢNG.
ĐIỆN TÍN
Hội đồng Quản trị và tứ
chúng Tổ đình Ấn Quang vô cùng cảm tiếc khi được tin Đức TĂNG THỐNG viên
tịch.
Thành kính dâng lên Giác
linh Đức TĂNG THỐNG và phân ưu cùng Hội Đồng Viện Tăng Thống và Tổ đình
Thuyền Tôn.
Hội đồng Quản trị Tổ
đình ẤN QUANG.
ĐIỆN TÍN
Thành kính đãnh lễ Giác linh Đức TĂNG THỐNG tôn
kính. Luyến tiếc Đức TĂNG THỐNG muôn ngàn. Nguyện cầu Giác linh Ngài
Siêu đăng Giác đài.
Qúy trọng kính thành Chư Tôn Hòa thượng Thượng tọa
Đại đức Tăng Ni. Thương nhớ kính thành toàn thể Nam Nữ Phật tử tại Thừa
Thiên và Cố đô HUẾ.
THÍCH THUYỀN ẤN
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp.
ĐIỆN TÍN
Đức TĂNG THỐNG ngự tọa liên đài.
Tăng tín đồ Giáo hội quận Phú Nhuận chúng con thành
tâm kính lễ.
Giáo hội Phật Giáo Quận Phú Nhuận
ĐIỆN TÍN
Toàn thể Tăng tín đồ chùa Quán Thế Âm Phú Nhuận TP.
HCM được tin Đức TĂNG THỐNG ngự tọa kim đài, chúng con thành tâm kính lễ.
Chùa QUAN THẾ ÂM
ĐIỆN TÍN
Giáo hội
chúng con thành kính đãnh lễ thọ tang
đại lão
Hòa Thượng đệ nhị TĂNG THỐNG.
Giáo hội
Thuận Hải
78A Trần
Phú – Phan Thiết
ĐIỆN TÍN
Giáo hội chúng con ngậm ngùi khi nhận được tin Đức
Đại lão Hòa Thượng đệ nhị TĂNG THỐNG viên tịch, toàn thể Tăng tín đồ
tỉnh An Giang Thành kính phân ưu cùng Hòa Thượng, Chư Tôn Hội đồng Giáo
phẩm, môn đệ Tổ đình Thiền Tôn.
Tỉnh Giáo hội AN GIANG
ĐIỆN TÍN
(bằng một
câu thơ)
Muôn giọt lệ thấm dần về huyết tháp
Biến thành muôn cánh hạc đến cung trời
Mây đắp màu tang chơi vơi non pháp
Bóng cuộn dòng đau xao động biển trời.
Một Phật tử Nha Trang
ĐIỆN TÍN
Đức TĂNG THỐNG ngự tòa đài sen. Tăng tín đồ Phật
Giáo quận Bình Thạnh thành tâm đãnh lễ.
Giáo hội Phật Giáo Quận Bình Thạnh
ĐIỆN TÍN
Giáo hội tỉnh DAKLAC chúng con vô cùng đau đớn khi
hay tin cố Đại lão Hòa Thượng TĂNG THỐNG đã viên tịch, vì xa xôi không
về kịp dự lễ nhập Tháp, Chúng con kính cẩn nghiêng mình nguyện cầu Giác
linh cố Hòa Thượng Cao đăng Phật quốc.
Giáo hội tỉnh DAKLAC
Chùa Khải Đoan Ban Mê Thuột.
ĐIỆN TÍN
Dịch âm:
- Đức Trí Xỉ Toàn Chương, Vi Chúng Trung Tôn, Trọng
Nhậm Thân Đương Pháp Ấn Tâm Quang, Quyền Thật Từ Uy Cụ Giác Thế.
- Công Hạnh Nguyện Viên Mãn, Nhập Hoa Tạng Hải, Hổn
Trần Phong Lộng Kim Thành Giáo Thất, Sơn Hà Thảo Thọ Cộng Hàm Bi.
Dịch nghĩa:
- Đức, trí tuổi, hoàn toàn, được chúng trung tôn.
Thân đương trọng nhập pháp ấn lòng ngời, quyền thật, từ, uy đều trọn vẹn.
- Công hạnh, nguyện, viên mãn, vào nơi hoa Tạng
(1), nét tỏ cao phong, Kim thành (2) ẩn bóng, Non, sông, hoa, cỏ thảy
buồn thương.
Dịch thơ:
Tuổi cao Đức, Trí sáng ngời!
Ngự ngôi Tăng Thống người người kính tin
Vững tay lái con thuyền Giáo hội
Trải phong ba sớm tối quản chi
Tấm lòng vì Đạo khôn bì
Khéo dùng quyền Phật, Từ, Uy độ đời
Công hạnh nguyện mười mươi trọn vẹn
Dời gót hoa thẳng đến Niết Bàn
Trong khi giữa cõi trần gian
Bao cơn gió bụi phủ phàng gớm ghê!
