TIỂU SỬ
SƯ BÀ ĐÀM LỰU
VIỆN CHỦ ĐỨC VIÊN NI TỰ
TẠI SAN JOSE, CALIFORNIA, HOA KỲ
Thế danh của Sư Bà
cũng chính là Đạo Hiệu hiện tại. Song thân khó nuôi con, nên lúc hơn 2
tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Cụ Đàm Soạn, Trú Trì Chùa Cự Đà
và được Sư Cụ đặt tên là Đàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Đặng Văn
Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6
năm Quý Dậu, 4.811 Quốc lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch;
tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Bắc Việt
Nam.
II-
XUẤT GIA, THỌ GIỚI và TU HỌC :
Năm 1948, Nghiệp
Sư, tức Sư Cụ Đàm Soạn, nhận thấy Sư Bà là người tuy còn nhỏ tuổi, nhưng
chí nguyện thì cao vời, tâm nguyện lại bao la nên được truyền thụ Sa Di
Ni Giới tại Chùa Cự Đà, Hà Đông, thuộc sơn môn Tổ Trung Hậu và Đống Đồ.
Năm ấy Người tròn 16 tuổi. Thụ giới Sa Di Ni thì 16 tuổi, nhưng thật sự
đã được Nghiệp Sư chính thức cho thế phát xuất gia khi còn là “Bạch Xỉ”.
Tuổi thì vị thành
niên, nhưng lòng ham tu, hiếu học; nhất là chí nguyện xuất trần, thì
người thành niên cũng hiếm ai bì kịp; do vậy, Sư Cụ Nghiệp Sư đã không
ngần ngại cho đi tham học hầu hết các Chùa trong sơn môn tại Miền Bắc
như Cự Đà, Thanh Nhàn, Nhân Hòa, Từ Hàng, Đống Đồ, Trung Hậu, Vân Hồ,
Đức Viên…..
Năm 1951, Đại Giới
Đàn tổ chức tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội; quy tụ hầu hết các bậc Cao Tăng
trong hàng Giới Sư. Nhận thấy đây là một Đại Giới Đàn đặc biệt, thêm vào
đó, sức học và chí tu của Sư Bà cũng đã vững chãi, nên Sư Cụ Nghiệp Sư
đã hướng dẫn Sư Bà đi đảnh lễ Quý Tổ cầu xin Quý Ngài Yết Ma cho thêm
tuổi để được thụ giới; vì lúc ấy Sư Bà mới hơn 19 tuổi. Nhờ vậy, Sư Bà
đã được thụ Tỷ Khưu Ni Bồ Tát Giới tại Đại Giới Đàn trên. Trong hàng
Giới Sư Tăng lúc bấy giờ có các Tổ như Pháp Chủ Mật Ứng, Thượng Thủ Tuệ
Tạng, Pháp Chủ Đức Nhuận, Cao Tăng Tố Liên, Trí Hải…, bên Ni có chư Hòa
Thượng Ni như Sư Cụ Đàm Soạn, Sư Cụ Trịnh Xá, Sư Cụ La Hán…. Sau khi đắc
giới được Sư Cụ Nghiệp Sư cho hầu cận làm Thị giả.
Đầu năm 1952, Sư
Cụ Nghiệp Sư được Chư Tôn Đức Tăng, Ni thỉnh cử vào Nam nhận lãnh ngôi
vị Trú Trì Chùa Dược Sư tại Gò Vấp, Sư Bà được theo hầu cận. Tiếp nhận
xong Chùa, Sư Cụ đi thỉnh ý Chư Tôn Đức Tăng Ni tại địa phương để được
mở Ni Trường, đào tạo Ni tài. Thế là Chùa Dược Sư được biến thành Ni
Trường Dược Sư. Sư Bà trở thành một trong những Ni sinh ưu tú đầu tiên
của Ni Trường nầy. Tại đây, hai chương trình Nội Điển và Ngoại Điển được
chú trọng song song, nên :
Năm 1960, Sư Bà
thi đỗ Tú Tài.
Năm 1961, sau 9
năm tu học tại Ni Trường Dược Sư mãn khóa, Sư Bà về lưu trú tại Chùa
Phước Hòa, Sàigòn.
Năm 1964, được Sư
Bà Đàm Hướng giới thiệu đi du học ở Tây Đức, ngành Xã Hội Học. Thời gian
lưu học tại đây, Sư Bà vừa học vừa hướng dẫn tinh thần cho Sinh viên
Việt Nam du học.
Năm 1969, tốt
nghiệp ngành Xã Hội Học, Sư Bà về nước nhận lãnh Phật sự thuộc sở học,
sở tu của mình.
III-
TU TẬP và HÀNH ĐẠO :
Năm
1970, Sư Bà được Chư Tôn Đức Tăng Ni tín nhiệm giao phó Phật sự trong
chức vụ Giám Đốc Cô Nhi Viện Lâm Tỳ Ni tại Sàigòn.
Năm
1977, Sư Bà tìm đường vượt biên tại Vũng Tàu; đến đảo Kuchin-Malaya,
hoạt động Phật sự tại đây gần 2 năm.
Năm
1979, Sư Bà được Hòa Thượng Thanh Cát tọa chủ Chùa Giác Minh, Palo Alto
bảo lãnh sang Hoa Kỳ.
Năm
1980, Hòa Thượng đề cử Sư Bà về vùng San Jose để hành đạo và sáng lập
Chùa Đức Viên.
Khởi
đầu cho Chùa Đức Viên, Sư Bà thuê một ngôi nhà nhỏ hẹp, tọa lạc tại số
2003, Evelyn Ave., San Jose, CA 95122. Chùa tuy nhỏ hẹp, nhưng tấm lòng
của người hướng dẫn tinh thần lại bao la; do vậy, những Phật sự khiêm
tốn, nhưng vô cùng quan yếu sau đây được khởi sự :
·
Tu
Bát Quan Trai, tụng kinh, thuyết giảng, đáp ứng mọi nhu cầu Tôn Giáo cho
quần chúng Phật tử ly hương;
·
Mở
lớp dạy Việt Ngữ đầu tiên tại vùng San Jose;
·
Sinh
hoạt thanh thiếu niên, thành lập Gia Đình Phật Tử mang tên Đức Viên, quy
tụ trên 200 em;
·
In
kinh, sang băng giảng để cúng dường quý Chùa, tặng các Thư viện, ấn tống
cho Phật Tử, gửi tặng các trại tỵ nạn Đông Nam Á.
Vì nhu cầu tu học,
quần chúng Phật tử và đồng hương quy tụ quá đông, ngôi Chùa cũ đã không
đủ nơi dung chứa để đáp ứng nhu cầu Phật sự nên :
Năm 1984, Sư Bà
phát động Phật sự kiến lập Chùa chính thức. Khởi đầu cho công tác Phật
sự khá quy mô này, Sư Bà nghĩ ra một cách mà mọi người giàu nghèo đều có
thể đóng góp công sức, tài vật để gieo trồng căn lành với Tam Bảo, đó là
thu góp đồ phế thải : lon nhôm, ve chai, giấy báo, thùng cát-tông…bán để
gây quỹ xây chùa. Kẻ góp công sức, người giúp tài vật; kết quả :
Năm 1985, mua được
khu đất tương đối rộng và một ngôi nhà cũ để thỉnh Phật về an vị nơi đây
tiếp tục sự nghiệp tu tập, hoằng truyền Chánh Pháp.
Năm 1986, nhân
duyên Phật Pháp đưa đến, Sư Bà được sự ủng hộ và khuyến khích từ Chư Tôn
Đức Tăng, Ni đến thập phương thiện tín, nên đã mua tiếp lô đất kế cận
với tâm nguyện không những hoằng truyền Chánh Pháp, mà còn mang văn hóa
Dân tộc - được gói ghém qua hình ảnh ngôi chùa - vào đất lạ. Diện tích
chung cho cả hai lô đất này là 94,000 bộ vuông; đủ rộng để xây một ngôi
chùa mang tính biểu trưng cho một nền Văn Hóa cổ truyền Dân tộc gần
5,000 năm.
Năm 1991, ngôi Đại
Tự Đức Viên chính thức đặt viên đá đầu tiên để khởi sự một công trình
kiến thiết đúng với tầm cỡ hầu đáp ứng nhu cầu tu học của Ni Chúng và
quần chúng Phật tử.
Năm 1995, ngôi Đại
Điện được giấy phép chính thức sinh hoạt. Đáp ứng khả dĩ một số những
nhu cầu Phật sự quan trọng. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới đạt được phân nửa
tâm nguyện kiến thiết của Sư Bà. Nửa phần còn lại là Ni Xá, nhà bếp và
nhà ăn cho đại chúng chưa được thực hiện thì Sư Bà đã được “bổ xứ Phật
sự nơi khác”!!!
Từ ngày ngôi Đại
Điện Đức Viên chính thức sinh hoạt đến nay, các Phật sự sau đây được mở
rộng :
1)
Về phần thuyết
giảng
:
Đúng với hạnh
nguyện, Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học; Sư Bà đã cung thỉnh Chư Tôn
Đức thuộc nhiều truyền thống Phật Giáo : Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan,
Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản, Lào, Mỹ…về thuyết giảng. Riêng truyền
thống Phật Giáo Việt Nam đã có các bậc Cao Tăng và Pháp Sư sau đây đến
thuyết giảng : Hòa Thượng Tâm Châu (Canada); Hòa Thượng Thanh Cát, Hòa
Thượng Mãn Giác, Hòa Thượng Hộ Giác, Hòa Thượng Giác Nhiên, Hòa Thượng
Thanh Đạm (Hoa Kỳ); Thiền Sư Nhất Hạnh (Pháp); Hòa Thượng Tịnh Hạnh (Đài
loan); Thiền Sư Thanh Từ (Việt Nam); Thượng Tọa Như Điển (Tây Đức); Hòa
Thượng Minh Tâm, Thượng Tọa Thiện Huệ, Thượng Tọa Nhất Chân (Pháp); Hòa
Thượng Như Huệ (Úc); Thượng Tọa Trí Minh (Na Uy); Thầy Huyền Diệu (Ấn Độ).
Ngoài ra, Sư Bà còn y luật Phật chế cung đón tất cả chư vị Cao Tăng, Cao
Ni thăm viếng Mỹ quốc có dịp ghé qua thiểm tự Đức Viên để Ni Chúng được
đảnh lễ hầu tăng trưởng đạo phong, đạo lực.
2)
Chiêm bái Phật
Tích, Thánh Tích và Danh Lam Cổ Tự
:
Nhằm phát huy niềm
tin, thâm tín Tam Bảo, nỗ lực tu tập và tích cực Phật sự, Sư Bà đã tổ
chức nhiều chuyến hành hương chiêm bái Phật Tích tại Ấn Độ; các chuyến
hành hương chiêm bái Thánh Tích và thăm viếng danh lam cổ tự tại các
quốc gia Phật Giáo vùng Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện….
3)
Truyền bá giáo lý
:
Trong hạnh nguyện
Hiển Chánh, phá tà, Sư Bà không những tiếp tục cho in ấn kinh sách và
băng giảng để phổ biến trong quảng đại quần chúng, mà còn hỗ trợ các đài
phát thanh Việt Ngữ có chương trình phát thanh Giáo lý Phật Đà.
