HÒA THƯỢNG
THÍCH THUẬN ÐỨC
(1918 – 2000)
Hòa thượng Thích Thuận Ðức, thế danh
Nguyễn Thanh Ðễ, sinh ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Ngọ 1918 tại thôn Quần
Lạc, xã Việt Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Ðịnh, trong một gia đình nông
dân yêu nước thuần thành Phật giáo. thân phụ là cụ Nguyễn Văn Hạ, thân mẫu
là cụ Phạm Thị Ty, Ngài là con út trong gia đình có 5 anh chị em, 3 trai 2
gái.
Năm lên 8 tuổi (1926), Ngài được song
thân hướng cho đi xuất gia đầu Phật tại chùa làng (chùa Quần Lạc) hiệu
Khánh Minh tự, ở với Sư cụ Thích Tâm Quán và được Sư cụ cho đi học văn
hóa, học Hán văn và học thiền gia Phật pháp.
Năm 13 tuổi (1931), Ngài được Bổn sư
đưa sang chốn Tổ Kim Sa (chùa Lãng Lăng) để Ngài sơ tâm cầu pháp Sư tổ
Thích Quảng Lãm, được Tổ tế độ và đưa về chùa Ðông An, xã Xuân Thành,
huyện Xuân Trường để tu học. Với đức hạnh khiêm tốn, siêng năng và ham học
hỏi, Ngài luôn được Sư tổ thương yêu và hy vọng sẽ có một ngày đạo pháp
huy hoàng, sơn môn pháp phái nhờ Tam bảo gia ân mà vững bền phát triển.
Năm 15 tuổi (1933), Ngài được Sư tổ
Lãng Lăng cho đăng đàn thụ Sa di giới tại chùa Ðông An. Sau khi thụ giới,
Ngài chuyên cần học tập kinh luật thiền môn, làm nền tảng cho đại giới sau
này.
Năm 18 tuổi (1936), Ngài trở về chùa
Lãng Lăng để phụng Phật sự Sư và cũng để được gần thầy giáo dưỡng dạy bảo
truyền bá pháp nhũ của chư Phật.
Ngày mùng 2 tháng 9 năm Mậu Dần 1938,
khi tuổi đời đã đủ 20, tâm Bồ đề đã đơm bông trí tuệ ứng thụ Cụ túc. Ngài
được Sư tổ cho đăng đàn thụ Tỳ khưu giới tại chốn Tổ Lãng Lăng (Kim Sa tự)
xã Xuân Ðài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh. giới đàn này gồm các Hòa
thượng : Thích Quy Minh, chùa Trà Bắc; Thích Tâm Tịnh, chùa Bộ La-Thái
Bình; Thích Chính Nghiễm, chùa Phú Ninh; Thích Thanh Nghị, chùa Thanh
Khiết và Thích Thanh Lãm, chùa Lãng Lăng làm giới sư truyền thụ. Từ đây
Ngài thực thụ trở thành Như Lai sứ giả, gánh vác Phật sự giáo hóa quần
sinh và tuyên dương Phật pháp.
Noi gương và phát huy truyền thống hiếu
học của các Ðại lão thiền sư tiền bối. Ngài chăm chỉ tiếp thu và trau dồi
tam vô lậu học để nâng cao trí lực và thiền lực nhằm lợi lạc quần sinh.
Do có nhiều thành tích đóng góp Phật sự
cho Giáo hội, năm 1945 Ngài được bầu làm Thư ký Phật giáo Cứu quốc huyện
Xuân Trường.
Năm 1947, Ngài được tín nhiệm bầu vào
Ban chấp hành Phật giáo Cứu quốc tỉnh Nam Ðịnh.
Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất
nước đang thời loạn lạc, Ngài đã “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong một thời
đại đầy biến động xã hội và chiến tranh do thực dân Pháp gây nên. Tâm Bồ
đề ngát tỏa giới hương thành sự thành tâm yêu nước, thương dân đã đưa Ngài
từ địa vị của nhà tu hành thành một nhà yêu nước chân chính. Ðó là nội
dung tôn giáo hòa quyện đạo đời. Trong thời gian này, Ngài vẫn ở chùa Lãng
Lăng và đến đầu năm 1950, Ngài giữ trọng trách Bí thư Phật giáo Cứu quốc
tỉnh Nam Ðịnh.
Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước
năm 1954, Phật giáo các tỉnh phía Bắc vận động để thống nhất thành một tổ
chức Phật giáo chung. Ngài là thành viên Ban Vận động, đến đầu năm 1958
tại Ðại hội thống nhất Phật giáo miền Bắc thành lập Hội Phật giáo Thống
nhất Việt Nam (ở miền Bắc), Ngài được bầu vào Ban Trị sự Trung ương Hội,
kiêm chánh Thư ký chi hội Phật giáo Nam Ðịnh cho đến ngày thống nhất Phật
giáo cả nước.
Năm 1980, Ngài tham gia Ban Vận động
thống nhất Phật giáo Việt Nam, đến tháng 11 năm 1981, tại Ðại hội thành
lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở thủ đô Hà Nội, Ngài được suy cử vào Ủy
viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1985, Ngài được Sơn môn cung thỉnh
về trụ trì chùa Cổ Lễ, một danh thắng lịch sử văn hóa Phật giáo ở huyện
Trực Ninh, Nam Ðịnh.
Tháng 11 năm 1987, tại Ðại hội Ðại biểu
Phật giáo toàn quốc lần thứ II, Ngài được bầu vào Ban Thường trực Hội đồng
Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1991, Ngài lại được kiêm Trụ trì
chùa Ðại Bi, huyện Nam Trực và chùa Vọng Cung, thành phố Nam Ðịnh, tỉnh
Nam Ðịnh.
Năm 1992, Ngài được cử làm Ðại biểu
tham gia Hội nghị Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP) tại Mông Cổ, nhân
dịp này đoàn đã sang thăm hữu nghị Hội Phật giáo Liên Xô.
