...Một
là nguyện Phật thần thông
Chứng minh đệ từ thành công lâu dài
Hai là nguyện lạy Như Lai
Cầu cho già trẻ gái trai làm lành...
Miệng thì đọc theo ba nhưng mắt Bé cứ thỉnh thoảng lại phải nhìn theo con
thằn lằn trên cột nhà. Thằn lằn đang rình một con kiến cánh. Con kiến kia
nếu không biết bay đi thì thế nào cũng bị thằn lằn đớp, chú nghĩ trong
bụng, thoáng thấy tội nghiệp con kiến nhưng cũng thấy thương con thằn lằn
đang đói. Chú không thích nhìn thấy cảnh ấy một tí nào. Quay mặt đi chỗ
khác, Bé cố gắng chú tâm đọc rõ ràng từng chữ theo ba.
Tối
nào cũng vậy, hễ thấy ba vói tay lấy cái áo vải xe lữa nhuộm mực Tàu treo
trên vách là chú chạy ào ra lu, múc gáo nước xối vội hai bàn chân, khum
tay vốc ngụm nước úp lên mặt, quẹt quẹt vài cái lên má rồi chạy ù vào, vừa
chạy vừa lấy tay áo lau mặt. Coi như sạch sẽ rồi, chú liền chắp tay đứng
ngay ngắn đằng sau lưng ba. Ba thắp nhang và bắt đầu buổi tụng kinh tối.
Những năm chiến tranh, câu cầu khấn cửa miệng người dân không phải là cầu
tài cầu lộc, mà là “cầu cho tai qua nạn khỏi”. Do vậy, đêm nào ba cũng lễ
lạy và đọc tụng 12 bài nguyện Quan Âm. Chú đọc theo ba không sai
một chữ. Có những lúc mắt bận ngó nghiêng cái này cái kia, đôi khi chú lơ
là, nhưng vẫn dõi theo và đọc đủ bài kinh như quán tính. Buổi sáng, bốn
giờ ba đã thức tụng kinh. Chú nằm trong mùng, tai vẫn nghe và tiếng tụng
kinh âm trầm ngấm vào giấc ngủ của chú, mỗi ngày mỗi ngày đều đều như vậy
Xóm
Bà Tri nằm núp sau một cái cồn nhỏ quay mặt ra con sông Tiền rộng lớn.
Người ta kêu bằng cồn Dưa Leo bởi trên đó trồng toàn dưa leo, mà hình như
cái cồn này cũng có hình giống trái dưa leo nổi bập bềnh bên triền con
sông cái lớn. Dọc con sông đầy ắp phù sa này có biết bao nhiêu là cồn, cù
lao chìm, cù lao nổi... không sao kể xiết. Có cồn nổi giữa sông, có cồn
nổi gần bờ, hình như con nước cũng như người nông dân Nam bộ đầy chất nghệ
sĩ, phóng khoáng, vui đâu ghé đó, không tính toán so đo; bất cứ nơi nào,
hễ mõi tay hay thích chí, rút cây sào cặm xuống thì nơi đó là bến. Cồn Dưa
Leo nổi cách bờ chỉ khoảng hơn chục thước, vừa đủ tạo thêm một con sông
nhỏ trước nhà. Nước thì cũng là nước của sông cái lớn, nhưng cách chảy và
sóng của sông nhỏ thì hình như cũng hiền hòa và nhẹ nhàng hơn. Mỹ Xương là
vùng đất khá tốt, thích hợp trồng cây ăn trái, nhưng chiến tranh giặc giã
vào những năm này khá căng thẳng nên người dân không có điều kiện chăm sóc
vườn tược hoa màu, đất đai làng xóm trở nên xơ xác, đa phần là người nghèo
lam lũ, thất học. Con nít trong xóm lóc nhóc như bầu bí, đứa nào đứa nấy
da tóc cháy nắng, ốm nhách ốm nhom. Trò chơi trẻ con bốn mùa chỉ quanh
quẩn mấy trò bắn cu li bằng đạn đất, vỗ tu hú, táng u, rồi đánh trận giả
bằng súng bẹ chuối, cây lùn. Các trò chơi đa số là của lũ nhóc con trai,
các bé gái ở quê chưa kịp biết chơi đùa đã phải làm công việc nhà giúp mẹ,
có được chơi chăng nữa cũng chỉ vài trò, mà thường thấy nhất là trò
chơi nhà chòi, thì quanh quẩn cũng là nấu nướng, tắm em, quét nhà rửa
chén...! Tuổi thơ chưa kịp qua, các em đã phải làm người lớn thu nhỏ.
Người lớn thì vừa mần ăn vừa lo chạy giặc, sống được qua ngày là may rồi,
ít ai biết mơ ước điều gì cao xa. Ước nguyện ương lai hầu như được đo và
tính bằng từng mùa vụ. Dân miệt vườn còn đỡ, dân miệt ruộng càng chơn chất
thiệt thà hơn, hầu như cả đời họ chẳng cần nghĩ đến điều gì xa hơn mảnh
đất đồng làng mà họ có, chẳng cần nhìn thấy điều gì cao hơn cái nóc nhà họ
ở (nếu như cái nóc nhà ấy không bị dột). Ða số người dân quê là vậy. Nếu
tâm hồn được ví là hoa, thì tâm hồn những người dân quê giản đơn, bình dị
như là hoa lúa.
Bé
lớn lên trong một căn nhà nhỏ, vách lá cột tràm, quay mặt ra con sông được
tạo nên bởi cái cồn Dưa Leo bề ngang chưa đầy cây số ấy. Ðầu sông người ta
gọi là xép cù lao Quạ, cuối sông kêu bằng vàm Cả Sứt, những cái tên nghe
thiệt là quen. Mỗi ngày, ba chú đi qua cồn làm rẫy, chú ở nhà quanh quẩn
với mấy cục đạn cu li cứ vo mãi không tròn. Trong xóm chỉ có thằng Nghé
là có biệt tài vo đạn cu li khéo nhứt. Những viên đạn được làm bằng đất
đào tuốt ngoài vườn, cạnh mấy cái mương chứa nước. Ðất gần sông là đất cồn
bồi, phù sa pha cát nên làm đạn không có độ dẽo bền như đất sét. Thằng
Nghé lại rất khỏe tay, nó vo vừa tròn vừa chặt, lúc phơi nắng lại siêng
năng trở đều cẩn thận nên viên đạn rất tròn, bắn lăn chính xác và va chạm
mạnh mấy cũng không bị bể. Bé là đứa được thằng Nghé vò giùm cho nhiều đạn
nhứt vì chú rất hiền lành, chơi với bạn không ăn gian, lại hay nhường nhịn
và bắn bi cũng... rất dở, bởi chú không hay bắn mạnh tay, do vậy, có vo
giùm chú bao nhiêu đạn thì rồi cũng về lại túi thằng Nghé hết thôi.
Buổi chiều, Bé thường chơi quanh quẩn gần nhà, để ba đi cồn về, kêu một
tiếng là chú nhảy tót xuống xuồng bơi qua sông rước ba. Những ngày hái dưa
leo, má cùng qua cồn phụ ba thu hoạch, những lúc ấy Bé cũng được theo.
Ðứng trên cồn, nhìn ra con sông cái lớn rộng mênh mông, bên kia xa tít tắp
là phố chợ Sa Ðéc, ba nói bên đó có đường trải nhựa, buổi trưa nắng gắt
nếu không có dép mà đi là nóng phỏng chân luôn. Ðứng trên cồn, thỉnh
thoảng nhìn thấy mấy chiếc tàu lớn chạy qua xa xa ngoài sông, Bé thích
lắm. Tàu chạy qua lâu rồi mà sóng còn chưa vô tới bờ. Bé lượm mấy cục đất,
chạy lấy đà, quay thẳng tay liệng hết ga ra sông. Chẳng bứt xa khỏi bờ
được mấy, cục đất rơi không nghe tiếng chủm lớn như bên sông nhỏ trước
nhà, bởi tiếng gió và tiếng sóng óc ách vổ bờ át mất. Vòng sóng của cục
đất chìm xuống chưa kịp lan tỏa đã bị những con sóng khác xô trộn.
-
Ê, Bé...Bé...
Cả
đám con nít trong xóm cũng được ba má cho qua cồn tiếp bẻ dưa leo, việc
chưa xong chúng đã bỏ chạy đi chơi. Thằng Dứt có chiếc tàu làm bằng miếng
ván mỏng cắt hình tam giác dài, sau đuôi cặp hai chiếc đũa, quấn ngang là
một sợi dây cao su. Một cái chong chóng cắt bằng thiếc, đục lỗ xỏ qua sợi
dây cao su. Xoay thật nhiều vòng cái chong chóng và sợi dây rồi thả xuống
nước, sợi dây cao su đàn hồi quay trở ngược lại, nhả cái chong chóng thành
chân vịt đạp nước, đẩy miếng ván về phía trước. Trò này chơi ở trong mương
trong rạch thì tàu chạy rất ngon, có khi được ba bốn sãi tay mới ngừng.
Ra sông lớn thì thua, sóng dập mấy cái là chiếc tàu quay như chú vịt con
bị lươn rút! Cả đám thất vọng quay qua bày trò kết bè chuối. Bè được làm
rất công phu, cũng có mui như những chiếc tàu Pháp hay chạy trên sông, có
cả người lái nặn bằng đất, đầu đội cái nón khoét bằng chóp trái dưa leo
phần có cái cuống cong cong; chân không giày dép nhưng tướng tá lại giống
như thầy giáo trên trường. Trên bè có cả mấy con mèo chó, trâu bò... và lu
đựng gạo nữa. Kết xong chiếc bè thả xuống, nước chảy mạnh làm bè trôi rất
nhanh. Cả đám tiếc, sợ bè trôi mất, lại lấy sào vớt vô. Chiếc bè chuối cứ
cặp theo cồn mà trôi líu quíu cách bờ không đầy hai thước. Thấy vậy Bé
nói:
-
Thôi, mình đừng tiếc nữa, cứ đẩy cho nó trôi tuốt ra ngoài xa kia đi. Cho
nó đi qua bên chợ Sa Ðéc luôn đi.
Cả
đám chưa đứa nào biết chợ Sa Ðéc, nghĩ đến việc chiếc bè của mình trôi
được qua tới chợ Sa Ðéc thì khoái quá, bèn hè nhau lượm đất thi đua liệng
xua chiếc bè ra xa. Chiếc bè chuối trôi xa dần xa dần cho đến khi chỉ còn
là một chấm nhỏ xíu nhấp nhô trên sóng. Bé đứng nhìn theo mút mắt. Với trí
óc của một cậu bé mười tuổi, chú không biết trong mình đã manh nha có sẵn
ý thức mong muốn sự giải thoát, chú chỉ thấy thinh thích khi nhìn chiếc bè
trôi tự do giữa muôn ngàn con sóng lúc to lúc nhỏ... Những con sóng không
bao giờ ngớt dao động, lao chao...