4)
Đào Tạo Ni Chúng
và Giúp Đỡ Hậu Học
:
Trong hạnh nguyện
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật Ân Đức, Sư Bà đã giáo dưỡng Ni Chúng hữu
duyên về xuất gia tu học tại Đạo Tràng Đức Viên nghiêm túc; gửi Ni
Chúng đi tham học tại các trung tâm tu học tại các quốc gia; cho Ni
Chúng theo học kiến thức phổ thông tại các trường Đại học Mỹ; ngoài ra,
Sư Bà còn yểm trợ tài chánh cho các Tăng, Ni Sinh du học tại các trường
Đại học ở Ấn Độ, Đài Loan, Hoa Kỳ cũng như bảo trợ các Trường Phật Học
tại quê nhà như Bà Đá, Quán Sứ (Hà Nội), Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm (Sàigòn),
và các tỉnh thuộc miền Trung, Nam như Huế, Quảng Nam, Thủ Đức, Trà Vinh…
5)
Bảo Tồn Di Tích và Phát Huy cơ sở
:
Bảo tồn di tích,
phát huy cơ sở Phật Giáo là một trong những Phật sự mà Người hằng quan
tâm; do vậy, Sư Bà đã tích cực yểm trợ các chương trình trùng tu các Cổ
Tự và danh lam tại Việt Nam; hưởng ứng các chương trình xây cất Tu Viện
tại Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ…
6)
Bảo Tồn Văn Hóa và Thể Hiện Lòng Từ
:
Để bảo tồn Văn Hóa,
thể hiện qua danh ngôn : “Tiếng Ta còn, Nước Ta còn”, Sư Bà đã mở Trường
Việt Ngữ Đức Viên để cho con em trau dồi Việt Ngữ. Thể hiện lòng từ bằng
cách khuyến khích Phật tử và đồng hương giúp đỡ đồng bào tại các trại tỵ
nạn, và gần đây nhất là tích cực trong việc yểm trợ đồng bào bị thiên
tai tại Việt Nam cũng như vùng Nam Mỹ; thăm viếng tù nhân, giúp đỡ các
trại cùi và các trung tâm trẻ em tật nguyền…
IV-NHỮNG NGÀY CUỐI
CÙNG :
Hữu thân hữu bệnh,
hữu sanh hữu tử đó là di huấn nằm lòng trong Kinh Phật. Sư Bà bị ít nhất
là 3 chứng bệnh nan y đã được Bác sĩ dự báo trong hơn ba năm qua : tiểu
đường, ung thư và bệnh đông máu. Nhưng, tâm nguyện hoằng truyền Chánh
Pháp và ý lực phục vụ chúng sanh là cúng dường Chư Phật đã khiến Sư Bà
quên đi mình đang là bệnh nhân cần được chữa trị; do vậy, đến khi căn
bệnh phát sanh tới hồi nguy kịch, thì Bác sĩ đành bó tay!!!
Điều
cần ghi nhận nơi đây là, mặc dù Phật sự đa đoan, nhất là những tháng gần
đây khi cơn bệnh được Bác sĩ thông báo là không trị được, nhưng Sư Bà
vẫn thản nhiên trong việc hành trì Pháp Môn không lúc nào xao lãng. Pháp
Môn hành trì của Sư Bà là Trì Chú và Niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc.
Sư Bà
chính thức xả bỏ báo thân, thâu thần nhập diệt, liên hoa hóa sanh vào
lúc 21 giờ 27 phút, ngày 09 tháng 02 năm Kỷ Mão; nhằm ngày 26 tháng 03
năm 1999. Thọ thế 67 năm; 48 hạ lạp.
Lễ
nhập quan nhục thân vào lúc 15 giờ, ngày 11 tháng 02 năm Kỷ Mão;
nhằm ngày Chủ Nhật, 28 tháng 03 năm 1999.
Lễ Di Quan Trà Tỳ
vào lúc 09 giờ 30 ngày 17 tháng 02 năm Kỷ Mão; nhằm ngày Thứ Bảy, 03
tháng 04 năm 1999.
NAM MÔ ĐỨC
VIÊN NI TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, LIÊN HOA HÓA SANH, MA HA TỶ KHƯU NI BỒ TÁT GIỚI
ĐÀM LỰU GIÁC LINH
TÁC ĐẠI CHỨNG MINH.
Kính bạch Giác
Linh Sư Bà,
Chúng con biết ghi
lại một vài dòng thô thiển về cuộc đời tu học và hành đạo của Sư Bà là
điều trái với tâm nguyện của Sư Bà; vì Sư Bà thường dạy chúng con :
Người tu là tập làm con nhạn bay giữa hư không, không lưu lại bất cứ
vết tích nào; hay như con hạc rời khỏi ao hoang, không hề lưu luyến.
Nhưng kể từ đây Pháp Âm của Sư Bà không còn trực tiếp rót vào tai chúng
con nữa; hình ảnh thân giáo của Sư Bà chúng con không còn diễm phúc nhìn
tận mắt; thì, những dòng tiểu sử đơn sơ này sẽ giúp nhắc nhở chúng con
noi theo hạnh nghiệp của Sư Bà trên đường tu học của chúng con. Biết
thương yêu nhau như ruột thịt; biết nhìn, biết hiểu và tha thứ cho nhau
những lỗi lầm, nếu có; biết quây quần, gắn bó bên nhau để sách tấn tu
tập; biết chia xẻ với nhau những khó khăn; và nguyện với nhau rằng dù có
gặp nghịch cảnh nào đi nữa, thì vẫn cố tập theo hạnh từ bi, hỷ xảvà nhẫn
nhục của Sư Bà để xứng đáng là kẻ “thừa tự Pháp của Sư Bà và nguyện
không làm người chỉ biết thừa tự tài vật của Sư Bà”.
Xin Sư Bà đại xá
cho chúng con những điều khiếm khuyết.
NAM MÔ TIẾP DẪN
ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT
Môn Đồ Pháp Quyến Hiệp Thập, Khể Thủ Kính Ghi
---o0o---
Sinh
Nhật một giọt sương
Các con,
Sáng nay đi thiền hành
thầy nghe tiếng của một giọt sương gọi. Giọt sương không gọi bằng âm
thanh mà gọi bằng những tia ánh sáng muôn màu. Thầy dừng lại, đến gần
giọt sương. Giọt sương nằm ở đầu một chiếc lá liễu buông dài như một
ngón tay. Giọt sương đã ôm lấy mặt trời và giọt sương tóe chiếu ánh
sáng muôn màu về phía thầy. Giọt sương rực rỡ không kém vầng thái dương.
Thầy chắp tay chào giọt sương và thầy nghĩ: Nếu mắt thầy thấy được giọt
sương đang tỏa chiếu hào quang thì ống kính của chiếc máy ảnh cũng thấy
được. Và thầy đã đi vào thư viện tìm chiếc máy chụp hình. Thầy đã kê
sát ống kính vào giọt sương và đã thành công ghi lại hình ảnh giọt sương
lấp lánh hào quang ngũ sắc.
Ban đầu thầy nghĩ giọt
sương trên đầu chiếc lá là một hiện tượng mong manh. Nhưng sau đó thầy
thấy giọt sương cũng có tính bất sinh bấát diệt. Buổi sáng nào đi thiền
hành qua cây liễu thầy cũng có thể thấy được giọt sương dù là trong một
bình minh sáng chói hay là trong một ngày trời âm u. Thầy đã thấy được
một lần rồi thì thầy có thể thấy được mãi mãi.
Sư bà Đàm Lựu của các
con là một giọt sương lóng lánh bất sanh bất diệt. Trong liên tiếp ba
Đại Giới Đàn Cam Lộ, Hương Tích và Nến Ngọc, Sư Bà đã có mặt để làm thầy
truyền giới cho các con. Các con đã được gần gũi và học hỏi nhiều lần
từ Sư Bà. Sư Bà đã đi xuất gia từ hồi còn tuổi nhỏ, đã trải qua nhiều
gian nan và trở ngại lớn lao và đã vượt thắng tất cả để thành công như
một người tu nữ. Tâm bồ đề của Sư Bà chưa từng bao giờ xao động. Chiếc
áo người tu Sư Bà tiếp nhận từ ngày xuất gia, Sư Bà đã trân quý mỗi ngày
“Đẹp thay áo giải thoát, áo ruộng phước nhiệm mầu, con cúi đầu chấp nhận,
ngàn đời nguyện mang theo”. Chí khí của Sư Bà cao khiết và hùng lực
không kém gì chí khí của một bậc nam tử, có khi còn cao khiết và hùng
lực hơn. Sư Bà đã nhiều phen tỏ bày đức vô úy, bất chấp mọi đe dọa, dù
những đe dọa ấy từ phía nào. Cái gì đúng và đẹp thì Sư Bà làm. Cái gì
không đúng và không đẹp thì Sư Bà nhất định không tham dự. Thầy đã
nhiều lần nghiêng mình trước đức vô úy ấy.
Sư Bà có nếp sống tâm
linh sâu sắc nhưng Sư Bà cũng là một mẫu người hành động. Bằng hai cánh
tay của mình, Sư Bà đã xây dựng lên cơ đồ hoằng pháp, với bao nhiêu trì
chí, kiên nhẫn và tình thương. Đồ chúng của Sư Bà được Sư Bà ôm ấp và
che chở như một bà mẹ. Ai cũng thấy được đức từ bi cao cả của Sư Bà.
Thầy có rất nhiều ân
nghĩa với Sư Bà. Từ gần bốn chục năm nay, bất cứ một đề xướng nào của
thầy trong phạm vi Phật sự, Sư Bà đều yểm trợ. Yểm trợ một cách thầm
lặng và yểm trợ một cách chính thức. Không có một buổi họp nào về tương
lai của người thanh niên học tăng mà Sư Bà không đến tham dự. Không có
một khóa tu nào cho người thanh niên học tăng mà Sư Bà không gửi đệ tử
tới học. Và chính Sư Bà cũng đến tham dự ban phát niềm vui trong các
khóa tu đầm ấm ấy. Một lần đi thăm khóa tu về, Sư Bà đã hát 'Boong,
boong, tôi là chuông đại hồng, ngôi chùa xưa trên đỉnh núi' khiến các Sư
cô đệ tử người nào cũng ngạc nhiên thích thú.
Tại Xóm Mới Chùa Từ
Nghiêm, Làng Mai, Sư Bà nói thầy là Mẹ Âu Cơ có một trăm con xuất gia.
Nhưng trong số các con, có ai không phải là con của Sư Bà? Con gái cũng
vậy mà con trai cũng vậy. Tất cả các con đều là con của Sư Bà, bởi vì
có đứa nào mà đã không được Sư Bà thương yêu và chăm sóc? Các con có
nhớ ngày thầy trò mình thăm viếng trong mùa thu năm ngoái không? Sư Bà
đứng tên cùng bảo trợ khóa tu, thời thuyết giảng công côïng cho đông đảo
đồng bào và buổi đi khất thực trong Công Viên San Jose và trong Chùa Đức
Viên...
Sư Bà còn đó, như một
giọt sương long lanh ngàn đời bất diệt. Mỗi buổi sáng, ta đều có thể
thấy được Sư Bà. Ngày hôm nay là sinh nhật của Sư Bà. Ngày hôm nay là
ngày sinh nhật của người tu nữ ấy. Ngày nào cũng là ngày sinh nhật của
người tu nữ ấy. Các con hãy viết mỗi người vài dòng để làm quà sinh nhật
cho người.