Giáo hội mất thành trì kiên cố!
Cả non sông cây cỏ sầu thương ...
TT. Thích Quảng Thạc
ĐIỆN TÍN
Trường Bồ Đề Phan Thiết (cũ), chúng con thành tâm
đảnh lễ thọ tang đại lão Hòa Thượng Đệ nhị TĂNG THỐNG.
Trường Bồ Đề Phan Thiết.
ĐIỆN TÍN
Tăng Ni và Phật tử Khánh Hòa, thành kính đãnh lễ
Giác linh Đại lão Hòa Thượng TĂNG THỐNG.
Giáo hội Khánh Hòa
ĐIỆN TÍN
Giáo hội thành phố Biên
Hòa rất đau lòng được tin
Đức Đệ nhị TĂNG THỐNG đã
viên tịch. Chúng con xin chí thành đãnh lễ Giác linh Cố Hòa Thượng, vì
hoàn cảnh không về dự được xin thất lễ với Giáo hội và hiếu đồ.
Giáo hội Thành phố Biên
Hòa
ĐIỆN TÍN
Ban Đại diện và toàn thể
Tăng tín đồ GHPGVNTN ngoại thành TP. HCM cầu nguyện Đức TĂNG THỐNG cao
đăng Phật quốc. Chúng con thành tâm kính lễ.
Ban Đại diện Giáo hội
Ngoại TP. HCM
ĐIỆN TÍN
TĂNG TÍN ĐỒ Giáo hội
Quận Ba vô cùng đau đớn trước tin Đức TĂNG THỐNG viên tịch. Thành kính
đãnh lễ Giác linh TĂNG THỐNG và phân ưu tứ chúng Tổ Đình Thiền Tôn.
Ban Đại diện Quận Ba TP.
HCM
---o0o---
NGƯỜI VỀ CÕI
TỊNH
Trời Việt Nam như nhỏ lệ
u buồn, đất Thần kinh như chìm trong biển lặng, từng trái tim như giá
buốt, cảnh vật và lòng người như se thắt và quyện lại, để tiễn đưa Người
về vĩnh cửu vô biên.
Vì, Người đã đến, đến để
góp mặt với cuộc đời hơn thế kỷ, mượn Ái tử làm nơi cố lý để hóa thân,
từ đó trưởng thành và mang trong lòng người Thượng sĩ một cái nguyện
xuất trần vân du đỉnh giác.
Trên bước đường tầm Đạo.
Người đã chọn Huế đô Thiên địa để liễu ngộ đạo châu, rồi từ đó truyền
thừa Phật pháp, làm ngọn đăng giác chiếu thuyền đời.
Trên bước đường du hóa,
dù muôn sự khó khăn Người đã không từ, mà lại còn nhận lãnh tất cả mọi
sự khó khăn để tác thành và thăng hóa cho người trên bước đường đạo hạnh.
Từ AN NAM PHẬT HỌC HỘI, VIÊN ÂM cho đến HẢI TRIỀU ÂM rồi Trú trì Thánh
Duyên Quốc Tự ... Đạo phong của Người đã sáng ngời như vần trăng lặng.
Người như dòng suối hồ thu không còn gợn sóng, giác chiếu viên minh giữa
dòng đời vẫn đục. Nên Tổ TÂM TỊNH đã ấn chứng cho Người trong buổi đầu
Thọ Pháp. Được, mất, sinh, diệt là pháp đối đãi của đời đâu có bận tậm
gì đến Thích giả! Người vẫn giữ một Đạo phong an nhiên giác tỉnh, không
hề hệ lụy bởi sự chuyển biến của dòng đời. Trái lại, sự an nhiên đó, là
diệu dụng chuyển hóa cảnh vật theo tâm Thiền giả.
Sau những chuỗi ngày vân
du hóa độ, sương thời gian đã thấm vương áo nâu người Đạo sĩ, chiếc Cà
sa ngày ấy đã bạc màu qua vạn nẽo đường, non Thiên Thai nơi an nghỉ với
tuổi Thiền ngoại chín tuần dư. Nhưng nào ngờ giờ vô thường lại mang thân
giả huyển trở về với tứ đại.
Người đã ra đi như cánh
nhạn giữa phương trời tìm đâu ra dấu vết, non Thiên Thai sờ sững tiễn
đưa người, nước sầu mây thảm chẳng buồn trôi. Thuyền Tôn tự còn đâu
những buổi chiều, khi ánh nắng về đây còn vương lại, lách mình qua kẻ lá,
để trộm nhìn dáng dấp Thiền sư trong giây phút trầm tư mặc tưởng, hay
chống gậy thênh thang đi giữa rừng Thiền! Loài muông thú đâu còn đi tâm
sự, gởi gắm lòng mình, mong bực Thiền nhân đưa tay thọ ký!
