Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 



Kỷ yếu
 
THƯỢNG TỌA THÍCH MINH PHÁT
(1956 - 1996)
 
 

 

Thay lời tựa

Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh hoạ hiện thực sinh động lời dạy của đức Phật : “Nầy chư Tỳ kheo ! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.

Những bài văn, thơ, kệ….tưởng niệm của chư vị Tôn đức, chư vị pháp huynh, pháp hữu, môn đồ….được ghi lại trong tập “Kỷ yếu” này cho chúng ta thấy rõ hình ảnh đẹp của một Sa di Minh Phát thời niên thiếu; đặc biệt và nổi bật hơn là công hạnh đạo đức ấy đã tăng trưởng vượt bực trong suốt hai mươi mốt năm hiện thân là một vị Tỳ kheo trong giáo pháp.

Dù tại thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh miền Tây, miền Đông, miền Trung, kể cả một số tỉnh miền Bắc xa xôi…. Nơi nào có nhơn duyên xây dựng chùa chiền, trùng tu Tam Bảo, tổ chức an cư kiết hạ, khai đàn truyền giới hay thiên tai địa ách, hoả hoạn, lũ lụt, bão lụt v.v…là nơi đó Thầy Minh Phát luôn luôn có mặt và hoan hỷ trong mọi trường hợp.

Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…

Ngoài ra thầy còn có một đặc tính gần như thiên phú, hay nói theo nhà Phật thì do Thầy tu tập, tích tụ từ trong nhiều kiếp, đó là khả năng nghe và trùng tuyên Pháp ngữ - nơi nào có đại lễ, chư Tôn đức xướng pháp ngữ…thầy được nghe qua một lần là ngay sau đó, thầy có thể lặp lại không thiếu sót. đồng thời, dù về mặt văn hoá phổ thông thầy học không nhiều, nhưng thầy lại có khả năng biên soạn một số kinh sách về Nghi lễ, luật giới, tiểu truyện v.v… Đặc sắc nhất là thầy có thể xuất khẩu thành thơ trong mọi trường hợp, đem lại sự an vui cho bá tánh trên đường hoằng hoá.

Hành trạng thầy Minh Phát đã cho chúng ta cảm nhận giá trị tinh hoa kỳ diệu cuả dòng thời gian như lời dạy của đức phật trong Kinh Pháp Cú (câu 115):

Ai sống một trăm năm

Không thấy pháp tối thượng

Không bằng sống một ngày

Thấy được pháp tối thượng.

Về thọ mạng huyễn thân, Thầy Minh Phát hiện hữu với chúng ta không lâu - bốn mươi mốt năm – nhưng mỗi thời khắc đi qua là một hạt chuỗi ngọc long lanh của công đức và trí tuệ được tích tụ. cho nên dù thời gian kiếp sống có ngắn ngủi vô thường nhưng thầy đã tận dụng, không bỏ phí “một điều thiện nhỏ” và như chúng ta đã chứng kiến, với công hạnh “ban vui cứu khổ”, tâm nguyện của thầy đã làm cho dòng thời gian như ngừng lại, thường trụ và hình ảnh thầy Minh Phát hiền hoà, từ ái luôn gần gũi như sống mãi, hằng hữu trong lòng người con phật xuất gia và tại gia chúng ta.

Như vậy, nếu chúng ta sống một trăm năm, mà chúng ta chỉ biết sống ích kỷ cho riêng mình hoặc bỏ phí thời gian trôi qua trong những việc dễ duôi, vô ích thì dòng thời gian nhiều đó trở thành không ý nghĩa và tiêu tan như mây khói. ngược lại, chúng ta sống dù một ngày, một tháng, một năm, mười năm, hay đôi ba mươi năm v.v..mà chúng ta sống không chấp thủ, không ích kỷ cho riêng mình, mỗi giờ phút trôi qua, chúng ta biết tận dụng làm thiện sự, đem lại lợi lạc cho nhân sinh thì nhất định dòng thời gian đó, dù ngắn cũng trở nên dài, đẹp, bất tử trong lòng mọi người và tự thể nó trở nên thiên thu.

Cuộc đời thầy Minh Phát là tấm gương sáng về tinh thần “Vô ngã vị tha, lợi lạc quần sanh”. Trong vòng sanh diệt tương đối, cuộc đời Thầy có phần ngắn ngủi nhưng công đức tràn đầy vô lượng, xứng đáng với tấm lòng mọi người đã tôn vinh, tưởng niệm, thương kính, đưa tiễn….trong ngày tang lễ; xứng đáng được Giáo hội Trung Ương và Thành Hội Phật giáo truy phong – cung an thầy vào hàng Giáo phẩm Phật giáo Việt nam”, tại buổi lễ tưởng niệm ngày 10-5-1966 Giáo hội và Thành hội Phật giáo đã công bố quyết định tấn phong Đại Đức Thích Minh Phát lên hàng giáo phẩm Thượng Toạ. tiễn đưa Giác linh Thầy hội nhập cõi vĩnh hằng “Thượng phẩm thượng sanh” của chư bồ tát.

Tập “Kỷ yếu” này được thực hiện bằng tất cả những tấm lòng của chư vị tông  phong pháp lữ, huynh đệ pháp hữu và môn đồ tứ chúng, phật tử gần xa bày tỏ đạo tình trân quý một cuộc đời đã hiến dâng trọn vẹn cho đạo pháp, dân tộc và chúng sanh.

Nhân dịp cúng lễ Tuần chung thất, Ban biên tập “Kỷ yếu” đề nghị tôi viết lời tựa cho tập sách, thể hiện tình “Linh sơn cốt nhục” tôi có đôi lời tưởng niệm…..trân trọng kính mời chư vị tôn đức Tăng Ni, huynh đệ pháp hữu và phật tử hãy cùng đọc và tưởng nhớ hình ảnh thầy Minh Phát thân thương.

Mùa An Cư Phật lich 2540

Thượng Toạ THÍCH GIÁC TOÀN

 

 

 


 

Phần I

Trích lục những vần lưu bút

Nam mô A Di Đà Phật

Ta chẳng phiền ai nếu họ phiền,

Vì ta có mặt mới là duyên,

Nếu không ta, có ai phiền trách,

Gió thổi hư không giữa đất liền.

Ta chẳng não loạn với một ai,

Có thêm thân,có nghiệp theo hoài,

Khen chê thương ghét đầy vơi mãi,

Xả hết cho đời khỏi trả vay.

Ngày xư pháp hội có hai người,

Tranh cải buồn phiền chuyển hổ ngươi,

Một vị phương trời lo phướng động,

Một người cải lại gió bay thôi.

Huệ Năng nhìn thấy trong câu chuyện,

Biết được ra khuyên một ít lời,

Phướn không gió cớ chi lay động,

Chỉ có tâm mình chịu nổi trôi.

Bà kia ông nọ người xa lạ,

Mà giận làm chi giữa cuộc đời,

Chẳng có vinh thì đâu có nhục,

Để lòng sầu não giữa đầy vơi.