Tháng 12 năm 1992, tại Ðại hội Ðại biểu
Phật giáo toàn quốc lần thứ III, Ngài lại được tái cử Ủy viên Thường trực
Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1997 tại Ðại hội Ðại biểu Phật giáo
toàn quốc lần thứ IV, Ngài được suy tôn và suy cử vào Hội đồng Chứng minh
Trung ương; Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm
Trưởng ban Nghi lễ Trung ương – Phó Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nam Ðịnh.
Cuối năm 1999, Ngài tham gia đoàn Ðại
biểu Phật giáo Việt Nam sang thăm Phật giáo Trung Quốc với tư cách là Phó
Trưởng đoàn.
Tháng 4 năm 2000, Ngài được bầu giữ
chức vụ Trưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nam Ðịnh.
Ðối với Phật giáo tỉnh Nam Ðịnh, Ngài
đã tận tâm tận lực cùng với Cố Hòa thượng Trưởng ban Thích Tâm Thông xây
dựng trường Trung cấp Phật học của tỉnh, Ngài luôn giáo hóa quần sinh
“minh tâm kiến tánh”, ứng dụng thích nghi vào sự nghiệp đào tạo thế hệ
Tăng Ni trẻ có đức có tài, đáp ứng với sự nghiệp phát triển của xã hội
hiện đại và nhu cầu phát triển Phật giáo Việt Nam. truyền thống ấy chính
là pháp môn thực hành Tam vô lậu học, là tiến trình giác ngộ, giải thoát
tri kiến.
Trong các sinh hoạt Tăng đoàn, an cư
kiết Hạ hằng năm. Ngài cùng Ban Thường trực Tỉnh hội đã lãnh đạo và động
viên Tăng Ni vân tập an cư đông đủ, hướng dẫn Tăng Ni tiếp thu giáo lý của
chư Phật nhằm trưởng dưỡng đạo tâm, tu tập giới hạnh, kiên trì nhẫn nại
của người xuất gia để tuệ lực và thiền lực ngày một tăng trưởng, có đủ
điều kiện để duy trì chánh pháp và phục vụ tínn gưỡng cho nhân dân. Nhiều
mùa an cư Ngài là Thiền chủ trường Hạ tại chùa Cổ Lễ và trường Hạ chùa Cả.
Trong kháng chiến chống Pháp, Ngài là
Ủy viên Mặt trận Việt Minh huyện Xuân Trường. Từ năm 1954 đến cuối đời là
Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Nam Ninh, rồi Nam Hà đến Nam Ðịnh
và Ðại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh nhiều khóa.
Do có nhiều công lao trong sự nghiệp
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam, Ngài đã được Nhà nước tặng thưởng :
Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất;
Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huy hiệu Vì sự nghiệp Ðại đoàn
kết toàn dân và nhiều huy hiệu cao quý khác.
Hạnh nguyện hoằng dương Phật pháp và tế
độ quần sinh của Ngài đã viên mãn. Luật vô thường đã đưa Ngài về Tây
phương kiến Phật vào hồi 12 giờ 35 phút ngày 14 tháng 11 năm 2000, nhằm
ngày 19 tháng 10 năm Canh Thìn, trụ thế 82 năm, Hạ lạp 59 năm.
Dù bất cứ công việc gì trong đạo hay ngoài đời,
Ngài đều coi đó là một Phật sự và là một phương tiện để hoằng dương Phật
pháp. là một danh Tăng cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp lợi
sinh, Ngài đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc chấn hưng, thống
nhất và hòa hợp Phật giáo, xây dựng và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc
phụng sự đất nước. Ngài là một bậc tôn sư khả kính đã có nhiều công lao
giáo dưỡng và dìu dắt hàng trăm môn đồ đệ tử đã trưởng thành, noi gương tự
giác giác tha của Ngài để bền vững đạo tâm và trang nghiêm Giáo hội.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH THANH KIỂM
(1920 – 2000)
Hòa thượng Thích Thanh Kiểm, đạo hiệu
Chân Từ, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Canh Thân –
1920, tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh. Thân phụ là cụ Vũ
Văn Khánh, thân mẫu là cụ Ðỗ Thị Thịnh, Ngài là con thứ tư trong gia đình
có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái.
Năm Bính Dần – 1926, khi lên 6 tuổi,
Ngài được song thân cho theo học chữ nho với các cụ đồ ở địa phương. Nhờ
sinh trưởng trong gia đình có truyền thống sùng kính Tam bảo, có người chị
gái đã xuất gia đầu Phật, (sau này là Ni Trưởng Ðàm Hữu), nên hạt giống
xuất trần cũng đã sớm nảy mầm trong Ngài từ thuở ấu thời.
Năm Ất Hợi – 1935, nhân duyên hội đủ
với Ngài khi tuổi 15, được song thân chấp thuận, vào ngày mồng 9 tháng
Chạp Ngài xin thế phát xuất gia với Sư cụ chùa Liên Ðàn, xã Linh Ðường,
huyện Thanh Trì, Hà Ðông. được Sư cụ thế độ, một năm sau đó, gửi Ngài đến
y chỉ nơi Hòa thượng Thích Thanh Khoát, trụ trì chùa Bạch Chữ, làng Trung
Hậu, tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phú) để cầu pháp học đạo.
Năm Mậu Tý – 1938, Ngài được Bổn sư cho
phép thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Tây Thiên, làng Trung Hậu, tỉnh Phúc
Yên, do Hòa thượng Thích Thanh Khoát truyền trao giới pháp.
Năm 19 tuổi (1939), một năm sau khi thọ
giới Sa di, để mở mang kiến thức Phật học, làm tư lương tiến tu hành đạo,
Ngài lần lượt du phương tham học nơi trường Phật học ở các chốn Tổ : Bằng
Sở, Trung Hậu, Hương Hải, Cao Phong...