Bóng dáng Người từ đây
vắng bặt, nhưng đạo hạnh cao cả của Người vẫn còn mãi với thời gian vô
tận, dư âm của Người vẫn còn vang vọng như tiếng HẢI TRIỀU, để tỉnh thức
đàn hậu sinh liễu giác thân tâm, “Nhân nhân tự tảo môn tiền tuyết” âu đó
không phải là “Công án thoại đầu” đưa Người về đối diện tự thân, giác
chiếu tự tâm, để rồi dấn thân trong cuộc hóa độ? Và, âu đó cũng là một
bài thuyết pháp lớn cho cuộc đời?
Giờ đây non Thiên Thai,
Người đã để lại báo thân ngủ vùi trong Bảo Tháp, làm một chứng cứ kỷ vật
công hạnh cua đời Người trong những ngày tại thế, để sách tấn đàn hậu
sinh tu thân dưỡng đức trên giữa vườn đời sanh diệt, làm một đóa hoa bất
hoại thơm ngất mọi thời gian.
Cảm niệm sự ra đi của
Người là cảm niệm đạo hạnh cao cả của Người cho mỗi lòng ta.
Bao lâu cuộc đời còn
băng giá, ánh sáng của Người vẫn còn hiện thực.
THÁI HÒA.
---o0o---
ĐIẾU TỪ
Hòa Thượng Viện Trưởng VIỆN HÓA ĐẠO
Cung tuyên trong lễ NHẬP THÁP
15.01. ÂL – 11.02.1979 tại Huế
Nam Mô Thiên Thai Sơn,
Liễu Quán Pháp phái, Thuyền Tôn Tổ Đình, Lâm Tế nguyên phái, Tứ thập nhị
thế, Sung Việt Nam Phật Giáo Thống nhất Giáo hội TĂNG THỐNG đại bảo vị,
thượng GIÁC hạ NHIÊN Tôn giả Sư tọa tiền tác đại chứng minh.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất ra đời với sứ mạng thừa kế sự nghiệp truyền trì Đạo giáo
cao cả của Đức Bổn sư Từ phụ THÍCH CA MÂU NI mà liệt Tổ truyền giáo đã
dày công xây dựng trên giải đất Việt Nam thân yêu này, với một cơ đồ
vững chắc tốt đẹp hơn hai ngàn năm lịch sử. Chưa có một đạo giáo, học
thuyết nào trong quá khứ đã có một ảnh hưởng, một thọ mạng, một địa vị
hơn thế được đối với xứ sở này. Thật vậy, lịch sử truyền giáo của Phật
Giáo Việt Nam là một lịch sử gắn liền với lịch sử giữ nước dựng nước của
dân tộc Việt Nam. Điều đó không ai phủ nhận được và cũng không có tổ
chức nào trong quá khứ có trang sử vẻ vang trọn vẹn như vậy, đối với xứ
sở. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là hậu thân, là miêu duệ xứng
đáng của Giáo hội và liệt Tổ tiền nhiệm của Phật Giáo cho dân tộc Việt
Nam.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Hôm nay giờ này, trước
Linh đài (trước Bảo Tháp trước hình ảnh uy nghiêm Đức TĂNG THỐNG và
trước cộng đồng Tăng Tín đồ Giáo hội, Giáo hội chúng con đê đầu đãnh lễ
liệt Tổ quá khứ để xin mạo muội gợi lại vài nét vàng son của Phật Giáo
Việt Nam, đồng thời chí thành khể thủ trước Đức TĂNG THỐNG xin giác linh
Ngài cho phép chúng con bày tỏ nổi lòng tôn thờ, kính yêu chí thành tha
thiết của chúng con đối với đức hạnh cao cả và công nghiệp lãnh đạo sáng
suốt trong nhiệm vụ thiêng liêng của Đức TĂNG THỐNG đối với Giáo hội,
với toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo Việt Nam.
Kính bạch Đức TĂNG
THỐNG,
Đức TĂNG THỐNG đã ra đời
trong thế kỷ trước, một thế kỷ suy tàn biến động và mất nước và Ngài đã
vào Đạo trong thế kỷ này, trong một Tôn giáo tuy lớn lao nhưng cũng cùng
số phận tủi nhục hẩm hiu chung của dân tộc. Với hoàn cảnh lúc bấy giờ
khó mà có thể giúp được gì cho một công dân, một tu sĩ như Đức TĂNG
THỐNG để có cơ hội tiến lên xây dựng sự nghiệp cho bản thân, cho Dân tộc
và cho Đạo pháp, nhưng Đức TĂNG THỐNG đã không tầm thường. Với ý chí và
khả năng riêng, Ngài đã cùng các Thiện hữu Tri thức khác, được đào tạo
và trưởng thành một cách đáng kính phục trong các Thiền lâm tôn nghiêm
cổ kính của Giáo hội. Đặc biệt với giới đức, Ngài được đào tạo đến nổi
Thân, Miệng, Ý hoàn toàn đồng hóa với giới pháp. Chính giới đức này đã
và mãi mãi là hào quang và Cam Lồ soi sáng và làm tươi mát cho Phật Giáo,
cho cả thế giới Phật Giáo đang sống, Thật vậy, giới hạnh Đức TĂNG THỐNG
đã giữ Đạo dựng Đạo bằng cách tuân giữ huấn thị sau đây của Đức Phật,
tuân giữ suốt một đời bằng một thế kỷ của mình: “Tỳ ni tạng trụ, Phật
pháp diệc trụ”. Đức TĂNG THỐNG đã đóng góp lớn lao cho Phật Giáo, cho
thế giới Phật Giáo đang sống chính là Giới pháp hiện thực ấy.