Trường làng
^
Cái cặp bằng đệm, trong đó là một quyển Quốc văn giáo khoa
thư lớp ba, hai cuốn tập, cây viết mực ngòi lá tre, cây thước gỗ vuông
nhỏ dài ba tấc. Một bình mực tím, miệng bình có phễu, phòng khi bị lật,
mực khỏi đổ hết ra ngoài. Ðó là tất cả “lều chõng” của Bé để đi đến
trường. Cuốn sách cũ kỹ, quăn góc là của nhà trường cho mượn, hết năm học
phải trả lại cho lớp sau học tiếp, còn hai cuốn tập thì rất thẳng thớm,
sạch sẽ, luôn còn đủ 100 trang (tập ngày xưa in không tính luôn cả bìa như
ngày nay) không bị xé mất trang nào để biến thành chim én, tàu bay... như
tập của đa số các cậu bé tiểu học. Bé luôn được cô khen vì rất ngoan và
học giỏi. Bảng danh dự treo ở góc lớp bao giờ cũng có tên chú. Chú làm lớp
phó nhưng lại được phân công hô khẩu hiệu cho cả lớp trước khi vào học và
khi ra về. Còn nhớ mấy bữa đầu tiên vô lớp, thằng Tô là lớp trưởng, nó to
con, người ô dề kệch cợm, cô giáo vừa bước vô, nó đứng dậy hét to:
-
Học sinh - đứng!
Cả
lớp gào theo:
-
Nghiêm!
Cô
giáo người nhỏ nhắn, trắng bóc, có vẽ ốm yếu. Cô bước lên bục, ngồi xuống
ghế sau bàn giáo viên, vẻ mặt hơi cau có, phải đến một phút sau cô mới ra
hiệu cho lớp ngồi xuống. Thằng Tô lại hô tiếp, giọng của nó vẫn không giảm
khí thế hừng hực:
-
Học sinh – ngồi!
Cả
lớp nhìn vẻ mặt cô giáo, hơi xìu giọng:
-
Xuống!
Cô
giáo nhìn quanh một lượt, cất giọng hỏi:
-
Ai là lớp phó?
Cả
lớp nhao nhao:
-
Dạ, thằng Bé, cô.
Cô
giáo nghiêm mặt:
-
Không nói thằng. Kêu bằng trò Bé, nhớ chưa? Lớp này năm
ngoái ai dạy mà ăn nói kỳ khôi vậy? Trò Bé đâu?
Bé
đứng lên khoanh tay lễ phép:
-
Dạ thưa cô, con.
Cô
nhìn chú bé ốm ngẳng, gương mặt sáng sủa, hiền lành, vẻ hơi hài lòng,
nhưng cô bật hỏi:
-
Con làm lớp phó sao không ngồi đầu bàn nhứt, lại ngồi bàn nhì?
-
Dạ thưa cô, trò Út bị xếp ngồi sau lưng con, trò ấy lùn, không thấy bảng
nên con nhường...
Cô
giáo bảo:
-
Con đứng dậy hô khẩu hiệu cho lớp, cô nghe thử.
Bé
đứng lên, nhìn xuống lớp một cái rồi lấy giọng, hô chững chạc: “Học sinh -
đứng!” Giọng chú rõ ràng và nghe “êm” hơn giọng thằng Tô. Cô giáo gật đầu:
-
Từ nay em thay lớp trưởng hô khẩu hiệu, em xách cặp lên bàn nhứt ngồi đúng
chỗ.
Cả
làng có duy nhất một trường tiểu học nhưng cũng chỉ được hơn chục lớp với
một dãy phòng học lợp ngói. Trường có cổng và hai cánh cửa hầu như không
được mở đóng bao giờ. Bốn bức tường bao quanh khu vực trường cũng như có
như không, bởi đã bị xô ngã, lổ chổ những vết đạn bắn, lâu ngày không được
tu bổ sửa sang. Mấy chú học lớp nhứt có thể đi vào trường bằng cổng chính
hoặc cắc cớ thì nhảy qua mấy đoạn tường ngã đổ mà vào. Ðầu dãy là phòng
hiệu trưởng kiêm luôn phòng giáo viên. Cái trống được treo ở đó. Cái trống
tróc sơn loang lổ cũ kỹ nhưng âm thanh của nó thì luôn luôn mới tùy theo
tâm trạng của người đánh và người nghe. Trường có bác bảo vệ già, quanh
năm không bảo vệ được gì mà cũng chẳng có việc gì để bảo vệ ngoài việc bác
tự “bảo vệ” lấy bác trước đám học trò ranh mãnh, lí lắc. Nhiệm vụ của bác
là đánh trống, nhưng thường được mấy anh lớp nhứt tinh nghịch, xung phong
tự nguyện giúp bác, do vậy tiếng trống rất phong phú, khi thì tùng tùng
hăng hái như tất cả năng lượng của người đánh dồn vào mặt trống, khi thì
thùm thụp ngắt quãng như người cầm dùi đang bị thọt lét! Chỉ có lúc bác
đánh thì tiếng trống mới nghe đều đều quen thuộc. Sân trường trồng mấy cây
bả đậu lâu năm, tán rộng rất mát, có vài cái tổ chim cứ bị chọi rớt xuống
hoài. Cây bả đậu thân có gai nhọn nên không leo được, học trò cứ chọi tổ
chim, gạch đất rớt xuống nóc trường, nằm rải rác lổn nhổn đầy trên mái
ngói. Cứ mỗi lần nghe tiếng xủng xoảng trên mái, thầy hiệu trưởng bước ra,
cả bọn ùa chạy trốn, cũng có khi thoát, cũng có khi không, nếu trong đám
có “gian tế” mách lại với thầy. Thầy bắt quì cột cờ phơi nắng suốt giờ ra
chơi. Phơi nắng nhằm nhò gì nên chẳng đứa nào sợ, sợ nhứt là bị khẻ năm
đầu ngón tay thôi, khẻ năm đầu ngón tay đau dai dẵng, hậu quả kéo dài có
khi đến ngày hôm sau, không móc đất nắn đạn cu li hay làm tu hú được. Có
lần chọi rớt được một tổ chim se sẻ, cả bọn xúm lại giành. Tội nghiệp mấy
chú sẻ non chưa đủ lông cánh, xơ xác ngất ngư vì bị chuyền hết tay này qua
tay khác, ngắc ngoải sắp chết. Bé xin mãi cuối cùng cũng được chia cho một
con. Trống vào lớp, chú đành bỏ con sẻ non vào hộc bàn. Tan học, con sẻ
non chết ngắt. Chú cầm con sẻ trên tay vừa đi vừa khóc. Thằng Tô đi ngang
thấy vậy, chụp phắt con sẻ, quăng cái nhủm xuống sông, mắng:
-
Khóc khỉ gì? Ðồ mít ướt! Mơi tao kiếm con khác cho.
Thằng Tô coi thô bạo vậy chớ cũng được lắm, nó rất thương Bé. Hôm sau, nó
đem vô lớp cái hộp lon, gí vào tai chú:
-
Tao đố mày cái gì?
Tiếng ò...i...u...u... phát ra ri rỉ từ bên trong, Bé biết ngay:
-
Con ong bầu!
Thằng Tô cười:
-
Ừa, cho mày đó. Con ong bự tổ chảng luôn, để xa xa lỗ tai, kẻo nó đờn điếc
con ráy!
-
Dóc tổ! – cả nhóm cười xì. Thằng Tô rượt đá đít từng đứa, mỗi đứa một cái.
Bé đem cái lon để xuống cuối lớp, chú sợ trong giờ học mà nó nổi máu nghệ
sĩ, đờn um sùm thì cô giáo nghe, phạt chết. Sau giờ học, chú đem con ong
về nhà, khoe với má. Má nói: Coi chừng nó chun ra được, đánh chết. Ong bầu
mà chích là thúi thịt luôn. Má biểu đem thả đi, nhưng Bé tiếc, chưa chịu
thả. Chú vô bếp, bới một tô cơm ra võng ngồi ăn, vừa ăn vừa lắc lắc nghe
con ong ò í. Chợt chú nghĩ: nhốt trong đây hoài, con ong đói bụng, biết ăn
gì? Nó đói chết sao? Vét vội tô cơm, chú chạy qua nhà thằng Tô, hỏi:
-
Lấy gì cho con ong ăn?
Thằng Tô đang ngồi vò cả đống đạn cu li, ngước lên nói:
-
Ăn khỉ gì! Nó sống dai lắm, cả tuần chưa chết!
-
Nhốt nó tới chết thì thôi hả?
-
Hông lẽ mần mắm? Chết thì bỏ. Thằng này, khờ thấy mẹ!
Bé
xách hộp lon về, đi thẳng ra sau giàn mướp, mở nắp, thả con ong. Hí hửng
chạy vô khoe với má:
-
Má. Con thả nó rồi.
Má
đang loay hoay trong bếp hỏi:
-
Thả cái gì?
-
Thì con ong hồi nảy, má biểu con thả.
-
Ừa, giỏi, má thương, mai mốt đừng có chơi mấy thứ đó, ớn lắm nghen.
Bé
dạ thiệt ngoan, chú nhìn ra giàn mướp, chẳng thấy con ong đâu, chỉ có mấy
cái đọt mướp với dây leo lắn ngoắn huơ huơ trong gió buổi trưa mát rượi
thổi từ phía sông cái lớn qua cồn, thoang thoảng mùi rạ rơm phủ úm gốc dưa
leo. Bé lấy quyển sách trong cặp ra, phủi chân trèo lên bộ vạt tre, nằm
học bài. Hình như có tiếng con ong cứ i u bên tai, đưa chú vào giấc ngủ.
Chùa
quê
^
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái.
Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó
trong vườn. Buổi sáng, tiếng chuông mõ công phu bình dị hòa cùng tiếng gà
gáy sáng. Chùa Hải Huệ chỉ như một ngôi nhà lớn trong xóm, không mấy cách
biệt, do vậy bà con trong ấp Mỹ Hưng Hòa hằng ngày lui tới với chùa rất tự
nhiên, thân thiện. Ni sư trụ trì rất hiền lành, chất phác, nhu thuận.