Mái chùa từ buổi vui tình Phật,

Cắt tóc chia tay chẳng nợ đời,

Cơm Phật rau dưa qua ngày tháng,

Buồn chi lời nói của người đời.

Xả hết cho lòng không vướng bận,

Quên đi cho sạch chẳng chiều mơi,

Ai thương ai ghét đều là bạn,

Lời lẽ khen chê cũng thế thôi.

Giữ vẹn từ bi thêm hỷ xả,

Vào ra ba cõi mặc vui chơi

1992

Thích Minh Phát

 

Nam mô A Di Đà Phật

Chày kình tiếng nhẹ buông

Lòng con mãi lo buồn

Mong sao tròn nhân phật

Để ngày tháng qua xuông

Hoàng hôn chiều mưa rơi

Mồ hoang khắp trong đời

Mờ sương lòng không nơi

Hết thời

Nghĩ ngợi

Bao nhiêu duyên nghiệp người ơi !

Bao nhiêu oan trái trong đời viễn ly.

Xin tròn quả  phước hôm ni.

Ngày nay cho đến một khi đạo thành.

Thích Minh Phát

 

Nam mô A Di Đà Phật

Xin hoan hỷ giữa chợ đời đen trắng

Chốn phiền ba bao mưa nắng dập dồn

Từ có thân này thành chuyện sớm hôm

Rồi ngày tháng buộc ràng thêm thắt chặt

Giữa thế hệ muôn chuyện ai cũng mặc

Miễn tâm tư hằng mãi nụ cười vui

Cho lòng luôn hoà thuận giữa ngọt bùi

Để tạo dựng vuông tròn trong lẽ sống

Muốn tất cả mọi người luôn tự trọng

Muốn thân thương giữa bao cảnh khóc cười

Muốn chung hoà cho sự được mười mươi

Muốn tuỳ hỷ giữa đất trời tang lệ

Đời đã có rồi không thôi thì kệ

Kiếp nhân sinh bao thế hệ qua rồi

Nghiệp đa mang đeo đuổi kiếp con người

Thân tứ đại cũng tuỳ dòng luân tục.

Hồi tỉnh lại cho cuộc đời hạnh phúc

Niệm Di Đà điều phục lại thân tâm

Thoát trần ai trong sáng tợ trăng rằm

Hầu trở lại tròn đầy ba la mật.

Thích Minh Phát

 

Nam mô A Di Đà Phật

Sự lý đua nhau giữa chợ đời

Ai người thong thả mặc vui chơi

Gặp nhau hoan hỷ lòng thông cảm

Cho vẹn lòng thương ở với đời.

Cho vẹn lòng thương ở với đời

Biển trần lặn hụp mãi đua bơi

Nếu không cảnh tỉnh quay đầu lại

Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời.

Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời

Nơi miền khổ thú mặc vui chơi

Quê xưa cảnh cũ chừ quay lại

Thôi đến liên bang cũng kịp thời

Thôi đến liên bang cũng kịp thời

Nơi miền Phật độ được thảnh thơi

Sanh già đau chết không còn nữa

Niệm Phật nhìn trăng chẳng nợ đời

Thích Minh Phát

 

Đời sống tăng nhàn vui nước non

Yên hà bạn lữ nguyện vuông tròn

Liễu xanh tùng biếc xuân thu mặc

An lạc hạnh tu chẳng mất còn.

Thích Minh Phát

 


 

Phần II

Tiểu sử và các điếu văn trong tang lễ

Tiểu sử Cố Thượng Toạ Thích Minh Phát

  • Uỷ viên Từ thiện xã hội TW. Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

  • Uỷ viên Từ thiện xã hội Thành hội Phật giáo TP. HCM

  • Uỷ viên Từ thiện xã hội Ban đại diện Phật giáo Q.10

  • Phó Ban Quản Trị Tổ đình Ấn Quang Q.10

  • Phó giám đốc Đại Tòng lâm Phật giáo - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

  • Trụ trì Chùa Viên Giác – Q.Tân Bình

  • Trụ Trì chùa Phụng Sơn – Q.11

 

  1. Thân thế

Thượng Toạ thế danh LÊ NHỰT NGUYÊN, pháp danh NGUYÊN ĐỨC, pháp hiệu MINH PHÁT. Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1956 (Bính thân) tại Chợ lớn (nay là Quận 10, TP.HCM). Phụ thân là ông LÊ THÀNH AN, mẫu thân là bà TRƯƠNG THỊ BA, song thân đều đã từ trần. Thượng Toạ được bảy anh chị em, Thượng Toạ là người thứ tư trong gia đình.

  1. Thời gian xuất gia học đạo:

Được sinh ra trong một gia đình nhân hậu, đời đời kính tin Tam Bảo và sẵn túc duyên nên vừa biết đòi ăn là Thượng Toạ đã ăn chay, lại gia đình may được ở gần chùa nên Thượng Toạ thường theo mẹ sang Chùa lạy Phật. Nhờ đó mà hạt giống Bồ đè ngày càng phát triển.

Năm 1964, Thượng Toạ được song thân cho xuất gia học đạo với cố Hoà Thượng Thích Thiện Hoà, viện chủ Tổ đình Ấn Quang – Giám đốc Phật học đường Nam Việt. kể từ đó, hôm sớm kệ kinh siêng năng hành đạo, Thượng toạ cùng với sư huynh Minh Thành giữ chức thị giả hầu cận Hoà Thượng Bổn sư; Nhờ gần gũi chư vị Cao Tăng Tôn đức nên chủng trí vô sư nhiều đời huân tập nhân đây mà tăng trưởng.

Năm 1971, Thượng Toạ thọ giới Sa di với cố Hoà Thượng Thích Trí Thủ tại giới đàn ở Tu viện Quảng Đức (Thủ Đức).

Năm 1975, với hạnh nguyện sâu dầy, oai nghi đĩnh đạc, đáng làm pháp khí Đại Thừa, Thượng Toạ được Hoà Thượng Bổn sư cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát tại giới đàn chùa Pháp giới (Cầu tre – Tân Bình) do cố Hoà Thượng Thích Hành Trụ làm Đường đầu Hoà Thượng.

  1. Thời kỳ Hoá đạo

Năm 1974, Khi Hội Đồng Quản Trị Tổ Đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc được thành lập, Thượng Toạ được cử làm chức Phó Tổng Quản Sự, kiêm chức Tri khố Tổ đình Ấn Quang, chăm lo công việc ăn ở cho đại chúng một cách chu toàn cho đến ngày viên tịch.

Năm 1976, vâng lệnh Hoà thượng Bổn Sư và theo sự tha thiết thỉnh cầu của Phật tử chùa Viên Giác, Thượng Toạ kiêm nhậm chức Trụ trì chùa Viên Giác - Quận Tân Bình; và nơi đây cũng chính là nơi thế độ chúng đệ tử Ưu Bà tắc xuất gia.