Đối vời Đời: Đức TĂNG
THỐNG cũng đã giúp cho xứ sở, cho mọi người trong sự nghiệp giữ nước và
dựng nước. Nhất là thời kỳ Đức TĂNG THỐNG tại vị, đã lãnh đạo Giáo hội
qua hai thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước, đi đúng đường lối và
truyền thống của lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Đức TĂNG THỐNG đã ý thức và
hành động phản ảnh qua các Thông điệp Phật đản sau ngày đất nước hòa
bình thống nhất: Đức TĂNG THỐNG đã kêu gọi Tăng Ni và Phật tử đoàn kết
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lời kêu gọi ấy tuy đơn giản nhưng đã ảnh
hưởng sâu xa và lâu dài đối với quảng đại quần chúng trong công cuộc
kiến thiết xứ sở. Đó là một đóng góp nữa của Đức TĂNG THỐNG cho Đời, qua
tư thế và trách nhiệm tôn giáo của Đức TĂNG THỐNG.
Với ngần ấy tinh thần,
ngần ấy công đức mà chúng con vừa đê đầu trình lên còn lắm thiếu sót,
lắm vụng về nhưng cũng đã nói lên phần nào lòng ngưỡng mộ thiết tha của
chúng con đối với Đức TĂNG THỐNG. Dĩ nhiên điều đó đã xúc phạm đến cá
tính của Đức TĂNG THỐNG, nhưng chắc chắn Đức TĂNG THỐNG sẽ tha thứ cho
chúng con, như Ngài đã tha thứ từ lâu như vậy.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Sau hơn một thế kỷ thác
tích nơi cõi đời đầy khó khăn đau khổ và bất trắc, hôm nay Đức TĂNG
THỐNG ra đi theo thệ nguyện: “Khứ lai tự tại” chúng con và tất cả tứ
chúng của Giáo hội không khỏi đau buồn khi thấy Ca sa Đức TĂNG THỐNG để
lại đã in bóng trăng mờ, Tích trượng Đức TĂNG THỐNG để lại, đã thấm màu
sương lạnh! Từ nay, ngọn đèn thiền chất chong suốt canh dài, nhưng pháp
tướng cao cả oai nghi, nằm, ngồi, đi, lại sau giờ tham thì còn đâu nữa!
Từ nay ánh trăng khuya lồng bóng kinh song lạnh lão thì vẫn còn đó,
nhưng còn đâu người hành giả thường trầm tư mặc tưởng với Công án và
Thoại đầu vi diệu của Thiền tôn! Từ này tìm đâu ra dáng dấp siêu trần
của người truyền giáo cao cả trên bước đường Hoằng pháp độ sinh đây đó
của vị Đạo sư khả kính! Từ nay, những đứa con thơ dại đang ăn nhằm trái
đắng, uống lỡ thuốc cay trong lúc lão phụ đang đi về một phương trời xa
xôi đâu rồi! Thật không có gì rủi ro, đau buồn và bất hạnh hơn cho đàn
con đó! Chúng con chỉ mong Đức TĂNG THỐNG y theo đại nguyện hội nhập Ta
bà, hãy thương chúng con, hãy quay lại, nhìn lại chúng con.
Giờ này Đức TĂNG THỐNG
không còn nữa, Giáo hội mất đi một vị Đại Đạo sư tối tôn chí kính, tứ
chúng mất đi một vị Cha lành phước trí vẹn toàn. Tổ đinh Thuyền Tôn mất
đi một cao túc truyền đăng xứng đáng nhất của LIỄU QUÁN Tổ sư. Thật vậy,
không ai không xúc động và ngậm ngùi trước cảnh “Sơn tồi hà yểm” của
nhân thế thường tình. Ôi bao nhiêu mất mát, bao nhiêu thiệt thòi! Nhưng
chúng con biết làm gì hơn để giữ mãi cho Giáo hội, cho chúng con một
mảnh trăng tròn cuối tháng, một mùa Xuân sau chín chục ngày! Chúng con
làm sao giữ được một giọt nước Cam lồ, một đóa hoa Ưu đàm yêu quý còn
mãi với chúng con! Ôi Trăng, mờ, Xuân mãn, hoa Ưu đàm yêu quý còn mãi
với chúng con! Ôi Trăng mờ, Xuân mãn, nước chảy, hoa tàn, luật biến
thiên bất tận muôn đời không riêng gì ai cả! Chúng con chỉ còn lại nơi
chúng con một niềm đau buồn vô hạn sau ngày Đức TĂNG THỐNG ra đi không
hẹn ngày về! Tuy nhiên, chúng con nghĩ rằng: Chư PHẬT ra đời vì hạnh
nguyện độ sinh, khi nhơn duyên đã mãn Chư PHẬT đã thị hiện Niết Bàn.