---o0o---
Hàng Trang Lên Đường
Hành trang một chuyến lên
đường,
Sư bà Đàm Lựu tỏ tường sắc không.
Hiện thân làm kiếp má hồng,
Xuất gia tu đạo thuộc giòng Đức Viên.
Danh thơm vang bóng cửa thiền,
Huân tu giới luật lưu truyền hậu lai.
Hoa Kỳ thiết lập Phật đài,
Đức Viên cảnh tự hoằng khai đạo mầu.
Sớm chiều vọng tiếng nguyện cầu,
Muôn dân ngưỡng mộ cúi đầu quy y.
Hoa vàng nở nhụy từ bi,
Hương trầm ngát tỏa, bay đi khắp vùng.
T.T.
Thích Minh Thông
---o0o---
Cảm niệm Sư Bà
Đức Viên
NHÂN DUYÊN GẶP GỠ :
Lần đầu tiên tôi gặp Sư
Bà Đức Viên trên đất Mỹ vào khoảng đầu năm 1980, tại Chùa Giác Minh,
Palo Alto, California, Hoa Kỳ. Trực tiếp chào hỏi và được Sư Bà cho biết
là mới qua Mỹ được một tuần. Trên xe về San Jose, Pháp hữu tôi, Thầy
Tịnh Từ, cho biết thêm là Sư Bà có du học tại Tây Đức và khi về nước
chuyên lo về Cô Nhi Viện. Đó là những gì tôi biết về Sư Bà trong lần gặp
gỡ đầu tiên.
Bẵng đi một thời gian,
một hôm Sư Bà đến thăm anh em chúng tôi tại Chùa Từ Quang, San
Francisco. Cùng đi, có một Thầy vừa từ đảo mới qua. Thầy này không ai
khác hơn là Thầy Minh Đức. Lần này được thăm viếng lâu và được nói
chuyện rất nhiều. Nói chuyện nhiều, nhưng không phải “nhiều chuyện”. Nhờ
vậy mà mối đạo tình của những người tha hương có cùng chí hướng hoằng
truyền Chánh Pháp trở nên thắm thiết. Sau lần này, cứ mỗi lần có dịp về
San Jose là tôi không quên ghé thăm Sư Bà. Hình như lần nào ghé thăm
cũng vậy, tôi chưa được thấy Sư Bà ăn mặc “tươm tất” từ trong nhà hay
trong phòng bước ra chào hỏi, mà từ ngoài vườn bước vào. Trông người rất
lam lũ, nhưng trên mặt luôn đượm một nụ cười tươi. Có lẽ Bà đã học thuộc
và thực tập Kinh Quán Niệm Hơi Thở đâu hồi còn là “bạch xỉ” ? Nếu không
thế, thì khó có được một nụ cười hiền hậu và tươi mát như vậy!
• PHƯỚC DUYÊN
TRÙNG PHÙNG :
Sau khi mua được hai lô
đất, nơi tọa lạc Chùa Đức Viên hiện tại, tôi lại được phước duyên trùng
phùng cùng Chư Tôn Đức Tăng, Ni dự lễ đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng ngôi
chùa lịch sử, gói ghém vóc hình Văn Hóa Việt ngàn đời. Tôi sung sướng,
cộng thêm một chút “phân bì” : “Sao cô Ni này giỏi thế” ?
Một hôm ghé thăm gặp lúc
nhà thầu đang đổ móng và tầng dưới của Chánh Điện. Trông thật kiên cố.
Lần đầu tiên tôi thấy trên đất Mỹ. Khi mời nước, tôi đùa, hỏi Sư Bà :
- Trên đất Mỹ
này, ngoài bê tông, cốt sắt đổ móng cho chắc, Sư Bà biết còn loại gì đổ
móng chắc chắn hơn nữa không ?
- Thứ gì nữa,
Thầy nhỉ ?
- Thùng cát
tông, giấy báo, lon nhôm !
- Những thứ ấy
là vật liệu của Thầy chế đấy, chứ đâu phải của Mỹ, Sư Bà cười đáp.
Thật vậy, có
lần tôi vừa ghé vào, thì Sư Bà cũng vừa lái chiếc xe Van chở đầy những
thùng cát tông và giấy báo từ các tiệm tạp hóa về. Chiếc xe Van mà một
Phật tử công quả hằng ngày tại chùa đặt cho một cái tên Mỹ rất lịch sự :
Recycle Van ! Chữ Recycle Van trong trường hợp này có hai nghĩa: nghĩa
thứ nhất là xe Van chuyên dùng để chở “đồ recycle”; nghĩa thứ hai là một
chiếc xe Van cũ “vớ”ù được đâu đóù , đem về nhờ ai đó, sửa chữa sao đóù,
rồi dùng để chở “đồ recycle”. Nghĩa nào cũng dễ thương, và nghĩa nào
cũng chuyên chở được hạnh nguyện lợi tha cả. Tôi không lấy gì làm ngạc
nhiên, sau khi Sư Bà tịch, người ta ví von “vị Ni Sư dính liền với
chuyện nhặt giấy vụn, vỏ lon xây được chùa lớn”. Thêm vào đó, như để
đóng góp vào kho tàng Văn Chương Bình Dân của thế hệ hải ngoại, Chùa đã
bắt đầu có “Nick name”ø : “Chùa Bà Lon” !
• MỘT LẦN
THĂM BỆNH :
Tôi được tin (từ một
Pháp Hữu) Sư Bà bệnh thật trễ. Mặc dù tuần nào tôi cũng được gặp quý Sư
Cô từ Đức Viên về Quang Nghiêm để cùng tôi đọc lại Kinh Phật. Tôi nhớ là
không tuần nào tôi không mở đầu bằng một câu hỏi có liên quan đến sức
khỏe của chư vị Tôn Đức có đại chúng cho về cùng đọc Kinh với tôi; thế
mà khi hay tin thì Sư Bà đang ở hồi nguy kịch! Tôi đoán, một là, Sư Bà
coi sự sống chết bình thường. Chết cách nào cũng là chết, chỉ cần sống
cho “hợp Đạo” mới là điều đáng quan tâm. Thứ hai, Sư Bà sợ các học trò
của mình chưa đạt được trình độ cao như mình, nên khi nghe đến Thầy bệnh
nan y là hoảng hốt, là lo sợ, sẽ ảnh hưởng đến cách sống “hợp Đạo” hằng
ngày, nên không nói cho ai biết. Có lần tôi ghé thăm vào lúc xế chiều,
quý Sư Cô cho biết là Sư Bà vừa từ bệnh viện mới về sáng nay. Nhưng lạ
thay, Sư Bà đang tụng kinh, lạy Phật trên Chánh Điện gần hai giờ đồng hồ
rồi ! Tôi thấy Sư Bà tinh tấn tu tập như vậy mà tự thương cho chính mình.
Tôi rơm rớm nước mắt. Những giọt nước mắt rơm rớm này đã thực sự chảy ra
mà tôi không thể nào ngăn được, khi tôi đối diện trước Di Ảnh của Người,
hôm tôi hướng dẫn đại chúng về phúng viếng nhục thân Sư Bà lần cuối cùng.
• ÂN NGHĨA
NGHÌN TRÙNG :
Khoảng 10 ngày trước khi
Sư Bà tịch, Sư Huynh tôi, Thầy Tâm Thọ, từ Washington D.C. gọi về bảo :
- Nghe nói Sư
Bà Đức Viên bệnh nặng, Minh Đạt đi thăm chưa ?
- Dạ rồi !
- Trực tiếp
đến thăm chứ không phải gọi điện thoại đâu nghe !
- Dạ.
- Huynh đệ
mình mang ơn Sư Bà lớn lắm đó nghe !
- Dạ.
- Ở gần đó có
ba huynh đệ, nhưng Tịnh Từ, Thiện Tường, tôi nghĩ chưa biết chuyện ơn
nghĩa lớn lao này đâu…..
Sự thật thì
tôi cũng không hơn gì hai Pháp hữu của tôi vừa kể.
Huynh tôi còn dặn dò
nhiều chuyện nữa, nhưng tuyệt nhiên Ông không nói cho tôi biết đại loại
ơn nghĩa như thế nào. Tôi biết đây không phải là chuyện mang tính triết
lý, mà là chuyện “thiệt”. Ông ngang nhiên gác điện thoại. Hôm sau tôi
gọi lại để biết rõ hơn câu chuyện ơn nghĩa. Vào đề, Huynh tôi tỉnh bơ
như ngày nào còn trong Học Viện Huệ Nghiêm :
- Sao ông cù
lần quá vậy, Minh Đạt !
- Bộ Thầy
tưởng hễ ai ở Huệ Nghiêm là phải biết hết mọi chuyện à ?
- Từ năm 70
đến năm 75, hằng tháng, tháng nào Sư Bà cũng chở đầy một xe “Lam” nào
gạo, muối, đường, bột ngọt, nước tương và rau cải tươi vào tiếp tế cho
tụi mình. Ông cứ vùi đầu lo học, ba chuyện đó không biết !…(Thật vậy,
những thứ đó toàn là loại nhu yếu phẩm của anh em tụi tôi trên dưới 100
người vào thời điểm ấy. Lúc bấy giờ mà có được bó rau muống “tươi” luộc,
lấy nước cho vào chút bột ngọt để ăn với cơm là anh em tụi tôi có cảm
giác như đã dọn về ở gần biên giới Cực Lạc!) Sao, hôm qua nay đi thăm Sư
Bà chưa ?
- Dạ có gọi
điện thoại.
- Gần xịt đó,
lái xe tới mà thăm, ngồi đó mà gọi điện thoại.
- Dạ!….
Thì ra là vậy. Cám ơn Sư
Bà đã Thị Bệnh. Nếu Sư Bà không bệnh, thì tôi cũng còn lâu lắm mới biết
được câu chuyện “ân nghĩa nghìn trùng” này. Tới giờ này, tôi cũng không
biết Sư Bà có biết tôi xuất thân từ Huệ Nghiêm không nữa ? Nhưng tôi
chắc là phải biết. Thế mà, gần 20 năm gặp Sư Bà, cùng sinh hoạt Phật sự
trong một vùng, được nhiều lần nói chuyện với Sư Bà, Người chưa một lần
hỏi tôi, “Thầy ở Huệ Nghiêm năm nào nhỉ?” Thật đúng là “nhạn bay giữa
lừng; hạc rời đầm nội”!!!
• NHÂN DUYÊN
THÙ THẮNG :
Chưa hết, còn một nhân
duyên thù thắng nữa mà tôi phải tạc dạ khắc ghi. Đầu năm 1989, Sư Bà gọi
chúc Tết tôi. Sau câu chuyện Tết, Sư Bà mời tôi tham gia phái đoàn Hành
Hương Đất Phật. Tôi từ chối, vì nhiều lý do; trong đó có lý do: không ai
coi ngó chùa chiền.
“Thầy phải buông nó đi,
ở đó đợi cho có người coi ngó thì biết tới chừng nào”! Tôi chưa kịp trả
lời, Sư Bà tiếp : “Nếu có thêm lý do tài chánh nữa, thì con xin mách để
Phật tử hỗ trợ Thầy”.
