Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 

Kỷ Yếu Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Trung Quán
(1918 – 2003)
Paris P.L 2547-2004

---o0o---

 

Kỷ Yếu Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Trung Quán
(1918 – 2003)
Paris P.L 2547-2004

---o0o---

Phần V

Trích lục một số văn khuyến tu, và thủ bút của Hòa Thượng

Một Lời Phát Nguyện

Sự lầm lẫn trở nên tội nghiệp to lớn nhất của chúng sinh là để cho án mây vô minh che lấp mặt trời trí huệ của chân tâm, từ một chỗ chấp ta, đã làm nhân chủng và do đây mà “thập bang thế giới họa thành đồ.”

Thế nên, ngoại trừ tứ Thánh, trong chốn lục phàm, không có chúng sinh nào là không mang tội nghiệp. Ðức Thích Ca Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì lòng đại bi thương xót hữu tình nên mở bày phương tiện, dạy môn sám hối diệt tội cho chúng sinh, để họ có cơ hội giải trừ tội họ đã làm, do nơi mê muội mà ra, ở trong Phật lý nhiệm mầu xác minh rõ rệt, hễ tội diệt thì phúc sinh, vọng trừ thì chân hiện, phiền não dứt thì bồ đề thành, lẽ quyết nghi này không hư không ngụy.

Luận theo tánh tướng, thì pháp sám hối có khác sai ở thể và dụng, tùy nơi chỗ công phu và nguyện lực tu hành...

Các sám pháp lưu hành trong chốn Thiền môn xưa nay phần nhiều do các vị sư Tăng phương tiện chế soạn; còn Ðại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thàng Phật là do chính lời Phật thuyết, dạy cho các vị Bồ tát, nên công năng bất khả tư nghì.

Thấy lợi ích lớn lao như thế, nên dịch giả phát tâm dịch thuật, đóng góp một phần cho nền văn học Phật giáo Việt Nam.

Nay có chư thiện nam, thiện nữ nhân sinh lòng kính tín phát nguyện ấn tống cúng dường, chúng tôi tùy hỉ.

Nguyện cho những người in chép kinh này, người lưu bố kinh này, người đọc tụng và hành trì theo kinh này luôn được tối thắng hóa trên đường thiện nghiệp, tội chướng thảy tiêu trừ, tuệ đăng tỏ rạng, tăng trưởng bồ đề tâm, trên đền bốn ân nặng, dưới cứu ba đường khổ.

Trưởng lão sa môn Thích Trung Quán

Xuân Bính tý 1996

Duyên Khởi của Cuốn Sách Biện Minh Tu Chứng

Tiếng súng tại thủ đọ Vạn Tượng vừa ngừng nổ vào lúc 2 giờ chiều ngày 16 tháng 12 năm 1960.

Giữa lúc mọi người còn đang kinh hoàng sợ sệt thì đạo hữu Ðức Tín đến chùa Bàng Long, mắt tươi như hoa nở, nói với tôi rằng: “Bạch Thượng tọa, hôm nay tôi mới tin là có Phật và Bồ tát thật Thượng tọa ạ!”

Vâng Phật và Bồ tát bao giờ mà chẳng có thật, nhưng tại sao hôm nay đạo hữu lại nói một câu nói lạ lùng như vậy?

À thế nào, gia quyến đạo hữu được bình an cả chứ?

Dạ cảm ơn Thượng tọa, nhờ Phật được hoàn toàn cả, và câu chuyện Phật và  Bồ tát có thật, tôi vừa nói, là như thế này, xin trình bày để Thượng tọa rõ, rồi đạo hữu kể tiếp:

Giữa lúc súng nổ vang trời, bốn bề lửa cháy, tôi và gia quyến đều ở nhà một người bạn tại Vattày, không biết làm sao hơn, tôi chỉ biết nhất tâm niệm Phật và danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ tát, lúc đó ngồi xung quanh tôi tất cả là 55 người, ai nấy đều run sợ, mặt mày tái mét. Muốn để trấn tĩnh tinh thần họ, tôi liền nói: “Các ông bà hãy thành tâm niệm Phật theo tôi, thì sẽ được bình yên vô sự.” Nói vừa dứt lời thì đoành một tiếng ngay sau lưng, cách chừng 30 phân tây, chiếc xe máy dầu bị tiện làm đôi, chai cà phê để phía trước sát đùi bên phải cũng vỡ tan tành, đồng thời chiếc phên bằng nứa bật đổ vào trong nhà, khói súng tỏa mù mịt, chẳng ai trông thấy ai, mọi người vừa toan chạy sang gian bên kia, lại thấy đoàn một tiếng nữa trúng ngay trên nóc nhà, ngói rơi xuống sàn gỗ lả tả như mưa rào, làm cho thần hồn mọi người càng thêm hoảng hốt, không ai bảo ai, đều ù té chạy vừa cất tiếng niệm Quán Thế Âm Bồ tát liên  hồi, tưởng thế là thoát nạn, ngờ đâu mọi người vừa ngồi xuống xong, lại đoành thêm một quả thứ ba nữa ở ngay gian đó, khiến trẻ con khóc thét, người lớn ôm đầu. Thế là hai gian nhà phải chịu luôn ba quả, còn sự khiếp sợ nào hơn và nói sao cho xiết nỗi kinh khủng của những người vừa rải qua cơn ác mộng thực tại, hãi hùng. Nhưng biết chạy đâu bây giờ, mọi người đành chịu ngồi niệm Phật luôn luôn không ngớt, tôi sực nhớ, chai cà phê vỡ, có lẽ mảnh chai đâm vào mình thì phải, nhưng sờ khắp mình không thấy thương tích gì cả, tôi quay lại hỏi mọi người, ai cũng trả lời không bị sây sứt chút nào. Mừng quá, đến khi yên súng, tôi bảo các cháu lượm được hai vốc lớn mảnh đạn ở trong nhà và ở sân, thế mà không ai bị sát da hoặc chảy một giọt máu nào, khi đó tôi mới tin là có Phật và Quán Âm Bồ tát cứu độ thật.”

Nói tới đây, đạo hữu chắp tay niệm “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán  Thế Âm Bồ Tát”, với nét mặt thành kính và tin tưởng.

Rồi đạo hữu nói tiếp:

“Muốn cho con người bớt bỏ lòng tham lam, giận dữ, si mê để khỏi chiến tranh tàn khốc và đem lại hòa bình, an lạc cho tất cả, ngoài giáo lý đạo Phật ra, nhân loại không còn biết tìm ở đâu hơn nữa. Càng nghĩ tới giáo lý cao cả của đạo Phật, lòng tôi càng cảm thấy dạt dào sung sướng, nếu ai cũng biết tin theo thực hành, thì thế giới này một ngày kia sẽ trở thành một thế giới tươi đẹp huy hoàng”.

“Bạch Thượng tọa, muốn để ghi nhớ ân đức cứu độ của đức Bồ tát Quán Thế Âm đối với gia đình chúng tôi và mấy gia đình khác, tôi xin thỉnh cầu Thượng tọa viết thêm tập Biện Minh Tu Chứng cuốn hai nữa để mọi người được đọc và cùng biết theo bỏ dữ làm lành, hầu đem lại sự lợi ích cho toàn thể.

Còn về tài chánh tôi xin phát tâm và sẽ khuyên nhiều người cùng phát tâm in 5000 cuốn để cầu nguyện cho thế giới chóng hòa bình an lạc.”

Trước tấm lòng thành thực và tha thiết thỉnh cầu ấy, nên tôi viết thêm cuốn Biện Minh Tu Chứng tập II này để hiến quý vị Phật tử muốn tìm hiểu thêm về sự tu chứng.