Đức TĂNG THỐNG cũng đã đến đây và ra đi cũng cùng hạnh nguyện ấy của một
vị Bồ Tát: Đức TĂNG THỐNG để lại chúng con đã và sẽ lấy đó làm lẽ sống
cho Giáo hội cho chúng con. Chúng con nhất tâm đoàn kết để giữ gìn đường
lối chỉ đạo nhất là các lời giáo huấn cuối cùng của Đức TĂNG THỐNG để kế
tục sự nghiệp giữa Đạo dựng Đạo, giữ Nước dựng Nước để lịch sử Phật Giáo
Việt Nam trong sáng muôn đời, và những thệ nguyện chân thành thiết tha
ấy mới mong đền đáp được phần nào ân pháp nhủ vô biên của Đức TĂNG THỐNG
đã giáo dưỡng chúng con trong tinh thần đạo giáo cao quý của Đức Bổn sư
Từ phụ.
Chúng con cầu nguyện:
“Nhất tâm lãnh thọ, y giáo phụng hành” (Điệp xương và hòa chúng đồng
thanh) và trong giờ phút trang nghiêm cuối cùng này, chúng con đồng lắng
lòng bùi ngùi đưa linh giác Đức TĂNG THỐNG nhẹ nhàng lên vân lộ xa xuôi
đi vào chốn bất sanh bất diệt của Niết Bàn và đưa nhục thân Đức TĂNG
THỐNG vào Bảo Tháo vô tung nơi an nghỉ nghìn thu của trần thế.
Chúng con đồng thành tâm
phục nguyện: Linh minh nhất tánh, trực vãng Tây phương. Diệu tịnh tam
ma, tốc thành Chánh giác, chứng vô sanh chi pháp nhẫn, nhập đại định ư
chơn thừa, nguyện chư Phật từ bi thọ ký, mong Đức TĂNG THỐNG sớm trở lại
độ sinh.
Nam mô Tự Lâm Tế Chánh
tôn Thiền Tôn pháp phái tứ thập nhị thế, sung Việt Nam Phật Giáo Thống
nhất Giáo hội TĂNG THỐNG bảo vị húy GIÁC NHIÊN Đại Lão Hòa Thượng liên
tọa tiền tác đại chứng minh, thùy từ gia hộ, (Điệp xướng và đồng hòa)
tác đại chứng minh, thùy từ gia hộ.
ĐIẾU VĂN
Của BAN QUẢN TRỊ Tổ Đình ẤN QUANG đọc trước giờ Kim quan
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật,
Nam Mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ
Tát Ma Ha Tát,
Kính bạch Giác linh Đức
Đại lão Hòa Thượng TĂNG THỐNG Giáo hội PGVNTN.
Chúng con, Hội đồng Quản
trị, Chư Tăng Ni Phật tử thuộc Tổ đình Ấn Quang và Viện Cao Đẳng Phật
học Huệ Nghiêm tại thành phố HCM, vô cùng đau đớn, khi hay tin Đức Đại
lão Hòa Thượng TĂNG THỐNG đã thu thần an tịch trong lúc mùa xuân vừa
chớm nở. Giờ đây, chúng con chỉ biết kính cẩn đê đầu đãnh lễ trước linh
đài nghiêm tịnh và hoài niệm hình ảnh, đạo phong khả kính của bậc Cao
Tăng Thạc đức đã trọn đời hy sinh cho Đạo pháp, Dân tộc và chúng sinh.
Than ôi! Non Thái đà
nghiên dổ,
Một cánh hạc bay xa,
Mây trắng phủ mờ trăng
Bát Nhã,
Hoa Đàm rơi phủ lối về,
Cõi trần thế lại khuất
ánh một vì sao,
Nơi Lạc cảnh nở thêm một
hoa sen thượng phẩm.
Kính bạch Giác linh Đức
Đại lão Hòa Thượng,
Vẫn biết rằng: Giác tánh
viên minh, bản lai thanh tịnh, vốn không có giả danh huyễn tướng, thì
đâu có ngại gì một giọt nước giữa biển khơi, một vành xe tung liệng giữa
trời không.
Thật vậy,
Đức Đại lão Hòa Thượng
đã hơn trăm năm trụ thế, quyết chí siêu phàm, xuất trần Thượng sĩ với
đầy đủ hóa duyên.