Xin mở một dấu ngoặc nơi
đây để nói về chữ “con”. Bất kỳ lớn nhỏ, cao hạ hay thấp hạ, hễ Chư Tăng
đã thụ Đại Giới rồi là Sư Bà một mực kêu Thầy, xưng con ngọt. Đó là chưa
kể việc thủ lễ đúng như Luật Phật chế. Tôi chứng kiến một vài thầy còn
trẻ, khi nói chuyện tự xưng con với Sư Bà, thì Sư Bà bảo : “Ấy, Thầy
xưng hô như vậy không “hợp Đạo”, Hộ Pháp quở cho!” Tôi thật sự kính
trọng Sư Bà và chưa bao giờ dám nhận đủ lễ mà Sư Bà dành cho tôi, ngoại
trừ khi ngồi giữa một Đại Tăng đông đảo.
Trở lại chuyện Hành
Hương Đất Phật. Chuyện này hơi dài dòng, nhưng liên quan đến Kinh Điển
nên phải kể. Kinh kể rằng, Đức Phật bảo : “Sau khi Ta diệt độ, những ai
đầy đủ nhân duyên, phước đức mới được chiêm bái Tứ Động Tâm”. Tức là bốn
Thánh Địa quan trọng. Không một ai nhiệt tâm cầu đạo mà đến một trong
bốn nơi ấy mà lòng mình không bồi hồi, xúc động. Do vậy gọi là “động
tâm”. Bốn nơi đó là : nơi Phật Đản Sanh, nơi Phật Thành Đạo, nơi Phật
Chuyển Pháp Luân, và nơi Phật Nhập Niết Bàn. Hồi thế kỷ Thứ Bảy, ngài
Huyền Trang, một trong những Cao Tăng Trung Hoa, lần đầu tiên đến Song
Lâm, nơi Phật Nhập Niết Bàn, Ngài đã sướt mướt đôi dòng lệ mà than rằng
: “Phật tại thế thời ngã trầm luân, kim đắc nhơn thân Phật diệt độ. Áo
não thử thân đa nghiệp chướng, bất kiến Như Lai Kim Sắc thân”(Lúc Phật
tại thế thì con trầm luân; nay được thân người thì Phật Diệt Độ. Tội cho
thân này nhiều nghiệp chướng, nên không thấy được Kim Thân Phật).
Tôi thuộc bài thơ này
hồi còn là một Tăng sinh trẻ, nhân khi học kinh có nhắc đến Tứ Động Tâm.
Tôi ước ao và lập nguyện : “Trong đời tu tập của mình làm sao được đủ
duyên lành để chiêm bái Tứ Động Tâm một lần”. Chính vì vậy, khi nghe Sư
Bà nhắc : “Thầy phải buông nó đi, ở đó đợi có người coi ngó thì biết đến
chừng nào”, tôi như sực nhớ một điều gì xa xăm, rồi đồng ý. Lẽ ra thì
tôi phải nói lời cảm ơn đến Sư Bà mới phải, nhưng Sư Bà lại “ngược dòng
đời” bằng câu : “Cám ơn Thầy đã giúp duyên cho con!”
Câu chuyện viếng thăm
Đất Phật lợi lạc đối với tôi ra sao, tôi đã có dịp trình bày đâu đó đôi
ba lần, nay không đề cập đây nữa. Tôi muốn nhân cơ hội này hình dung lại
con người của Sư Bà trong chuyến hành hương đó. Trong chuyến hành hương
đó, tôi có đến ba phước duyên. Phước duyên thứ nhất và cũng là lớn nhất,
quý báu nhất trong cuộc đời tu tập của tôi, vì đã đáp ứng trọn vẹn tâm
nguyện của tôi hơn 30 năm trước, khi còn là một Tăng sinh; đó là được
chiêm bái hầu hết các Thánh Địa mà kinh còn ghi lại. Phước duyên thứ hai
là được đi xe buýt có máy lạnh đàng hoàng, trong suốt thời gian lưu trú
trên Đất Phật; lý do là chuyến đi này trong phái đoàn có một vị Hòa
Thượng trên 83 tuổi đời. Phước duyên thứ ba là được ăn uống đầy đủ.
Chính điều “ăn uống” này là điều tôi muốn nhấn mạnh. Sư Bà cũng có mặt
mọi nơi như chúng tôi. Tôi không nghĩ là Sư Bà không mệt. Ấy thế mà đến
nơi nghỉ ngơi để ăn uống là Sư Bà tự tay bày biện mọi thức ăn cho Chư
Tăng. Thôi thì bày biện, chúng ta cứ cho là dễ đi, nhưng nếu không nghĩ
đến người khác, không chuẩn bị, không nấu nướng từ đêm trước thì lấy đâu
mà bày biện ?!!! Nghĩ đến người khác là một trong những hạnh nguyện lợi
tha của người thực tập Bồ Tát Hạnh.
Thì ra, khi mọi người
mệt nhoài, vùi đầu nghỉ ngơi, thì Sư Bà âm thầm lo những thức ăn cho cả
đoàn trên 20 người, bất kể Tăng, Tục cho ngày hôm sau. Bây giờ tôi thật
thấm thía câu : “Người thực tập hạnh Bồ Tát là lấy cái vui của người làm
cái vui của mình”.
• CHÀO NGƯỜI
LẦN CUỐI :
Trưa ngày Thứ Sáu, 26
tháng 03 năm 1999, lúc 12 giờ, tôi được điện thoại quý Sư Cô cho hay là
Sư Bà “Yếu”. Lúc này Tăng chúng tại Chùa đang chỉ tịnh; tôi không muốn
làm động niệm quý Chư Tăng, nên tự lái xe đi một mình. Đến nơi, tôi xin
được vào tận nơi Sư Bà đang tịnh dưỡng với hy vọng chào Người lần cuối.
Tôi thấy Sư Bà đang khó thở. Trông Người vẫn tỉnh táo. Mắt mở nho nhỏ,
nhưng rất trong suốt và có thần. Tôi chắp tay vái chào; đứng lặng yên,
chăm chú, nhìn những “sinh hoạt” cuối cùng của Sư Bà. Thỉnh thoảng Sư Bà
ngậm miệng lại, rồi mở ra như để mong cho mớ hơi tàn còn sót lại trong
buồng phổi trút sạch hầu dễ dàng bước vào thế giới Vô Sanh.
• THÊM MỘT
PHƯỚC DUYÊN :
Tiếng niệm Phật của quý
Sư Cô vẫn đều đều vang vọng đầy cả căn phòng. Một lần nữa, tôi lại thêm
một phước duyên được tắm mình trong tiếng niệm Phật thật thanh tịnh,
toát ra từ những tâm hồn thanh tịnh. Thì ra, tôi cũng đã hòa hài niệm
Phật cùng với quý Sư Cô từ lúc nào tôi không để ý. Có điều tôi biết rõ
là, không phải tôi niệm Phật “cho Sư Bà”, mà là niệm Phật “với Sư Bà”.
Vì tôi tin chắc rằng trong khi Sư Bà nằm yên bất động, nhưng tâm Người
vẫn hằng tỉnh giác và chưa từng rời câu Niệm Phật.
• ĐẾN ĐI VÔ
NGẠI :
Khi làn hơi cuối cùng từ
giã buồng phổi của Sư Bà lúc 9 giờ 27 phút tối, tôi nghe tiếng Niệm Phật
lớn hơn. Tất cả khuôn mặt của những người hiện diện, không ai hẹn ai,
nhưng đều đượm một vẻ buồn. “Buồn” vì nhiều lẽ; quý Sư Cô đệ tử buồn vì
biết bực Minh Sư giáo dưỡng đã thực sự ra đi. Các hàng Phật tử buồn vì
lẽ biết từ đây mình không còn được phước duyên thân cận, học hỏi với một
bậc chân tu đạo hạnh tại đạo tràng Đức Viên này nữa. Các bậc đồng môn
buồn vì lẽ vắng đi một Pháp lữ đồng hành, một người đắc lực trong chí
nguyện hoằng truyền Chánh Pháp nơi cõi “Ngũ trược ác thế” này. Các bậc
bề trên buồn vì lẽ mất đi một cánh tay thừa hành Phật sự… Đó là đứng
trên phương diện Tục Đế. Ở bình diện Chân Đế thì, tất cả mọi người thực
tập và thâm nhập lời Phật dạy, chưa từng thấy Sư Bà sanh ra chứ đừng nói
đến Sư Bà tịch diệt. Nhưng, Chân Tục nếu không giao thoa thì khó mà gọi
là Đạo Phật.
Tôi tin rằng, tâm nguyện
của Sư Bà là tâm nguyện đứng trên hai lãnh vực Chân, Tục giao thoa đó để
đạt đến hạnh nguyện :
ĐẾN ĐI VÔ NGẠI ĐỘ QUẦN
SANH ảm niệm nhân ngày “Chung Thất” (và được nhìn Xá Lợi) của “Người
Đi”.
Thích Minh Đạt
---o0o---
TÂM HẠNH NGƯỜI ĐI
Bàn tay
Trì Địa
Thơm nỗi
nhọc nhằn
Một ánh
trăng rằm
Ngàn con
nước hiện.
Mắt từ
Quan Âm
Thương đàn con dại
Nào đâu
oan trái
Cũng lặng
môi cười.
Nguyện lớn
Phổ Hiền
Vun bồi
vườn đức
Giữa dòng
nước đục
Ghi dấu
chân qua.
Một niệm
Di Đà
Rót vào
thinh lặng
Ngàn hoa
thấm nhuận
Cõi Phật
trời Xuân.
Sống giữa
đời hư
Lòng như
mây trắng
Lô Sơn
muôn dặm
Ngã bóng
về đây.
Tấm thân
trần lụy
Thoát hóa
lưu ly
Dép cỏ ra
đi
Trời quê
sen nở.
nguyênhạnh
---o0o---
Nhớ Sư Bà Đức Viên
Chiều nay, ngồi bên cửa
sổ, nhìn ráng chiều với nhiều màu rực rỡ, tôi chợt nghĩ đến Sư Bà. Tôi
liên tưởng đến những mầu sắc tươi đẹp chiếu lên từ những viên Xá lợi mà
Sư Bà lưu lại cho đời. Tôi cũng nhớ đến những viên Xá lợi vô hình nhưng
lóng lánh tinh anh trong tâm khảm của nhiều người. Đó là những công hạnh
mà Sư Bà đã làm trong quá khứ để làm cho đời thêm đẹp, thêm thương, và
để vơi đi những niềm đau, nỗi khổ.
Thời gian
trôi qua mau quá! Lần đầu tiên tôi gặp Sư Bà vào khoảng năm 1971 thì
phải. Lần đó, cùng với những anh em trong Đoàn Công Tác Xã Hội thuộc
Tổng hội Sinh viên Đại học Vạn Hạnh, tôi đến thăm Sư Bà và các em tại
Lâm Tỳ Ni. Trong lần gặp gỡ đó, tôi thấy hơi ngỡ ngàng trước những hành
động tự tại của Sư Bà: tự mình lái xe ra khỏi Cô nhi viện và trên tay
mang theo một túi xách nhỏ mà tôi thường thấy trên tay của những người
đàn bà quý phái. Anh em sinh viên chúng tôi, trong đó có nhiều Tăng sinh
trẻ rất thán phục phương cách làm việc của Sư Bà ở Lâm Tỳ Ni: làm việc
rất nhiều trong tự tại, có cách đối xử rất thoải mái, và có thái độ tự
tin vào công việc mình làm. Tôi hơi ngạc nhiên khi vào nơi thờ Phật để
lễ Phật, dường như ở trên lầu thì phải, tôi thấy trên bàn thờ có một hộp
nhỏ hình chữ nhật. Hộp được để trên bàn thờ và trên đó có ba chữ Kinh,
Luật, Luận. Sau nầy, có dịp may tiếp xúc với Sư Bà nhiều hơn, tôi biết
được là ngay từ hồi còn rất trẻ Sư Bà luôn tâm niệm đến việc học tập và
truyền bá Tam Tạng Thánh điển mà Đức Phật và chư Thánh chúng đã để lại
cho đời.