Năm Nhâm Ngọ – 1942, lúc 22 tuổi, để
viên mãn tam đàn giới pháp, Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại giới
đàn chùa Linh Ứng, làng Trung Hậu, tỉnh Phúc Yên do Hòa thượng Thích Trừng
Thanh làm Ðàn đầu truyền giới.
Thời gian từ 1942 đến 1950, phong trào
chấn hưng Phật giáo đã lan rộng khắp 3 miền, các lớp Phật học để đào tạo
Tăng tài làm rường cột cho Phật giáo được mở ra tại chùa Quán Sứ và Bồ Ðề
ở Hà Nội, do các bậc thạc đức của Hội Bắc Kỳ Phật giáo như Tổ Cồn, Tổ
Quảng, Tổ Ngũ và các Hòa thượng Trí Hải, Thái Hòa, Tố Liên... trực tiếp
đào tạo giảng dạy. Ngài đã tham dự các khóa học này và đã hoàn tất chương
trình Cao đẳng Phật học cùng với huynh đệ đồng môn là Hòa thượng Thích Tâm
Giác.
Năm Tân Mão – 1951, Giáo hội Tăng Già
toàn quốc được thành lập từ Giáo hội Tăng Già ở 3 miền đất nước hợp lại.
Riêng với Giáo hội Tăng Già Bắc Việt (là hậu thân của Giáo hội Tăng Ni
chỉnh lý Bắc Việt do Hòa thượng Thích Tố Liên đã dày công khởi xướng vận
động từ năm 1949), Ngài được đề cử làm Thư ký Giáo hội Tăng Già Bắc Việt,
kiêm Giảng sư thay thế cho Hòa thượng Tố Liên đảm nhận chức Tổng thư ký
Giáo hội Tăng Già toàn quốc.
Năm Quý Tỵ – 1953, trong chương trình
đào tạo Tăng tài cho Phật giáo của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tại cuộc
họp liên hội giữa Hội An Nam Phật học và Giáo hội Tăng Già Bắc Việt, đã cử
Ngài cùng Hòa thượng Tâm Giác du học tại Nhật Bản.
Năm Giáp Ngọ – 1954, Ngài đến Nhật Bản
lưu học tại Ðại học đường Rissho, hai vị đều kiên tâm trì chí, chuyên tu
chuyên học về cả Phật học lẫn thế học. Ngài đã lần lượt hoàn tất các
chương trình :
Năm 1959, tốt nghiệp chương trình Cử
nhân Phật học.
Năm 1961, tốt nghiệp học vị Tiến sĩ
Phật học.
Năm Nhâm Dần – 1962, sau 8 năm du học,
Ngài trở về quê hương để phục vụ đạo pháp. Lúc này, do hoàn cảnh lịch sử
(sau hiệp định Genève năm 1954), Ngài ở lại miền Nam, cùng với các pháp lữ
và chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử tham gia cuộc đấu tranh chống chế độ độc
tài Ngô Ðình Diệm đàn áp Phật giáo năm 1963.
Năm Giáp Thìn – 1964, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, Ngài được Giáo hội cử làm Vụ trưởng phiên
dịch, thuộc Tổng vụ Hoằng pháp (Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Tổng vụ
trưởng) kiêm Giáo sư Viện Ðại học Vạn Hạnh Sài Gòn (1964 – 1973).
Từ năm này đến năm 1971, Ngài đã cùng
Hòa thượng Tâm Giác và chư Tăng Ni, Phật tử Miền Vĩnh Nghiêm thuộc Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nỗ lực xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm để làm
trụ sở cho Miền và môn phái. Chùa đã hoàn thành hết sức trang nghiêm tú lệ
như ngày nay.
Năm Quý Sửu – 1973, sau khi Hòa thượng
Tâm Giác – Chánh đại diện Phật giáo Miền Vĩnh Nghiêm - trụ trì Tổ đình
Vĩnh Nghiêm viên tịch, Ngài đã được Giáo hội, Miền cũng như môn phái Tổ
đình Vĩnh Nghiêm suy cử làm Chánh đại diện Miền kiêm trụ trì Tổ đình cho
đến ngày viên tịch.
Năm Ất Mão – 1975, đất nước thống nhất,
Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trụ
sở đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm. Ngài được cử làm Ủy viên Ban Liên lạc Phật
giáo yêu nước thành phố, do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch.
Năm Canh Thân – 1980, để tiến tới thống
nhất Phật giáo cả nước, Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được
thành lập, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban, Ngài là thành viên
Ban Thông tin Tuyên truyền, phục vụ cho công cuộc vận động thống nhất Phật
giáo Việt Nam.
Năm Tân Dậu – 1981, tại Ðại hội Ðại
biểu thống nhất Phật giáo toàn quốc lần thứ I được tổ chức tại thủ đô Hà
Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức ra đời, Ngài được cử làm Ủy
viên Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm Nhâm Tuất – 1982, các tổ chức Phật
giáo địa phương lần lượt hình thành. Trong đại hội Ðại biểu Phật giáo
thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I (1982) và lần thứ II (1987), Ngài được đại
hội cử làm Ủy viên Kinh tế Nhà chùa và từ thiện xã hội.
Năm Ất Sửu – 1985, Ngài được mời làm
Giáo sư trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II tại Thiền viện Vạn Hạnh
thành phố Hồ Chí Minh.
Năm Mậu Thìn – 1988, khi trường Cơ bản
Phật học thành phố Hồ Chí Minh (nay là trường Trung cấp Phật học) được
thành lập tại chùa Vĩnh Nghiêm, Ngài được cử làm Hiệu phó đặc trách Giám
luật và Ngài giữ trọng trách này đến khi viên tịch.
Năm Canh Ngọ – 1990, sau khi Hòa thượng
Thích Huệ Hưng (Trưởng ban Phật giáo chuyên môn thuộc Viện Nghiên cứu Phật
học Việt Nam) viên tịch, Ngài được Hội đồng điều hành Viện Nghiên cứu Phật
học Việt Nam mời làm Trưởng ban Phật giáo chuyên môn đến năm 1997.