Tôi xin chân thành cầu chúc quý vị được nhiều lợi lạc trong khi đọc cuốn sách này, và mong ở sự thật hành tu tiến, để cùng đạt tới con đường cao đẹp mà đức Phật đã chỉ dẫn, tức là con đường thành Phật.

Sa Môn Thích Trung Quán

Hai Mươi Ðiều Khó

1/ Nghèo cùng bố thí khó:

Kinh nói: Kẻ tham sẻn bị quả báu nghèo cùng.

Họ trồng nhân tham sẻn, nên họ bị nghèo. Bây giờ họ nghèo, họ tự bị nghèo, họ tự cung cấp cho họ không xong, còn lấy gì bố thí, và nhất là họ sẵn có tâm tham sẻn, cho nên sự bố thí đối với họ là khó.

2/ Giàu sang học đạo khó:

Kẻ giàu sang họ mê với tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ, nên sự học đạo đối với họ là khó. Tựu trung cũng có người giàu sang biết học đạo nhưng rất ít. Song những người này không phải thường, học có trí óc sáng suốt, biết nhận xét đời giả dối coi thấy những người tham tài, sắc, dục lạc cũng như con kiến tham mật, còn ruồi tham mỡ, rồi chúng bị thác trong thùng mật mỡ.

3/ Tới việc vô tâm là khó:

Tất cả những việc mắt thấy tai nghe, đã đến với ta, ta vô tâm không suy luận, không xét đoán, không nghĩ tới là khó. Tỷ dụ ông chủ tiệm đang ngồi bán hàng, trong nhà có người la lớn rằng: “Ông chủ! Ông chủ! kẻ trộm! kẻ trộm! nếu ông chủ cứ ngồi nghiển nhiên bình thản không nghĩ ngợi gì thì thật khó. Chẳng hạn việc khói lửa vừa qua tại Vạn Tượng nếu ai cứ ngồi yên trong nhà tụng kinh niệm Phật, như lúc bình thường, không đoái tưởng đến súng nổ là khó.

4/ Bỏ mạng chết là khó:

Bỏ mạng chết tuy khó, song cũng có người bỏ mạng chết, nhưng chết có hai lẽ:

a. Kẻ chết vì dục vọng, về tình ái hoặc tức khí, hoặc gặp việc bất như ý về cá nhân mình là kẻ ngu.

b. Chết vì lẽ phải, chết mà làm cho gia đình sống, thiên hạ sống là bậc đại nhân.

Thời quá khứ của đức Phật đã tự móc mắt, lấy tủy, của mình làm thuốc cho thân phụ Ngài uống, cũng là cái chết mà Ngài cứu được cha, đó mới là khó, mới là đại nhân, mới là anh hùng.

5/ Nhịn sắc, nhịn dục là việc khó:

Kẻ thấy sắc đẹp không ham là kẻ trí, ham là kẻ ngu. Kẻ ham sắc dục cũng như con thiêu thân ham ánh sáng đèn, bay vào bị cháy chết trong dĩa đèn. Ðời mấy người không ham sắc dục nên khó.

Xưa đức Phật hỏi bà Ma Ðăng Già: “Bà ham ông A Nan đẹp về cái gì?”

Bà đáp: “Con ham ông có hai con mắt sáng tựa sao, mũi cao thẳng, da trắng bóng, tai to, mồm rộng, mặt vuông.”

Phật dạy: Ông A Nan! Ông sẽ khạc đờm, hỉ mũi, gạy dĩ mắt, khoái ráy tai, tất cả cho vào một cái bát, đưa cho bà Ma Ðăng Già.

Phật dạy bà thử ăn xem! Bà hổ thẹn liền quì xuống sám hối Phật xin làm đệ tử, xuất gia tu học. Lòng tham dục tự nhiên nguội lạnh. Nhân thể bà đã giác ngộ, về sau tu chứng lên thánh quả.

6/ Thấy thứ tốt không mong cầu là việc khó:

Gặp thứ gì tốt mà không mong cầu thì tâm yên, nếu tham vọng mong cầu thì sinh phiền não. Là người tu phải biết tri túc, mới an tâm tu đạo. Phật nói: “Người biết tri túc là giàu, kẻ không biết là nghèo.”

7/ Bị sỉ nhục không sân hận là khó:

Trên đời đã mấy người bị sỉ nhục mà không sân hận. Chỉ trừ những vị đã hiểu được lời nói không có hình tướng, và vị ấy thực hành tu phép nhẫn nhục.

Ðức Phật dạy: “Lời nói cũng như gió thổi ngoài trời.” Lời nói không có sự thực. Kẻ trí bị nhục không chấp nên giải thoát an vui, kẻ ngu chấp lời nói có thực nên bị nạn, bị đau khổ, vì thế nên khó.

8/ Có quyền thế không cậy mình là khó:

Xưa nay chưa mấy kẻ có quyền thế mà không cậy mình. Trên đời này phần nhiều chỉ lấy quyền thế mà áp bức nhau.

Luôn luôn tha thứ cho kẻ dưới, mặc dầu họ có lỗi  với mình, đó là bậc đại nhân. Ỷ thế áp bức người, đè nén người, làm hại người, là kẻ tiểu nhân đắc thế.

Những người ỷ thế áp bức người, trăng trói, đánh đập, giam giữ người, là tự họ đã trồng nhân đời nay. Ðời sau phải đọa vào địa ngục; hết tội được ra phải làm loài thủy ngưu, xuyên thủng lỗ mũi, kéo cày, kéo xe bị đánh đập, bằng roi gậy đền trả nợ trước, la quả nhân quả trả đáp không sai thù.

9/ Học rộng nghiên cứu nhiều là việc khó:

Ai là người học và, nghiên cứu sự vật cho hết được.

Các nhà Bác học ngày nay cũng đã được dự vào cái danh học rộng, song chỉ là phạm vi nhỏ hẹp của tầm mắt thế gian, nhưng cũng chưa có thể tự hào là người học rộng nghiên cứu nhiều được; là vì nhiều học thuyết khác không hiểu biết, còn nhiều bí ẩn của vũ trụ, chưa khá phá nổi. Hơn nữa, kho đại tạng kinh điển của Phật giáo như rừng, như biển, họ cũng chưa nhìn thấy đề mục của nó bao giờ, nên sự học rộng nghiên cứu nhiều là việc khó.

10/ Dẹp bỏ lòng ngã mạn là khó:

Ngã mạn là gì?

Là cậy mình khinh người, cậy mình giỏi khinh người dốt, cậy giàu khinh nghèo; cậy văn minh khinh lạc hậu.

Kẻ có tính khinh mạn đời này là nhân, đời sau phải chịu báo làm kẻ hèn hạ, bần cùng là quả. Nhân quả tự chịu lấy.

11/ Không khinh người chưa học là khó:

Kẻ có học vấn phần nhiều hay khinh người chưa học là khó; nếu không khinh là tâm đại nhân, vì thế nên khó có người, biết tu đức, không khinh kẻ chưa học.

12/ Có tâm bình đẳng là việc khó:

Mặt trời soi khắp thiên hạ không bỏ sót chỗ nào, quả đất chứa đựng muôn loại, nên tượng trưng trời đất là bình đẳng.

Trên đời chỉ không bình đẳng, nên mới xẩy ra những cuộc tang thương cho nhân loại.

Ông Ni Ðề là người nghèo hàn đổ phân thuê để độ nhật, sau đức Phật độ cho ông làm Sa Môn. Phần đông người không hài lòng, là vì họ khinh ông là người nghèo hèn.