Hai mươi năm
nay, được thân cận và cộng sự với Sư Bà, nhiều lần tôi cúi đầu thán phục
trước lòng hiếu học của Sư Bà. Dù bận rộn rất nhiều với việc kiến tạo
ngôi phạm vũ trang nghiêm, với việc dạy dỗ các Ni sinh đang tu học ở
chùa Đức Viên, với việc hướng dẫn Phật tử trong việc tu tập, hoặc với
việc lắng nghe lời tâm sự của những nữ Phật tử đang gặp việc khổ đau
trong cuộc sống, Sư Bà không xao lãng trong việc học tập thêm Kinh, Luật,
Luận. Sư Bà chịu khó nghe băng giảng không những của các bậc Thiền đức
mà nghe luôn cả những cuộn băng thu lại những bài giảng của quý Thầy Cô
thuộc lớp học trò của chính Sư Bà. Được một quyển Kinh, Luận mới Sư Bà
bao giờ cũng tìm giờ để đọc. Trong việc nghiên tầm Kinh Luận nầy, Sư Bà
bao giờ cũng giữ lòng cẩn trọng và không thiên kiến. Nếu có người hiểu
khác mình, Sư Bà không bao giờ có niệm phiền hà trong việc lắng nghe
kiến giải của người. Có lần, trong lúc ngồi nói chuyện
vui tại Chùa, tôi nói
đùa “ Sư Bà ham học quá. Học nhiều như Thiện Tài Đồng tử trong Kinh Hoa
Nghiêm hay như ngài Triệu Châu trong thiền sử Trung Hoa. Ham học như vậy,
ai theo cho kịp?” Với nụ cười tự tại rất dễ thương, Sư Bà trả lời “Không
dám. Có nhiều việc phải học lắm Thầy ạ. Học Kinh Luận tôi không thấy
chán.” Học nhiều, đọc nhiều không phải vì Sư Bà muốn chất chứa thêm tri
thức nhưng vì Sư Bà muốn biết thêm những cái nhìn khác nhau của học
nhân về Chánh Pháp hầu giúp người đời tìm ra phương thức thích hợp cho
họ để chuyển hóa khổ đau, ràng buộc.
Tự mình
thích học nên Sư Bà bao giờ cũng sẵn lòng giúp đỡ cho những người hiếu
học. Ngoài việc khuyến khích các đệ tử của mình học thêm hoặc tại các
trường đại học, hoặc tại những trung tâm tu tập khác, Sư Bà còn để tâm
giúp người khác trên con đường học tập của họ. Nghe Thầy Cô nào muốn học
thêm để sau nầy việc hoằng pháp lợi sanh được hữu hiệu hơn, Sư Bà giúp
ngay mà không bao giờ để ý đến những vị đó thuộc giáo hội nào, sơn môn
nào, hay thuộc địa phương nào. Ai cần tiền mua sách, Sư Bà biếu. Ai
thiếu tiền học phí, Sư Bà giúp cho để đóng. Biết Thầy Cô nào túng thiếu
mà ngại nhận sự giúp đỡ của mình thì Sư Bà nhờ người khác giúp thế bằng
tịnh tài của chính Sư Bà. Không một điều kiện đặt ra và không bao giờ có
ẩn ý trong việc giúp đỡ của Sư Bà. Ngay đến khi gần viên tịch, nằm trên
giường bệnh, Sư Bà còn nhắc nhở đến sự cúng dường cho việc học tập của
một số Thầy Cô ở Ấn Độ, ở Việt Nam và ở Mỹ trong đó có những vị Sư Bà
chỉ biết tên mà chưa bao giờ gặp mặt. Trong việc giúp đỡ cho những Tăng
Ni học tập, Sư Bà bao giờ cũng hướng đến lợi ích của quần sanh, đến lợi
ích chung cho Phật giáo, và không mong người nhận biết đến việc làm của
Sư Bà.
Riêng mình,
Sư Bà không vướng phải nạn “thế trí biện thông” hay vào việc phân chia
nhân ngã để đi đến việc “đấu tranh tác Phật.” Kiến thức về các pháp môn
thì rộng rãi nhưng về mặt hành trì, Sư Bà lúc nào cũng lấy Tịnh tông làm
bổn sở. Tu thì chuyên về Tịnh độ nhưng trong việc hoằng pháp lợi sanh Sư
Bà luôn sẵn lòng tạo điều kiện cho những pháp môn khác được hoằng truyền
nơi trú xứ của Sư Bà: nào Kim Cang thừa do những ngài Lạt Ma Tây Tạng
dạy, nào thiền Minh Sát do quý ngài trong truyền thống Nguyên Thủy chỉ
bày, nào thiền Chánh Niệm do thầy Nhất Hạnh hướng dẫn. Thương người Việt
đã đành, Sư Bà còn mở lòng xót thương người Mỹ. Nhiều khi, không ngại
tốn kém, Sư Bà mời những nhà Phật học từ những nơi xa về đến chùa để
thuyết giảng bằng tiếng Mỹ. Khi chúng tôi băn khoăn về chi phí, Sư Bà
chỉ cười, nụ cười tự tại cố hữu, và trả lời : “Không sao đâu Thầy. Chỉ
cần một người phát tâm tu, phát tâm bồ đề, hay thấy đời vơi đi cái khổ
thì tôi đã mừng rồi.”
Trong việc
tu tập, hoằng truyền chánh pháp, và tiếp xúc với đời, Sư Bà thường nhắc
đến câu: “Nội cần khắc niệm vi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức” và
“thâm tín chư Phật giai sung mãn.” Có lẽ nhờ tâm niệm đó mà Sư Bà đã để
lại cho đời nhiều bài học sống. Trong hai mươi năm qua, làm việc gần với
Sư Bà, tôi chưa từng nghe Sư Bà mở miệng khen mình chê người. Nếu có nói
chăng, Sư Bà bao giờ cũng tìm chỗ tốt của người để nhắc kể cả khi nhắc
đến những người, vì lý do nầy hay lý do khác, đã làm tổn hại đến Sư Bà.
Một lần nọ, không biết vì lý do nào, Sư Bà bị mắng trách một cách nặng
nề. Quý Cô trong Chùa biết nên có ý não phiền nhưng Sư Bà thì vẫn an lạc
và tự tại. Sư Bà nhắc chị em: “Ân thì mình phải nhớ, còn oán thì nhớ để
làm gì?” Người ta có lỗi, Sư Bà không vì thế mà sanh thêm phiền não để
đi vào đau khổ. Nếu có nhắc đến lỗi chăng, Sư Bà luôn nói trực tiếp với
người phạm lỗi với lòng thương yêu, tha thứ, và muốn cho người đó thoát
được lỗi lầm. Nếu Sư Bà có lỗi, dù là lỗi nhỏ, khi được người nhắc Sư Bà
cũng thành tâm sám hối. Một lần, vào mùa lạnh, Sư Bà mặc áo choàng lạnh
bên ngoài chiếc áo tràng nâu. Một Sư cô còn nhỏ, người Trung Hoa, thấy
vậy nên nói với Sư Bà: “Áo tràng của người tu đẹp quá, sao Sư Bà lại lấy
áo kia che mất nó đi?” Không biện minh, Sư Bà chắp tay xin lỗi, cám ơn
người nhắc, và cởi áo choàng ra. Từ đó về sau, tôi không thấy Sư Bà mặc
áo gì phủ lên chiếc áo tu hành mà Sư Bà đã trân quý thương yêu từ thủa
nhỏ.
Có dịp làm
việc gần với Sư Bà, nhiều lần tôi thán phục trước việc tu hành tinh tấn
và niêm mật của Sư Bà. Một lần cùng đi Ấn Độ hành hương, khi đến Bồ Đề
Đạo Tràng thì trời vào chiều. Sau bữa ăn tối, mệt quá sau mấy ngày ngồi
trên xe, tôi ngủ vùi và nghĩ sẽ được ngủ trưa vào sáng hôm sau. Đến độ
bốn giờ khuya thì nghe người gõ cửa phòng. Khó chịu nhưng tôi vẫn dậy để
mở. Hoá ra Sư Bà muốn ra Đại tháp để đảnh lễ Kim Cang Tòa nhưng vì chỗ
lạ không dám đi một mình đành phải nhờ tôi cùng đi. Khi Sư Bà và tôi đến
Đại tháp thì hỡi ôi cửa rào còn đóng. Không biết làm sao, tôi leo rào
vào trong để tìm người gác cổng, cho tiền ông ta để mở cửa cho Sư Bà vào.
Ông ta càu nhàu gì đó bằng tiếng Ấn, nhưng cũng ra mở cổng. Khi vào được
bên trong, mặt Sư Bà tươi như hoa, cảm ơn người gác cổng và đi thẳng vào
trong để đảnh lễ cội Bồ Đề. Nhìn Sư Bà lạy Kim Cang Tòa và cây Bồ Đề
vớùi tất cả tâm thành, lòng tôi sanh hoan hỷ và quên hẳn việc phải thức
sớm và chưa kịp uống cà phê. Nhiều lần cùng Sư Bà đến Khổ Hạnh Lâm nơi
Đức Thích Ca tu khổ hạnh, và núi Linh Thứu nơi Ngài thuyết Pháp Hoa Kinh,
tôi ngạc nhiên trước sự hăng hái của Sư Bà. Trời nóng như thiêu, núi cao
chớm chở, đường dốc quanh co nhưng lần nào Sư Bà cũng lên đến đỉnh trước
mọi người. Hỏi bí quyết, Sư Bà trả lời “nhờ Tam Bảo cả.” Quả thật lòng
mong cầu được đến với Đức Phật đã làm cho Sư Bà tinh tấn bước đi và quên
điều nhọc mệt. Một lần khác, tôi cùng Sư Bà và một số Phật tử đi thăm
chùa Lục Dung ở Quảng Châu, lúc ra về thì thấy Sư Bà mất dạng. Một Phật
tử và tôi đi tìm. Khi gặp Sư Bà thì thấy Sư Bà đang quét chùa. Thì ra,
Sư Bà thấy du khách tới nhiều và có người xả rác làm bẩn đất chùa nên Sư
Bà phát tâm quét dọn. Tìm được cây chổi ở đâu đó, Sư Bà làm việc quét
chùa một cách tự nhiên và quên đi chính mình cũng là du khách. Thấy vậy,
tôi đọc cho vị Phật tử cùng đi bài kệ “hằng tảo Già lam địa, thời thường
phước huệ sanh, nhược vô tân khách đáo, tắùc hữu thánh nhân hành.” Nghe
tôi đọc, Sư Bà chỉ cười, nụ cười của một người hoan hỷ vì vừa góp phần
cụ thể vào việc làm trang nghiêm Tịnh độ.
Bi có rất
nhiều và như mây đẹp chở che nhưng trí tuệ của Sư Bà cũng vượt tầm thế
giới. Nhiều lúc, Sư Bà đã làm những việc làm mà nhiều bậc nam nhân cũng
cúi đầu thán phục.