Không như ở thành thị, cứ thấy chùa to Phật lớn, quang cảnh đẹp là mọi
người kéo nhau tới lễ bái, ít ai quan tâm tới chư tăng ở chùa ấy ra sao. Ở
quê, mọi sinh hoạt trong chùa cả xóm đều biết. Chùa nào thầy trụ trì đức
độ hiền lành là mọi người theo. Chùa ở quê rất nghèo, không có tiền nhưng
đồ ăn thức uống thì dư giả. Mùa nào thức đó: mùa xoài thì chánh điện tràn
ngập xoài, mùa nhãn thì vừa đến cổng chùa đã như bước vào vườn nhãn. Nhiều
nhất quanh năm là chuối. Những ngày rảnh, Bé thường cùng mẹ lên chùa phụ
quí cô ép chuối phơi khô. Chuối khô chất đầy trên mấy cái gióng tre treo
trong nhà bếp, lâu lâu có lái buôn, chùa phải gởi đi bán bớt để lấy tiền
mua nhang, mua dầu lửa thắp đèn. Người nào lên chùa cũng chỉ dâng cúng cây
trái nhà mình. Cô trụ trì cứ nhìn những thứ trên tay họ mà hỏi thăm về
vườn tược, thu hoạch, đời sống của họ. Chỉ đơn giản thế thôi nhưng tình
nghĩa vô cùng ấm áp. Nhà có việc gì họ cũng kể cô nghe, từ việc mẹ chồng
nàng dâu cho đến việc xích mích hàng xóm. Cô sống ở chùa từ nhỏ nên cũng
chẳng hiểu biết việc đời nhiều, nhưng cứ phải sắm vai nhà tư vấn tâm lý
giáo dục để khuyên nhủ mọi người. Những lời khuyên cứ khuyên đi rồi khuyên
lại, quanh quẩn bao nhiêu đó nhưng cũng tạm an lòng đôi chút. Lạ vậy, cũng
những lời nói ấy, nhưng nếu người này nói thì ta cho là sáo ngữ, hoặc
“biết rồi khổ lắm nói mãi...!” nhưng nếu người khác nói thì ta lại thấy
chí lý. Cái đức, cái duyên là vậy.
Chùa quê những năm chiến tranh này không tổ chức lễ bái rình rang, nhưng
người quê đi chùa chăm chỉ. Họ cầu an cầu siêu rất thiết tha. Trước tượng
Quan Âm lúc nào cũng khói hương thành khẩn. Người quê tin vào Phật, Trời,
Thần, Thánh một cách hồn nhiên, họ đâu cần biết Phật nói điều gì, trời như
thế nào, thần thánh ra sao, chỉ nghĩ đơn giản rằng “đội ngũ cõi trên” ấy
là điểm tựa cuối cùng của họ. Qui y Phật, qui y Tăng là chính, còn đối với
giáo pháp cao sâu họ chưa đủ điều kiện tiếp nhận. Tuy vậy, với Phật, với
Tăng họ đem hết lòng tin kính, có lẽ nhờ phước báu ấy mà đa số những bậc
cao tăng thường được sinh ra ở các vùng quê. Và chùa quê là cái nôi giản
đơn, mộc mạc đã nuôi lớn biết bao ý chí thanh cao thuần khiết.
Mẹ
của Bé thường lên chùa làm công quả, dù không biết chữ, nhưng giờ tụng
kinh, bà rất thành khẩn lên chánh điện quì, đợi tiếng chuông là cúi đầu
lạy Phật. Chùa không có tổ chức thuyết pháp, lên chùa chỉ nghe tiếng tụng
kinh, mà kinh thì đa số bằng tiếng Phạn, tiếng Hán khó hiểu, vậy mà theo
tiếng mõ tiếng chuông, tâm hồn những người dân quê cũng men ven đường
Chánh Pháp.
Ngày rằm, mùng một, cả nhà Bé đều đi chùa, phụ cô Sáu nấu nướng, dọn dẹp.
Ni sư trụ trì rất mến Bé vì không như những đứa trẻ khác, bao giờ lên chùa
chú cũng rất trang nghiêm, không leo trèo, phá phách, nghịch ngợm hay cười
đùa lớn tiếng. Trái lại, chú rất siêng năng, thành kính lễ Phật, tụng
kinh chăm chỉ. Nhìn dáng chú đứng chắp tay thành kính trước tượng Phật, cô
thầm đoán trong đầu: thế nào cậu bé này cũng xuất gia. Cái duyên với Phật
lộ rõ: mỗi lần đến chùa là chú cứ loanh quanh dọn dẹp lau chùi, phủi bụi
xung quanh bệ Phật. Chú làm rất say sưa tỉ mỉ. Một chút bụi dính trong kẻ
móng chân của tượng, chú cũng chồm người nhón chân lên lau thật kỹ. Có
lần, cô bắt gặp chú đứng nhìn ngắm rất say sưa tượng đức Di Ðà, cô hỏi:
-
Con nhìn gì kỹ vậy?
Chú
cười bẽn lẽn:
-
Sao con thấy thương ông Phật quá. Con muốn nữa mình cũng thành ông Phật
giống ổng.
Cô
bật cười:
-
Vậy con xin má cho đi tu đi. Tu rồi sẽ thành ông Phật như vậy.
Chú
phụng phịu:
-
Bữa hổm con có hỏi rồi, nhưng má hổng cho. Má nói con còn nhỏ, chùa hổng
có chứa.
-
Chứa chớ – Chợt thấy mình lỡ lời, cô dịu giọng – ờ, con cũng còn nhỏ, thôi
đợi lớn lên chút nữa hen.
Cô
xoa đầu chú, trong ánh mắt không giấu được một nét vui, kỳ vọng và tin
tưởng.
Xuất
gia
^
Bé có một người cô ruột, lớn hơn chú chừng mười tuổi. Cô là con
gái được cưng nhất trong gia đình, nhưng quyết chí đi tu và xuất gia năm
mười sáu tuổi. Có lần cô về thăm nhà, Bé níu áo cô kéo ra góc vườn hỏi
nhỏ:
-
Cô ơi, sao cô đi tu?
Cô
cười hiền lành, nhỏ nhẹ kể cho Bé nghe:
-
Hồi cô còn nhỏ, nhà bà nội hay được quí thầy cô ghé thăm. Mấy thầy cô điềm
đạm, nhân từ, dễ thương lắm! Cô nhìn thấy người tu sao mà thanh thoát quá.
Tự dưng cô thấy ham đi tu, được mặc áo giống như quí cô...
Bé
ngắt lời:
-
Còn cạo đầu, bộ cô hổng thấy mắc cỡ sao?
Cô
cười ngất:
-
Có gì đâu mắc cỡ, đội cái khăn lên cũng đẹp vậy. Ừa, mà sao cô hổng thấy
cạo đầu là xấu đâu nghen, ai nói xấu chớ cô đâu có thấy xấu! Mấy người bạn
cũ của cô cứ nghĩ chắc là cô thất tình hay chán đời, bất bình gì đó nên
mới đi tu...
Rồi
dường như có điều gì bức xúc, cô nói luôn một thôi một hồi: Người đời như
con cá lìm kìm trong mương trong rạch, nước chảy liu riu, sóng xô nhỏ xíu,
làm sao biết được con sông cái lớn rộng cỡ nào, sóng dậy ra sao? Cứ tưởng
tất thảy nước trên đời chỉ có bi nhiêu, sóng chỉ lô nhô chừng ấy, lấy dạ
tiểu nhân đo lòng quân tử, làm như chùa là nơi để trốn chớ không biết đó
là chốn quay về.... - Cô chợt bật cười - ý quên, cô hơi bực mình nên nói
tùm lum, nói vậy làm sao con hiểu nổi! Thôi, mai mốt nếu đủ phước duyên,
con đi tu thì tới lúc đó con sẽ hiểu liền.
Bé
không hiểu thiệt, chú chỉ quan tâm đến điều khác, nên hỏi tiếp:
-
Cô đi tu, nội hổng có la cô hả?
Cô
lắc đầu cười rất thảnh thơi:
-
Nội chịu cho cô đi tu lắm. Nội nói có chồng có con khổ lắm, đi tu là nhẹ
nhàng.
Bé
xịu mặt:
-
Vậy mà ba với má con hổng cho con đi tu.
-
Con có xin chưa?
-
Dạ có. Thầy Thiện Thọ về xin con hai lần rồi mà ba má hổng cho. Ba nói mới
có con là con trai đầu lòng, là anh hai lớn nhất trong nhà. Má thì nói con
còn nhỏ, đi xa nhà tội nghiệp. Mấy anh An, Hiền, Phước, Ðức... thầy cũng
dắt đi hồi bằng con bây giờ chớ nhiêu. Mỗi lần thầy dắt mấy ảnh về thăm
nhà, con càng nôn muốn đi theo. Cô biết hông, con có hỏi nhỏ mấy ảnh: “đi
tu ở trển có vui không?” Mấy ảnh nói là vui lắm. Thầy dạy chữ nho vẽ ngộ
lắm, dễ ẹc hà, không phải như tiếng Pháp mà mấy anh lớp nhứt trường con
học đâu.
Cô
im lặng, sau đó không biết có nói gì với ba má không, nhưng đến lần thứ
ba, khi thầy Thiện Thọ về, thầy lại qua nhà xin ba thì ba đồng ý.
Thầy Thiện Thọ là trụ trì chùa Phước Lâm ở Tân Uyên – Biên Hòa. Thầy có
bà con xa với ba. Thỉnh thoảng thầy về thăm người anh ruột ở nhà kế bên.
Trong xóm, thầy đã dẫn đi tu hết sáu đứa cũng cỡ bằng tuổi Bé.
Vậy
là đi. Bữa đó hình như má khóc nhiều lắm. Ðêm, má ôm Bé ngủ, dặn dò đủ
thứ, chú ậm ừ cho qua chớ nào có nhớ gì, lòng mãi nghĩ nôn nóng về chuyến
đi. Ba cũng vậy, hình như suốt đêm ông không ngủ, đi tới đi lui đốt nhang
trên bàn Phật hoài. Thầy không cho tiễn, má đứng ở cửa khóc, còn ba đưa
theo được có đoạn đường, tới chùa Hải Huệ là thầy biểu ba về. Lên tới xe
rồi, ngồi lúc lâu bên thầy tự nhiên Bé bỗng thấy nhớ nhớ... Tự dưng muốn
khóc gì đâu! Hình như thầy thấy được tâm trạng chú nên kéo chú ngồi lại
gần hơn rồi dỗ:
-
Con đừng sợ. Ði tu với thầy, thầy thương lắm. Mai mốt nhớ nhà thì thầy đưa
về thăm, có gì đâu!
Chú
ngoan ngoãn ngồi nép vô thầy. Xe chạy, cảnh vật mới mẻ hai bên đường thu
hút chú, chú mãi lo nhìn ngắm và tạm quên...
Chùa Phước Lâm là một ngôi chùa nhỏ do Hội Phật học Nam Việt xây cất.
Chùa nằm trong xóm Uyên Hưng, thuộc chiến khu Ð, Biên Hòa. Ngôi chùa nhỏ
nằm trong một khu dân cư thưa thớt. Quanh chùa trồng nhiều bưởi, chuối.
Ðất rộng nhưng thiếu người chăm sóc trồng trọt nên quang cảnh khá hoang
sơ. Lần đầu tiên bước chân vào một ngôi chùa mà mình rồi sẽ được ở lại đây
luôn, Bé vô cùng bỡ ngỡ. Thầy dẫn chú vô chánh điện lạy Phật, lạy Tổ rồi
gọi hết mấy chú trong chùa ra giới thiệu:
-
Ðây là các huynh đệ của con. Từ nay thầy đặt cho con pháp húy là Nhật Bé,
pháp hiệu Chơn Thanh...