Thấy thế vua Ba Tư Nặc đến can Phật về việc độ ông Ni Ðề. Ngờ đâu! Ông mới tới cửa rừng thấy 7.000 người cõi trời, mang hương hoa đến cúng dàng lễ bái, một vị sư ngồi trên một hòn đá, lại thấy vị ấy rẽ hòn đá không nứt. Thấy sự lạ, nhà vua tới hỏi Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! vị Sư này ở đâu đến đây có oai đức thần thông như vậy?

Phật dạy: Ông Ni Ðề đó! Chính nhà vua hôm nay đến đây muốn hỏi tôi về việc ông Ni Ðề, mà tôi đã biết ý ông trước.

Vua Ba Tư Nặc nghe Phật nói xong, lễ tạ lui ra, tới sám hối ông Ni Ðề, và tự cho mình là người không biết nhận xét một đạo bình đẳng.

13/ Không chê gièm việc phải trái là việc khó:

Không chê gièm, phải, trái là người đã thực hành tu thiện về khẩu nghiệp trong mười điều lành. Thấy việc phải, việc trái, không gièm chê là người có đức. Hay chê gièm là kẻ hèn ngư tiểu nhơn.

14/ Gặp thiện trí thức là việc khó:

Thiện trí thức là người hiểu sâu giáo lý đạo Phật, có tài, có đức, có thực tu, thực chứng. Nếu gặp được bậc như thế chỉ dẫn cho mình tu hành là việc khó, gặp không dễ; nên gọi là khó.

15/ Thấy tính học đạo là việc khó:

Người nhận xét được tính chân thực để tìm hiểu đạo chính mà tu là khó.

16/ Tùy thuận hóa độ người là việc khó:

Biết dùng phương pháp tiếp người, để cho họ tu Ðạo là khó.

17/ Thấy cảnh không động tâm là khó:

Cảnh có cảnh thuận, và cảnh nghịch. Thuận là cảnh vui; nghịch là cảnh buồn, không suy luận, xét đoán, tư tưởng là việc khó.

18/ Khéo léo và đủ cả mọi phương tiện là khó:

Tùy theo hoàn cảnh làm việc gì lợi mình lợi người; ta sẽ làm, người đó là người giỏi. Nếu không làm được thì khó.

19/ Sinh ra đời được gặp Phật tại thế là khó:

Ðức Phật ít khi giáng thế, mà ta được gặp là sự rất khó khăn. Con rùa mù nằm dưới đáy biển cứ một trăm năm, mới nổi lên mặt nước một lần, nổi lên nếu gặp được cây gỗ hổng để chui mình vào, mong gỗ giạt tới bờ, rùa lên đất cạn là một việc khó. Dụ người gặp Phật ở đời, cũng khó như con rùa mù, gặp cây gỗ hổng nổi lên mặt biển vậy.

20/ Ðược thấy kinh Phật là khó:

Vì ít người được thấy lắm. Người được thấy là có phúc duyên. Nhưng thấy mà có lòng tin sùng, và được chỉ dẫn cho là khó; nghe rồi lại thực hành tu còn khó hơn nữa.

Công Hành Tu Chứng

Ðiều hòa tham, sân, si

Ba độc: Tham dục, giận tức và ngu si. Nó là căn bản phiền não của con người, rất chướng ngại cho sự tu hành, cần phải điều phục nó...

Tham dục: Chúng ta nhờ sự ái dục của phụ mẫu, nên mới thành thân, sau khi trưởng thành từ 16 tuổi trở lên, lại hướng về hành động dâm dục, như thế là nhân đầu thai thành thân cho đời mai sau, và tiếp nối sự sanh tử không ngừng.

Biết rằng dâm dục là cội gốc cho sự sinh tử, nếu không đoạn được dâm dục quyết không thoát khỏi bể lớn sinh tử. Người tu đạo muốn thoát khỏi tai nạn đó, thân tâm cần phải trừ diệt dâm dục, hơn nữa cái tâm để đoạn dâm kia cũng không có nữa, như thế mới mong có ngày thoát khỏi sinh tử. Nếu không có thể đoạn ngay được phải nên tiết chế dần dần mới có thể điều phục được. Người tham dục ví như con du du thấy ánh đèn sáng, tưởng là vui đẹp, gieo thân vào tất bị thiêu hủy, há chẳng sợ thay.

Giận tức: Giận tức phát sinh do lòng tham dục. Chúng ta gặp mối lợi sinh lòng tham cầu, lập âm mưu mô mánh khóe để lấy, lấy được thì vui, không lấy được thì buồn giận, đánh giết, từ đời xưa cho đến đời nay, tội ác đó thường xảy ra, do những người chưa biết điều phục (tu).

Ngu si: Ngu si có nghĩa là vô minh. Tất cả chúng sinh ai cũng đều có cái tâm thanh tịnh. Tâm ấy ví như tấm gương sáng. Có đầy đủ vô lượng công đức từ bao nhiêu kiếp trở về trước tới nay, vì vọng tưởng (ý tưởng sai lầm), ngăn che mới sinh ra vọng chấp (chấp sai lầm) cho nên gọi là vô minh, và tạo tác những tội nghiệp nên mới bị trôi giạt trong vòng sanh tử, tìm ra không biết lối, cũng như người mù đi trong đêm tối không thấy được ánh mặt trời.

Cái độc si mê căn nguyên do nơi tham và sân mà phát sinh.

Thiền định: Thiền định để ngăn ngừa vọng niệm; vọng niệm được yên lặng thì trí tuệ phát sinh; trí tuệ phát sinh thì mới hiểu được Phật tâm và đạt tới Phật quả.

- Muốn dập tắt vọng niệm thì phải làm thế nào?

- Muốn dập tắt vọng niệm phải tu chỉ quán.

- Tu chỉ quán phải làm sao?

- Tu chỉ quán có ba phương pháp:

1/ Hệ duyên chỉ: Hệ là tâm có chỗ hệ thuộc vậy. Trong tâm khởi mối nghĩ, tất nhiên phải y cứ vào một sự vật gì, nên gọi là duyên. Tâm con người đương trụ ở duyên này, lại biến sang duyên khác, luôn luôn thay đổi không ngừng, gọi là phan duyên. Vậy đem cái tâm ấy nương vào một duyên gì để giữ lại, không cho tán loạn, gọi là Hệ duyên chỉ.

2/ Chế tâm chỉ: Chế tâm là tùy theo tâm niệm khởi ở chỗ nào, thì ngăn lại không cho nó lưu động. Trước tu hệ duyên chỉ dần dần thuần thục sau tu chế tâm chỉ.

3/ Thể chân chỉ: Pháp này so với pháp chế tâm chỉ, thì tinh tế hơn. Trước hai pháp là phương tiện tu chỉ, pháp này là chân chánh tu chỉ. Chế tâm chỉ có thể phá được hệ dương chỉ; Thể chân chỉ có thể phá được chế tâm chỉ; công phu do từ nông đến sâu, từ thô nhập tế.

Thể, là thể hội chân thực, thể hội kỹ lưỡng trong tâm khởi niệm tất cả những sự nhớ nghĩ, về sự sự vật vật, đều là hư vọng không thực, thì tâm không chấp thủ thì tâm ấy không có nơi y cứ nương tựa, như thế vọng tưởng điên đảo, không cần phải dùng ý ngăn ngừa, tự nhiên phải tiêu diệt, nên gọi là thể chân chỉ.

Quán pháp này cũng có ba:

1/ Không quán

2/ Giả quán

3/ Trung quán

Không quán: Quán tất cả các pháp do nhân duyên sinh, và không có tự tính, toàn thể đều không, từ là không quán. Cũng như ảnh bóng trong gương, hoàn toàn không có thực thể.

Giả quán: Quán tất cả các pháp tuy có nhưng không thực, như mộng, như huyễn, như bóng như vang, tức là giả quán. Cũng như bóng trong gương có đấy nhưng không thực.