Có một lần,
mấy năm trước đây, khi Hòa Thượng Thanh Từ sang Mỹ, Sư Bà đã y theo Bồ
Tát Giới và cung thỉnh Thầy thuyết giảng tại trú xứ của Sư Bà. Một số
người không hiểu được lòng ham tu tập và quý trọng Phật pháp của Sư Bà
nên đã có những niệm giận hờn, tức bực, và nghi kỵ. Họ đã dùng hết những
từ hạ tiện nhất của thế gian để mắng chửi, chụp mũ, và mạ lỵ Sư Bà trên
đài phát thanh, trên báo chí, và trước cổng Chùa. Trước việc nầy, Sư Bà
vẫn một lòng nhẫn nhịn và tôi chưa từng thấy Sư Bà có niệm sân hận. Lúc
đó vào cuối mùa thu, khi thấy họ biểu tình bên ngoài cổng rào của Chùa
trong lúc trời mưa, Sư Bà đã yêu cầu đệ tử mở cửa Chùa cho họ vào trong
biểu tình dưới mái Chùa vì thương họ, vì sợ họ bị mưa, bị lạnh. Người
được bảo đi mở cửa còn dùng dằng, không chịu làm theo ý Sư Bà vì lo cho
đại chúng, Sư Bà đã theo năn nỉ. Để đại chúng yên tâm, Sư Bà đề nghị mọi
người niệm Phật. Sáng hôm đó, một buổi sáng lạnh lẽo cuối thu, tại chùa
Đức Viên, tiếng niệm Phật của hơn một ngàn người theo đạo từ bi đã vang
lên trong hùng lực, trong nhất tâm, trong kham nhẫn, và nhất là trong sự
thương yêu tha thứ. Sư Bà không thuyết pháp bữa ấy nhưng đã sống trọn
vẹn một bài pháp vô cùng cao đẹp mà Đức Thế Tôn đã tự thân thuyết giảng:
Hận thù rửa
hận thù
đời nầy
không có được.
Tình thương
rửa hận thù
là định luật
thiên thu.
Cách nay mấy
tháng, sự việc tương tự lại xảy ra tại chùa Đức Viên khi Hòa Thượng Trí
Dũng ghé thăm. Những người biểu tình trước Chùa đã dùng tất cả những
danh từ thô lỗ để thoá mạ Sư Bà. Anh chị em Phật tử và những người quen
với Chùa thấy khó chịu vì cho là những người nầy đã lạm dụng quyền tự do
ngôn luận của họ. Họ đã họp lại và một luật sư đề nghị nên xin toà cho
một án lệnh cách ngăn (restraining order) và ông tình nguyện làm việc
nầy mà không nhận thù lao. Nhiều người đã đề nghị cách nầy, cách nọ để
đối phó. Sư Bà không biết gì về phiên họp. Khi biết được, Sư Bà nhắn với
những người tham dự buổi họp là Sư Bà không muốn họ làm gì để phản ứng.
Sư Bà chỉ muốn những người đến họp cố gắng giữ cho lòng họ luôn có được
sự an lành. Khi nói cho phiên họp biết ý nguyện của Sư Bà, tôi thấy nước
mắt chảy dài trên má của hai người dự phiên họp đó. Tâm Sư Bà không dao
động trước những cơn gió dữ:
Như tảng đá
kiên cố,
đứng vững
giữa cuồng phong
giữa tiếng
đời khen chê
Người trí
không dao động
Trong việc
tu tập và làm việc phước thiện để cho mình có tư lương về Tịnh độ và làm
cho người bớt khổ, Sư Bà không hề quản ngại việc gì.
Lớn thì Sư
Bà đã vượt qua nhiều nội chướng ngoại ma để xây dựng ngôi phạm vũ trang
nghiêm vào bậc nhất như chùa Đức Viên; đã kiên trì ấn tống hàng trăm
ngàn quyển Kinh, Luật và Luận ở Hoa Kỳ cũng như ở Việt Nam; đã thầm lặng
giúp hàng trăm bệnh nhân nghèo khổ ở Việt Nam có tiền mua thuốc uống hay
để giải phẫu hầu thoát được những bệnh hiểm nghèo. Làm những việc cứu
người trong bệnh khổ, Sư Bà thường không để lộ tên mình. Có một lần,
biết được một người nghèo cần tiền đóng cho bệnh viện để được giải phẫu
ruột dư vào lúc nửa đêm, không có sẵn đủ tiền và không biết cầu cứu nơi
ai, tôi gọi điện thoại xin Sư Bà. Với giọng nói không có gì phiền muộn
vì bị gọi vào lúc nửa đêm, Sư Bà cho ngay mà không một chút chần chờ. Đã
thế, còn dặn thêm: xin ra Western Union gởi ngay cho người đó để một
mạng người còn có cơ hội sống. Một lần khác, trong chuyến đi hành hương
ở Ấn Độ, Thầy Huyền Diệu dặn đi dặn lại với chúng tôi là đừng ai cho
những người ăn mày tiền khi họ tới xin mình. Thầy sợ nhiều người tới
xin quá thì có thể có nhiều phiền phức. Biết vậy, nhưng Sư Bà vẫn cho
lén và không cho Thầy Huyền Diệu biết. Sư Bà trao tiền cho một vị sư
Miến Điện và nhờ ông cho hộ. Biết được việc nầy, tôi cười thì Sư Bà phân
trần: “Thấy họ khổ quá, tôi không chịu nổi. Thôi thì mình làm tí gì đó
cho đời họ bớt phần nào đau khổ. Cho họ mỗi người vài chục xu của Mỹ.
Tiền không nhiều nhưng họ cũng có được một bữa ăn no. Nhận tiền từ tay
của một vị xuất gia, họ cũng có dịp gieo vào tâm thức những hạt giống
lành. Hy vọng sau nầy họ sẽ có cơ hội tu tập để cho đời họ bớt khổ.” Đấy,
lòng thương của Sư Bà là như vậy.
Những việc
mà thế gian cho là nhỏ như luộc từng bó rau cho những người phát tâm tu
tập, làm nhà vệ sinh, hoặc sửa chữa đường đi cho người hành hương cũng
được Sư Bà quý trọng và thực hiện. Tôi nhớ có một lần, cũng ở Bồ Đề đạo
tràng, hôm đó Thầy Huyền Diệu hướng dẫn đoàn hành hương đi Khổ Hạnh Lâm.
Vì đã đến đó rồi nên hôm đó tôi tình nguyện ở lại Chùa để nấu ăn. Trước
đó một hôm Sư Bà bị đứt tay trong khi gọt trái cây cho đoàn hành hương
nên hôm đó Sư Bà cũng ở lại Chùa. Thấy tôi loay hoay đến trưa mà thức ăn
chưa xong, Sư Bà lắc đầu, cười, rồi xăn tay áo, bước vào nấu tiếp. May
là có Sư Bà hôm đó, nếu không thì chắc mọi người bị đói. Trưa đó, ai
cũng khen là bữa ăn rất ngon. Ngon là phải dù chỉ có rau với đậu vì bữa
ăn đã được nấu với lòng hoan hỷ của Sư Bà.
Sáu năm
trước đây, tôi đi thăm những thắng tích Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam.
Trên đoạn đường lên đỉnh núi Yên Tử, tôi thấy khó chịu và cần đến một
nhà vệ sinh. Đã quen ở Mỹ, tôi không làm được những việc đó ở bất cứ chỗ
nào. Khó chịu quá, tôi không biết làm sao nên phải hỏi người dẫn đường.
Anh trả lời tỉnh bơ: “Cố đi tý nữa thì có nhà xí của Thầy Đàm Lựu.” Tôi
thấy ngẩn ngơ. Tại sao vị Thầy nào đó lại cất nhà xí ở trong rừng vắng?
Sao lại là Thầy Đàm Lựu? Lúc đó, dốt quá, tôi không đoán ra nổi Thầy Đàm
Lựu là Sư Bà Đàm Lựu. Sau, tôi mới biết là Sư Bà đã đến thăm Trúc Lâm
Yên Tử và đã thấy nhu cầu nầy của những người về Yên Tử hành hương. Phát
tâm giúp cho những người hành hương có được sự dễ chịu và cũng để làm
sạch sẽ chốn trang nghiêm, Sư Bà đã nhờ những Phật tử tại địa phương
thuê người làm những phòng vệ sinh nhỏ nhưng tiện dụng dọc theo đường
lên núi. Đoạn đường Tùng bị hư hỏng nhiều, thấy có người trợt, Sư Bà đã
nhờ người đắp lại và làm thêm những nấc thang trên đoạn đường nầy cho
người đi sau bớt nhọc. Lo cho người sau được đỡ phần cực nhọc dù chẳng
biết họ là ai. Bao nhiêu người trên đời
nầy có được lòng thương
đó?
Nhớ lại,
trong thời gian Sư Bà bệnh, có lúc Sư Bà mệt quá, Thầy Minh Thiện cùng
tôi đến Chùa vào lúc ba giờ sáng để hộ niệm. Thay vì chúng tôi hộ niệm
cho Sư Bà thì Sư Bà lại hộ niệm cho chúng tôi. Lúc đó Sư Bà đau lắm, thở
không được và mệt nhiều, nói không ra tiếng, nhưng Sư Bà vẫn cố nhắc
chúng tôi siêng tu, siêng học, thương nhau, và cùng nhau lo cho ngôi Tam
Bảo. Bệnh làm khổ thân nhiều như vậy mà Sư Bà vẫn không nghĩ đến thân
mình chỉ biết nghĩ đến tu, đến học, đến việc làm hưng thịnh ngôi Tam
Bảo. Ba lần, trong thời gian Sư Bà có bệnh, tôi đã lấy kiến thức chuyên
môn của kẻ phàm phu để lường cái thấy của Sư Bà. Một lần Sư Bà thấy mình
vừa nghe Phật thuyết pháp, một lần Sư Bà thấy Phật mới đứng trước Sư Bà,
lần khác Sư Bà thấy hoa sen đang nở. Sợ Sư Bà bị loạn tưởng vì uống
thuốc nhiều tôi đặt ra nhiều câu hỏi để trắc nghiệm khả năng biết những
việc thực tế của Sư Bà. Sư Bà trả lời rất chính xác. Có lần tôi hỏi:
“Hôm nay là thứ mấy? Sư Bà có biết không?” Không một chút chần chờ, Sư
Bà trả lời:"thứ Tư." Tội nghiệp cho tôi. Không có lịch treo tường, hỏi
thì hỏi vậy nhưng chính tôi cũng không nhớ chắc chắn ngày đó là thứ mấy.
Một cô đệ tử của Sư Bà xác nhận hôm đó đúng là ngày thứ Tư. Nghĩ lại,
tôi thấy xấu hổ vô cùng vì lòng nghi của chính cá nhân tôi.
Cuộc sống
của Sư Bà là một bài Pháp lớn và do đó đã cảm hóa được người. Khi Sư Bà
cho phép tôi thông báo về bệnh trạng của Sư Bà, nhiều bác sĩ Việt Nam và
Mỹ đã tình nguyện tham gia vào việc điều trị. Họ đã không trị được bệnh
tứ đại của Sư Bà và phải chịu thua trước chu tuần sanh, lão, bệnh, tử.