Năm 1978, sau khi Hoà Thượng Bổn sư viên tịch, Thượng Toạ được cử làm chức Phó giám đốc Đại Tòng Lâm Phật giáo ở tỉnh Bà  Rịa Vũng Tàu.

Cùng năm này, Thượng Toạ xây dựng chùa Viên Dung ở xã Linh Đông, huyện Thủ Đức trên phần đất do Phật tử Diệu Hạnh dâng cúng, là nơi tiếp nhận chúng đệ tử Ưu Bà Di xuất gia.

Năm 1992, theo lời thỉnh cầu của Hoà thượng Phước Quang Trụ trì chùa Phụng Sơn, thành hội Phật giáo TP.HCM đã bổ nhiệm Thượng Toạ về Trụ trì chùa Phụng Sơn.

Năm 1993, sau đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ III, Thành hội Phật giáo TP.HCM lần thứ IV, Thượng Toạ được mời làm Uỷ viên Ba Từ Thiện xã hội Trung Ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Uỷ viênTiểu ban Từ thiện xã hội Phật giáo TP.HCM và uỷ viên Ban Từ thiện xã hội Phật giáo Quận 10.

Sau ngày 19 tháng 09 năm Quý Dậu, Hoà thượng Tổng Quản Sự Tổ Đình Ấn Quang viên tịch, Thượng Toạ là một trong bốn Thượng Toạ lãnh đạo của Tổ đình Ấn Quang, và Thượng Toạ đã đảm nhiệm chức Phó Ban quản trị kiêm Tri sự điều hành mọi sinh hoạt của Tổ đình cho đến ngày viên tịch.

Bằng giới đức trang nghiêm thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm biểu tượng nơi quy hướng cho Tăng Ni và Phật tử, trong những thập niên 1975-1995, Thượng Toạ dã từng đảm nhận các chức vụ Phó Ban kiến Đàn, Dẫn Thỉnh Sư trong các Đạigiới đàn để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni, Phật tử. qua đó từng hàng giới tử đạo thể trang nghiêm, giới đức thanh tịnh trở thành người hữu ích cho đạo pháp và cho xã hội.

Trong sự nghiệp kế thừa đạo mạch, tiếp dẫn hậu lai, báo phật ân đức, Thượng Toạ đã thế độ cho hơn một trăm Tăng Ni xuất gia tu học và hàng ngàn phật tử quy y Tam bảo, thực hiện hạnh nguyện lợi tha, tu tâm hành thiện, đẹp đạo tốt đời. ngoài trọng trách vận động tài chánh ẩm thực cho Trường cơ bản Phật học Đại Tòng Lâm, Ni Viện Thiện Hoà, Thượng Toạ còn nổ lực yểm trợ cho các Trường cơ bản phật học các tỉnh, thành tại một số địa  phương, góp phần đào tạo Tăng Ni tài đức cho Giáo hội và Tỉnh hội Thành hội Phật giáo trong cả nước.

Bằng công đức trang nghiêm ngôi Tam Bảo là trang nghiêm Tịnh độ của chư Phật, Thượng Toạ đã kế thừa sự nghiệp của cố Hoà Thượng Bổn Sư, đã nổ lực vận động tài chánh trùng tu ngôi Tổ đình Ấn Quang, chùa Long Triều, kiến thiết Đại Tòng Lâm phật giáo, chùa Huệ Nghiêm, chùa Dược Sư, chùa Viên Giác, Chùa Phụng Sơn và chùa Khánh Đức (Sông Bé), làm trang nghiêm đạo tràng xứng đáng là cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng của giáo hội tại địa phương. Ngoài ra Thượng Toạ còn ủng hộ công tác trung tu, xây dựng một số lớn cơ sở tự viên tại các tỉnh, thành trên địa bàn cả nước.

Nêu cao tinh thần vô ngã vị tha, từ bi cứu khổ của đạo Phật Thượng Toạ đã thể hiện tinh thần ưu đời mẫn thế, hạnh nguyện từ bi vô hạn, qua các mặt công tác từ thiện xã hội trên khắp mọi miền đất nước; nơi nào có thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn, bịnh tật, đói khát là nới đó có hình ảnh và tài vật cứu trợ của Thượng Toạ. Có thể nói Ngài là biểu hiện của tình thường, là sự sống của người đau khổ, trong ý nghĩ và hạnh nguyện của một vị Bồ tát hiện thân.

Qua phúc đức trang nghiêm, túc duyên thù thắng, hạnh nguyện kỳ diệu, năng lực phi thường, có tể nói Thượng Toạ là Y chỉ Sư của toàn thể Ni giới. Nhất là đối với những hàng Tăng Ni, Phật tử có đủ thiện duyên khi được diện kiến, qua lời từ nhã, cử chỉ dịu dàng, toả sáng gương lành, tâm hồn thuần hậu của Thượng Toạ, tất cả đều được an lạc thoả mãn mong cầu và phước lành thêm lớn, trong ý nghĩ diệu lực thù thắng bất khả tư nghì của đạo phật.

Ngoài ra, Thượng Toạ còn dành nhiều thời gian biên soạn những tấc phẩm để lưu lại cho hậu thế, gồm có:

  • Đời sống Đức Điều Ngự

  • Xuân Vô Năng Thắng

  • Giai thoại nhà Thiền.

  • Các nghi thức tụng niệm và chúc tán.

  • Khoa cúng Tổ Kiều Đàm Di Mẫu.

  • Tu Chỉnh Giới đàn Ni.

Các tập thi phú v.v….

Với tinh thần hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu lai, báo phật ân đức, hơn nữa cuộc đời phụng sự đạo pháp và chúng sanh - tốt Đạo đẹp đời. Thượng Toạ đã được giáo hội, thành hội phật giáo, Uỷ Ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc thành phố và quận 10 tặng bằng tuyên dương Công đức, các bằng khen và giấy khen đủ loại.

  1. Thời kỳ Viên tịch

Kể từ năm 1994, Thượng Toạ đã trải qua cơn bịnh ngặt nghèo, sức khoẻ có phần giảm sút. Nhưng Thượng Toạ vẫn nổ lực kiên trì thi hành phật sự, lợi lạc quần sanh, quyết tâm đi cho trọn con đường phụng sự đạo pháp và nhân sinh. Nhưng lực bất tòng tâm, như Cổ đức dạy:

Bầu thuốc Thánh đâu cứu người hết số,

Chén linh đơn sao chữa được bịnh nan y.

Thế rồi ngày qua tháng lại, sức khoẻ Thượng Toạ kém dần theo cơn bịnh, nhưng Thượng Toạ vẫn tỉnh giác chánh niệm an nhiên tự tại, sinh hoạt bình thường trong ý niệm sinh tử nhàn nhi dĩ. Và sau một cơn bịnh nhe, Thượng Toạ đã xả báo an tường, thu thần thị tịch, trở về thế giới Niết bàn bất sinh bất diệt vào lúc 6 giờ 40 ngày 21 tháng 03 năm Bính Tý (nhằm ngày 08-05-1996), trụ thế 41 năm, Hạ lạp trải qua 21 Mùa An cư Kiết hạ.