Trung quán: Quán tất cả các pháp toàn là một vị diệu minh chân tính, tức là trung quán.

Chỉ quán song tu. Trên đây đã nói chỉ và quán, như khác nhau, nhưng lúc tu trì cũng có một tâm vận dụng mà thôi, hoặc có khi thiên tư về pháp chỉ, hoặc thiên về phép quán, thực ra đến chỗ thành công thì chỉ có một.

Niệm niệm quy về một khối gọi là chỉ, phân trách rõ ràng sự vật gọi là quán. Chỉ cũng không lìa quán, quán cũng không lìa chỉ, nếu chỉ không quán, tâm sẽ hôn trầm, quán không có chỉ tâm rất tán loạn, vì thế hai pháp phải tu, mới có kết quả thực sự, dưới đây sẽ phân tích rõ.

1/ Ðối trị tâm phù trầm song tu chỉ quán: Khi tĩnh tọa nếu tâm phù động không yên, thì tu chỉ, nếu tâm hôn mê, thì tu quán, nếu quán chiếu mà chưa thấy thanh minh, thì phải chỉ lại. Nhưng tùy khả năng của từng người thích hợp, để lựa chọn; nếu dùng chỉ tự thấy thân tâm an tĩnh, đó là thích hợp pháp chỉ, thì dùng chỉ, để an tâm. Nếu tu quán tự thấy thân tâm minh tịnh, đó là thích hợp pháp quán thì dùng quán để an tâm.

2/ Ðối trị tâm vi tế song tu chỉ quán: Tập pháp môn chỉ quán lâu, thì cái tâm thô loạn sẽ dần dần an định, chỉ còn cái tâm vi tế, tâm đó tự thấy bâng khuâng, thân mình với hư không cũng là một thể khoái lạc cực phần. Nếu hành giả tham sự khoái lạc mà chấp là thực có: thì sinh chướng ngại không được giải thoát, nếu tự hiểu biết nó là hư vọng không thực, thì tâm không tham trước, không tham trước đó là tu chỉ. Tu chỉ nhưng nó vẫn còn một mảy niệm chấp trước phải quán cái tâm vi tế, ở trong định, với cái vọng cả, phải trực triệt phân minh không thiên không chấp, đem ánh sáng trực giác soi các pháp, từ thân tâm cho đến vũ trụ vạn hữu chỉ là giả hợp, duy có tính chân như thường trụ bất động bất biến bất hoại, tức là phá được kiến chấp, lâu lâu thuần thục tức là giải thoát, đó là tu quán.

3/ Ðịnh tuệ quân tề song tu chỉ quán: Nếu tu chỉ được lâu, thì vọng niệm dần dần tiêu tán, gọi là đắc định. Tu quán lâu, thốt nhiên giác ngộ tức là tuệ phát sinh.

Ðịnh nhiều tuệ ít, gọi là sinh định, phải tu quán để phát tuệ. Tuệ nhiều định ít, gọi là tuệ cuồng; Tâm thần loạn động, như đèn ở trước gió soi vật không tỏ, vậy nên tu chỉ, cho tâm định lại, như đèn ở trong nhà kín, soi vật rành rẽ phân minh tức là chỉ quán song tu, định huệ quân bình.

Niệm Phật Chỉ Quán

Nếu người nào tội chướng thâm trọng, học tập chỉ quán tâm cảnh ám muội, tự lực mình không thể thành tựu được, nên biết có một pháp môn tối thắng, tối diệu, mà Pháp môn này già trẻ trai gái đều tu được cả, tức là chuyên tâm nhất chí niệm sáu chữ danh hiệu: “NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT”, phát nguyện vãng sanh tây phương cực lạc thế giới. Vậy nếu tu trì tinh tiến không lúc nào gián đoạn tới lúc mệnh chung quyết định được đức Phật A Di Ðà, và hai vị Bồ tát lại tận nơi tiếp dẫn sinh sang nước cực lạc, tự thấy thân mình ở trong hoa sen báu sinh ra; thấy Phật và các Bồ tát thánh hiền, thế giới trang nghiêm nói không thể xiết.

Với Pháp môn này nương nhờ vào sức oai thần của Phật, rất dễ chứng quả, nhưng chỉ ở nơi lòng tin quyết liệt, sức nguyện tha thiết, thực hành cho tận lực, nghĩa là Tín, Nguyện, Hành ba điều đó không thể thiếu một, thời được sự kết quả sẽ đạt tới.

Hỏi: Niệm Phật và chỉ quán có quan hệ gì không?

Ðáp: Các Pháp môn tu, môn nào cũng dùng đối trị vọng tưởng mà thôi. Vọng niệm của chúng ta, từng giây từng phút không lúc nào ngừng, niệm Phật có thể trừ được vọng niệm thô loạn, chuyện chú niệm sáu chữ danh hiệu: “Nam mô A Di Ðà Phật” sẽ dẹp được vô số vọng niệm quy về một niệm: niệm niệm tinh thuần, vọng niệm tự nhiên thoát hết. Ðó tức là tu chỉ.

Lại trong khi niệm Phật, tâm tưởng đức Phật A Di Ðà hiện ở trước mặt, và có vô số quang minh tướng hảo rực rỡ trang nghiêm vô lượng.

Và nên biết chúng sanh sở dĩ không được thấy Phật, là vì màng vô minh che lấp.

Nhưng nếu chuyên tâm niệm Phật, quán tưởng luôn luôn thì ta cùng Phật làm duyên lần nhau, hiện tại tương lai sẽ được gặp Phật thọ ký cho ta, thế tức là tu quán vậy.

Pháp môn này tu rất dễ dàng, bất luận thời nào, địa phương nào, hay hoàn cảnh nào, đều có thể thực hành được, người ngu si không biết một chữ, người trí giả đọc muôn kho sách, nếu thực hành pháp môn này, thời sự thành công của họ cũng bằng nhau.

Chỉ vì chúng ta bị đóng khung trong tập kiến, lòng tin rất khó phát sinh, nên cần phải lấy lòng tin làm thiết yếu. Thường thường có những người tài trí nhưng lòng tin không bằng lòng kiên cố của kẻ ngu si, nên biết đàng thành công và một đàng không thành công được. Cho nên trong nhà Phật chỉ cốt ở lòng thâm tín và gắng sức, còn những bậc thông minh tài trí thế gian tới đây hình như ít dùng vậy.

Chứng quả: Tu tập chỉ quán mục đích tối đại của nó, là siêu thoát khỏi biển khổ sinh tử lớn lao, song, chứa góp công phu tu tập tất nhiên được chứng quả, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, là lẽ cố nhiêu như vậy.

Nhưng tâm lượng người tu hành rộng hẹp bất đồng, nên sự chứng quả có đại thừa, tiểu thừa khác nhau. Ví như người tu về Thể Chân Chỉ liễu ngộ thân ta và tất cả sự vật đều là giả dối không thực, thì nó sẽ quy về nơi không tịch, và quán tưởng như thế gọi là “Tòng giả nhập không”. Phép quán ấy thành thì đoạn trừ được phiền não chứng quả tịch diệt, siêu thoát sinh tử không phải đầu sinh thế gọi là Thanh văn quả.

Lại như người tu về Thể chân chỉ, liễu ngộ thân ta và hết thảy sự sự vật vật đều nhờ nhân duyên mà có, hư vọng sinh diệt, thực ra thì không sinh không diệt, như thế cũng là “Tòng giả nhập không”quán. Phép quán này thành được, tức là liễu ngộ thế gian vô thường biến hoại, chứng quả tịch diệt, siêu thoát sinh tử không phải đầu sinh, thế gọi là Duyên giác quả.