Hầu
hết là mấy anh em đã quen nhau. Sư huynh Chơn An, Chơn Hiền, mấy chú đồng
trang lứa: Chơn Hòa, Chơn Hợp, Chơn Phước, Chơn Ðức và hai chú nhỏ hơn
Chơn Ðạt, Chơn Tâm đều là bà con họ hàng hoặc người trong xóm nên Bé cũng
bớt lo lắng lạ lẫm. Sư huynh Chơn An dẫn Bé đi tắm rửa và các chú xúm lại
chia quần áo cho Bé mặc tạm thời trước khi may áo mới. Lần đầu tiên khoác
lên mình cái áo đà của nhà chùa, Bé cứ thấy ngồ ngộ làm sao. Cảm giác nô
nức gần giống như lúc mặc áo mới ngày tết, nhưng hình như nó còn thiêng
liêng, quan trọng và đặc biệt hơn nhiều.
Buổi tối, lên chánh điện tụng kinh. Vẫn những bài kinh chú đã thuộc, đã
tụng cùng ba ở nhà hoặc những ngày rằm, mùng một lên chùa Hải Huệ tụng
cùng quí cô, nhưng sao buổi tụng kinh hôm nay Bé thấy long trọng quá. Chắc
vì chú tự cảm thấy mình đã được đứng vào hàng ngũ người tu thiệt rồi.
Ðêm
ấy, đêm đầu tiên xa nhà, nằm giữa các huynh đệ trên bộ ván, nghe tiếng dế
kêu, tiếng lào xào của gió bên ngoài... Bé nhớ nhà vô kể. Hình như tiếng
gió ở đây cũng khác với gió ở nhà, mọi âm thanh đều khác. Bé bắt đầu thấy
nhớ ba, nhớ má, nhớ em... Không biết giờ này ở nhà má có thức nhớ Bé
không? Ba tụng kinh một mình chắc là buồn lắm? Bé thấy nước mắt chảy ra
nóng hỗi. Chú nằm quay mặt vô vách, thút thít khóc. Lát sau, lỗ mũi nghẹt
cứng một bên, chú trở mình quay ra thì thấy thầy đang đi rón rén về phía
cái đèn dầu trên bàn, vặn to lên rồi bước lại ghé sát mặt vào mùng của
chú. Chắc thầy xem coi chú đã ngủ chưa. Chú nằm im nhắm hi hí mắt, cố thở
đều đặn. Thầy đứng nhìn hồi lâu rồi đi ra, không quên vặn nhỏ ngọn đèn như
cũ. Chú cũng thiếp ngủ đi lúc nào không biết.
Thầy chọn ngày tổ chức lễ xuất gia cho các chú. Hôm ấy có mấy thầy lớn và
một số Phật tử của chùa. Gia đình các chú đều ở xa, thời buổi chiến tranh
đi lại khó khăn nên không ba má đứa nào đến tham dự được. Chùa được bày
trí nghiêm trang. Thầy dẫn các chú đến quì trước bàn Tổ, nguyệân hương, lễ
lạy rồi ra chánh điện tụng kinh, làm lễ xuất gia. Trước bàn Tổ thầy hỏi
từng chú:
-
Vì sao con xuất gia?
Dù
đã suy nghĩ để trả lời từ trước, nhưng chú nào cũng lúng túng bạch thầy
với giọng run run vì không khí trang nghiêm, long trọng. Sau vài lời huấn
thị, thầy bắt đầu cạo tóc cho từng đứa:
Hủy hình
thủ chí tiết
Cắt ái từ
sở thân
Xuất gia
hoằng thánh đạo
Thệ độ
nhất thiết thân
Và tất cả các
huynh đệ đều tụng đọc:
Thế trừ
tu phát
Ðương
nguyện chúng sanh
Viễn ly
phiền não
Cứu cánh
tích diệt
Phủi xong mớ tóc, áo nâu đầu trọc, nhìn chú nào cũng có nét giống nhau.
Sau lễ xuất gia, dù chỉ là những đứa trẻ con nhưng hình như mỗi chú cũng
có một tí “tâm trạng”. Chú nào tính tình vô tư, không bận tâm thì chẳng
thấy gì khác mấy, chỉ có cảm giác cái đầu không có tóc hơi là lạ, cứ thấy
như người nhẹ hẫng, trống trải, thiêu thiếu một cái gì đó. Chú nào biết
nghĩ, đa cảm hơn một chút thì thấy người mình hình như gọn gàng hơn, thoải
mái hơn; vừa nghe như có chút tự do lại vừa nghe như có điều chi ràng
buộc. Tất cả các cảm giác ấy rồi cũng qua nhanh. Trẻ con dễ nhớ nhưng cũng
chóng quên. Ở tuổi này các chú chưa biết lắng nghe cảm xúc của mình (càng
không biết phân tích, săm soi) như người lớn. Không hiểu và cũng đâu cần
thiết hiểu làm gì, các chú cứ hồn nhiên sáng nhớ chiều quên, thơ ngây mà
tự tại.
Chú điệu chùa Phước Lâm ^
Bắt đầu đi vào nề nếp sinh hoạt của chùa. Buổi sớm, hết mấy
thầy trò thức dậy công phu rồi tập thể dục. Hôm nào cũng vậy, dẫu không
cần áo lễ tươm tất, cứ quần áo tập thể dục như vậy, cả chùa đều phải lên
chánh điện chắp tay đọc lời phát nguyện rất nghiêm trang: Nguyện trọn
đời hiến thân cho Ðạo để phục vụ Chánh Pháp, phục vụ chúng sanh. Chỗ nào
Chánh Pháp cần, con đến; chỗ nào chúng sanh cần, con đi. Chẳng kể gian
lao, chẳng nề khó nhọc.... Sau đó các chú đi bộ đến trường làng để
học. Buổi chiều ở chùa thầy dạy. Sợ nhất là môn học Huấn Mông, mỗi
ngày học từ ba đến bảy chữ tùy theo đứa học trước học sau. Mỗi tuần thầy
đều bắt viết lại để kiểm tra, cứ sai một chữ là bị phạt một roi. Cây roi
mà sư huynh Chơn An đặt tên là Ðả Thần Tiên hầu như không tuần nào
là không “viếng thăm” mấy cái mông các chú.
Mỗi
khi thầy đi vắng là cả đám điệu được nghỉ buổi học Hán văn, tha hồ vui
chơi tự do, thoải mái. Hôm nay trời mưa, không ra ngoài chạy giỡn được,
không biết làm gì, mấy chú tụ tập lại chơi trò vật tay, chơi ăn gian rồi
cải nhau ỏm tỏi. Sư huynh Chơn An đang nằm học kinh, thấy vậy bèn gọi:
-
Ðứa nào nghe kể chuyện Tề Thiên hông?
- N..g..h..e..! – Cả đám reo lên mừng rỡ, chạy ào lại, xô vào
người sư huynh. Chơn An bật dậy, dàn xếp đám nhốn nháo:
-
Ngồi im đàng hoàng, huynh kể. Bữa hổm tới đâu rồi?
-
Tới chỗ Tề Thiên khoe cái áo cà sa với Kim Trì trưởng lão...
-
Ừa, Lão viện chủ thấy áo quí quá bèn sanh tâm chiếm đoạt. Lão mượn áo cất
đi rồi sai đệ tử trong chùa nửa đêm chất củi đốt phòng thầy trò Ðường
Tăng. Tề Thiên thấy những người này dã tâm ác quá nên tương kế tựu kế, bày
trò gậy ông đập lưng ông, bèn đằng vân lên trời mượn cái tháp chắn lửa,
đem về che một mình thầy Tam Tạng lại, còn thì để cho đám người kia đốt
phòng chơi, cháy một phòng chưa đã, Tề Thiên liếng khỉ thổi thêm gió phù
phù... cho lửa cháy lan hết cả chùa. Lửa cháy phừng phừng không dập tắt
nổi, lão viện chủ và đám đệ tử chạy quắn đít!
-
Ha ... ha... Ðáng đời! Cháy cho chết mấy lão tham lam, ăn cắp...ha..
ha...
Cả
đám nhảy lên cồng cồng, reo hò vật nhau ngã lăn lóc. Bỗng Chơn Phước nói
lớn:
-
Hay mình chơi trò đóng giả Tề Thiên đi.
Cả
đám nhao nhao:
-
Phải rồi, phải rồi, chơi đi...
Vậy
là phân công: Chơn Ðức làm Tề Thiên, Chơn Hòa làm Trư Bát Giới, Chơn Hậu
làm Sa Tăng, và Chơn Thanh làm Tam Tạng, còn Chơn Nghĩa làm con ngựa. Con
ngựa lấy bốn cái miễng vùa, xỏ lỗ cột vô tay chân làm móng. Ngựa Chơn
Nghĩa bò bằng miễng vùa nghe lộp cộp, cõng “Ðường Tăng” Chơn Thanh trên
lưng. Ngựa ngẫu hứng hất thầy văng ngã lăn cù, cả bọn cười ầm ĩ rồi la
hét rân trời! “Ðạo diễn” Chơn An mệt hết hơi vì đám diễn viên phá bĩnh cứ
diễn những trò không có trong “kịch bản”.
Sư
huynh Chơn An đi học, những ngày nghỉ huynh thường về chùa thăm thầy.
Huynh có rất nhiều chuyện để kể. Có lần huynh kể chuyện Thạch Sùng. Huynh
kể hay đến nỗi cả đám đều thấy ghét Thạch Sùng, ghét đến mức nảy ra “sáng
kiến”: diệt thằn lằn! Vậy là cả bọn lấy dây thun đi tìm thằn lằn mà bắn.
Tội nghiệp mấy chú thằn lằn trong chùa hôm ấy gặp phải nạn kiếp, lớn nhỏ
cả bầy - dù thằn lằn xám ở nhà bếp hay thằn lằn vàng trên chánh điện -
đều bị săn lùng ráo riết. Hầu hết từ bị thương đến ngắc ngoải, đuôi không
rụng thì cũng móp mỏ, oằn lưng... Hôm đó, thầy gọi cả đám vào phòng, bắt
đứng thành hai hàng rồi nói:
-
Các con bắn giỏi quá ha?
Thầy tréo hai tay sau lưng, đi tới đi lui trước hai hàng “tội phạm”, gương
mặt thầy có vẽ “bí hiểm” làm sao! Cả đám nghe thầy “khen” mà tim đập
thình thịch! Thầy dừng lại trước mặt từng đứa, hỏi:
-
Con bắn trúng ở chỗ nào?