Tại đại hội Thành hội Phật giáo thành
phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ III tổ chức vào hai ngày 20 và 21.4.1990 ở chùa
Xá Lợi, Ngài được suy cử làm Phó Ban Trị sự Thành hội Phật giáo.
Năm Tân Mùi – 1991, Ngài được cử làm
Phó chủ tịch Hội đồng phiên dịch Ðại Tạng Kinh Việt Nam, phụ trách hiệu
đính và chú thích về luật tạng.
Năm Nhâm Thân – 1992, tại đại hội đại
biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III, Ngài được suy cử làm Trưởng ban Kinh
tế tài chính Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ðồng thời kiêm nhiệm
Phó ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương; Phó ban Phật giáo Quốc tế của Trung
ương Giáo hội.
Năm Giáp Tuất – 1994, khi Phân viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập tại Hà Nội, Ngài được mời làm
Phó ban Tư tưởng Văn hóa đạo đức Phật giáo.
Năm Ðinh Sửu – 1997, sau đại hội Ðại
biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV, Ngài được suy cử làm Chứng minh Ban
Hoằng pháp Trung ương kiêm Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại
Hà Nội. Và tại đại hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh lần thứ V, Ngài
được cử làm Phó ban Trị sự kiêm Ủy viên Phật giáo quốc tế, rồi Trưởng ban
Phật giáo quốc tế Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.
Với trình độ quán thông tam tạng giáo
điển và triết học Ðông Tây cổ kim, Ngài đã từng tham gia công tác giảng
dạy, giáo dục và đào tạo Tăng tài cho Phật giáo như : Viện Cao đẳng Phật
học Sài Gòn, trường Cao cấp Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam; trường
Cơ bản Phật học nay là trường Trung cấp Phật học thành phố Hồ Chí Minh, mà
Ngài đã dày công xây dựng và duy trì từ hơn 10 năm qua.
Qua giới đức trang nghiêm thanh tịnh,
mô phạm chốn tòng lâm, nên từ những thập niên 60 đến 90, Ngài đã được Giáo
hội thỉnh làm Giới sư, Tôn chứng sư, Chứng minh sư trong các giới đàn như
:
- Tôn chứng Tăng Già Ðại giới đàn Quảng
Ðức (1964, 1977)
- Giáo thọ A Xà Lê Ðại giới đàn Vĩnh
Nghiêm (1967, 1972)
- Tuyên Luật sư kiêm Giáo thọ Ðại giới
đàn Thiện Hòa; giới đàn Thiện Hào do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức (1984, 1988, 1991)
- Tôn chứng Tăng Già Ðại giới đàn chùa
Long Thiền, thành phố Biên Hòa,tỉnh Ðồng Nai (1990)
- Yết ma A Xà Lê Ðại giới đàn Thiện
Hòa, Ðại Tòng Lâm, tỉnh Ðồng Nai (1992, 1995, 1999)
- Yết ma A Xà Lê Ðại giới đàn Linh
Giác, thành phố Ðà Lạt, tỉnh Lâm Ðồng (1994)
- Ðường đầu Hòa thượng Ðại giới đàn
chùa Khánh Quang, tỉnh Cần Thơ (1997)
- Tuyên Luật sư kiêm Yết ma A Xà Lê Ðại
giới đàn tỉnh Lâm Ðồng (năm 1998)
- Ðường đầu Hòa thượng Ðại giới đàn Ðại
Tòng Lâm, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (năm 2000)
Trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp,
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Ngài đã dày công biên soạn nhiều tác
phẩm văn hóa, giáo dục, Phật học được in thành sách lưu lại hậu thế như :
- Diễn Thuyết Tập, Hà Nội, 1951
- Phật Pháp Sơ Học, Hà Nội, 1952
- Nghiên Cứu Về Tư Tưởng Bản Giác Của
Phật Giáo, Nhật Bản
- Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc, Sài
Gòn, 1967
- Lược Sử Phật Giáo Ấn Ðộ, Sài Gòn,
1969
- Thiền Lâm Bảo Huấn, Sài Gòn 1972
- Sách Dạy Cắm Hoa, Sài Gòn, 1973
- Ðại Cương Luật Học, Tp. Hồ Chí Minh
1990
- Lược Giảng Kinh Pháp Hoa, Tp. Hồ Chí
Minh, 1991
- Kinh Viên Giác, Tp. Hồ Chí Minh, 1992
- Pháp Hoa Yếu Lược, Tp. Hồ Chí Minh,
1994
- Luận A Tỳ Ðàm – Câu Xá, Tp. Hồ Chí
Minh, 1995
- Khóa Hư Lục, Tp. Hồ Chí Minh, 1996
Và nhiều bài viết có giá trị đăng trên
các báo Phật giáo như : Phương Tiện, Ðuốc Tuệ, Vạn Hạnh, Lửa Từ Bi, Giác
Ngộ, Tập Văn, Phật Giáo, Tạp Chí Phật Học Hà Nội...
Bằng tinh thần giới luật, qui củ tòng
lâm, từ năm 1983 đến 1989, Tổ đình Vĩnh Nghiêm được Thành hội Phật giáo
Tp. Hồ Chí Minh chọn làm nơi mở Hạ an cư cấp Thành phố, Ngài luôn luôn
được cử làm Hóa chủ để chuyên lo về việc tu học, tứ sự cho chư Tăng, góp
phần thành tựu các khóa kiết Hạ của Thành phố. Từ năm 1990 trở đi, Ngài
làm Thiền chủ kiêm Hóa chủ các khóa Hạ do Tổ đình Vĩnh Nghiêm và trường Cơ
bản Phật học tổ chức, cho Tăng Ni sinh cùng chư Tăng trong môn phái vân
tập về tu học, thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới-Ðịnh-Tuệ đều nương nhờ
phần lớn công đức của Ngài.