Vì đạo pháp, Đức Đại lão
Hòa Thượng đã mấy lần đảm nhiệm Ngôi vị tối cao, lãnh đạo Tăng tín đồ,
duy trì đạo mạch. Từ AN NAM PHẬT HỌC HỘI đến HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM,
VIÊN ÂM TẠP CHÍ ... Đức Ngài đã hợp tác cùng chư vị Tổ sư đề xướng và
chủ trì, đồng thời mở Phật Học Đường đào tạo Tăng tài làm đống lương cho
Phật pháp, nhờ đó nhiều bậc pháp khí Đại thừa hiện nay đang lãnh đạo
Giáo hội làm cho Tổ ấn trung quang, Huệ đăng bất tuyệt. Đức Ngài không
ngần ngại gian lao tuổi già sức yếu với một lòng mong chấn hưng Phật
pháp, nên khắp chốn Thiền môn, pháp hội đều được thấm nhuần ân đức.
Trong nhiệm kỳ TĂNG
THỐNG hiện tại, Đức Đại lão Hòa Thượng đã khuyên tất cả Tăng Ni, Phật tử
trong Giáo hội nói chung, Tổ đình Ấn Quang và Viện Cao đẳng Phật học HUỆ
NGHIÊM chúng con nói riêng “nên tinh tấn tu học, nghiêm trì giới luật để
giữ gìn và phát huy đạo pháp”. Chúng con thảy nguyện thừa hành pháp
huấn.
Đức Đại lão TĂNG THỐNG
tiếp tục sứ mệnh thể hiện Đạo pháp đem lại lợi lạc cho Dân tộc và đất
nước.
Những tưởng Đức Đại lão
Hòa Thượng vẫn còn nhiều hóa duyên để lèo lái con thuyền Giáo hội và
phụng sự nhân sinh. Nào ngờ đâu, đại nguyện chưa tròn thì Đức Ngài đã
nương thuyền từ vội sang bến giác, để lại cho toàn thể Tăng Ni và Tín đồ
Phật tử chúng con một niềm xót xa vô hạn.
Kính bạch Giác linh Đức
Đại lão Hòa Thượng,
Sắc tướng vốn không, tạm
mượn cảnh huyễn độ người mê muội. Tử sanh nào có, chỉ dùng thuyền từ độ
kẻ trầm luân. Sự đến, đi của Đức Ngài, như đường chim bay không vết tích,
sự mất còn như nắng dọi trên cánh đồng hoang.
Song, Đức Đại lão Hòa
Thượng quy Tây, là một sự mất mát lớn lao cho cộng đồng của Phật pháp,
Tăng Ni Phật tử cùng môn đồ Tổ đình Thiền Tôn.
Từ đây, Giáo hội đã mất
đi một bậc lương đống của Phật pháp, Tăng Ni Phật tử mất đi một đấng Cao
tăng Thạc Đức, Môn đồ Tổ đình Thiền Tôn mất đi một Đức ân sư khả kính.
Ngưỡng bạch Gíac linh
Đức TĂNG THỐNG Đại lão Hòa Thượng,
Trước giờ tiễn đưa Kim
quan Đức Ngài vào Bảo Tháp, chúng con không biết nói gì hơn, đồng thắp
nén tâm hương thành kính cúng dường và đê đầu đãnh lễ Giác linh, nguyện
cầu Đức Ngài cao đăng Phật quốc, viên mãn pháp thân, hội nhập Ta bà, độ
tận chúng sinh viên chứng Bồ Đề.
Ngưỡng mong Giác linh
Đức Đại lão Hòa Thượng Từ bi chứng giám.
Nam Mô Chứng Minh Sư
Bồ Tát Ma Ha Tát.
---o0o---
ĐIẾU
VĂN
của NI BỘ BẮC TÔNG đọc trước giờ di Kim
quan
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật,
Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ
Tiếp Dẫn Đạo Sư A DI ĐÀ PHẬT
Ngưỡng bạch Giác linh
Đức Đại Lão Hòa Thượng TĂNG THỐNG GHPGVNTN.
Ngưỡng bạch Ngài, hôm
nay chúng con được danh dự đứng trước Kim quan Ngài, chúng con xin đại
diện sư bà Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông, các Phật học Ni viện và các Ni Tự
viện TP. HCM, thành kính dâng lên Giác linh Ngài những vần thơ chân
thành mộc mạc nhất để nói lên lòng kính ngưỡng vô biên của hàng Ni giới
miền Nam chúng con đối với Ngài, Ngưỡng mong Ngài thùy từ lân mẫn chứng
giám cho chúng con được ân triêm công đức.
Ngưỡng bạch Ngài, đây
chúng con xin thành kính đọc lên những dòng thơ chân thành mộc mạc ấy:
TIỄN BIỆT TÔN SƯ
Xuân chưa
trọn mà tin buồn lại đến,
Đệ Nhị Ngôi
TĂNG THỐNG nhập Niết Bàn
Nhói tim đau
suối lệ tuôn tràn
Một lần nữa
Xuân sang sầu tang tóc.