Mỗi
đứa lần lượt trả lời, đứa bắn trúng đầu, đứa bắn trúng cổ, trúng lưng,
trúng đuôi.v..v... Sau đó thầy bảo cả đám cởi hết quần áo ra, đứng áp vô
tường ôm cột như con thằn thằn, rồi bắt từng đứa thay phiên nhau, đứa này
lấy thun bắn đứa kia ba chục cái thật mạnh vào đúng vị trí mà đứa đó đã
bắn trúng thằn lằn. Phải kéo căng sợi thun, bắn hết ga kêu cái bụp vào
người đau điếng nhảy dựng mới kể, bắn nhẹ là không tính, đếm lại. Chơn
Thanh thưa với thầy là chỉ bắn dọa chớ không bắn trúng. Thầy bảo chú khỏi
quay mặt vô tường mà quay mặt ra, đứng nhìn cảnh các bạn chịu hình phạt,
xong rồi thầy đích thân cầm cọng thun đi lại kê ngắm thẳng vào mũi chú,
nhưng bắn cái chóc vào vách tường sát bên lỗ tai. Nảy giờ nhìn “thảm cảnh”
rùng rợn, chú đã sợ thất kinh hồn vía, mồ hôi chảy ròng ròng, da gà da vịt
nổi cứng cả người, giờ tới lượt mình, nghe tiếng dây thun xé gió nả cái
chát vô tường, chú điếng hồn nhắm mắt lại khóc thét! Thầy ngừng tay hỏi:
-
Không trúng mà sao khóc?
-
Dạ... con sợ... - chú mếu máo.
-
Sợ nhiều không?
-
Dạ... sợ dữ lắm! Sợ dữ lắm thầy ơi... - giọng chú run lập bập líu cả
lưỡi.
-
Con sợ sao thì thằn lằn nó cũng sợ vậy. Mai mốt còn bắn thằn lằn nữa
thôi?
-
Dạ thôi, dạ thôi, con hổng dám vậy nữa! – Chú nức nở.
Cả
đám đỏ cả lưng, sưng cả đít, đầu cổ bỏng rát, không dám khóc lớn, dắt nhau
lủi thủi theo sư huynh Chơn Hiền đi xức dầu vô chỗ bị bắn. Sư huynh vừa
xức dầu cho cả đám vừa khịt khịt mũi cố kềm cái sống mũi cay cay...! Lúc
mặc áo cho Chơn Thanh, thấy áo chú bị rách một lỗ, huynh đi lấy kim chỉ ra
vá lại cho chú rồi mới mặc vào. Vỗ về cả đám:
-
Mai mốt đừng chơi dại vậy nữa nghen!
Mà
nào có “đừng” được. Vài hôm sau thầy đi vắng, cả đám lại bài ra trò đi đào
dế đá. Trận đó lại cũng bị thầy phạt kiểu như trước, mấy cái đầu trọc sưng
vù vì phải làm dế đá nhau!
Ở
Phước Lâm, vui nhất là ngày có ba ở quê lên thăm. Ba đi với chú sáu - ba
của Chơn Ðạt. Thời chiến tranh, đường xá lại xa xôi, từ quê lên phải đi
mấy chặng xe. Hai người cha xách lên nào bắp, nào khoai, nào bánh tét nhưn
chuối.v..v... Cầm đòn bánh tét do má gói, chú bật khóc. Má thương chú
nhiều lắm, lần nào cũng đòi đi, nhưng nhà không thể đi hai người vì sợ tốn
tiền xe. Má dành dụm, gói ghém tất cả những món gì chú thích, gởi theo ba
kèm những giọt nước mắt. Có lần má lên thăm, hỏi chú có bị thầy đánh đòn
không, chú nói có. Nghe con trả lời một cách nhẹ nhàng mà lòng má đau
thắt, nước mắt tự nhiên tuôn ra không lau kịp! Chú hoảng hồn, không ngờ là
má lại khóc dữ như vậy. Chuyện bị đòn ở đây là thường. Chơn Ðức đứng gần
đó, thấy má chú khóc, bật nói: “ Ở đây đứa nào không bị đòn mà thím khóc?
Ðứa nào hổng bị đòn là thành Phật rồi! ”. Chơn Ðức kéo má lại nói nhỏ: “Ðố
thím ở đây quần áo tụi con rách chỗ nào trước?” Má lắc đầu, Chơn Ðức nói:
“ Rách đít! Bị roi cạp liền liền, mau rách lắm!”. Má bật cười, lau nước
mắt và kéo Chơn Ðức vào lòng, định giở lên coi thử, nhưng Chơn Ðức vùng
chạy trớt, để lại một tràng cười ngất: “Bộ thím tính đi tìm kho báu
hả? Cái mông của con là cái bản đồ kho báu quí lắm, bí hiểm vô cùng, đường
dọc đường ngang rối còn hơn ổ tám chục đời con nhện nữa đó!”... Nói xong,
chú thoắt cái tót lên ngọn cây bưởi. Chơn Thanh an ủi má: “Chú Ðức phá
trời thần, lại làm biếng học nên mới bị đòn nhiều, con ít bị đòn lắm, má
đừng lo cho con”. Nghe chú nói vậy, má mới yên bụng.
Ba
lên thăm ở chơi đôi ba ngày, những ngày ấy chú càng cố gắng học thật tốt,
thật ngoan để không bị sư phụ nhắc nhở.Chú sung sướng nhất là lúc ba hỏi
thăm về chú, thầy gật gật đầu: “nó cũng được...” Chỉ bấy nhiêu lời thôi
mà chú hãnh diện lắm, chú nghĩ mình đã làm cho ba vui. Chú đem những quyển
tập học ra cho ba coi, toàn những điểm và lời phê tốt. Ba vỗ vỗ vào lưng
chú, rồi ôm lấy chú, nói: “Con ráng học giỏi, ở tu với thầy, đừng có quậy,
bị đòn đau lắm nghen con...”. Nói là nói vậy chớ ba thừa biết là chú rất
ngoan hiền. Ở nhà ba má chưa từng bao giờ đánh chú một roi.Tan học ở
trường là chú chạy thật nhanh về để có thời gian ở bên ba nhiều nhiều một
chút. Thà không lên thăm thì còn nhớ ít, ba lên thăm về rồi là mấy ngày
sau chú còn ngẩn ngơ. Ðưa ba ra bến xe lam về quê, chú đứng nhìn theo cho
đến khi đám bụi khói sau xe tan hết mà nước mắt vẫn còn rớt. Vậy mà khi về
chùa, sư huynh Chơn Hiền hỏi nhỏ: “Có muốn theo ba về quê, nghỉ tu luôn
hông?” thì chú đáp: “Em nhớ má nhớ ba lắm, nhưng em nói là em theo thầy tu
rồi, dù gì đi nữa cũng không bỏ tu mà về.” Chơn Hiền cười, vuốt đầu chú và
nói: “Giỏi! Nhớ vậy nghen”. Rồi hai huynh đệ ngoéo tay, cười toe toét.
Không hiểu từ lúc nào thầy đã đứng bên cánh cửa, nhìn ra thấy cảnh đó,
chắc thầy cũng đoán được anh em chú thì thào với nhau điều gì. Gương mặt
thầy xúc động và lộ rõ sự hài lòng. Thấy chú quay qua bắt gặp, thầy im
lặng đi vào phòng. Nhìn theo dáng thầy, không hiểu sao trong lòng chú trổi
lên một niềm thương kính kỳ lạ. Chú nghĩ bụng: không bao giờ chú bỏ thầy.
Năm
1964, học xong chương trình gia giáo, tinh thông hai thời công phu và bốn
quyển Luật bằng chữ Hán, thầy quyết định đưa chú xuống học lớp Sơ đẳng
Phật học ở chùa Phổ Quang. Những ngày hành điệu ở Phước Lâm đã qua, lưu
lại trong chú biết bao là kỷ niệm. Làm sao quên được những đêm gần tết nhớ
nhà “khóc phong trào”, một đứa thút thít là cả dãy sùi sụt. Có lần, sau
một trận khóc tập thể, đám trẻ ngủ say vùi, đạp rớt cả Chơn Ðạt – chú nhỏ
nhất – xuống đất, Chơn Ðạt lồm cồm bò lên, bộ ván cao, vừa té đau giật
mình nên cứ leo lên rớt xuống, chú bật khóc hu hu... cả đám thức giấc,
nghe tiếng lại tưởng là có... khóc đợt hai, bèn hưởng ứng (!). Lần này vì
người khởi xướng khóc hơi lớn nên dàn đồng ca cũng theo đà nâng cao âm
lượng, sư huynh Chơn Hiền từ bộ ván bên kia giật mình thức giấc, hỏi:
“Chuyện gì vậy?” Chơn Ðạt bệu bạo: “Mấy ảnh đạp con té xuống đất đau quá
sư huynh ơi!” Cả đám vỡ lẽ, nín khóc, lại quay qua rúc rích cười!...
Rồi
những ngày học bài chưa thuộc, ham chơi, bị thầy đánh đòn. Cây đả thần
tiên của thầy sao mà nó đau chết điếng! Những buổi tụng kinh lễ Phật
lắng vào tiềm thức, thành thói quen. Mái chùa Phước Lâm trở nên thân
thuộc, đi vào ký ức tuổi thơ của chú còn đậm nét hơn cả ngôi nhà nơi chú
sinh ra. Hình ảnh vị thầy lưu dấu rất rõ trong tâm tưởng. Thầy đã cho chú
những bài học quí giá nhất mà sau này đi xa, lớn lên, thu nhận đệ tử rồi
chú mới hiểu được hết.