Thế là Thượng Toạ đã ra đi vĩnh viễn, bỏ lại cac spháp hữu vi giả tạm, hạnh nguyện chưa tròn, đường phụng sự đạo pháp và chúng sanh còn nhiều người mong đợi, chờ ơn; nhưng cõi ta bà đã khuất bóng vì sao, miền Cực lạc thêm trang Thượng sĩ. Tuy nhiên công đức của cố Thượng Toạ đã cống hiến cho đạo pháp và chúng sanh sẽ còn sống mãi trong tâm tư những người con phật và vạn loài hàm linh, trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô ngại qua những kiếp lai sinh trần thế cho đến khi chứng quả Bồ đề.

Phụng vì Ấn Quang Đường thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, huý Nguyên Đức, hiệu Minh Phát Thượng Toạ Giác Linh Thiền toạ.

 

Lời tưởng niệm

Giác linh Thượng Toạ Thích Minh Phát

của Ban Quản trị Tổ đình Ấn Quang và chư Pháp hữu

Nam mô tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Kính Giác linh Thượng Toạ Minh Phát

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, trước khi tiễn đưa kim quan Thượng Toạ đến nơi trà tỳ. chúng tôi xin thay mặt Ban quản trị Tổ đình Ấn Quang và quý Pháp hữu có đôi lời tưởng niệm một người đồng hành, đồng sự một người bạn muôn đời trong chánh pháp.

Kính Giác linh Thầy Minh Phát

Biển nghiệp thức giờ đây đã lặng sóng

Trời trăng sao đã in đậm nét vô thường giữa lòng bất diệt

Bên này bờ sinh diệt, lời nào đây nói lên cho cùng

Trong thế giới Niết bàn, lời nào đây nói lên cho tận !

Nhớ Giác linh xưa, từ chân tánh hiện thân Đại sĩ, đức tình hiền hoà, sớm gieo duyên cùng đoạ cả. quyết chí xuất trần từ thuở nhỏ, chốn Ấn Quang tỏ chí đạo mầu. đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước. Vượt trần gian siêu thoát thường tình. Quả thật bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi mãi ở trong.

Rồi đã đến độ tâm hoa khai phát, suối nghĩa dạt dào. Thiên tư đỉnh ngộ, mật khế chân như, tiềm phù Tổ ấn, nối dõi môn phong, làm sáng danh con nhà họ Thích ngàn đời.

Mỗi bước chân đi là bao niềm an lạc, mỗi lời giảng pháp là sự giải thoát tràn đầy. Cử chỉ khoan thai, tiêu tan bao khổ luỵ. Từ bi vô ngã, hỷ xã bao dung, quyết chí độ sinh, tuỳ duyên đa phương tiện. một thân thị hiện, một kiếp hoá duyên, thoả chí phỉ nguyền thừa hành phật sự khắp mọi miền quốc độ. Đạo đời lợi ích, một thể vuông tròn, ngàn năm còn mãi khắc ghi ơn tế độ.

Biết bao Phạm vũ, mấy chốn Tòng lâm, hàng vạn đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh. Rừng thiền hoa nở,hương giới bay xa chan hoà pháp giới. chúng sinh ngưỡng mộ, thất chúng quy y. Đạo tục sum vầy tình pháp lữ, nghĩa chúng sinh đồng thể đại bi. Ân đức ấy ví cao như núi, sánh tợ biển Đông. Thực vậy:

“Hữu duyên vạn dặm còn tạn mặt,

Vô duyên gặp mặt vẫn cách lòng”.

Thầy có nhớ chăng ! Từ ngày sơ ngộ đến nay, xuân qua hạ lại, hơn ba mươi năm thắt chặt thâm tình. Tình đạo pháp, tình linh sơn thuở trước. Chúng ta đã cùng nhau chan hoà tình Đạo pháp, nghĩa Thích Tử côn bằng, chung lo phật sự, phụng sự chúng sinh, thượng hoằng hạ hoá nêu cao chí cả. Như Cổ Đức đã nói:

“Cây khô xuân đến hoa nở rộ,

Gió thoảng ngàn xa hương ngát bay”.

Nhưng hỡi ôi ! Những tưởng tình đạo pháp trọn đời vạn kiếp chốn Ân Quang kết cỏ ngậm vành. Quyết thượng hoằng hạ hoá chúng sinh, tục phật huệ đăng truyền tri đạo. Nào ngờ đâu, một phút vô thường âm dương cách biệt. Thầy đã đến và đi theo định luật vô thường. Quả thực:

“Duyên trần nay sớm vội chia bôi.

Hoa đàm sớm rụng, lệ rơi đôi dòng”.

Sự ra đi vĩnh viễn của Thầy không những là một sự mất mát lớn lao của Giáo hội, cho Tăng Ni, Phật tử cũng như môn đồ tứ chúng, mà còn cho tập thể Linh sơn cốt nhục Ấn Quang này. Từ nay, trên suốt đoạn đường còn lại của kiếp người, chúng tôi làm sao tìm lại được hình ảnh của một bậc hiền Tăng khả kính, làm mẫu mực cho mọi người, cả cho đến khi hơi thở sắp tàn. Hết lòng phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sanh không biêt mỏi cho đến khi hơi thở sắp tàn. Than ôi:

“ Người xưa nay đã còn đâu

Chỉ còn mây bạc, lòng sầu tiếc thương.

Ra vào lòng dạ vấn vương,

Bóng hình Đại sĩ du phương  xa mờ”.

Giờ đây, niềm tịnh cảnh Giác linh Thầy đã tiêu diêu tự tại, chứng vô sinh xin trở lại Ta bà, để cùng nhau kết giữa chan hoà, tình Pháp lữ Linh sơn bất diệt. Chi đến khi nhân tròn quả mãn. Đường giải thoát thong dong tự tại, giữa trần ai nhậm vận độ sanh, chứng viên thành đạo quả.

Hôm nay, trong phút vô thường, giữa trong lòng bất diệt, Thầy đã ra đi trở về thế giới Niết bàn, vô sanh bất diệt. Nhưng công đức, đạo hạnh của Thầy đã hiến dâng cho đạo pháp cùng chúng sinh vẫn còn sống mãi trong tâm tư, trong ký ức chúng tôi và những người con phật. Cũng như Tăng Ni, Phật tử và chúng sinh trong tình pháp giới viên dung vô ngại. Quả thật:

“Một mai thân xác tiêu tan,

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời.

Pháp thân lồng lộng sáng ngời,

Sáng soi nhân thế rạng ngời chân như”.