Hai quả trên đây thuộc về Tiểu thừa, sở dĩ gọi Tiểu thừa là vì tâm lượng hẹp hòi, chỉ biết tự độ không hay độ người.

Nếu là bậc Ðại thừa, thì hiểu biết chúng ta và chúng sinh bản nhiên bình đẳng, ưng phát tâm đại thừa từ bi, chứ không ưng việc không đi độ chúng sinh, tự muốn tịch diệt, vì thế nên tu phép “Tòng không nhập giả quán”. Xét kỹ tâm tính tuy không, mà nghiệp báo thiện ác không mất. Chúng sinh không biết điên đảo mỗi cách tạo tác mọi nghiệp, nên phải chịu oan bao nhiêu là khổ não. Chúng ta nên tự độ, độ nhân tùy theo căn tính bất đồng của chúng sinh, mà thuyết pháp cho nghe, thế gọi là phương tiện tùy duyên chỉ.

Trụ trong phép quán ấy, tuy suốt ngày độ sinh, mà không thấy một chúng sinh nào khả độ, tâm ấy vô lượng bình đẳng gọi là Bồ tát quả.

Song trên đây đã nói về hai pháp Không quán, và Giả quán, một bên Không, một bên Giả, là còn sa lạc vào hai bên. Bồ tát cố tiến lên thêm một bước, công phu nữa, thời cần ngăn ngừa cả hai bên mà hợp về trung đạo. Biết rõ tâm tính tuy không mà có, tuy có mà không; tuy không mà có, tức không phải là ngoan không, tuy có mà không, tức không phải mà thực có; không phải không, không phải giả, thì cái kiến nhận thức của hai bên đều không, thế là: “tức nhị biên phân biệt chỉ”. Như thế quán chiếu thông suốt trung đạo, gọi là trung đạo chính quán. Trụ trong quán đó thấy rõ Phật tính, tự nhiên ngộ nhập nhất thiết trí hải, làm theo hạnh của Như Lai, ở nhà của Như Lai, mặc áo của Như Lai, ngồi tòa của Như Lai được sáu căn thanh tịnh, vào cảnh giới Phật gọi là Phật quả.

Ngày nay chúng sinh đời mạt, căn khí thiển bạc, người tu Tiểu thừa đắc quả, tuyệt nhiên không thấy ai nữa là tu Ðại thừa; nên người có chí tu hành, phần nhiều đều dụng pháp tu cả Thiền định và Tịnh độ.

Chỉ quán là một pháp của Thuyền môn, phép này hoàn toàn nương nơi tự lực của mình mà liễu ngộ được bổn tính, ví như người bơi nước ngược vượt qua bể lớn sinh tử, thực không phải dễ dàng cho nên ít người tự thân chứng quả được.

Tịnh: Là Tịnh độ, pháp này do nhờ oai lực của đức Phật A Di Ðà với lòng thệ nguyện của Ngài, cũng ví như người được thuyền vượt qua giòng sinh tử sang bờ bên kia, rất dễ dàng.

Song phải tín, nguyện, và hạnh cho dũng mãnh, cho kiên cố, không được thiếu sót một điều, thì mới có hiệu nghiệm.

Tín: Tin có cõi Tịnh độ không chút nghi ngờ.

Nguyện: Nguyện cho ta tới khi mệnh chung, được vãng sinh nước Cực lạc, của đức Phật A Di Ðà.

Hành: Công phu niệm Phật gắng làm không chán; công phu ấy chứa chất mãi tự nhiên, khi mệnh chung nhất tâm bất loạn, có thể thấy Phật, mà được vãng sinh. Việc ấy sự thực tôi đã được mắt thấy tai nghe, quyết không nói dối, cho nên chủ trương của tôi, là tu cả Thiền định và Tịnh độ, dùng cả tự lực và tha lực. Xin các bạn độc giả đồng tu, tự lấy trí tuệ nhận xét, tu phép nào tiệp kính, và chóng thành công hơn thì tu.

Niệm Phật Thiện Căn Phát Hiện

Nếu khi ở trong định thân tâm vẳng lặng, thốt nhiên tưởng niệm đến Chư Phật, có những công đức cao siêu bất khả tư nghị, thân có vô lượng quang minh, tâm có vô biên trí tuệ, thần thông biến hóa thuyết pháp vô ngại phổ độ cho hết thảy chúng sinh, nghĩ như thế rồi liền sinh lòng kính ái, thân tâm khoái lạc thanh tịnh yên vui. Hoặc khi ở trong định thấy thân tướng của Phật nghe Phật thuyết pháp, và những cảnh giới nhiệm mầu như thế, không sao kể siết. Thế là cái tướng của niệm Phật thiện căn phát hiện.

Nhưng cũng không phải có ý tìm cầu mà được, nếu có ý tìm cầu thời không những là vô ích mà lại còn bị ma ếm nữa. Và khi thiện căn phát hiện nên biết bổn tính vẳng lặng không nên chấp trước, là có thực. Chỉ nên dùng phương pháp chỉ quán gắng công tu tiến khả dĩ tăng thêm mà thôi.

Tức Ðạo Thiện Căn Phát Hiện

Chúng ta nếu y vào pháp trên đây mà chuyên tu về môn chỉ quán, trong khi tỉnh tọa điều hòa thân tâm, ngăn ngừa vọng niệm thời tự biết thân tâm dần dần nhập định, nhẹ nhàng vẳng lặng, ở trong định ấy thốt nhiên không thấy thân tâm của mình. Cứ như thế một lần hai lần, một tuần một tháng cho đến một năm, liền đạt tới chỗ ngăn ngừa và định tâm không thể thoái chuyển được, ở trong định chợt thấy, thân tâm vận động, sinh ra động, ngứa, lạnh, nóng, nhẹ, nặng, ráp chơn, tám thứ cảm xúc lần lượt phát khởi bấy giờ thân tâm an định cảm thấy hơi thở ra vào trong hổng mũi, hoặc dài hoặc ngắn trong mình những lỗ chân lông thưa thớt tâm địa mở tỏ, có thể ngó thấy các vật trong mình rõ ràng như mở kho thấy thóc, gạo, vừng, đậu đó là cái tướng Tức đạo thiện căn phát hiện.

Chết Về Ðâu

- Có thế giới khác không?

- Có!

- Có bao nhiêu?

- Có rất nhiều, nhưng nói về phạm vi luân hồi của chúng sinh đồng phận thì có 6 cõi.

- Những cõi nào?

- 1 – cõi trời, 2 – cõi người, 3 – cõi a tu la, 4 – cõi địa ngục, 5 – cõi ngạ quỷ, 6 – cõi bàng sinh.

- Có linh hồn không? (theo sự thông thường gọi là linh hồn, nhưng Phật giáo gọi đó là tâm thức, hay vọng tâm.)

- Có!

- Có đời sau không?

- Có!

- Tôi không lấy bằng chứng gì, để tin có thế giới khác; có linh hồn có đời sau?

- Ông có nhìn thấy mặt trời mặt trăng không?

- Có!

- Nó hệ thuộc thế giới này, hay không phải thế giới này?

- Ðó nó không hệ thuộc thế giới này, là thuộc thế giới khác. Như vậy biết rằng có thế giới khác đó. Nhất là khoa học thời nay, họ cũng công nhận trong không gian vô biên, có rất nhiều thế giới.

- Còn vấn đề địa ngục, tôi cũng chưa tin! Vì tôi thấy các vị Sa môn nói, ác tạo mười điều ác phải đọa vào địa ngục, chính tôi có người bạn thân, anh ta làm đủ mười điều ác, khi sắp chết tôi đến dặn rằng “Nếu anh chết bị đọa vào địa ngục, thì anh về báo mộng cho tôi biết nhé”. Tuyệt vô tin tức, vì đã mấy năm không thấy bạn tôi về nói gì cả?