Bổn sư Thiện Thọ ^
Thầy
là người quê Ðồng Tháp. Xuất gia năm bảy tuổi. Người dong dỏng cao, gầy
gò, gương mặt nghiêm trang, cương nghị. Thầy chủ trương thu đệ tử là những
chú nhỏ cùng quê để dễ hiểu tính tình, dễ thông cảm, dạy dỗ. Thầy dạy đệ
tử rất nghiêm. Từng cách đi dáng đứng, từng cử chỉ oai nghi đều được thầy
chi li giảng giải và áp dụng thực hành nghiêm nhặt, sai là phạt không
nương tay. Thầy dạy kỹ càng từ việc nhỏ đến việc lớn, từng động tác tụng
kinh, gõ mõ: khi đánh mõ lắc tay ra sao cho tiếng kêu chắc gọn, dứt khoác;
đánh chuông thế nào cho tiếng ngân vang xa mà chuông không bị lắc lư. Ở
tuổi ăn tuổi ngủ, tuổi hồn nhiên vô tư, các chú điệu đánh mõ mà để mõ “đi”
khỏi tầm tay, dùi gõ xuống nền gạch là chuyện bình thường; chuông nhỏ nhỏ
thì đánh lật cả chuông là chuyện không lạ. Thầy thường đem những trường
hợp như vậy ra “rao” trước, ai phạm phải sẽ bị hình phạt như thế nào. Bao
giờ cũng vậy, khi dạy đệ tử, thầy luôn dẫn chứng những tình huống có thể
xảy ra để học trò biết và tránh trước. Cách dạy dỗ của thầy sâu sát chi
li, thực tế. Thầy không quản khó nhọc. Có lần, thầy gập người, chịu cho
muỗi cắn, núp cả dưới gầm bệ Phật nghe đệ tử tụng kinh, để xem khi không
có mặt thầy, các đệ tử có đọc tụng rõ ràng không. Thầy lắng nghe rất kỹ,
ai đọc sai, đọc lệch, đọc lướt một chữ là thầy đều biết. Sau buổi tụng
kinh, ai phát âm không chính xác từ nào, thầy bắt đứng đọc lại hoài mỗi
chữ năm phút. Thầy rất thẳng tính, nghiêm khắc. Sai đâu là sửa đó liền,
không cho qua, dễ dãi. Ở chùa, ngày thường thầy không để phật tử vào chùa
nấu cơm. Mấy chú thay nhau làm trị nhật. Khi mấy chú bận học, thầy đích
thân xuống bếp nấu cho cả chùa ăn. Ðối với mấy chú điệu, thầy phân công
một chú phụ trách phần ghi chép báo cáo tất cả những “hoạt động” của các
“tiểu hòa thượng”. Người ghi báo cáo mà ghi không đủ, giấu diếm là bị phạt
nặng. Ghi người, không ghi mình bị phạt còn nặng hơn. Chơn Hậu là người
được thầy chỉ định cho công việc ghi chép báo cáo. Dẫu rất sợ thầy, sợ bị
phạt nhưng lứa tuổi mà ngoài đời gọi là “nhất quỉ nhì ma...” thì có hình
phạt nào ngăn cản được dài lâu những trò tinh nghịch. Chơn Hậu không hề vì
“địa vị” của mình mà kém nhiệt tình với các trò chơi, chú cũng bày trò
không kém ai. Do vậy, đôi khi ghi chép cũng biết “châm chước”, biết “quên”
những chi tiết không nhớ xuể. Vì thế nên thầy “anh minh” phái thêm một
“đạo hữu” ngoài chùa, đó là thằng bé Quân trong xóm. Tên điệp viên này rất
lợi hại. Sau một trò chơi có nó tham gia, nếu nó hài lòng thì thôi, nếu
các chú ỷ đông, phe nhà...chùa có ăn gian chút đỉnh thì y như rằng sau khi
“tòa” xử, nó còn khiếu kiện bổ sung. Không bao giờ thầy thưởng kẹo bánh
cho nó ngay sau khi nó méc, sau đó vài ngày thầy mới kêu nó lại cho. Thầy
làm như vậy là có chủ ý, thầy không thưởng cho nó vì chuyện mách lẻo, mà
“trả lương” cho nó vì công tác làm gián điệp. Thầy không dạy dỗ ra miệng,
nhưng trong mỗi hành xử, thầy đều có hàm ý giáo dục. Cách mách lẻo của
thằng Quân cũng rất đặc biệt. Thường là nó lựa khi thầy đang nằm trên
võng, nó mon men lại nằm phía dưới bộ ván, đưa võng nhè nhẹ cho thầy. Cái
bàn tay nhem nhuốc đất cát của nó ban đầu thì nắm đầu võng chỗ chân thầy,
sau vài lượt đưa, bàn tay nó lần lần nắm xuống gần chân thầy hơn, cho đến
khi đụng chân thầy thì nó khều nhẹ nhẹ vào ngón cái rồi bắt đầu ngồi dậy
nói, bao giờ cũng điệp khúc câu hỏi lung khởi mào đầu: “Thầy, thầy biết...
tại sao... ai... cái đó?...” Những chi tiết bổ sung của nó đều được thầy
thẩm tra và ghi vào cáo trạng, lần sau tái phạm là giở “tiền án” ra mà
nghị tội cộng thêm vô. Có lần, sau khi sư huynh Chơn An kể chuyện Tề
Thiên, như thường lệ, cả đám liền tổ chức một phái đoàn đi thỉnh kinh.
Chơn Ðạt và Chơn Tâm nhỏ nhứt đám, lần nào cả đám bày trò chơi thì hai chú
cũng bị phân công canh gác, thấy thầy về tới là báo động. Cũng có hôm Chơn
Thanh tự nguyện gát thay để hai chú nhỏ có dịp được chơi. Hôm ấy hai chú
“biểu tình” đòi chơi, nhưng không ai chịu ra gác thay, Chơn Thanh mắc làm
Tam Tạng, không thể đi gác thay cho hai chú. Vai Tam tạng không ai đóng
được vì tiêu chuẩn “tư cách đạo đức” gắt gao, chỉ có Chơn Thanh là được
mọi người tạm hài lòng đồng ý cho làm Tam Tạng bởi tính tình chú rất nhu
hòa,hiền lành, lại thông minh học giỏi, không bao giờ gây gổ bạn bè. Chú
lại là người đạt danh hiệu người có thân hình “sạch sẽ” nhất (ít có
lằn roi dọc roi ngang) nên đóng Tam Tạng là oai nghi nhất. Hôm đó Chơn Ðạt
và Chơn Tâm phụng phịu ra gác, hai chú tức mình, tự đóng làm yêu quái với
Tề Thiên. Tề Thiên rượt yêu quái chạy xa tuốt trong xóm, quên luôn nhiệm
vụ canh gác. Thầy về, không ai báo động, cả đám vãn hát không kịp, bị bắt
tại trận đang như đám giặc chòm inh ỏi cả chùa. Thế là thiết bảng của Tề
Thiên quay lại đánh luôn cả Tề Thiên. “Hậu Tây Du” kết thúc, cả đoàn đi
Tây Trúc - dù xuất thân Ðại Ðường nhưng đều trở thành “Ðại Mông” (sưng
đít) hết! Vậy mà thằng Quân còn chưa hả dạ, mấy lần trước chơi trò này nó
luôn bị phân vai đóng tiểu yêu, ma quỉ, đối tượng để Tề Thiên đánh đấm tha
hồ. Ðôi khi nó “bức xúc” quá, nổi loạn xin đổi vai đóng làm Tam Tạng, được
cỡi ngựa một chút, nhưng mấy chú cắc cớ bảo nó phải cạo đầu thì mới cho
làm. Nó ức lắm, ôm mối căm hờn nhưng không thể méc thầy vì nó vẫn muốn duy
trì trò chơi, dẫu toàn bị đóng vai chịu đòn nhưng ít ra thỉnh thoảng cũng
phản công ngoài lề được vài cái, đỡ hơn lộ ra, thầy không cho chơi nữa thì
cũng buồn. Lần này lộ rồi, nó thả giàn luôn, chuyến này cho thầy quánh cả
đám một trận “tốc xả mê đồ” luôn! Nó chờ thầy lên nằm trên võng, liền bắt
đầu điệp khúc:
-
Thầy, thầy... thầy có thấy cái Y của thầy bị dơ không?
-
Ðâu? Sao vậy? – thầy bật ngồi dậy hỏi.
Hồi
nảy... - thằng Quân nhìn trước nhìn sau, chợt nó thấy sư huynh Chơn An vừa
bưng thuốc vô cho thầy, nó khôn ngoan lấp liếm, nói lớn: - Hồi nảy sư
huynh có la rồi, chú Chơn Hậu đem vô trả lại mà làm rớt xuống đất, chỗ gần
lu nước nên bị dơ...
Sư
huynh Chơn An nghe vậy, vội nói đỡ:
-
Dạ, thưa thầy, hồi nảy mấy chú có lấy Y của thầy ra để làm cà sa cho Tam
Tạng, nhưng vừa lấy ra, con thấy, đã rầy mấy chú rồi, Mấy chú sợ lắm, đem
vô trả lại nhưng lỡ tay làm rớt nên bị dơ chút xíu, con định lát nữa sẽ
đem giặt...
Thầy nóng nảy quát:
-
Hết biết tụi con rồi! Dám đem Y của thầy ra mà chơi. Kêu hết mấy đứa vô
đây!
Chơn An quay qua liếc thằng Quân, nó lấm lét tụt xuống khỏi bộ ván chạy ù
về nhà. Mấy lần trước, sau khi báo cáo thành tích gián điệp, nó thường
được thầy nhìn và gật đầu: “ừa,ừa..” rồi biểu nó đi chơi đi, vậy thôi,
thầy ghi sổ đó, lần sau mới cộng tội. Thầy rất khéo trong việc “dùng
người”, thầy biết tánh trẻ con mau quên, thầy không muốn cho nó cũng như
cả mấy chú thấy được “hậu quả” của việc nó mách lẻo, để không ai giận nó,
nhờ vậy nên nó mới còn cơ hội chơi chung với “quân ta” mà tiếp tục hành
nghề. Thế mà không hiểu sao lần này thầy giận dữ vậy. Nó hối hận quá, vừa
chạy vừa lo.
-
Thầy ơi, thầy uống thuốc đi rồi hãy nói...
Chơn An bưng chén thuốc Bắc lên, hai tay đưa cho thầy. Thầy bị bệnh tim và
bệnh gan nên tính dễ xúc động và nóng nảy. Biết là chuyện nghiêm trọng nên
Chơn An lo lắm, sợ mấy chú nhỏ lại bị đòn nặng.
-
Các con nghe cho kỹ đây – Thầy bắt đầu nói khi cả đám xếp hàng quì gối
vòng tay trước mặt thầy – Y Hậu không phải là cái có thể đem ra chơi
được. Y Hậu là vật góp phần làm nên oai nghi của một thầy tu. Chỉ được
đắp y khi hành lễ trước Phật, trước Bồ Tát. Tăng chúng đi đâu xa chùa qua
đêm phải đem theo Y Hậu, đó là vật rất quan trọng trong đời sống Tăng
Già....
Thầy nói nhiều, nhiều lắm nhưng các chú không thể nhớ hết, chỉ lơ mơ hiểu
rằng đó là điều rất quan trọng. Tự dưng chưa bị đánh mà theo từng lời nói
của thầy, cả đám cùng khóc hết. Có lẽ nhìn những gương mặt non nớt đang tỏ
ra lo sợ, hối hận thực sự, dù chưa hiểu hết nhưng cũng ý thức được lỗi lầm
của mình, thầy cảm thấy nguôi giận. Cả đám được tha sau khi lên chánh điện
lễ lạy sám hối thành khẩn.
Thầy là vậy. Rất nghiêm khắc nhưng tất cả cũng vì muốn đệ tử trưởng thành,
Mỗi lần sau khi mấy chú bị đòn đau, thầy thường cho kẹo bánh, hoặc đích
thân xuống bếp nấu nướng, làm bánh cho cả chùa ăn. Thương yêu nhưng không
nuông chiều, Phương pháp dạy dỗ của thầy có phần hơi nặng nhưng thầy nói:
làm người tu phải kinh qua gian khổ, phải tập tính kiên nhẫn, chịu đựng.