Ðể đền đáp công ơn Sư trưởng nơi chốn
Tổ xưa từng nương thân học đạo, Ngài đã cùng Sơn môn pháp phái nỗ lực
trùng tu chốn Tổ Trung Hậu, tỉnh Vĩnh Phú được hoàn thành trang nghiêm tú
lệ. Ngài còn chăm lo xây dựng Bảo tháp Cộng đồng; Thiền đường; Thanh trai
đường tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh, để xứng đáng là cơ sở
Phật giáo tiêu biểu tại địa phương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Với công đức đã cống hiến một đời cho
đạo pháp và nhân sinh, xã hội, Ngài được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trao tặng Huy chương “Vì Sự Nghiệp Ðại Ðoàn Kết Toàn Dân” và
nhiều Huy chương, bằng khen, giấy khen khác trong đó có bằng “Tuyên dương
Công đức” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhằm ngày
mùng 5 tháng Chạp năm Canh Thìn, vào lúc 1 giờ 30 phút, thuận lý vô
thường, Hòa thượng đã an nhiên thị tịch, trụ thế 80 năm, 58 Hạ lạp. Môn đồ
pháp quyến xây bảo tháp an trí nhục thân Ngài trong khuôn viên Tổ đình
Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc đời Ngài là một
mẫu mực tài đức vẹn toàn, một bậc Chân sư chốn thiền lâm, danh tiếng Ngài
cả 3 miền đất nước đều kính ngưỡng. Ðạo hạnh ấy vẫn đọng mãi trong lòng
Tăng Ni hậu tấn một hình bóng cao quý để tôn thờ và noi gương học tập
PHỤ
LỤC
CƯ
SĨ TIỀN BỐI HỮU CÔNG
THẾ
KỶ XX
(04
NHÂN VẬT TIÊU BIỂU)
CƯ SĨ TUỆ
NHUẬN
VĂN QUANG THÙY
1887 – 1967
Cư sĩ Văn Quang Thùy sinh ngày 17 tháng
3 năm Ðinh Hợi 1887, tại tỉnh Hải Dương, thân phụ là cụ Văn Ðức Khiêm.
Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán. Người ta kể lại rằng ông chăm học, không
lúc nào rời cuốn sách, đến nỗi trong xóm có vụ cháy nhà, mọi người đổ xô
đi coi, ông vẫn ngồi yên học.
Sau khi việc thi cử bằng chữ Hán bị bãi
bỏ, ông quay sang học tiếng Pháp và thi đỗ làm Thông phán tại Nha quan
thuế Hà Nội.
Năm 1928, cụ thân sinh thất lộc, ông
suy tư về kiếp sống vô thường, bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu kinh điển
đạo Phật. Bẩm tính thông minh, lại thêm có vốn Hán học vững vàng, ông thâm
nhập giáo lý Phật đà một cách nhanh chóng và uyên thâm, trở nên một cư sĩ
Phật tử thuần thành.
Thời bấy giờ, sách báo thuộc loại tân
thư như phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản thâm nhập
vào nước ta qua đường dây của thương nhân Hoa kiều đã tác động vào tư
tưởng của giới trí thức cựu học và các vị tôn túc Phật giáo Việt Nam. Do
đó, phong trào chấn hưng Phật giáo ở trong nước cũng được khởi động khắp
nơi. Ði tiên phong cho phong trào là Phật giáo Nam kỳ với các Hội Nam kỳ
Nghiên cứu Phật học, Hội Lưỡng Xuyên Phật học, Hội Phật học Kiêm tế; rồi
đến Trung kỳ với Hội An Nam Phật học. Các hội này hoạt động rất mạnh, mở
nhiều Phật học đường đào tạo Tăng Ni, xuất bản báo chí để phổ biến giáo lý
Phật đà và tuyên truyền vận động cho phong trào ấy.
Hòa cùng nhiệt tình và nguyện vọng của
đồng đạo Nam, Trung; các Hòa thượng Trí Hải, Mật Ứng, và Tâm Bảo cùng với
nhà văn Sở Cuồng Lê Dư triệu tập một cuộc họp tại chùa Quán Sứ ở Hà Nội,
có sự tham dự của chư tôn đức trong hàng giáo phẩm và các vị trí thức tên
tuổi ở thủ đô như các ông Nguyễn Hữu Kha, Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng
Kim, Bùi Kỷ, Cung Ðình Bính, Trần Văn Giáp, Văn Quang Thùy, Nguyễn Can
Mộng, Nguyễn Ðỗ Mục, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn
Văn Vĩnh v.v... Hội nghị đồng ý thành lập một tổ chức đặt tên là “Bắc Kỳ
Phật Giáo hội” do ông Nguyễn Năng Quốc làm Hội trưởng. Cư sĩ Văn Quang
Thùy và ông Nguyễn Văn Minh được cử làm Phó thư ký.
Từ đó, ông dành nhiều thời gian ngoài
giờ công vụ, hoạt động cho phong trào chấn hưng Phật giáo trên miền Bắc.
Ngoài việc tham gia giảng dạy giáo lý ở các trường Gia giáo của các chùa
và các Phật học đường của Hội, ông còn đi giảng kinh cho đồng bào Phật tử
tại chùa Quán Sứ, chùa Hòe Nhai và các chùa nhỏ quanh vùng Hà Nội. Chẳng
những ở Hà Nội, mà các chùa ở tỉnh xa như Nam Ðịnh, Thái Bình, Hải Phòng
cũng thường mời ông đến giảng pháp, ông đều vui vẻ đáp ứng.
Mùa xuân năm Canh Thìn 1940, một phái
đoàn Tăng sĩ Trung Hoa sang thăm Việt Nam, trong đó có hai Pháp sư Thái Hư
và Ðế Nhàn. Với Pháp sư Thái Hư, tuy đây là lần đầu tiên tới Việt Nam,
nhưng pháp danh Ngài thì rất quen thuộc đối với Phật giáo Việt Nam trong
mấy chục năm trước đó. Trong khi phái đoàn nghỉ tại khách sạn, Cư sĩ Văn
Quang Thùy tìm đến cầu pháp tu thiền với Pháp sư Thái Hư. Pháp sư liền nói
: “Tôi thấy Việt Nam toàn tu Tịnh độ, cư sĩ nên vâng theo”.