- Xin hỏi ông: “Ở thế gian này có kẻ phạm tội giết người cướp của, bị tống vào đề lao, người đó có thể xin phép lính gác đề lao về thăm vợ con được không?

- Quyết định không được?

- Ðó ngay thế gian này cùng một thế giới, cùng một con người, còn không xin về được, nữa là kẻ vào địa ngục còn mong họ về báo mộng được sao?

- Vấn đề cõi trời, tôi cũng không tin; các vị thường giảng ai giữ đủ được mười điều lành, khi chết sẽ được sinh lên trời. Ðịa ngục là nơi giam giữ không về được, thì đây tôi có một người bạn chí thân, anh ta giữ đủ mười điều lành, khi anh ấy sắp chết tôi đến dặn rằng: “Anh chăm tu thiện làm trọn mười điều lành. Nếu anh được sinh lên trời thì anh về báo cho tôi biết nhé! Nhưng đã mấy năm nay tuyệt nhiên không thấy báo tin gì, vì thế tôi biết: không có đời sau, và thế giới khác?”

- Cách đây mấy bữa, tôi đi chơi gặp một người con trai chừng 20 tuổi, anh ta đang đi thất thểu trên một vỉa đường, không may trật chân ngã xuống hố phân của một nhà trồng rau cạnh vườn, bị ngụp cả đầu, ngay lúc đó có người đến kéo lên đưa anh ra sông tắm rữa dùng nước hoa tẩy sạch thân thể, lấy quần áo mới cho mặt và cho anh ta ăn các món ăn ngon lành. Xin hỏi ông? Bây giờ có người nào bảo anh ta nhảy xuống hố phân ấy lần thứ hai, thì anh ta có đồng ý nhảy xuống nữa không?

- Quyết nhiên là không!

- Ông nên biết trên trời là nơi cực kỳ sung sướng, trong sạch, họ ngó thấy mình; cũng như mình ngó thấy con dòi trong thùng phân. Người được sinh lên trời cũng chẳng khác gì anh chàng đã thoát khỏi hố phân. Nên không khi nào họ dám xuống lần thứ hai nữa. Vậy sự mong báo tin của ông, quyết không thể được.

- Vấn đề linh hồn tôi cũng chưa lấy gì làm tin. Mấy ngày vừa qua có người phạm tội phản quốc, tôi bắt được trói bỏ họ vào trong một cái chum, đậy nắp trét đất kín, xếp củi vây quanh đốt, tôi sai người đứng nhìn, xem thần hồn ra lối nào. Nhưng không thấy. Vậy tôi tin rằng chết là rồi, không có hồn phách chi hết.

- Ban ngày ông nằm ngủ, mộng thấy núi, sông, nhà, cửa, người, vật. Khi đó những người xung quanh ông có ai nhìn thấy linh hồn ông ra không?

- Dĩ nhiên là không!

- Ông còn sống mà không thấy linh hồn ra, nữa là kẻ kia đã chết.

- Như vậy cũng chưa đủ tin. Bữa trước đây có người phạm tội tử hình, tôi sai lột da, mổ bụng, chẻ xương mà không thấy hồn đâu cả. Vì thế tôi tin không có linh hồn và đời sau!

- Ông hãy nghe: vừa rồi có một bọn người vào rừng nứa, lúc đó chừng hai giờ chiều, thấy bụi nứa khô, bổng phát hỏa, họ tới xem không thấy ai đốt, mọi người đều ngạc nhiên. Trong bọn có người lính khôn nói: “Không có gì cả, nứa khô, trời nắng gặp gió thổi sáp vào nhau bật lửa cháy chứ chẳng ai đốt!”. Họ không chịu. Anh ta lấy hai mảnh nứa sát mạnh vào nhau, quả nhiên nảy lửa cháy thật. Rồi đó có nhiều anh thắc mắc chế để tìm lửa, xem thế nào, nhưng không thấy.

- Là tại sao?

- Là tại anh ta không biết cách lấy.

- Hồn cũng thế, biết tìm hiểu thì thấy, không biết tìm thì không thấy.

- Xin hỏi: Khi ông nằm ngủ tôi lấy kim đâm vào ông, thì ông có biết đau không?

- Có chứ!

- Tại sao mắt ông không trông thấy tôi đâm mà biết đau?

- Ðó là tự tôi biết.

- Cái tự ông biết ấy là cái gì?

- Không biết.

- Ðó, chính là cái hồn của ông tự biết đấy.

- Vậy cái hồn là chỉ định cho cái biết ư?

- Vâng, dĩ nhiên!

- Ngài có thể cho tôi biết thêm một tỷ dụ khác để chứng tỏ hơn nữa không?

- Có!

- Xin hỏi: Ông có ngó thấy gió không?

- Không! Gió làm chi có hình mà ngó đặng.

- Gió không có hình nhưng có thể đánh đổ nhà và các cây lớn nhỏ. Hồn là vật vô hình, nhưng có thể điều khiển cả thân người.

- Hơi thở của người ta không thể nhìn thấy. Song sự cử động là do hơi thở; hơi thở tắt thì người chết.

- Hồn không phải là hơi thở, song có thể tạm nhận nó như hơi thở.

- Hồn là ông chủ của một thân người. Cũng như chiếc xe hơi chạy được là do người cầm lái. Xe tuy là bộ phận có thể chạy, song không có người điều khiển, dĩ nhiên không chạy được! Hồn tỷ như người lái xe, thân người dụ như chiếc xe.

- Người và vật linh hồn có khác nhau không?

- Không khác!

- Tại sao không khác?

- Hồn chỉ vào sự hiểu biết của con người, con người biết ham sống, sợ chết, biết khổ, biết vui, v.v... Con vật cũng biết như thế. Sự hiểu biết không khác, thì linh hồn dĩ nhiên không khác.

- Linh hồn có lớn bé không?

- Linh hồn là vô hình, đã vô hình thì còn chi có lớn bé.

- Nếu không lớn bé thì con voi chết, hồn có sinh làm con kiến được không? Con kiến chết có sinh làm con voi được không?

- Ðược lắm! Hồn tỷ như chất điện, khi vào đèn tuýp thì sáng lớn, khi vào bóng ngắn, thì hình ngắn, vào bóng lớn thì hình lớn, vào bóng bé thì hình bé, vào bóng xanh thì hình xanh, vào bóng đỏ thì hình đỏ v.v... Tuy hình khác nhau, chung qui chỉ là chất điện.

Hồn cũng thế vào người thì thân người, vào trời thì ra thân trời, vào thú vật thì ra thú vật. Tuy hình thức khác nhau nhưng tâm hồn chỉ là sự nhận xét hiểu biết mà thôi.

- Như vậy người chết có thể sinh làm vật; vật chết sinh là người được ư?

- Cũng có thể được, nhưng cũng không nhất định.

Theo thuyết luân hồi của Phật dạy thì có thể nói: Người chết sinh làm vật, vật chết sinh làm người. Nhưng còn tùy theo nghiệp của từng người, và nghiệp của từng con vật, chứ không thể nói quyết định người chết sinh làm vật; vật chết sinh làm người được.

Phật dạy rằng: Chúng sinh cõi trời, cõi người, cõi a tu la, cõi địa ngục, cõi bàng sinh, khi bỏ thân mạng này qua 49 ngày, tùy theo nghiệp mà thụ sinh trong sáu cõi nói trên. Kẻ có phúc thì sinh cõi trời, cõi a tu la, cõi người là ba cõi lành; kẻ tạo ác thì đọa xuống địa ngục, ngạ quỷ và bàng sinh (súc sinh) là ba cõi ác. Cứ như thế luân chuyển, chết chỗ này sinh chỗ kia, vòng tròn như bánh xe quay nên gọi là luân hồi.