Cũng như con cá chép, muốn vượt vũ môn hóa rồng phải qua bao gian nan,
thân thể gầy ốm nhưng chắc khoẻ mới tung mình nhảy nổi, con cá mập mạp lừ
đừ nuôi trong chậu cảnh không thể làm nào làm được việc gì! Cả chùa đứa
nào đứa nấy ốm nhom, mỗi lần chuẩn bị dẫn các chú về thăm gia đình là
trước đó cả tháng thầy mua thuốc “Ðại bổ ngũ tạng tinh” của nhà thuốc La
Vạn Linh cho cả đàn nhóc uống, “tân trang” chu đáo trước khi cho về. Sắp
về thăm nhà, đứa nào cũng cố gắng ngoan, không dám nghịch phá, vì hễ phá,
bị phạt đánh đòn có dấu roi là thầy không cho về, sợ người nhà thấy, xót
ruột. Thầy nói: Người đời không thấu lẽ thiệt hơn, dễ nhìn hình thức mà
xét nội dung, thầy không lừa dối gia đình các con nhưng các con muốn trở
thành một thầy tu tốt thì không thể giáo dục theo kiểu gia đình được.
Ðại chúng không thể hiểu như một đại gia đình. Ðại gia đình
tuy cùng chung tổ tiên giòng tộc, nhưng cái tôi được tôn trọng, mỗi người
một chí hướng, một mục tiêu phấn đấu, quan niệm sống khác nhau. Ðại chúng
thì ngược lại: cái tôi phải biến mất, tất cả cùng chung một chí hướng, một
mục tiêu tu hành, một cách sống như nhau. Ðại gia đình một trăm người là
một trăm người, không ai đại diện cho ai được. Ðại chúng trăm người là
một, một là một trăm. Tóm lại, hai từ “xuất gia” mang ý nghĩa vô cùng sâu
xa là vậy. Không thể đem tiêu chuẩn dạy dỗ kiểu gia đình áp dụng vào nhà
chùa được. Do vậy, các bậc cha mẹ thương con thiếu trí tuệ sẽ không hiểu
được cách dạy dỗ của thầy, sẽ phiền trách, làm chao đảo tâm các con, vì
thế, có những chuyện riêng tư ở chùa tuyệt đối không đứa nào được kể lại
cho gia đình biết.
Thầy chuẩn bị, làm công tác tư tưởng và dặn dò kỹ lưỡng như thế mỗi lần
đưa đệ tử về thăm nhà. Các chú cũng rất ngoan, rất quí thương thầy, và có
lẽ trên hết là cái duyên với đạo khiến những cánh chim non nớt ấy
vẫn chập chững bay lên cho đến ngày có thể sải cánh tự tin trên bầu trời
cao rộng.
Khi
các chú lớn lên, đi học ở chùa Phổ Quang, mỗi lần về thăm chùa, thăm bổn
sư là thầy hỏi han rất kỹ việc học tập. Học đến đâu, học thế nào, học
những gì? Có điều gì chưa rõ, trình kiến giải thầy nghe để kịp thời chỉnh
lý. Rồi thầy đứng ra tổ chức những buổi thực tập diễn giảng cho mấy chú
thực tập dạy thử, tổ chức rất chu đáo chớ không qua loa. Thầy quan tâm dõi
theo từng bước trưởng thành của đệ tử, kịp thời uốn nắn ngay những biểu
hiện sai lệch. Khích lệ, động viên, mở lối cho những ước mơ làm tốt đạo
đẹp đời. Lúc còn nhỏ, thầy nghiêm khắc dạy dỗ cứng rắn là thế, nhưng khi
lớn lên thầy lại nhẹ nhàng thân cận gần gũi, khiến đệ tử nào khi có vấn đề
gì cũng tâm sự, giải trình với thầy. Thầy chia sẻ với đệ tử tất cả tâm
nguyện của mình và đặt hết kỳ vọng vào đệ tử.
Sau
này, khi thầy sắp tịch, thầy gọi tất cả đệ tử về. Dù thân mang trọng bệnh,
thầy cũng ráng cho người dìu ra chánh điện, để được tận mắt lần cuối nhìn
thấy hàng đệ tử của mình Y Hậu nghiêm trang tụng kinh lễ Phật. Thầy khẻ
nở nụ cười nhìn các đệ tử giờ đã trưởng thành. Thầy tin chắc rằng trong
đội ngũ ấy, rồi sẽ có người không phụ công dạy dỗ của thầy, tiếp tục thay
thầy hoằng dương chánh pháp.
Góc nhỏ Phổ Quang ^
Năm Chơn Thanh 15 tuổi, thầy cho chú và Chơn Hòa xuống học lớp
Sơ Ðẳng ở trường Phật học Phổ Quang.
Trường Sơ Ðẳng Phật học Phổ Quang là cơ sở sinh hoạt của phái Lục Hòa Phật
Tử Việt Nam, do sư ông Hải Tràng sáng lập. Mọi sinh hoạt ở đây đều được
khép vào một qui củ rất nghiêm ngặt. Hôm sư phụ Thiện Thọ đưa Chơn Thanh
và Chơn Hòa đến chùa, gặp thầy Thiện Thông - vị trụ trì kiêm giám viện,
thầy Thiện Thông nhìn hai chú, mỉm cười, hỏi:
-
Mấy chú học thuộc hai đường công phu và bốn quyển luật Trường Hàng chưa?
Chơn Thanh lí nhí đáp:
-
Dạ rồi!
Thầy bắt bí:
-
Vậy nhập chúng đệ mấy?
Chơn Thanh nhìn sang Chơn Hòa, thấy bạn chưa có phản ứng gì, chú đáp luôn:
-
Mô Phật, đệ tứ.
Thầy nhìn vào Chơn Thanh hỏi tiếp:
-Phàm
tại xứ, thụy bất tại nhân tiền, khởi bất tại nhân hậu, mấy chú hiểu
không?
Chơn Thanh lễ phép:
-Mô
Phật! Ở Phật học viện, ngủ không được trước người, dậy không được sau
người...
Ðộc đáo ở chỗ chữ “phàm tại xứ” lẽ ra phải dịch là “phàm ở chốn này”, chú
lại nói là “ở Phật học viện”, vừa phù hợp với bối cảnh, vừa tỏ ra hiểu ý
thầy giám viện muốn răn dạy. Những điều này, khi còn ở Phước Lâm, mấy chú
được sư phụ dạy rất kỹ. Nhất là trước hôm lên đường, sư phụ còn dạy nhiều
kinh nghiệm ở chúng. Ở chúng không đơn giản như ở chùa một thầy vài ba trò
sống với nhau. Ở chúng đòi hỏi mình phải tự ý thức nhiều hơn. Phải biết
thức khuya, dậy sớm, chăm lo kinh kệ, học hành, sống sao cho vui lòng
huynh đệ, phải biết học tập những cái hay, cái tốt của mọi người. Thầy còn
chu đáo mời các vị thầy lớn về, tổ chức một đàn tràng thật trang nghiêm
cho các chú được thọ phương trượng sa di giới trước khi rời chùa đi học
để khỏi mặc cảm với huynh đệ rằng mình chỉ là một sa di đuổi quạ,
và cũng để cho các chú ý thức được rằng mình đã lớn, xa thầy thì phải biết
tự lực mà tu học. Bổn sư Thiện Thọ được mệnh danh là ông thầy giáo Tân
Uyên nổi tiếng dạy học trò nghiêm cẩn.
Nghe Chơn Thanh trả lời suôn sẻ và thông minh, thầy giám viện mỉm cười tỏ
vẻ hài lòng. Thầy với tay lấy cái linh (chuông nhỏ) để trên bàn rồi rung
lên mấy cái. Hồi linh vang lên lanh lảnh, Chơn Thanh hiểu là thầy đang gọi
chú thị giả vào. Lệ ở chùa, khi thầy trò chuyện, nhiều khi thị giả được
phép ở lại vừa hầu nước, vừa nghe chuyện để học hỏi, nắm bắt công việc,
nhưng cũng có lúc thị giả phải đi ra ngoài để giữ phép, đến khi nghe thầy
rung linh thì mới chạy vào. Ở Phước Lâm, sư phụ Thiện Thọ cũng có một cái
linh như thế. Mỗi khi sư phụ rung linh, thì y như rằng Chơn Hậu dù đang
làm bất kỳ việc gì cũng để lại đó, ba chân bốn cẳng chạy vù lên phòng
thầy.
Thị
giả là một chú sa di còn khá trẻ, nhỉnh hơn Chơn Thanh độ ba, bốn tuổi, là
thị giả của sư ông viện chủ, kiêm luôn việc hầu thầy giám viện, tên chú là
Minh Huệ. Minh Huệ bận chiếc áo vạt hò màu lam sạch sẽ, dáng người dong
dỏng cao và gương mặt trông rất lanh lợi. Chú chắp tay khẽ cúi chào khách
rồi cung kính đứng sau lưng thầy giám viện. Thầy dạy:
-
Ðây là thầy Thiện Thọ, đến xin cho hai chú nhỏ được nhập chúng để theo học
lớp Sơ Ðẳng Phật học. Chú đưa thầy lên gặp sư ông, luôn tiện để hai chú
đảnh lễ sư ông trước khi xuống đảnh lễ đại chúng.
Minh Huệ cúi đầu xá thầy Thiện Thọ, thỉnh thầy đi trước, rồi nhường lối
luôn cho Chơn Thanh và Chơn Hòa, chú đi sau cùng. Khi đi ngang qua con
đường nhỏ có bờ râm bụt bên phải chánh điện, Minh Huệ bước lẹ lên ngang
với Chơn Thanh, hỏi nhỏ: “Lúc nãy thầy giám viện có nói chỗ cho mấy chú
nghỉ chưa?”. Chơn Thanh ngơ ngác lắc đầu, vì chú không biết rằng như vậy
là thầy giám viện đã đồng ý cho hai chú nhập chúng. “Chắc là thầy quên đó,
để lát nữa tui chỉ chỗ cho” - Minh Huệ thân thiện nói.
Ngôi thất nơi sư ông Hải Tràng ở gọn nhỏ. Ðồ đạc lại có vẻ cũ kỹ nhưng
ngăn nắp. Một cái đơn gỗ thấp, hai chiếc tủ kinh, một cái bàn làm việc.
Giữa phòng là một tấm thảm màu xanh thẫm trải ngay ngắn trước bàn Phật,
nơi sư ông vẫn thường xuyên lễ lạy. Khách đến ngồi trên tấm nệm mỏng đặt
phía cửa sổ, bên chiếc bàn trà thấp. Sau khi các chú đảnh lễ, sư ông dạy:
“Mấy chú còn nhỏ, hãy ráng tu học, giữ gìn nội qui và phải sống cho hòa
hợp chúng, nghe!”. Nói xong, sư ông đưa tay xoa đầu hai chú. Sư ông dáng
người cao đậm từ hòa, gương mặt phúc hậu, bàn tay sư ông như có một sức ấm
nóng lạ kỳ, lan tỏa khắp người.
Gởi
chú xong, thầy ra về. Trước khi ra cổng, thầy dừng lại, đặt tay lên vai
chú thị giả Minh Huệ và nói, giọng cảm động: “Chú Minh Huệ à! Chú ở đây
trước, Chơn Thanh và Chơn Hòa mới đến, hai đứa có gì chưa biết, chú hoan
hỷ chỉ vẽ giùm...”. Giọng thầy chân thành, xúc động. Hồi còn ở trên Tân
Uyên, chú và Chơn Hòa hay sợ và tránh thầy, vậy mà lúc đó bỗng hai chú
thấy lưu luyến, cứ luấn quấn bên thầy, sợ thầy đi mất! Chú theo sát chân
thầy ra đến cổng, bất ngờ thầy quay qua ký lên đầu chú một cái, rồi nói:
-
Thôi, ở lại ráng học nghen!