Nhưng, qua tiếp xúc với Sư Bà, họ đã tiếp xúc được với một nguồn sống
tâm linh rực rỡ mà họ chưa từng gặp. Sư Bà đã khéo dùng cái thân bệnh
của mình và cái nhìn của Sư Bà về bệnh để làm phương tiện giáo hóa cho
những người có nhiệm vụ điều trị trong bệnh viện. Ngày đưa Sư Bà đến chỗ
trà tỳ, tôi thấy những vị bác sĩ đó thầm lặng tiễn Sư Bà cùng với những
người con Phật dù họ không được ai mời mọc. Một bác sĩ người Mỹ đã nói
với tôi sau đó : “Tôi tiếc là Sư Bà Đàm Lựu đã ra đi. Bà là người đã mở
cửa cho tôi vào Đạo Phật trong một thời gian ngắn mà tôi được gặp.” Sư
Bà có biết không? Vị bác sĩ đó mới cho tôi biết là nhiều lần, trong ba
tuần qua, đã nghĩ đến việc trở thành một Tỳ kheo ni theo con đường mà Sư
Bà đã chọn gần 50 năm trước.
Hôm nay tính
ra Sư Bà đã từ bỏ huyễn thân được bốn tuần rồi. Tôi viết mấy dòng nầy để
tưởng nhớ đến một số hành trạng cao đẹp của một Trưởng lão Tỳ kheo ni mà
tôi có duyên may gặp gỡ và cộng sự. Tôi muốn mượn những lời nầy trong
phẩm Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa để tán thán Sư Bà:
Tâm Bi như sấm động
Lòng Từ
như mây hiền
Pháp Cam
Lồ mưa xuống
Dập trừ
lửa não phiền.
Lúc còn
sinh tiền, Sư Bà không thích ai nhắc những công hạnh của mình. Nay Sư Bà
đã quy Tây, vì người sau nên tôi viết bài nầy. Nơi Tịnh Độ xin Sư Bà
hoan hỷ cho tôi.
Thích Minh Đức
hiệp chưởng tán thán
---o0o---
Dáng Mẹ Hiền Ni
Kính dâng Giác linh Sư Bà Đàm Lựu
Mười phương hoa nở cúng dường
Bàn tay con chắp còn vương nỗi sầu
Mẹ về xếp mảnh áo nâu
Gởi theo hương bưởi
nhiệm mầu
giọt sương
Tiễn người con lạy mười phương
Nhìn theo dáng mẹ
phố phường lặng câm
Mẹ ơi, mắt mẹ hương trầm
Nhìn con đau xót lỗi lầm trần gian
Bàn tay mẹ dệt không gian
Dỗ con mẹ hát muôn ngàn lời ru
Mẹ ơi, dáng mẹ mùa thu
Thương con mẹ lượm
từng xu tảo tần
Mẹ đi dưới ánh sao ngân
Đôi vai mẹ gánh
hồng trần oan khiên
Mẹ ơi, tim mẹ thật hiền
Bàn chân mẹ bước
dáng thiền làm sao?
Bao lần mẹ viết ca dao
Lên trang kinh sử vườn đào chùa ni
Cửa từ mẹ mở tâm bi
Mẹ về gom cả hàn vi nắng chiều
Mẹ ơi, dù có bao nhiêu
Cũng không
đổi được dáng chiều mẹ đâu
Thương mẹ con khóc đêm thâu
Chỉ vì con sợ chiếc cầu tử sinh
Mẹ ơi, đời đã bạc tình
Ai là người dắt thần linh cuối đời
Sáng nay chim góp mây trời
Kết tòa giải thoát
tiễn người hiền ni.
Thích Viên Giác
Đức Viên ngày Di Quan 3-4-99
Sáng hôm qua, trên đường
thiền hành quanh chùa, nhìn bên cạnh, tôi thấy cây hoa đào vừa trổ mấy
cụm bông màu đỏ thắm thật tươi. Đây là cây hoa, Sư bà Đức Viên đã biếu
cho chùa Hayward vào dịp đạo tràng thiết lập cơ sở mới, cách đây khoảng
7 năm. Mỗi khi nhìn, cũng có lúc tưới nước cho nó, tôi đều nghĩ đến thân
tình và sự thương mến Sư Bà đã dành cho chúng tôi, những người hậu học.
Tấm lòng của Sư Bà rộng rãi, bao la như tấm lòng của một người mẹ. Dường
như ở Tây, Tàu, hay Ấn độ, Singapore, nơi nào cũng có bước chân của Sư
Bà cả, và Sư Bà đến đó để cầu nguyện, chiêm bái hay tham dự Phật sự
chung. Cuộc đời của Sư Bà là cuộc đời của một người phụng sự cho Phật
pháp và chúng sanh.
Gần đây, Sư Bà nhuốm
bệnh. Đó cũng là lẽ thường, vì ai có thân mà không có bệnh, không bị chi
phối bởi định luật sinh lão của cuộc đời. Nhân được tham dự các buổi cầu
nguyện của chư Tăng Ni và Phật tử quanh vùng được tổ chức tại chùa Đức
Viên tôi mới thấm thía hơn về hai chữ đạo tình. Đành rằng, ai cũng có
thể bị bệnh, bất cứ lúc nào và ở đâu, nhưng khi bị bệnh mà có chừng ấy
người, chừng ấy tấm lòng chiếu cố, lưu tâm, thì quả thật sống như vậy
mới thật là đáng sống, xứng danh là đấng trưởng tử Như Lai.
Rồi nhìn quý
Sư Cô quây quần bên nhau để chăm sóc cho Sư Bà, tôi thật đôi khi không
ngăn được dòng nước mắt. Tình sư đệ, nghĩa thầy trò, giờ đây, bên giường
bệnh của Sư Bà đã là những gì có thật, vượt qua ngôn ngữ tầm thường của
thế gian. Không quản ngại cực nhọc, quý Sư Cô ngày đêm túc trực bên
giường bệnh để lo từng miếng cháo, từng thang thuốc cho Sư Bà. Quý Sư Cô
đang chung vai góp sức mình, môït mặt lo cho Sư Bà, một mặt duy trì sự
sinh hoạt cho chùa, và điều khác cũng khá quan trọng, thâm sâu hơn, là
quý Sư Cô thật sự đoàn kết chặt chẽ với nhau để cùng chia xẻ nỗi khó
khăn, sự cực nhọc đang đè nặng trên vai. Bây giờ, trong tình trạng này,
ai nấy đều bỏ qua những chuyện nhỏ nhặt hay buồn phiền riêng tư để ngày
đêm cầu nguyện cho Sư Bà. Tôi thấy quý Sư Cô, và một số Phật tử thân tín
của chùa, cùng phân chia công tác và làm việc trong hoan hỷ, trước là
đền ơn Sư Bà đã dạy dỗ, sau là vì Phật sự chung. Đây quả thật là tấm
chân tình và tấm gương quý thể hiện trong cuộc sống tu hành.
Thưa Sư Bà,
chắc mai này khi mãn duyên với cuộc đời này, Phật sẽ rước Sư Bà về lại
quê hương cũ. Chúng tôi, những người hậu học ở lại chốn này, xin thành
kính cầu nguyện Sư Bà nhẹ bước Tây quy. Và xin hứa nguyện siêng năng tu
tập để báo đền phần nào sự thương mến, công ơn giáo dưỡng của Sư Bà, và
nguyện muôn đời ngàn kiếp noi gương phụng sự chúng sanh không mỏi mệt
của Sư Bà.
Sang năm, vào khoảng
thời gian này, chắc cây đào lại trổ bông. Ở đó, tôi lại sẽ thấy hình ảnh
an hòa, tấm lòng rộng rãi của Sư bà Tọa chủ chùa Đức Viên. Thì ra, dù
vạn vật có đổi thay theo năm tháng, tấm chân tình đó vẫn còn mãi trong
lòng người, giữa cuộc đời.
Bên ngoài, nơi quàn kim
quan củøa Sư Bà, tiếng niệm Phật đang vang lên đều đặn, âm thanh nghe
tha thiết làm sao, như thử tiếng đàn con dại gọi Mẹ giữa đêm trường
thanh vắngï. Và tôi ngồi đây, vài lúc muốn ngăn dòng nước mắt, ngăn
tiếng thổn thức đang dâng lên từng hồi, từng chặp. Nhưng mà đành chịu
thôi dù đã cố gắng rất nhiều, thật nhiều. Tâm trạng của tôi và những
người khác, hàng huynh đệ đồng tu, cũng như tâm trạng của nhà thơ ngày
trước đã có lần thổn thức:
Mất cả một bầu trời.
Hôm đó, tôi lặng người
khi nhận được tin Sư Bà yếu dần. Cũng may tôi cũng xuống kịp trong giờ
chư Tôn Đức và Phật tử hộ niệm cho Sư Bà. Thành tâm niệm Phật, tôi hướng
về hình ảnh ao sen Cực lạc, với rất nhiều thanh thản, để xin cầu nguyện
đức Phật Di Đà từ bi tiếp độ Sư Bà cao đăng Phật quốc. Cuối cùng, duyên
Ta bà đã hết, Sư Bà nhẹ nhàng trút bỏ nhục thân về với Phật. Thế là hạnh
nguyện độ sanh của Sư Bà ở cõi đời này đã hoàn thành. Bên cạnh, công đức
tạo lập ngôi chùa Đức Viên cùng với sự thương mến đồ chúng, khuyên nhủ
Phật tử siêng năng tụng kinh, niệm Phật để cầu nguyện vãng sanh như là
một dấu ấn lưu dấu cho hậu thế noi theo.
Tâm hạnh của Sư Bà rộng
lớn, nhìn đâu cũng thấy, từ một bụi cây ở ven bờ tường cho đến ở bàn ăn
vào giờ ngọ. Lúc thì Sư Bà cầm kéo tỉa cây, khi thì cười giỡn, trách yêu
quý Sư Cô, đồ chúng. Cũng có lúc, trong chiếc y vàng, Sư Bà nghiêm nghị,
ung dung nhưng không thiếu vẻ thành kính trọng Tăng, khiêm nhường đúng
mức. Và hơn cả, có lẽ, là công phu tu tập với pháp môn Tịnh độ, một lòng
cầu nguyện vãng sanh cảnh giới Tây phương, khiến ai nấy đều cảm được chí
nguyện bền vững, tấm lòng tha thiết của Sư Bà. Câu đối thô thiển dưới
đây, xin đặt ra, để nói lên phần nào con người của Sư Bà khi sinh tiền:
Mỗi bữa ăn dùng ba món,
bậc Tôn sư để lại cho chúng đệ tử xuất gia tấm gương an bần lạc đạo.
Một ngày sáu buổi công
phu, Người hóa độ thường nhắc nhở hàng cư sĩ tại gia niệm Phật cầu sanh
Tịnh độ.
Được nuôi dưỡng trong
khuôn khổ, đời sống đạm bạc của chốn thiền môn quy củ, Sư Bà đã dõng
mãnh tự mình nuôi dưỡng đạo tâm và bồi đắp sự kham nhẫn cao quý của bậc
xuất gia chân chánh.
Xin ghi lại đây một kỷ
niệm nhỏ, khi có dịp tham dự một chuyến hành hương Ấn Độ do Sư Bà chủ
trì. Cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của người hậu học đối với lòng
thương mến bao la của Sư Bà. Vé máy bay và lời khuyến khích đã trợ duyên
cho tôi được tìm về xứ Phật. Trong chuyến đi đó, tôi đã được mở rộng tầm
mắt với một chân trời xa lạ đầy sức sống tâm linh của xứ Ấn đất rộng
người đông; bên cạnh đó, còn ghi lại trong lòng tôi mộït cảm xúc khó
quên khi chiêm lễ Kim Cang tòa ở Bồ đề đạo tràng, nơi đức Từ phụ chứng
được Pháp thân thường trú. Tuy vậy, tấm lòng cang cường và thái độ kiên
nhẫn của Sư Bà làm tôi kính phục và ghi nhớ mãi như một bài học quý giá.