Sinh tử vòng quanh sáu cõi như vậy. Sau khi tắt hơi có cách gì chứng nghiệm biết người ấy chết sẽ sinh về cõi nào không?

- Cũng có thể biết được.

- Nghiệm thế nào thì biết?

- Sau khi thấy họ tắt hơi thở, người đã lạnh buốt, bấy giờ ông để ngón tay vào gan bàn chân họ, thấy hơi nóng thì biết họ đọa xuống địa ngục; Nếu thấy lạnh, ông để tay lên đầu gối họ thấy nóng, thì biết họ sẽ sinh vào loài súc sinh; nếu đầu gối lạnh, ông để tay vào bụng họ thấy nóng là biết họ sẽ sa đọa vào loài quỷ đói; nếu thấy lạnh, ông để tay lên cổ thấy nóng thì biết họ sẽ được sinh vào loài người; nếu lạnh thì ông để tay lên mắt thấy nóng thì biết họ sẽ được sinh lên trời; nếu mắt lạnh thì ông để tay lên đỉnh đầu thấy nóng, là biết họ được sinh về thế giới các đức Phật. Nhưng phạm vi chỉ trong một giờ, ngoài ra không biết nữa.

- Làm phúc gì được sinh ba ngả lành?

- Mười điều lành nói trên chia làm ba: là thượng, trung, hạ. Tu thiện bực thượng được sinh lê trời; bậc trung sinh cõi người; bậc hạ sinh cõi a tu la.

- Làm tội gì phải đọa ba ngả ác?

- Mười điều ác nói trên cũng chia ra làm ba: là thượng, trung, hạ. Kẻ thượng ác thì đọa vào địa ngục; trung ác đọa vào ngạ quỷ; hạ ác phải sinh vào loài súc sinh.

- Họ làm ác khi họ chết thì ai là người đưa họ sinh vào ngả ác; nếu họ làm thiện thì ai đưa họ sinh vào ngả lành?

- Không ai đưa cả, tự nghiệp của họ đưa đến thôi.

- Nói thế đâu có được! Trên thế gian, nếu bắt được kẻ cắp họ tố cáo với nhà cầm quyền tống giam. Nếu kẻ có tội không có người bắt vào địa ngục, thì ai dại chi mà vào địa ngục; chẳng lẽ họ tự nhận họ có tội, rồi họ tự vào ngục ư?

- Xin hỏi:

- Khi ông vào đầu thai thì ông có thấy ai đưa ông vào không?

- Không!

- Vậy tự ông vào hay sao?

- Không biết.

- Nếu không biết, thì đương nhiên không ai đưa vào cả.

- Như vậy ông đã công nhận không ai bắt vào chưa?

- Vâng! Xin Ngài giải nghĩa cho sáng thêm.

- Tôi vừa nói trên đây là do nghiệp của từng người, nghiệp nó đưa vào, chứ không ai đưa vào.

- Nghiệp là gì?

- Nghiệp là nghề nghiệp; là thói quen, người học về ngành thuốc thì quen chữa bệnh, chứ không quen lái xe. Xin ví dụ sau:

Tôi thấy thôn xóm kia có một nếp nhà gianh, bốn bề đắp đất, xung quanh cỏ mọc um tùm, lại thêm một rãnh nước chảy ra những nước phân hôi thối, bẩn thỉu, ruồi muỗi rất nhiều, trong nhà ấy có chừng 20 người, người thì hút thuốc phiện, người thì xúm nhau lại đánh bài, đánh bạc, nhậu nhẹt không đoái gì đến dơ bẩn, chật hẹp nồng nực.

- Xin hỏi:

- Ai bắt họ đến đây?

- Không ai bắt ai, người nghiện hút thấy bàn đèn thì họ đến, kẻ ham cờ bạc thì họ đến với nhau. Như ý tôi thì không ai bắt họ cả, do họ ưa muốn thì họ đến.

- Xin hỏi:

- Họ ở đây với nhau có yên vui, hay họ buồn?

- Nếu buồn thì không đến, vì vui cho nên họ đến.

- Tại sao họ không đưa nhau đến một nơi cửa cao, nhà rộng, mát mẻ, mà họ lại đưa nhau vào nơi tối tăm bẩn thỉu như vậy?

- Họ sợ chính phủ nã bắt, trú những nơi hẻo lánh như vậy, để che mắt nhà cầm quyền.

- Họ sợ chính quyền bắt, tại sao họ dám làm những sự quốc cấm như vậy?

- Vì họ quá ư ham muốn và cái nghiệp của họ không bỏ được.

- Cũng thế, kẻ sa đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh cũng như bọn người này, không ai bắt họ cả, tự lòng họ muốn cũng như cái nghiệp của họ dắt họ đi đó thôi.

- Nếu Ngài nói do sự ham muốn mà đọa vào ba đường ác, thì ai ham muốn địa ngục làm chi, mà vào địa ngục?

- Kẻ nào lúc sinh thời hay phỉ báng Tam bảo; cướp trộm của Tam bảo; bất hiếu với cha mẹ, sát nhân, sát vật, khi chết sẽ phải vào ngục hỏa thiêu, lửa đốt suốt ngày đêm.

Trước hết kẻ đó mắc phải chứng bệnh phong, hàn, lạnh, làm cho thân thể lạnh buốt cóng. Người có  bệnh khi đó chỉ ham lửa, luôn luôn nghĩ đến lửa và muốn sự nóng, đương lúc muốn như vậy, thì hồn trút khỏi xác, theo luồn điện lửa mà vào địa ngục. Kẻ cướp trộm của Tam bảo, hoặc phá hoại chùa chiền. Hoặc lột áo của người trong khi giá rét; hoặc cậy thế lực, tháng đông rét mướt, lấy nước đổ lên đầu kẻ ăn, người ở trong nhà, hay kẻ khác, hay cướp lột áo quần của người ta. Tội ấy sẽ bị đọa vào ngục Hàn băng.

Trước hết kẻ đó mắc phải chứng bệnh nhiệt, làm cho thân thể nóng đến cực độ, như thiêu như đốt; khiến cho anh ta luôn luôn nghĩ đến lạnh, và ham muốn lạnh, trong lúc đang ham muốn ấy, thì thần hồn trút khỏi xác theo luồng điện lạnh mà vào địa ngục Hàn băng, tức là ngục lạnh.

- Kẻ bị đọa vào loài quỷ đói thì họ ham muốn gì?

- Kẻ này có tính tham xẻn, và hay giựt của người làm của mình, có khi làm cho người ta chết đói vì mình, bóp nặn của người ta, mình có của thừa cất dấu đi, để người ta đói khát. Trước hết người đó mắc phải chứng bệnh khí, ăn uống không tiêu, luôn luôn họ chán ghét cơm, hoặc các món ăn, thì hồn trút khỏi xác, theo tư tưởng ghét ấy, mà đọa sinh làm loài quỷ đói muôn ngàn kiếp không biết miếng cơm ngụm nước ra sao. Chữ ghét trái lại cũng như chữ ham.

- Kẻm ham muốn gì thì đọa vào loài súc sinh?

- Kẻ này đã không tin Tam bảo, lại còn phỉ báng, thấy người làm việc thiện lại chê bai, tâm tính không ưa lẽ phải, không thèm nghe chính pháp, không phân biệt cha, mẹ, vợ, con, anh, em,  họ hàng, tôn, ty, phải, trái, tuy là thân người tâm như thú vật. Trước hết kẻ đó mắc phải chứng bệnh co quắp nằm co như chó. Luôn luôn nghĩ đến những điều nói trên, thì hồn trút khỏi xác, cứ theo nghiệp ấy đọa sinh vào loài súc sinh. Vì loài súc sinh không có phân biệt cha, mẹ, anh, em gì, không đạo lý gì.