Sau đó, Pháp sư trao giới Bồ Tát cho
ông, ban pháp danh là Tuệ Nhuận và tặng một mảnh giấy có hai câu thơ để
làm kỷ niệm :
Nhập Như Lai tạng
Văn
tự Quang
minh
Thùy vũ trụ
Phật ngôn Tuệ trạch
Nhuận sinh linh.
Thời tại Canh Thìn niên xuân
Tam nguyệt nhị thập lục nhật
Lữ Hà Nội – Thái Hư
Từ năm 1935, ông xin nghỉ việc, dành
trọn thời giờ để phụng sự Tam bảo. Ông đã dịch rất nhiều kinh sách bằng
chữ Hán sang tiếng Việt. Kinh A Di Ðà, Kinh Dược Sư, Kinh Hoa Nghiêm phẩm
Phổ Hiền mang tên ông vẫn đang được lưu hành cho đến nay.
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và mặt
trận Hà Nội vỡ năm 1947, các hoạt động của Phật giáo ngưng trễ khắp nơi.
Ðến năm 1949 các Tăng sĩ và Cư sĩ mới lần lượt tập họp lại để thành lập
Hội “Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt” và Hội “Việt Nam Phật giáo” tại chùa Quán
Sứ và Hội “Phật tử Việt Nam” tại chùa Chân Tiên.
Về Hội “Phật tử Việt Nam” ở chùa Chân
Tiên có sự đóng góp tích cực của Cư sĩ Văn Quang Thùy. Hội thường tổ chức
diễn giảng tại chùa Chân Tiên, trong số các diễn giả có cư sĩ Văn Quang
Thùy. Hội còn thành lập Ban Hoằng kinh để xuất bản các kinh sách Phật
giáo, đặt trụ sở tại số 56 phố Hàng Trống, Hà Nội. nhân dịp này hai bộ
kinh lớn là Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Từ Bi Ðạo Tràng Sám Pháp do ông phiên
dịch ra quốc ngữ cũng được xuất bản.
Ngoài ra, ông đã cùng với các bạn đồng chí hướng
xuất bản tờ bán nguyệt san Bồ Ðề để phổ biến Phật học. Báo này ra số đầu
vào ngày 22 tháng 4 năm 1949, báo quán tại số 108 đường Boret Hà Nội, do
ông làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Báo xuất bản liên tục đến tháng 5 năm
1954, đất nước bị chia đôi mới đình bản. Trên các trang báo này, ông đích
thân phiên dịch, chú giải luận Duy Thức Tam Thập Tụng, Thập Mục Ngưu Ðồ và
viết nhiều bài giáo lý căn bản giúp cho việc học Phật của đọc giả. Cộng
tác với ông có nhiều cây bút vững vàng như Nguyễn Xuân Chữ, Lê Văn Giáp,
Hồng Liên, Ðế Châu, Vũ Ðình Mẫn, Trì Dung, Thanh Vân, Lê Văn Lương v.v....
Ðặc biệt cây bút vui trẻ Cát Tường Lan đã chinh phục được sự mến chuộng
giới độc giả trẻ tân học. Cô đã khéo dùng các kiến thức khoa học để chứng
minh và giảng dạy Phật pháp, khiến lập luận được sáng tỏ và đầy thuyết
phục.
Sau hiệp định Genève 1954, Cư sĩ Tuệ
Nhuận-Văn Quang Thùy vào miền Nam, xin xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng
Thích Thiện Hòa. Từ đó ông lấy việc chuyên tu làm chính.
Ông mất năm Ðinh Mùi 1967 tại Sài Gòn,
hưởng thọ 80 tuổi, để lại cho kho tàng kinh sách Phật học Việt Nam nhiều
tác phẩm dịch thuật giá trị.
CƯ
SĨ
ÐOÀN TRUNG CÒN
1908 – 1988
Cư sĩ Ðoàn Trung Còn
pháp danh Hồng Tai, sinh năm Mậu Thân (1908) tại làng Thắng Nhì, thị xã
Vũng Tàu, nay là thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Lúc nhỏ
ông theo học trường Pháp Việt tại Vũng Tàu, sau lên học ở Sài Gòn, do đó
ông rất thông thạo tiếng Pháp. Vốn xuất thân trong một gia đình có truyền
thống nho học và tín ngưỡng Phật giáo, nên sau khi thôi học ở nhà trường
ông chuyên tâm tự học chữ Hán để có trình độ cần thiêt cho việc nghiên cứu
Tam tạng kinh điển nhà Phật.
Vốn là người sinh
sống ở Nam bộ, ông tiếp xúc với các Sư sãi người Khmer và Phật giáo Nam
Tông thường xuyên. Kinh sách ở đây chép bằng chữ Bắc Phạn (Sanscrit) hoặc
chữ Nam Phạn (Pàli) nên thôi thúc ông để tâm nghiên cứu, học hỏi hai loại
văn tự này. Chính vì vậy mà ông có một căn bản khá vững chắc về Hán học và
Phạn học, đủ giúp ông đi sâu vào nghiên cứu kinh điển nhà Phật.
Ngoài việc nghiên
cứu giáo lý của đức Phật để biết đường tu hành, ông còn để tâm truyền bá
chánh pháp đến các tầng lớp nhân dân như bổn phận một vị xuất gia, góp
công rất lớn cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo và phổ biến Phật học vào
giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20.