Đồng thời, chúng tôi xin thay mặt Ban Quản Trị Tổ đình Ấn Quang cùng chư Pháp hữu, những người bạn đồng hạn, đồng sự Pháp lữ Đại thừa của cố Thượng Toạ nguyện đoàn kết hoà hợp một lòng, kề vai sát cánh bên nhau, nỗ lực hoàn thành sự mệnh và đoạn đường còn lại mà Thầy đã bỏ dở, đã góp phần xây dựng trang nghiêm, huy hoàng và hưng thịnh chốn Tổ Ấn Quang, cũng như các cơ sở liên hệ mà Thầy đã dày công xây dựng và hộ trì, càng phát triển trang nghiêm trong lòng dân tộc, làm tốt Đạo đẹp đời.

Cuối cùng xin Thầy cùng chúng tôi kính nguyện:

Linh Sơn nghĩa cũ tình xưa

Ta bà Tịnh độ say sưa pháp mầu

Kiếp sau xin nhớ nguyện đầu

Xây tình Pháp lữ, bắt cầu tâm giao

Đời nay đến những đời sau

Chung lo Phật sự với bao nhiêu tình

Quyết lòng độ tận chúng sinh

Từ bi, trí huệ thoả tình ước mong

Không rời bản thể chân không

Tuỳ duyên ứng hiện thong dong mọi miền.

Thôi, nơi thế giới Niết Bàn, xin Thầy hãy ngao du tự tại.

Xin vĩnh biệt Thầy !

Nam mô Ấn Quang Đường Thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, Huý Nguyên Đức, Hiệu Minh Phát Thượng Toạ Giác linh Thiền toạ chứng minh.

 

Điếu văn

Của chư Ni các Tự viện TP.HCM do Ni trưởng đọc trước Kim quang Cố Thượng Toạ Thích Minh Phát

  • Phó viện chủ Tổ đình Ấn Quang - Quận 10

  • Phó Giám đốc Đại Tòng Lâm phật giáo tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu

  • Uỷ viên Ban Từ thiện Thành phố Hồ Chí Minh

  • Trụ Trì Chùa Viên Giác - Quận Tân Bình.

  • Trụ trì Chùa Phụng Sơn - Quận 11 Tp. HCM

Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam mô Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phật tác đại chứng minh.

Ngưỡng bạch chư Tôn Thiền Đức trong ban Tổ chức Tang lễ cùng môn đồ pháp quyến.

Ngưỡng bạch Giác Linh Cố Thượng Toạ thuỳ từ chứng giám.

Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh, chúng con kính cẩn nghiêng mình trước kim quan cố Thượng Toạ, để tỏ lòng quý tiếc bậc Cao tăng thạc đức đã sớm lìa trần thế trở về giác tánh chơn nguyên.

Hỡi ôi !

Sóng khổ hải lao xao

Trời chơn như tịch mịch

Bậc đống lương một phút xa lìa

Ngôi long tượng nghìn thu cách biệt

Trăng Lăng già in bóng

Mây Phổ Đà ngừng trôi.

Thượng Toạ phút chốc bỗng về nơi tịch diệt. Đành rằng cuộc đời vô thường, thăng trầm luân chuyển, dừng sanh diệt thay đổi liên tục không ngừng, sinh ly tử biệt là lẽ tức sắc không, nhưng hôm nay trước lò trầm hương đang quyện toả, đưa Thượng Toạ đến nơi an nghĩ nghìn thu. Trong cảnh thành, trụ, dị, diệt chúng con không sao khỏi bồi  hồi xúc cảm, khi hình bóng từ hoà của Thượng Toạ từ nay vĩnh biệt.

Ổi ! Kể từ nay Giáo hội mất đi một bậc Cao Tăng sáng suốt hàng Ni Tăng vắng bóng bậc giới đức vẹn toàn, tín đồ Phật tử mất bậc Đại Sư gương mẫu, thật không sự mất mác nào bằng.

Kính bạch Giác linh Thượng Toạ,

Chúng con vânc biết, biển trầm luân vốn sắc không chuyển hoá nay cảnh sắc không chốn Tổ hiện, sự nghiệp hoằng dương pháp của Giáo hội còn đây, mà Ngài đành dạo gót về Tây, giã từ tất cả.

“Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi

Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời

Huyễn thân trả lại nơi trần thế

Giã biệt hôm nay có mấy lời”.

Ngài là bậc Thiệu Long Thánh Chủng, là vị Tứ chúng Trung Tôn, đống lương Phật pháp. Luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài. Duy trì mạng mạch Như Lai. Trong chốn  thiền môn Ngài là vị đức độ khoan dung, đã hướng dẫn Tăng Ni, tín đồ theo con đường đạo pháp chân chính. Ngài đã hy sinh trọn đời vì đạo. Cuộc sống hạnh đức trang nghiêm của Ngài là tấm gương phản chiếu cho Tăng Ni chúng con. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã nói lên hạnh nguyện lợi tha chẳng khác nào ngọn hải đăng chiếu sáng muôn dặm nơi biển khơi sanh tử. Ngài là hiện tàng tự tại đi ở khôn lường như : “bóng nhạn liệng giữa trời xanh đâu mong  in dấu chân trên mặt hồ”.

Ngưỡng bạch Giác Linh Ngài, để tỏ lòng tôn kính và báo đáp thâm ân ngài, chúng con thành tâm noi gương cao cả của ngài nguyện tích cực tuyên dương chánh pháp, nỗ lực thành tựu lý tưởng giải thoát, trang nghiêm Giáo hội giữ vững tôn chỉ thuần tuý của đạo pháp, thăng hoa trên bước đường hành đạo. Hướng dẫn mọi người thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ an vui cứu cánh, hầu báo đáp hồng ân chư phật trong muôn một.

Giờ đây, chúng con quỳ trước kim quan một lòng thành kính đốt nén tâm hương dâng lên cúng dường mười phương chư Phật và kính điếu Giác linh Ngài, nguyện cầu Giác Linh Thượng Toạ cao đăng phật quốc, bất xả từ bi, thuỳ quang đổng chiếu, hồi nhập ta bà, hoá độ chúng sanh, viên thành Chánh giác. Ngưỡng nguyện Ngài thuỳ từ chiếu giám. Đồng thời chúng con cũng không quên thay mặt chư Tôn đức Ni các Tự viện (Ni bộ) thành tâm phân ưu cùng chư Tôn đức môn nhơn pháp quyến, chân thành kính chúc chư Tôn Thiền đức pháp thể vô biên an lạc để nêu cao đuốc tuệ chánh pháp.

Nam mô Lạc Bang Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

 

Điếu văn của môn đồ pháp quyến

Siêu tiến Giác Linh Bổn sư, Sa Môn Thích Minh Phát

Viên tịch ngày 21 tháng 3 năm Bính Tý

Siêu tiến Giác linh Bổn Sư, Sa Môn Thích Minh Phát. Viên tịch ngày 21-3 âl

Than ôi !

Kể từ nay:

Đàn truyền giới vắng Thầy điển lễ

Chùa Ấn Quang khuất bóng ân sư

Nước cực lạc sen khai chín phẩm

Cõi ta bà an giấc ngàn thu.

Nhớ Thầy xưa:

Căn trần thanh tịnh, xuất gia từ lúc tuổi còn thơ.