- Kẻ làm gì được sinh làm người?

- Kẻ ham tu thiện; kính phục lẽ phải, có đạo cha con, vợ chồng, tôn sùng Tam bảo. Khi chết không có bệnh hoạn gì, hoặc có sơ sơ nhẹ nhàng. Chết sẽ được sinh làm loài người.

- Kẻ ham muốn gì thì được sinh lên trời?

- Kẻ hay ham muốn tu phép thập thiện, ham nghe kinh giáo, tôn sùng Tam bảo. Khi mạng chung thân tâm được yên ổn, và nằm ngửa, thần hồn trút khỏi xác, cứ thế thăng lên trời.

- Người được sinh về thế giới Cực lạc, thì tâm ham muốn thế nào?

- Người ấy luôn luôn tưởng niệm đức Phật A Di Ðà, lòng ham muốn sinh về thế giới của Ngài.

Người đó tới ngày tận số, được biết trước ba ngày, hoặc bảy ngày, và biết đúng thì giờ, nhất là không có bệnh hoạn gì. Khi thần thức sắp lìa xác, được trông thấy Phật A Di Ðà, và đức Quán Âm Bồ tát, đức Thế Chí Bồ tát và rất nhiều các vị Thánh tăng.

Trong nhà hoặc hào quang, hoặc thấy hương thơm, hoặc văng vẳng nghe thấy tiếng đàn, tiếng sáo trên hư không. Người đó tâm không sợ sệt, từ từ theo Phật về Tây phương, thấy mình trong hoa sen sinh ra, thế giới trang nghiêm cực kỳ tốt đẹp.

- Trên thế gian từ con người đến con vật, do sự giao cấu của trai gái mà sinh ra con người, con vật. Ngài nói thế giới Cực lạc sinh trong hoa sen ra thì sao tin được.

Ông hãy để ý nhận xét trên thế giới này có bốn loài sinh là: loài sinh bằng thai, loài sinh bằng trứng, loài sinh dưới nước, loài hóa sinh; ba loài trên có sự giao cấu, còn loài hóa sinh thì không có sự giao cấu, như những loài kể sau đây:

1. Loài đom đóm, ở trong cây gỗ mục sinh ra.

2. Loài bọ sung, ở trong ruột quả sung non sinh ra.

3. Loài ngư diệp, tức là con cá, ở lá cây sinh ra. Cây này mọc tại bờ suối, lá hình con cá, khi già rụng xuống nước biến thành con cá.

4. Lại còn có loài điểu hiệp, lá hình con chim, tới mùa Thu lá già, thì nó biến thành các con chim xanh bay đi từng đàn, mà họ vận lưới được.

5. Có một thứ cào cào, hình con bọ ngựa, là một thứ lá cây sinh ra, lá tựa lá cam, có hai ngánh, hai ngánh sau nó là hai càng. Những thứ cây này cách Mường Luông chừng mười tám cây.

Sự mục kích những loài này tại thượng Lào có rất nhiều.

Chứng tỏ thuyết trên đây, thì biết người được hóa sinh trong hoa sen bên Cực lạc cũng không gì lạ.

- Những người được sinh sang thế giới Cực lạc cũng có đủ trai gái chứ?

- Không, bất luận ai được sinh sang đó cũng là con trai cả.

- Con gái được sinh sang đó, cũng biến thành con trai ư?

- Vâng, người con gái phát tâm niệm Phật, khi được sinh sang cũng biến thành con trai.

- Vậy thế giới thuần con trai ư?

- Vậng! Thuần con trai.

- Những người này có già, có bệnh, có chết không?

- Không! Không bao giờ họ bị bệnh, già, chết chi cả.

- Họ không cần phải sinh sống. Họ nhờ oai thần, của đức Phật A Di Ðà họ muốn gì được nấy, từ cung điện, quần áo, cho đến ăn uống đều có một cách tự nhiên, sung sướng tuyệt vời!

- Thế giới Cực lạc cũng có núi cao, sông sâu, biển cả, đất đá, bùn lầy, như thế giới ta ở đây, hay khác?

- Không! Không có núi cao, sông sâu, biển cả, bùn lầy, đất đá như đây, thế giới bằng thẳng, thuần hoàng kim.

- Có mặt trời, mặt trăng nóng lạnh như đây không?

- Không! Không có mặt trời có khí sáng gấp muôn ngàn triệu mặt trời, mặt trăng, và nhất là người nào cũng có hào quang.

- Vậy lấy gì để phân ngày đêm?

- Coi hoa sen nở cụp tính là một ngày đêm.

- Có ruồi muỗi trùng độc, thú dữ không?

- Không có từ con vi trùng cho đến loài thú dữ.

- Có những người như: Mường, Mán, Mèo, Mọi, Khạ không?

- Không! Không có những người ấy. Thuần có những vị Bồ tát, đầy đủ đức tướng tốt đẹp trang nghiêm.

- Có chiến tranh, cướp bóc, đánh giết như cõi ta không?

- Không! Không có chiến tranh, là vì những người tu đạo, không tham giận, si mê, và không có phân biệt gia đình, quốc gia xã hội gì, nên không có thái độ hung tàn bất nhân như những thế giới khác.

- Có tàu, xe, voi, ngựa không?

- Không có!

- Vậy họ đi bằng cách nào?

- Ði bằng phép thần túc. Cứ buổi sáng sớm, họ đi lấy các thứ hoa quả, gói vào vạt áo, rồi bay đi mười phương thế giới, cúng dường các đức Phật ở phương khác, xong trở về nhà mới ăn cơm sáng. Ðã là người bên đó ai cũng có phép thần túc bay đi rất nhanh chóng như vậy.

- Nhà cửa làm bằng gì?

- Nhà làm bằng thứ báu như: pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách, vàng, bạc v.v...

- Cũng có người xây cất như bên ta ư?

- Không ai xây cất cả. Những cung điện là do đức Phật A Di Ðà hóa hiện ra.

- Hàng ngày họ còn làm những việc gì nữa?

- Hàng ngày nghe những tiếng thuyết pháp của Phật, và tu đạo.

- Tu như vậy được những kết quả gì?

- Tu như vậy để thành Phật.

- Thành Phật có những hiệu lực gì hơn chúng sinh?

- Có nhiều lắm! như nói qua vài điểm như sau:

1/ Túc mệnh thông: hiểu biết đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai rõ ràng.

2/ Thần túc thông: chỉ có chớp mắt đã bay đi khắp mười phương thế giới.

3/ Tha tâm thông: Hiểu biết được bản ý người, đã nghĩ, đương nghĩ, và sẽ nghĩ.

Nếu chúng sinh có tai nạn gì cầu nguyện đến, các vị ấy có thể cứu một cách rất mau lẹ, mặc dầu xa hay gần.

Còn một điểm hơn hết, là có đủ thần lực hàng phục tất cả trời, người, phàm, thánh, quỷ, thần, ác thú.

Mắt coi xa mười phương thế giới, không gì vướng vít; tai nghe khắp cõi không gian, không hề ngăn cản. Có thể coi các thế giới như bụi nhỏ; như tổ muỗi. Tới đây xin tạm ngừng, không thể nói hết sự linh thông của người thế giới Cực lạc được.



Mục lục

 

---o0o---
Vi tính: Diệu Mỹ
Trình bày: Nhân Văn – Linh Thoại

Cập nhật:  01-12-2005

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Nhân Vật Phật Giáo VN

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com