Năm 1932, ông sáng
lập Phật Học Tòng Thơ để xuất bản các sách ông biên khảo về Phật giáo và
các bộ kinh căn bản do ông phiên âm và dịch nghĩa. Song song đó, ông sáng
lập thêm Trí Ðức Tùng Thư để xuất bản các bộ sách quan trọng của Nho giáo
do ông phiên âm và dịch nghĩa, với mục đích là duy trì nền đạo học chân
chính, hầu giúp cho lớp hậu tiến biết cách tu thân, tề gia và trị quốc.
Mục đích tôn chỉ của hai tùng thư này đã được ông minh thị trong lời bố
cáo như sau :
“Những kinh sách của
bổn quán xuất bản, hoặc in có chữ Hán, hoặc in toàn chữ Việt, đều được
nghiên cứu và nhuận sắc rất kỹ lưỡng, vì mục đích của bổn quán là muốn
truyền bá Phật pháp, cho nên chẳng ngại công cán và thì giờ.
“Vậy mong rằng kinh
sách ấy sẽ bổ ích cho độc giả thiện tâm trên đường tu học.
“Vì sau này giấy đắt
công cao, vậy bổn quán yêu cầu những vị đã thỉnh kinh sách, khi coi rồi
thì nên cho bà con quen biết mượn coi, đó là quý vị phụ lực với bổn quán
mà truyền bá đạo lý vậy.
“Và bổn quán cũng
yêu cầu những vị “hằng tâm hằng sản” nên thỉnh kinh sách Phật mà ấn tống,
thì phước đức vô lượng. Những nhà từ tâm bố thí có lẽ cũng dư biết rằng,
trong các việc bố thí, chỉ có việc thí Pháp là có công đức hơn hết”.
Từ đó cho đến ngày
ông qua đời, ông đã đơn thân độc mã, làm việc tất lực đã in được gần 40
tác phẩm trong Phật Học Tùng Thư và 12 cuốn trong Trí Ðức Tùng Thư. Các
sách của Phật Học Tùng Thư đã xuất bản là :
1.
Truyện Phật Thích Ca
2.
Du lịch xứ Phật
3.
Ðạo lý nhà Phật
4.
Chuyện Phật đời xưa
5.
Văn minh nhà Phật
6.
Triết lý nhà Phật
7.
Lịch sử nhà Phật
8.
Pháp giáo nhà Phật
9.
Tăng đồ nhà Phật
10.
Các tông phái đạo Phật
11.
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
12.
Một trăm bài kinh Phật
13.
Na Tiên Tỳ Kheo Kinh
14.
Mấy thầy tu huyền bí
15.
Tam bảo văn chương
16.
Pháp Bảo Ðàn Kinh
17.
Vô Lượng Thọ Kinh
18.
Quán Vô Lượng Thọ Kinh
19.
Ðịa Tạng Kinh
20.
Di Lặc Kinh (thượng sanh hạ sanh)
21.
Bồ Tát giới kinh
22.
Quy Nguyên trực chỉ
23.
Sự tích Phật A Di Ðà
24.
48 lời nguyện của Phật A Di Ðà
25.
A Di Ðà Kinh
26.
Kinh Tam bảo (Di Ðà - Hồng Danh - Vu Lan - Phổ Môn - Kim Cang và
pháp nghi Tịnh độ)
27.
Phật Pháp vỡ lòng
28.
Khuyên tu Tịnh độ
29.
Thành Ðạo
30.
Học Phật chánh pháp
31.
Quan Âm Thị Kính
32.
Nước Ấn Ðộ trước hồi Phật giáng
33.
Kim Cang Kinh (âm chữ Hán và giảng nghĩa)
34.
Yếng Sáng Á Châu
35.
Ðại Bát Niết Bàn Kinh
36.
Duy Ma Cật Kinh
37.
Sách nấu đồ chay
Các sách do Trí Ðức
Tùng Thư đã xuất bản gồm có
1.
Truyện Ðức Khổng Tử
2.
Nhị thập tứ hiếu (Hán và Việt)
3.
Hiếu Kinh (Ðức Khổng Tử giảng về đạo hiếu – Phụ trương : Khổng Tử
lược sử)
4.
Tam Tự Kinh (Hán và Việt : âm và nghĩa)
5.
Ðại học (Hán và Việt : âm và nghĩa)
6.
Trung Dung (Hán và Việt : âm và nghĩa)
7.
Luận ngữ (Hán và Việt : âm và nghĩa)
8.
Tam Thiên Tự (3 cuốn : 1 cuốn Hán và Việt, 1 cuốn theo lối tự điển
Việt-Hán-Pháp, 1 cuốn Pháp-Việt-Hán)
9.
Minh Ðạo gia huấn (Hán và Việt : âm và nghĩa)
10.
Ngũ Thiên Tự (Hán và Việt : âm và nghĩa)
11.
Mạnh Tử (Hán và Việt : âm và nghĩa)
12.
Học chữ Hán một mình
Sách của ông được
viết với lối hành văn mộc mạc, dùng từ bình dân, đọc lên ai cũng hiểu,
không chỉ được phổ biến khắp Nam kỳ lục tỉnh, mà còn đưa ra cả ngoài miền
Trung, miền Bắc. Thư quán phát hành là hiệu sách số 143 đường Ðề Thám,
quận Nhất, Sài Gòn.
Trong công việc
trước tác và dịch thuật của ông, công trình to lớn nhất đóng góp cho kho
tàng sách Phật giáo là bộ “Phật học từ điển” gồm 3 cuốn với một số lượng
từ chưa có sách nào sánh kịp lúc bấy giờ. Sách được biên soạn rất công
phu, xếp theo mẫu tự La tinh. Mỗi mục từ được chú thích thêm các thứ tiếng
Pháp, Hán, Tạng, Sanscrit, Pàli rất rõ, giúp độc giả có điều kiện tham
khảo từ các sách được viết bằng các ngoại ngữ trên.