Thầy nắm hai vai quay chú trở vô, rồi vội vả bước nhanh. Chú lặng người
xúc động trước cử chỉ ấy của thầy. Ngày còn bé, chưa bao giờ thầy xoa đầu
chú, không có một cử chỉ thân thiện nào ngoài ánh mắt âu lo mỗi khi chú
nóng sốt, bệnh yếu. Bây giờ chú lớn rồi, thầy lại ký đầu chú như một chú
bé con. Dáng thầy đã đi khuất khúc quanh con đường mà chú còn đứng đó,
nước mắt chảy lúc nào không hay! Chú nhớ mãi hình ảnh của thầy hôm ấy.
Phổ
Quang - ngôi chùa mà chú mới đến ở không lớn lắm, nhưng khuôn viên khá
rộng, ăn thông ra con đường Võ Di Nguy phía trước. Ở góc sân chùa có một
cây bồ đề lớn, cành đơm chi chít những quả chín màu nâu sậm, chim chóc
giành nhau kêu ríu rít suốt ngày, thỉnh thoảng lại rụng xuống một cái lá
to có đuôi dài hơn những chiếc lá cây bình thường khác. Bên phải chánh
điện là một con đường nhỏ với bờ râm bụt thâm thấp, được cắt xén cẩn thận.
Ðối diện bên kia con đường là ngôi thất có gác gỗ của sư ông viện chủ, bên
này là cốc của thầy trụ trì. Dãy nhà Tăng nằm phía bên trái chánh điện.
Nói là dãy nhưng kỳ thực đó chỉ là một căn phòng lớn kê mấy dãy đơn dài.
Chơn Thanh và Chơn Hòa được phân ở tại căn phòng đó, nằm ngủ trên một cái
bộ ngựa màu mun bóng nhẵn. Cái bộ ngựa cũng là nơi dành riêng cho hai chú
để mớ đồ đạt ít ỏi của mình. Buổi tối, hai chú giăng chung một cái mùng,
nhưng có riêng hai cái gối và hai cái mền. Phòng rộng, có đến mấy chục
chú, gồm cả chúng thường trụ lẫn chúng học đường, tất cả cùng học chung
lớp Sơ Ðẳng.
Trong chúng học đường, tức những vị từ nơi khác đến học, Chơn Thanh
quen được huynh Thiện Tri, gốc người Phú Yên, rất giỏi kinh, luật, luận và
chữ Hán. Huynh Thiện Tri lớn hơn Chơn Thanh khoảng sáu, bảy tuổi nhưng
chưa thọ Tỳ Kheo giới. Trong chúng thường trụ, Chơn Thanh thân với huynh
Minh Huệ nhất. Trong thâm tâm, Minh Huệ cũng rất mến Chơn Thanh - chú sa
di trắng trẻo, ốm và cao đến độ mấy huynh đệ trong chúng thường chọc là
“Thanh cò”, được cái tuy mau miệng nhưng tính tình lại rất hiền hòa, không
thích cãi cọ. Một lẽ nữa là sư phụ của Chơn Thanh đã có lời gửi gắm đệ tử
của mình cho Minh Huệ nên mặc nhiên chú coi Chơn thanh và Chơn Hòa là hai
sư đệ. Minh Huệ là học tăng giỏi nhất chúng thường trụ, được sư ông và
thầy giám viện thương, thành thử Minh Huệ cũng có uy với chúng. Có một
điểm chung giữa bốn huynh đệ là tất cả đều giỏi chữ Hán và viết chữ Hán
rất đẹp. Chữ Thiện Tri thì cứng cáp, chữ Minh Huệ bay bướm, chữ Chơn Hòa
đều đặn, riêng chữ Chơn Thanh thì ốm ốm, cao cao và hơi nghiêng nghiêng
trông giống hệt hình dạng của chú, nhìn vào ai cũng nhận ra ngay chữ của
Thanh cò! Bộ ba Thiện Tri, Minh Huệ và Chơn Thanh, tuy tuổi tác ba
người cách biệt, nhưng cả ba lại thân thiết, coi nhau như huynh đệ.
Những tháng ngày tại Phổ Quang cứ thế lặng lẽ trôi qua. Chiều chiều, sau
giờ cơm, Chơn Thanh thường hay ra sân trước đứng nhìn cây bồ đề và con
đường nhỏ. Chú như vẫn còn thấy dáng áo nâu của thầy đi hút cuối con đường
vào cái hôm thầy gởi hai chú ở lại đây tu học.
Buổi sáng, mấy huynh đệ cùng học nội điển tại trường, buổi chiều có khi
nghe giảng, có khi tự học. Ðối với Chơn Thanh, chương trình nói chung
không nặng lắm, vì chú và Chơn Hòa đã được bổn sư dạy dỗ khá kỹ trong
chương trình Gia giáo tại chùa. Buổi tối, sau giờ cơm chiều, hai
chú được quí thầy trên cho phép đi học lớp đệ lục bổ túc văn hóa tại
trường tư thục Tân Thạnh. Giờ học bắt đầu từ sáu giờ và kết thúc lúc chín
giờ. Hai chú ăn chiều qua loa rồi xách cặp đi học. Tối về, bụng đói lại
phải thức khuya nên thỉnh thoảng mấy chú “lai vãng” xuống bếp lục xin...
cơm nguội. Nội qui nhà bếp Phổ Quang khá chặt chẽ, buổi tối các chú không
được xuống bếp lục lạo đồ ăn, gây phiền hà cho những người nấu bếp. Nhưng
Chơn Thanh và Minh Huệ đặc biệt được mấy cô nhà bếp thương nên hễ thấy
bóng dáng mấy chú lấp ló gần khu vực bếp là các cô múc cơm lên cho, thỉnh
thoảng khuấy bột bồi dưỡng các chú vì học khuya, tội nghiệp! Ðời sống chư
tăng tại Phổ Quang bấy giờ rất kham khổ. Giờ quả đường trưa mới có cơm pha
gạo trắng, thức ăn tàm tạm, còn buổi chiều và buổi sáng thì chỉ ăn toàn
gạo đỏ, hạt nào hạt nấy to bằng hạt lúa mì, cứng ngắt. Ðồ ăn gồm nước
tương do nhà bếp pha chế, các thứ rau quả thì xin ở chợ về. Ðạm bạc vậy
nhưng đời sống tu học của các chú không vì thế mà lơi lỏng.
Lễ Phật Ðản ^
Mùa Phật Ðản, chùa Phổ Quang cũng như rất nhiều chùa khác trong
thành phố tổ chức xe hoa và lễ đài rất trang nghiêm, hoành tráng. Buổi
chiều, sau thời mông sơn thí thực, Chơn Thanh và Chơn Hòa được quí thầy
gọi đi dự lễ Phật Ðản tại lễ đài trung tâm Việt Nam Quốc Tự. Chơn Thanh và
Chơn Hòa nhỏ con nhất nên được quí thầy cho ngồi trên xe hoa làm “chư
thiên” tung hoa cúng dường Ðức Phật. Xe đi chầm chậm qua các ngả đường Yên
Ðỗ, Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản...
Khi
chiều xuống, màu huỳnh y của chư tăng sáng lên huyền ảo trong sắc hoàng
hôn. Quíù thầy đi chậm rãi bên xe hoa như thể thiền hành; phía sau là dòng
suối áo lam của Phật tử, tay cầm cờ, miệng không ngừng hát vang liên khúc
mừng Phật đản. Phía sau nữa là quần chúng ngưỡng vọng, hiếu kỳ nối đuôi
theo. Hai bên đường rất nhiều gia đình treo cờ Phật giáo và thiết ảnh
tượng đản sinh. Những ngọn lồng đèn hình hoa sen đủ kích cỡ màu hồng đỏ
lung linh tỏa sáng.
Lễ
diễu hành thiêng liêng và trang trọng. Dòng người trôi chầm chậm trong
lòng phố, niềm hân hoan dâng tràn.... Ðến các ngả đường lại gặp thêm xe
hoa của nhiều quận huyện khác nữa, cùng nối đuôi nhau hòa vào niềm vui lan
tỏa. Khuôn viên Việt Nam Quốc Tự người đông chật cứng. Màu vàng của chư
tăng, màu lam của phật tử và muôn màu sắc khác của những người tham dự.
Cờ, hoa, lồng đèn, bong bóng rợp trời. Tất cả như bừng lên lung linh trong
ánh sáng của muôn vàn ánh điện. Tiếng chuông, tiếng trống, lời kinh cất
lên rộn rã cả bầu trời lồng lộng. Dưới bến Bạch Ðằng người ta cùng nhau
thả hoa đăng, ánh sáng lập lòa bập bềnh theo từng dợn sóng. Trên bầu trời,
phía xa kia, ánh trăng rằm vành vạnh đang cố nhô lên khỏi mấy từng nhà để
chứng kiến một mùa đản sinh mầu nhiệm.
Chơn Thanh cảm thấy lòng hân hoan quá đỗi. Ðó là mùa Phật Ðản để lại ấn
tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời của chú. Chú như thấy được sức sống tiềm
tàng mà mãnh liệt của Phật giáo trong lòng người dân Việt. Năm tranh đấu
1963, chú còn nhỏ nhưng thỉnh thoảng vẫn nghe sư phụ kể về những cuộc biểu
tình bất bạo động, những cuộc tuyệt thực, tự thiêu của chư tôn đức và phật
tử, nhất là câu chuyện về quả tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Ðức. Lúc
đó, trong lòng chú cũng trào dâng lên một niềm tự hào, tuy mơ hồ nhưng
không kém phần mãnh liệt. Bây giờ, tận mắt nhìn thấy sức sống của Phật
giáo qua mùa lễ, sau những máu và nước mắt của người con Phật đã đổ xuống
bởi sự độc tài, tàn ác của chế độ Ngô Ðình Diệm, Phật giáo vẫn không tàn
lụi, vẫn bùng lên mạnh mẽ, niềm tự hào ấy trong lòng chú như được nhân
lên. Trước tượng Ðản Sinh, chú thầm khấn nguyện, sau này, nhất định chú sẽ
làm được một cái gì đó cho công cuộc chấn hưng và xiển dương Phật pháp.
Mùa
hè năm đó, Chơn Thanh cùng với các huynh đệ sa di được tùng chúng nhập hạ.
Nhưng đó là một mùa hạ không bình yên cho lắm, mặc dù trường lớp và các
thời khóa vẫn được duy trì đều đặn, nhưng thỉnh thoảng lại dấy lên các
cuộc biểu tình, các phong trào tranh đấu cho sự tự do, bình đẳng c