Bẩm tánh hiền hoà, hoằng pháp từ khi vừa tiến Cụ,

“Với gió mát trăng thanh kết bạn,

Cùng hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”.

Từ đây, nơi pháp hội thêm người thoát tục,

Do đó, giới Tăng Ni có bậc siêu trần.

Mồi tửu sắc nhường cho trần thế.

Bả lợi danh đoạn tuyệt tâm hồn.

Nhịp mõ sớm, khua tan đêm trường mộng,

Tiếng chuông khuya, thức tỉnh kẻ đam mê.

Sẵn túc nhơn, trí tuệ biện tài,

Chân tham lễ nào đất Bắc, nào Trung phần

Nào Nam Việt thân hầu nhiều chốn Tổ.

Theo đại nguyện, thi ân bố đức,

Kết duyên lành những Ai Lao, những Thái Quốc

Những  Cao Miên du hoá khắp Đông Nam.

Đã tới lúc:

Trụ Pháp Vương gia,

Trì Như Lai tạng,

Thầy đương gia chức Phó Quản Sự Ấn Quang, Đại Tùng Lâm Phật giáo.

Rồi gặp khi:

Hoằng dương chánh  pháp,

Tiếp dẫn hậu côn,

Thầy lãnh trụ trì chùa Viên Giác, Viên Dung, cùng chùa Gò di tích

Những tưởng:

Độ sanh duyên mãi

Hoá đạo còn dài.

Ngờ đâu:

Tuổi đời chưa lão

Duyên bịnh lại nhiều

Cho dù:

Linh đơn biển thước khó đuổi bịnh căn,

Diệu dược Kỳ Bà khôn xua thần chết.

Than ôi !

Ân xưa nhớ mãi

Tang mới buồn hoài

Sư, nay hoá duyên đã hết

Thầy, thần dạo chốn liên bang

Lý vô thường sắc sắc không không

Thân tứ đại sanh sanh diệt diệt

Mơ màng dáng dấp ngàn thu, mưa mờ dấu bước;

Phảng phất mộng hồn muôn thuở khói toả hình dung.

Thôi từ nay !

Phật giáo mất đi một vị chân tu đại hạnh;

Tín đố thiểu hẳn bậc Thầy chỉ lối đưa đường

Khắp mọi miền bùi ngùi luyến tiếc,

Bao phật tử gạt lệ chia ly.

Môn đồ vắng lặng tiếng Pháp âm,

Hiếu quyến không còn lời khuyên bảo.

Giờ đây trước linh cữu,

Hương trầm nghi ngút,

Đèn tuệ sáng ngời.

Lời nguyện cầu cao đăng thượng phẩm,

Nhạc tiễn đưa vĩnh biệt Thầy hiền.

Thuyền giải thoát xuôi buồm về đất Phật;

Hình ân sư đẹp mãi dưới trời Nạm.

Ngửa mong linh giác thuỳ từ,

Dù ánh quang minh chiếu giám.

Nam mô Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Thích Quảng Chơn kính ghi

 

Văn điếu

của Huynh đệ đồng môn

Than ôi !

Mưa chiều khói nước mịt mờ, thuyền con lạnh lẽo,

Đêm vắng đèn thiền leo lét, trượng thất quạnh hiu.

Tìm dáng dấp thêm buồn,

Nhìn di dung càng nhớ.

Nay tông môn huynh đệ, bốn chúng Tăng Ni thuộc môn hạ của cố Hoà thượng  Bổn Sư thượng Thiện hạ Hoà.

Giờ này, đối trước linh đài, nghẹn ngào đau xót !

Nghĩ rằng : Thầy !

Ra đời độ sanh, hiện huyễn tướng như trăng lồng đáy nước,

Tuỳ cơ tiếp vật, tìm chơn thân như hiện bóng trong gương.

Nhớ Thầy, người :

Tánh hoà trăng trắng

Mắt tách hoa mờ.

Xứng danh huynh đệ nương gần

Đáng bậc đàn na trọng vọng.

Nào ngờ:

Trần gian lặng bóng

Thánh cảnh an thần.

Vẫn biết rằng tức sắc tức không

Nhưng xót nỗi nào sanh nào diệt.

Than ôi !

Vang bóng tìm nơi nao

Người không pháp có sao,

Không đi vì không đến,

Chim in dấu trời cao.

Xin kính chúc Thầy,

Đến nước Như Lai tiêu diêu muôn thuở,

Vào nhà Từ Phụ an nghĩ ngàn thu.

Và thầm gia hộ cho:

Ấn Tổ vuông tròn, Tăng Ni hoà hiệp,

Tôn phong trong trắng, thiện tín triêm ân.

Tất cả một lòng,

Dâng hương mặc niệm.

Nam mô Phụng vì Ấn Quang, Tự, từ Lâm Tế chánh tôn, Tứ thập tứ thế, huý Nguyên Đức, hiệu Minh Phát Đại Sư Giác linh.

Thích Minh Thông (Nha Trang)

 

Điếu Văn

Nam mô A Di Đà Phật

Được ai tin Thầy đã an nhiên thị tịch, chúng tôi Ban Kinh Sư chùa Định Thành cùng Tăng Ni Phật tử, và chư Phật tử môn hạ chùa Viên Giác, cùng nhau về trước Linh đài, xin thắp nén tâm hương cúng dường trợ tiến.

Kính bạch Giác Linh Thầy:

Thầy vẫn thường nói,

Ta bà  là cõi tạm, nơi gởi thân sanh tử trăm năm,

Cực lạc ấy quê hương, chón an mạng Niết bàn muôn thuở.

Nay Thầy đã theo duyên tăng giảm, xả báo an tường.

Thâu thần mà thẳng đến  Vô dư,

Tình pháp lữ phải thăm phải viếng.

Bạch Thầy :

Mới ngày nào,

Thầy còn đăng đàn tuyên dương chánh pháp

Tôi thì niệm chuỳ kích cổ xuy loa

Tình huynh đệ say sưa đạo vị

Nghĩa kim bằng công án cùng tham.

Nghĩ cũng tưởng:

Cái gót tuỳ duyên vẫn mãi

Nụ cười hỷ xả luôn hoài.

Nào ngờ đâu:

Cửa trần gian lặng khép

Sen Cực lạc liền khai

Thôi từ nay !

Trăng lạnh phương bào

Mây mờ viên đảnh

Một bước chia tay muôn thuở

Giữa đường rẽ gánh ngàn thu

Giờ này trước linh toà phản phất mộng hồn như thật, đau buồn kẻ ở người đi.

Chúng tôi kiều cần năm vóc, quy mạng Phật Đà dâng hương kính nguyện:

Trên ao cửu liên sáng soi đưa xuống

Trong nhà Tam Bảo hoa rải rước về

Độ sanh còn nhớ lời thề

Tiếp chúng chưa quên ý nguyện

Tái lai thị hiện ứng hoá độ sanh.

Nam mô Sanh Phật quốc Bồ tát ma ha tát.