Hôm đó, tôi còn nhớ, cả
phái đoàn được Thầy Huyền Diệu đón tại phi trường quốc tế Tân Đề Ly. Sau
đó, Thầy đưa mọi người về nghỉ ngơi ở một cư xá. Và ngày mai lên đường
đi về hướng vườn Lộc Uyển. Đoạn đường khá xa. Đường lộ ở Ấn Độ hơi xấu,
chỗ lồi chỗ lõm dù là quốc lộ, nên xe chạy cũng chậm. Xe lại nhỏ nên sau
một ngày một đêm chạy liên tục, chỉ dừng để ăn trưa, nghỉ ngơi chút
đỉnh, mọi người đều cảm thấy mỏi mệt. Sức chịu đựng của vài người, dù là
thanh niên, cũng mòn dần theo với đoạn đường trước mặt, nhất là khi qua
những miền núi, đường khó đi, nhồi lên nhồi xuống như một trái banh
trong tay một chú bé tinh nghịch. Người bạn ngồi bên cạnh tôi đã thấm
mệt. Tôi cũng mệt nhoài nhưng nhờ có mấy năm trong quân ngũ nên chưa đến
nỗi phải quạu quọ, buồn bực. Trong khi đó, Sư Bà, có lúc lên tiếng động
viên tinh thần các cụï, có khi hỏi thăm Thầy Huyền Diệu, đoạn đường còn
bao xa nữa, và lúc nào cũng tỉnh táo, nêu gương kiên trì, kham nhẫn cho
mọi người.
Có một lúc, xe chạy qua
một làng có lính gác, cầm gậy, hỏi han mọi người dăm ba câu,có ý xin
chút đỉnh uống nước. Rồi xe chạy vào một truông núi, thăm thẳm một màu
đen. Đa số đều dựa vào nhau, cố tìm lại một chút sức lực để theo hết
đoạn đường gian truân. Trong khi đó, tôi nghe tiếng Sư Bà tụng chú "Án
ma ni bát di hồng" đều đều trong đêm tối, như vỗ về con thơ, như cầu sự
bảo vệ của Bồ Tát Quán Âm cho cả đoàn người. Không than thở, không trách
móc ai cả, mà chỉ âm thầm đặt niềm tin vào Phật, hành xử với tấm lòng
của một người tu.
Tôi mường tượng như giữa
đêm đen, Sư Bà vừa mới thắp lên một ngọn đèn để soi đường cho những
người hậu học, cho những bạn đồng hành.
Bây giờ Sư Bà đã về với
Phật, với ao sen báu có hoa nở quanh năm. Xin Giác linh Sư Bà từ bi phù
hộ, độ trì cho người ở lại giữ được niềm tin vào đạo Bồ đề, trăm kiếp
ngàn đời nguyền không thối chuyển. Riêng tôi, vẫn tin chắc rằng, công
hạnh sáng chói của Sư bà sẽ còn lưu lại sâu đậm trong lòng các môn đồ và
tiếng niệm Phật cầu nguyện vãng sanh sẽ còn tiếp tục vang vọng sân chùa.
Sau hết, trong tấm lòng
chân thành của người hậu học, tôi xin chép lên đây lời dạy của Đại sư
Hám Sơn về pháp môn niệm Phật, để xin đem chút công đức nhỏ bé thành tâm
cầu nguyện Giác linh Sư Bà diện kiến Di Đà, đắc Vô sanh nhẫn:
"Kinh nói: Nếu muốn
tịnh cõi Phật thì phải thanh tịnh tự tâm. Ngày nay tu hành tịnh nghiệp,
thì phải lấy việc thanh tịnh thân tâm làm gốc. Muốn tịnh tự tâm, trước
nhất là phải thanh tịnh giới căn. Vì mười việc ác của thân miệng ý vốn
là nhân khổ của ba đường ác, nên nay phải cần trì giới, khiến cho ba
nghiệp được thanh tịnh, tức tâm tự tịnh. Nếu thân không giết hại, ăn cắp,
tà dâm, nói láo thì thân nghiệp thanh tịnh. Nếu miệng không nói láo, nói
lưỡi hai chiều, nói lời ác độc, nói lời thêu dệt thì khẩu nghiệp thanh
tịnh. Nếu ý không tham lam, sân hận, si mê, thì ý nghiệp thanh tịnh.
Mười việc ác này mãi đoạn dứt, ba nghiệp trong sạch, đó là điều thiết
yếu của sự tịnh tâm. Trong lúc thanh tịnh thân tâm, phải dấy khởi tâm
chán khổ nơi cõi Ta bà, mà phát nguyện vãng sanh về miền An dưỡng; lập
chánh hạnh niệm Phật, tâm niệm Phật phải thiết tha vì sanh tử. Đầu tiên,
ngoài đoạn ngoại duyên. Kế đến, bên trong đơn độc đề khởi nhất niệm.
Dùng mộät câu A Di Đà Phật làm mạng căn. Niệm niệm không quên, tâm tâm
chẳng đoạn. Trong mười hai thời, đi đứng nằm ngồi, cử động gân cốt, xoay
mình cúi ngửa, động tịnh đều quên. Trong mọi thời, không u mê, không ngu
muội, lại chẳng làm duyên khác. Dụng tâm như thế, lâu ngày thuần thục,
cho đến trong mộng, cũng không quên mất; thức ngủ như nhau, tức là công
phu liên tục; dệt thành một phiến, tức là lúc công phu được đắc lực. Nếu
niệm đến nhất tâm bất loạn, thì lúc lâm chung, cảnh giới Tịnh độ hiện ra
trước mắt; tự nhiên không bị sanh tử trói giữ, bèn cảm Phật A Di Đà
phóng quang tiếp dẫn."
Có lẽ giờ này, trong ao
thất bảo chín phẩm hoa sen vừa nở rộ để đón bước chân người vừa mới Tây
quy.
Nam mô Liên Hoa tháp,
Ma ha Tỷ kheo ni Bồ tát giới, húy thượng Đàm hạ Lựu, hiệu Thích Diệu
Thanh, khai nguyên Đức Viên tự, thăng hóa Tây phương ư Kỷ Mão niên, Nhị
nguyệt, sơ Cửu nhật, Hợi thời, trụ thế 67 niên kỷ, 48 hạ lạp, nhục thân
Bồ tát thiền tọa hạ lai lâm chứng giám.
Sau lễ Trà tỳ, một trận
mưa rơi xuống, có từng hạt mưa đá nhỏ li ti. Chuyện lạ ở chỗ, chỉ mưa ở
vùng San Jose mà thôi, chứ khi về lại Hayward, trên đường 880 tôi thấy
xa lộ khô ráo mà! Với lại, có mây đen, có gió lớn, vậy mà trận mưa lại "hiền
khô" như thể trút nước xuống để rửa sạch những buồn tủi, thương nhớ của
môn đồ, hiếu quyến. Rồi thôi, trời lại nắng. Tôi lại nghĩ thêm, không
chừng Sư Bà hiển linh, bày trò để phù hộ cho quý Sư cô yên lòng tu tập,
nhắc nhở bà con Phật tử cố gắng làm việc Đạo cho giỏi, còn ở trên cao
lúc nào Sư Bà cũng "ở đó" nhìn xuống trần gian. Trong kinh cũng đã có
thí dụ, mưa xuống một trận thấm nhuần tất cả cỏ cây. Phải chăng ứng vào
điều này?
Ba hôm sau, tôi trở lại
Chùa. Trong lòng thấy trống vắng, như thử thiếu mất Sư bà là không còn
lý do nào để tôi bước chân vào Chùa nữa. Nghĩ như vậy thì thật là không
phải. Còn lớp học hàng tuần, còn thân tình đạo bạn, còn nhiều chứ! Nhưng
quả thật tôi có tâm trạng đó, và cứ thấy buồn buồn ở trong lòng.
Mỗi khi nhìn hàng cây ở
phía nhà hàng xóm ngã bóng qua bãi đậu xe là tôi lại thấy hình ảnh của
Sư Bà ngày nào còn cầm kéo, tỉa những ngọn cây vươn qua phía Chùa.
Thường mặc chiếc áo len, màu sậm, mang bao tay, cầm kéo, Sư Bà ung dung
làm việc. Có Phật tử đến Chùa lễ Phật, sau khi xuống xe, dừng lại chào
thì Sư Bà hỏi han việc gia đình, khuyên họ cố gắng tu trì cho thêm phước
đức, rồi cúi xuống, tiếp tục làm việc. Không nhiều lời mà lúc nào cũng
có sự ân cần, tha thiết. Đa số cứ tưởng Sư Bà nghiêm nghị, xa cách nhưng
có sống gần mới biết Sư Bà cũng có tâm hồn văn nghệ. Có dạo Sư Bà cùng
quý Sư cô và chúng xuất gia ra bãi biển đổi gió, cắm trại. Sư cô N. kể
lại: "Thầy biết không, Sư Bà con cũng cười vui, hòa đồng với tụi con đó.
Những lúc ăn cơm chung, Sư Bà thường kể chuyện lúc nhỏ mới vào Chùa, có
vẻ thích thú lắm." Con người của Sư Bà là như vậy, bề ngoài thì nghiêm
túc, khắc kỷ còn bên trong là cả một biển tình thương, sẵn sàng bao
dung, tha thứ.
Đọc lại cuốn Kỷ Yếu của
buổi đại lễ Phật Đản chung trong vùng vào năm 1991, tôi tìm thấy lời
phát biểu của Sư Bà như sau:
-Tôi vốn ít viết
văn làm thơ nhưng đặc biệt mùa Phật Đản năm nay tôi có cảm tác mấy vần
thơ cúng dường Tam Bảo, xin hân hạnh tặng ban Báo chí:
Oán thù rửa sạch sầu
than không còn.
đối với Phật sự chung
cũng như ước nguyện cho sự hòa hợp của Tăng đoàn.
Năm sau, vào khoảng thời
gian này, tôi sẽ trở lại chùa Đức Viên, cũng sẽ vào bên trong lễ Phật,
cũng sẽ ra bên ngoài đếm từng bước chân trên con đường nhỏ quanh Chùa mà
Sư Bà đã ra công tô đắp, làm nên, và nhớ lại lòng thương mến của Sư Bà
đối với hàng hậu học chúng tôi. Ở đó, từ hàng hiên cho đến cổng Chùa,
chắc chắn có hình bóng Sư Bà hiển hiện nhắc nhở chúng tôi cố gắng tu
hành.
Rồiø về lại Hayward, tôi
lại thấy cây đào trước sân nở rộ, tươi thắm như ngày nào Sư Bà còn sống
ở trên đời. Những người hậu học ở đây, dù Sư Bà vắng bóng, cũng xin khắc
ghi lời dặn dò của Sư Bà trước lúc lâm chung vào tận tâm khảm của mình:
giữ vững tâm chí bồ đề, lòng không thối chuyển, khuyên nhau vững dạ tu
hành, nguyện kết thiện duyên, nguyện hành Phật sự để báo đáp bốn ân, cứu
vớt ba cõi.