Tết Mậu Ngọ
tiễn Thày vừa ngừng khóc
Xuân Kỷ Mùi
dạ ngọc rối tơi bời!
Thương chúng
sanh bể khổ còn chơi vơi,
Thuyền Giáo
hội giữa vời chưa cập bến,
Vị thuyền
trưởng là Đạo sư cứu mệnh,
Vượt sông mê
đưa đến chốn an lành,
Giờ đây đà
vắng bóng bặt âm thanh,
Còn đâu nữa
Đấng tinh anh lãnh đạo.
Trăm tuổi lẻ
bậc tối cao trưởng lão,
Còn dấn thân
đảm bảo Giáo hội nhà.
Không sờn
lòng dù sức yếu già,
Nhị TĂNG
THỐNG bao năm qua sáng suốt.
Gương bình
đẳng rạng ngời như ánh đuốc.
Lòng Từ bi
rộng bủa khắp muôn phương.
Ngôi vị cao
nhưng lời lẽ khiêm nhường,
Trí mẫn đạt
phi thường trong đoàn thể,
Còn đâu nữa
vị Cao tăng cái thế!
Lái thuyền
từ vượt bể biết nhờ ai?
Nhưng đành
thôi đành cam chịu cảnh phôi phai.
Với định
luật xưa nay vô thường lý.
Cầu Linh
giác đắc thần thông du hý,
Về Tây
Phương an vị thượng phẩm liên.
Nén tâm
hương lòng kính mến vô biên,
Dâng Linh
giác hiển linh chứng giám.
Chúng con đồng khấu bái
TM. Hội đồng Ni bộ Bắc
tông Vụ, Ban Giám đốc Phật học Ni viện
Từ Nghiêm, Các Phật học
Ni viện, Ni Tự Viện TP. HCM.
Vụ trưởng THÍCH NỮ NHƯ
CHÍ (Tự Chí Kiên).
ĐIẾU-VĂN
của Ban Liên Lạc PHẬT GIÁO YÊU NƯỚC TP. HCM
đọc trước giờ di Kim
quan
Kính bạch Giác linh Đức
Đại lão Hòa Thượng, Cố TĂNG THỐNG Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất.
Kính bạch Chư Tôn Hòa
Thượng,
Kính bạch Chư Thượng Tọa,
Đại đức Tăng Ni,
Thưa Đồng bào Phật tử.
Trong khung cảnh thị
hiện Niết Bàn thanh tịnh, chúng tôi đại diện Chư tôn Hòa Thượng giáo
phẩm, Chư Tăng Ni và đồng bào Phật tử, các Giáo hội, Giáo phái, Tổ chức
Phật Giáo trong Ban liên lạc Phật Giáo yêu nước TP. HCM, Cung kính đãnh
lễ Giác linh Đức Đại lão Hòa Thượng Cố TĂNG THỐNG Giáo hội Phật Giáo
Việt Nam Thống nhất.
Kính bạch Giác linh Đức
Đại lão Hòa Thượng,
“Huyển thân
trong nhà mộng
Tướng dụng
của chơn không
Muôn thuở
trước không cùng
Bến bờ sau
nào biết”
Từ chơn thể, Giác tánh
viên minh vốn an nhiên thường tịch, không có giả tướng ngã nhân, không
có giả danh sinh tử. Nhơn phút tối sơ một niệm sai thù, muôn vàn vọng
tưỏng dấy lên, có hiện tượng khứ lai, có tướng sinh và tướng diệt.
Tuy nhiên, với bậc chân
tu đạt đạo thì sinh nhi bất sinh, diệt nhi bất diệt. Sinh không phải chỉ
hiện ra tướng có, nhưng ứng thân hóa độ chúng sinh không phải không.
Diệt không phải biểu lộ tướng không, mà hiện cảnh Niết Bàn tự tại giữa
chốn trầm luân.
Đức Đại lão Hòa Thượng
vốn có duyên thâm hậu, trải hơn trăm xuân thu trụ xứ tại nhân gian, lại
có duyên lãnh đồng chơn nhập Đạo, sớm phát tâm cát ái từ thân, mặc giáp
xuất trần thượng sĩ.
Đáng kính thay! Đời Ngài
từ buổi sơ tân đến giờ phút hóa duyên đã mãn là tấm gương lung linh
chiếu sáng trong công phu tu thân hành đạo cho giới Tăng già và các giới
đồng bào Phật tử.
Đức Đại lão Hòa Thượng
tiêu biểu cho Ngôi vị Tùng lâm Long tượng, nêu cao uy mãnh Thích hãi Côn
băng, luôn luôn lấy giới đức tinh nghiêm làm thân giáo để răn dạy sách
tấn kẻ hậu lai, thể hiện tinh thần BI TRÍ DŨNG trong công hạnh vị tha
vô ngã, tận lực chuyên tâm vào sự nghiệp Hoằng dương chánh pháp, phục vụ
nhân gian.