Thích Lệ Trang Kính ghi.

 

Cảm niệm Ân Sư

của toàn thể Môn đồ pháp quyến

Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Giác linh Thầy.

Thầy ôi !

Đèn thuyền xao gió,

Trăng giới lờ mây.

Nét bước tượng vương, nơi cửa pháp mơ màng trước mắt,

Tiếng kêu sư tử, lối rừng chiên vắng vẻ bên tai.

Vả chăng hay: Sắc tướng trò chơi đất cửu hữu,

Vẫn biết rằng thân này là ngũ uẩn,

Nhưng ngặt vì nỗi sư đồ nghĩa nặng.

Thuở xưa kia, trời Tứ Không còn khóc cảnh Song Lâm,

Thì nay đây, trước cảnh biệt ly, chúng con làm sao ngăn được đôi dòng lệ đổ.

Giờ này:

Chúng con quỳ trước linh đài, giữa khung cảnh trang nghiêm,

Hương trầm quyện toả, thành kính dâng lên Thầy lời tâm sự sau cùng,

Để rồi vĩnh viễn Thầy trở về cảnh giới Niết bàn,

Và kể từ nay, chúng con đành mất đi bậc Đạo Sư cương kỷ.

Kính bạch Thầy :

Chúng con nhớ lại !

Buổi xa xưa nơi rừng Song Thọ,

đức Thế Tôn vào đại định Niết bàn,

Thì ngày nay, trụ xứ Ấn Quang,

Thầy an nhiên thâu thần về cõi phật.

Thuở sanh tiền:

Đức hạnh của Thầy, vời vợi non cao

Gương tánh trong ngần, sóng tình bặt dứt,

Căn trần thanh tịnh, nương vào túc thế thiện duyên.

Chí nguyện xuất gia, vào chùa lúc tuổi còn thơ ấu,

Theo hầu bên Hoà Thượng Tôn sư,

Thân cận cùng đồng môn huynh đệ.

Nơi Ấn Quang đêm ngày công quả, phát sanh trí huệ bao la,

Xem trần gian giấc mộng chiều ta, lòng hỷ xả lợi tha là hạnh.

Gót Tăng lữ, khắp mọi nơi Thầy dạo bước,

Chốn môn đình, Thầy tuân giữ nghiệp gia phong.

Sớm tối ân cần,

Tinh chuyên tu niệm.

Xứng ngôi bốn chúng tôn thờ,

Đáng bậc mọi người cung kính.

Nhớ Thầy !

Tuổi còn trẻ mà vai hoằng phật sự,

Vì lợi sanh chẳng quản đến thân mình.

Cho đến lúc nghiệp bịnh ràng thân,

Thầy vẫn sớm tối ân cần tụng niệm,

phật sự nhiều nơi cần đến,

Thầy đều thật dạ lo toan,

Thầy thường dạy bảo chúng con,

Phải luôn tô bồi công đức.

Nhớ lại thuở Hoà Thượng Tôn Sư viên tịch,

Thời nhiễu nhương, sinh hoạt thiếu thốn, Tăng chúng khó yên tu.

Vâng lời truyền di huấn của Tôn sư,

Thầy đảm nhận kinh tế nuôi Tăng chúng.

Trước chùa Ấn Quang, Thầy đã tự thân đứng bán,

Nào thơm, nào mía, nào hủ tiếu, nào thức ăn,

Tạo ra từng đồng tiền để làm phương tiện,

Nuôi chư Tăng ở yên tu học.

Tự tay Thầy nấu nướng, từng thức ăn thức uống,

Dâng chư Tăng no đủ để yên lòng.

Mong Tăng già tu học đến thành công,

Nương theo hạnh Như lai mà độ chúng

Có vị nào tật bịnh,

Dù ở tận nơi đâu Thầy cũng đều giúp sức.

Lo toan nơi nhà bếp,

Cùng môn đồ tứ chúng kết thiện duyên.

Xem bệnh hốt thuốc nam,

Vì người mà cứu khổ,

tới lui nơi đường chợ,

cũng vì chùa mà tìm nẻo sanh phương.

Tổ chức hành hương,

Dẫn Phật tử tham quan khắp xứ,

Bắc, Trung, Nam bộ,

Vạn dặm sơn hà.

Đất Thái, Lào một thuở lại qua,

Xứ Cam Bốt nhiều phen lui tới.

Đi cứu trợ mở mang vận hội,

Khắp Nam kỳ lục tỉnh vừa rồi.

Lũ Quảng Bình cũng đến tận nơi,

Hà Nội, biên cương, Trường sơn nào quản.

Một đời tròn công quả,

Vẹn nghĩa với sanh thành.

Chùa Ấn Quang Phật sự đã chu viên,

Nơi Viên Giác trùng tu còn dang dở.

Thật là:

Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thuỷ,

Điểm không hoa chẳng dính bụi trần.

Bước vào đời chẳng ngại khó khăn,

Suốt một kiếp vui câu đạo lý.

Biển thệ nguyện bao la rộng lớn,

Trời chân tâm sáng tỏ làu làu.

Sửa sang chùa tháp trước sau;

Lợi vật, lợi nhân tuỳ thời cứu giúp.

Chúng sanh cần thì đến, chẳng ngại gian lao,

Đạo pháp cần thì đi, không nề khó nhọc.

Chúng con cũng nhờ nơi phước đức căn lành dành sẵn,

được gặp Thầy theo mà học đạo Như Lai.

Trừ tội chướng, một dao xuống tóc,

Phú phước điền, ba lớp truyền y.

Đạo đức say sưa,

Thầy trò hoan hỷ.

Lý kinh nghĩa luật, giọng pháp âm tỏ rõ ngọn ngành

Chỉ lối mở đường, đưa chúng con đến nhà Bảo sở.

Những tưởng:

Thầy trò mãi cùng nhau sum họp,

Mãi cùng nhau phụng sự đạo mầu.

Giấc Hoàng lương chưa hết vội đâu,

Đất cửu trụ còn nhiều duyên gần gũi.

Nhưng hỡi ôi !

Bầu thuốc thánh khó cứu người tận số,

Chén linh đơn khó chữa bịnh nan y.

Sáng mờ sương Thầy từ giã mọi người,

lời vĩnh biệt khó mong ngày tái ngộ.

Trống bát nhã vang rền nơi chốn Tổ,

Chuông lôi âm giục tiễn khách vào thiền.

Sống ta bà bốn mươi mốt xuân thu,

Và nhập được hai mối mùa kiết hạ.

Giờ đây:

Tấm áo cà sa sương lạnh ngắt,

Cành hoa Bát nhã gió buồn hiu.

Khi nào Thầy thăng toà, trò niêm chuỳ

Cùng nhau sum vầy nơi pháp hội,

Bây giờ trò ta bà, Thầy cực lạc

biết bao sùi sụt nỗi ly tư.

Lơ láo một mình nơi chùa cũ,

Đau buồn vì nỗi vắng bóng Thầy.

biết đi về ngàn dặm đâu đây,

tìm nơi nao mong chừng gặp lại.

Thầy ơi ! kể từ nay:

Biết cậy ai ngày la đêm nhắc,

biết nương ai sớm dắt tối dìu,

biết hỏi ai mở trí nguyên thần,

biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng.

Than ôi !

Chốn Tòng lâm bực Tôn đức lìa ngôi,

Trong Tăng giới thiếu đi người đại hạnh.

Chúng con nhớ lại Thầy,

Biết bao năm hoằng thệ,

Lúc tịnh tu, khi khai đạo độ đời,

Đến hôm nay,

Thuyền đại nguyện trở về neo bến giác

Xe tam thừa giục thúc buổi đăng trình.

Môn đệ buồn vì đôi ngã tử sinh,

Thiện tín tủi vì mất Thầy dìu dắt.

Thầy ra đi tuổi tuổi đời chưa lão,

Khi hai vai còn nặng gánh đạo đời.

Than ôi !

Sữa pháp mất rồi, lòng con đói mãi,

Thiền phòng vắng vẻ, trượng thất bụi mờ.

biết tìm đâu hình bóng từ hoà,

Đã hướng dẫn con đi vào đạo.

Đất nước Như lai, Thầy dạo chơi muôn thuở,

Vào nhà Từ phụ, Thầy an nghĩ ngàn thu.

Có hay chăng một đàn con dại,

Đang ngẩn ngơ giữa buổi xuân tàn.

Ô hô `

Vân tán, tuyết tan,

Hoa tàn, nguyệt khuyết,

Ngày xưa rừng Ta la còn là nơi diệt độ,

Giờ đây Ấn Quang buồn đưa tiễn gót Thầy đi.

Biết tìm đâu ra hình bóng uy nghi,

Bậc Thầy khả kính Tăng Ni nể vì.

Ngưỡng mong Giác Linh Thầy !

Nơi Liên Trì phó hội,

Nước Cực lạc nghe Kinh.

Nương thuyền từ thệ nguyện độ sinh,

Khắp ba cõi vào ra tự tại.

Giờ này:

Mây bát nhã trên nền trời không in dấu,

Hoa ưu đàm rơi rụng vẫn dư hương.

Ngày mai đây,

Nhục thân Thầy sẽ rời chốn Phật đường,

Nhưng giác tánh hằng nêu gương bất diệt.

Đôi lời tâm sự, một bức ai văn.

đệ tử kiền thành, hoà nam bái bạch

 

Thích Đồng Văn cung soạn

 

Văn tác bạch

Cúng dường Báo hiếu ân sư Thượng Minh hạ Phát

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư Tôn Hoà Thượng, chư Thượng Toạ, chư Đại đức Tăng Ni.

Hôm nay hiếu đồ pháp quyến chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ xin dâng lên lời tác bạch.

Nam mô tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Ngưỡng bái bạch chư tôn Hoà thượng, chư Thượng Toạ, Đại Đức Tăng Ni.

Chúng con kính nghe:

Ta bà cõi tạm, nơi gởi thân sanh tử trăm năm,

Cực lạc quê hương, chốn an mạng Niết bàn muôn thuở.

tuỳ duyên vô ngại,

đi ở khôn lường.

Thiệt là:

Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi,

Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời,

Huyễn thân bỏ lại nơi trần thế,

Giã tạm hôm nay luống ngậm ngùi.

Từ đây,

Mơ màng hồn mộng năm canh, linh toà tịch mịch,

Vắng vẻ hình dung muôn thuở thiền thất cô liêu.

Nhớ khi nào,

Khách viên đảnh, bạn phương bào, cùng Thầy hội ngộ,

Người phù bôi, kẻ chấn tích, một thuở tao phùng.

Nhưng rồi vật đổi sao dời,

Huyễn thân biến thiên sanh diệt.

Xót nỗi hoa trôi nước chảy,

Chạnh lòng vắng bóng Đạo Sư.

Hỡi Thầy !

Duyên hoá độ đeo mang thuở nọ, Thầy gỡ sao đành,

Gánh từ bi gởi gắm ngày nào, Thầy sang sao nở.

Nhưng rồi:

Sanh bất hư sanh tử vô lãng tử,

Đàm  hoa lạc khứ, hương khí hữu dư.

Giờ đây,

Mái chùa Tổ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nơi Ấn Quang đạo tràng, Thầy đã giã biệt chúng con rồi.

Năm canh khó nói nên lời

Sáu khắc đợi chờ gặp gỡ !

Để báo đáp phần nào trong muôn một, mà bậc Thầy khả kính đã dìu dắt chúng con,

Trong những lúc diện mạng nhĩ đề, truyền trao phật giới,

Trong những khi sum vầy pháp hội, phúng tụng kinh văn.

để rồi ngày mai đây, nhục thân Thầy sẽ trở về cõi vô cùng,

Và chúng con vĩnh viễn mất đi một người Thầy đại hạnh.

Với tấc dạ chí thành, cõi lòng tha thiết, chúng con xin đê đầu cung thỉnh chư Tôn Thiền đức, phạm sát Tăng già thọ lãnh sự cúng dường của chúng con.

Nguyện hồi hướng công đức này đến Giác linh Thầy chúng con pháp huý Nguyên Đức, hiệu Minh Phát Đại Sư, ngự trên linh đài trượng nhờ công đức này thượng  phẩm thượng sanh cao đăng bất thối.

“Với chén cơm đầy mùi thiền vị,

Với canh rau tròn nghĩa đạo tình”.

Ngưỡng mong:

Đại đức Thần Tăng thuỳ từ doãn nạp

Đệ tử chúng con hoà nam thượng cúng

Nam mô Phổ cúng dường Bồ tát ma ha tát.

Nam mô A Di Đà Phật

Trên chư tôn Tịnh đức đã thương xót lòng thành khẩn của chúng con mà hứa khả việc cúng dường này. để cảm tạ thâm ân cao dày đó, đệ tử chúng con xin đại vì Giác linh Thầy đầu thành đảnh lễ chư Tôn Đức tam bái.

Thích Đồng Văn cung soạn

 

Văn tác bạch của ban Quản trị và Ni chúng Ni Trường Dược Sư

  • Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo tác đại chứng minh.

  • Nam mô Điều ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh

  • Ngưỡng bạch Giác Linh Thượng Toạ thuỳ từ chứng giám

Hôm nay đứng trước kim quan, chúng con xin thay mặt Ban Quản Tri, cùng toàn thể Ni chúng và chư Phật tử Ni Viện Dược Sư, đốt nén tâm hương, đê đầu đồng kính bái Giác Linh Thượng Toạ.

Lời đầu tiên, chúng con kính mong Giác Linh Ngài, thương xót cho chúng con được gọi lên tiếng Thầy cao quý, ấm áp thâm tình như ngày nào Thầy còn hiện hữu với chúng con.

Thầy ơi ! ôi hai tiếng gọi thiêng liêng cao cả q