Nhớ lại thời kỳ Pháp nạn
1963, mặc dù Đức Đại lão Hòa Thượng đã tuổi cao sức yếu, nhưng Ngài vẫn
chổi gậy Kim cang, hướng dẫn đoàn Tăng Ni Phật tử Thành phố HUẾ, đấu
tranh chống lại chế độ bạo ngược Diệm Nhu tay sai Đế quốc Mỹ để bảo vệ
Đạo pháp, đòi tự do dân chủ.
Năm 1973, Đức Cố TĂNG
THỐNG tiền nhiệm của Giáo hội mãn duyên hóa đạo, toàn thể Giáo hội đã
cung kính suy Tôn Đại lão Hòa Thượng lên kế vị Ngôi TĂNG THỐNG. Mặc dù
tuổi đời xuân thu chồng chất, thế thượng nan phùng nhưng Ngài đã hoan hỷ
lãnh sứ mệnh Đạo sư, thống lý chúng trung tôn, lãnh đạo Giáo hội làm
nhiệm vụ truyền trì mạng mạch của Như Lai, tuyên dương Chánh pháp.
Hạnh nguyện của Ngài
được truyền thị vào sứ mệnh dân tộc của Chư tôn Hòa Thượng thuộc hàng
lương đống trong ngôi nhà Đạo pháp của Giáo hội, là đẩy bánh xe Chánh
pháp của Đức PHẬT chuyển lưu thuận giòng lịch sử phát triển của dân tộc
để cùng xây dựng cuộc sống hạnh phúc và an lạc. Đó là hạnh nguyện công
đức phụng sự dân gian làm công đức trang nghiêm Đạo pháp.
Kính bạch Giác linh Đại
lão Hòa Thượng,
Trước chơn linh bậc tiền
bối đồng môn, kẻ hậu tấn kính dâng lên Ngài công đức thừa truyền Tổ ấn,
Nhờ triềm ân Tổ đức, hấp thụ tôn phong, Đại lão Hòa Thượng Thích Tuệ
Đăng, trên bước du phương hành đạo, đã khai sơn Tổ đình Thiên Thai tại
Bà Rịa, và từ nơi đây đã làm cho Tổ ấn môn phong của Tổ đình Thiền Tôn
này được cao quang vĩnh chấn khắp các Tỉnh phía Nam. Hầu hết các thế hệ
môn đồ đều noi theo hạnh nguyện Tổ tổ tương truyền làm rạng rỡ môn phong
trong sự nghiệp truyền thừa Tổ đạo, hoằng hóa chúng sinh, phụng sự Tổ
quốc.
Thiết nghĩ, Tổ Đạo
truyền thừa tuy có phân chia ngủ diệp lưu phương, nhưng Chính pháp nhãn
tạng vốn chỉ hiển bày nhất hoa hiện thoại.
Xét về nền đạo Phật Việt
Nam trải qua thời gian, không gian có nhiều hình thức tổ chức, nhưng tựu
chung vẫn cùng chung một truyền thống làm rạng rỡ Chánh đạo trong sự
nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ Dân tộc, Hoằng dương Chánh pháp, đem
lại lợi lạc cho quần sinh.
Kính bạch Giác linh Đại
lão Hòa Thượng,
Hôm nay Ngài về nơi tịch
diệt, toàn thể Phật Giáo đồ Việt Nam đã mất đi một bậc chân tu làm nơi
nương tựa, chúng tôi thật vô cùng thương tiếc!
Nhưng đạo hạnh của Ngài
vẫn làm cho những con chung của Đức Từ phụ hòa hợp thương yêu, đồng tâm
nhất trí phục vụ Dân tộc, phụng sự Đạo pháp cùng với toàn dân xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Dân Chủ Tự Do.
Nguyện Giác linh Đại lão
Hòa Thượng hội nhập pháp thân Từ bi chứng giám.
Nam Mô Lạc Bang Giáo chủ
Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
|
.. KHẨN THIẾT KÊU GỌI TOÀN THỂ PHẬT GIÁO, TĂNG NI VÀ CƯ SĨ
TRÊN TOÀN QUỐC, HÃY DỒN TẤT CẢ TÂM TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG VÀO CÔNG
CUỘC BẢO VỆ HÒA BÌNH CHO ĐẤT NƯỚC CHÚNG TA. BẢO VỆ HÒA BÌNH
CŨNG LÀ BẢO VỆ ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC, VÌ CHIẾN TRANH CHÍNH LÀ
NGUYÊN NHÂN CHO ĐẠO PHÁP SUY ĐỒI, DÂN TỘC ĐIÊU LINH KHỐN KHỔ
...”
Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN
Tăng Thống GHPGVNTN.
(Thông điệp kêu gọi chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
1974).
|
Xem tiếp
Phần 2
---o0o---
Vi tính: Cao Thân
Trình bày: Vĩnh Thái – Linh Thoại
Cập nhật: 01-02-2005