Ngoài việc biên soạn
và xuất bản sách, ông còn cùng với các Sư thuộc phái Lục Hòa Tăng thành
lập một tông phái mới vào năm 1955 gọi là Tịnh độ Tông Việt Nam với mục
đích khuyến giáo Phật tử tu theo pháp môn Tịnh độ. Lúc mới thành lập, trụ
sở của Hội đặt tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn, sau dời về chùa Liên
Tông ở đường Ðề Thám.
Cư sĩ Ðoàn Trung Còn
là người có công lớn đối với công việc hoằng dương chánh pháp. Vào thời
điểm mà kinh sách về Phật giáo viết bằng chữ quốc ngữ phổ thông còn rất
hiếm hoi, trình độ hiểu biết về giáo lý đạo Phật trong đại đa số quần
chúng Phật tử còn mờ mịt; thì ông là người cư sĩ không chỉ biết tu hành
hướng thiện cho bản thân, mà còn đem cả tâm huyết nghiên cứu, học hỏi để
viết sách, dịch kinh phổ biến cho mọi người cùng tu học; chúng ta có thể
nói rằng những Phật tử sống vào nửa đầu thế kỷ 20 nâng cao sự hiểu biết
Phật pháp của mình, ngoài những buổi nghe các bậc Giảng sư thuyết pháp ở
chùa, một phần khác cũng đã nhờ đọc những cuốn sách của ông.
Ông mất ngày 28
tháng Giêng năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 3 năm 1988) hưởng thọ 80 tuổi
với trên 50 năm cống hiến cho sự nghiệp phụng sự đạo pháp.
CƯ SĨ
TRÚC THIÊN
1920 – 1972
Cư
sĩ Trúc Thiên tên thật là Nguyễn Ðức Tiếu, sinh ngày 12 tháng 4 năm Canh
Thân (1920) tại làng Tân Mỹ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, trong
một gia đình truyền thống hiếu học và tin Phật nhiều đời.
Ngay từ thuở thiếu thời, Cư sĩ nhờ vào truyền thống quý báu đó của gia
đình nên đã tỏ ra am tường các sở học mà một người cùng lứa ít khi đạy
được. Trong khi đó, bối cảnh xã hội lúc bấy giờ thường không được an ổn
bởi các tranh chấp và các phong trào nổi dậy của các sĩ phu Văn thân cũng
như làn gió Cần Vương, còn là dư âm đã có sức ảnh hưởng rất lớn. Bộ máy
cầm quyền thực dân cũng không chịu nhường bước, càng ra sức đàn áp, khủng
bố khắp nơi, gây nên bối cảnh xáo trộn nặng nề, nhất là đối với đàn ông và
đặc biệt là các thanh thiếu niên mới lớn.
Năm
Ất Hợi (1935) ông đã hoàn tất chương trình trung học một cách xuất sắc,
được giới cầm quyền lúc bấy giờ chú ý, muốn đào tạo ông trở nên người có
đủ đầy kiến thức tân học mai sau phục vụ cho chính họ. Vì thế một kế hoạch
lớn, lâu dài được vạch ra để thực hiện bằng cách trao một học bổng tại
nước Pháp cho ông. Tuy ông cũng có phần muốn nương nhân duyên đó để tiến
thân, vì so với thanh niên thời ấy chuyện du học là một vinh hạnh, tự hào
rất lớn, có điều kiện tiếp cận nền văn minh xứ người; nhưng điều đó không
lớn hơn tinh thần dân tộc cao đẹp mà truyền thống gia đình và hình ảnh các
phong trào yêu nước đang diễn ra khắp mọi nơi, cộng vào cảnh đàn áp của
thực dân bản địa... đã góp phần không nhỏ để ông đi đến quyết định dứt
khoát : từ chối niềm vinh hạnh đó.
Ðể
bù đắp lại, ông nỗ lực tự tìm tòi, học hỏi qua các sách vở cả Ðông lẫn Tây
để không lạc hậu với thời thế, mà vẫn bảo toàn được giá trị quyết định
chính đáng của mình và gia đình. Ðối với chính quyền, đó là một thất bại
lớn nên thực dân đã dùng đủ mọi áp lực để đe dọa bản thân ông và gia đình,
khiến tình thế lại trở nên nặng nề.
Năm
Bính Tý (1936), sau khi bàn bạc với gia đình và được sự khuyến khích của
bạn bè cùng chí hướng, ông quyết định rời Nha Trang vào Sài Gòn sinh sống.
Ðó là quyết định sáng suốt vì nơi đây sẽ là mảnh đất màu mỡ để ông ươm mầm
cho bao dự định của mình.
Kể
từ đây là một quảng thời gian dài phấn đấu nhiều mặt và còn là bước rẽ
ngoặc lớn đối với cuộc đời của ông. Từ chuyện lo sinh kế, tự học và tạo ra
các mối liên kết rộng rãi để bổ sung sở học, cho đến việc ổn định đời sống
và thành lập gia đình. Ðặc biệt cũng thời gian đó ông đã đến với tri thức
Phật giáo như một sự trở về tất yếu, vì Phật giáo còn là một phần lý tưởng
đã giúp ông có nhiều quyết định sáng suốt trong cuộc đời. Tư tưởng Phật
giáo đã thể hiện nơi con người ông là sự hiền hòa – dung dị – ít nói và
sống rất thanh đạm.
Từ
năm Ất Dậu (1945), ông bắt đầu bước vào lãnh vực văn học Phật giáo, và trở
thành một ngòi bút không thể vắng mặt trong các tạp chí Phật học ngay từ
buổi sơ khai.
Về
biên khảo dịch thuật, ông đã có những tác phẩm được nhiều người biết đến
như : “Hiện tượng KRISNAMURTI”; “ Ðường vào hiện sinh”; “Sáu cửa vào động
thiếu thất”; “Ngữ lục”; “Cốt tủy của đạo Phật”; “Thiền luận (tập I)”
v.v...
Về
thơ văn, ông đã có nhiều tập thơ được xuất bản rất được hâm mộ như “Chuyển
một hướng say”; “Thơ chết” v.v... đặc biệt là bài “Trường ca KALINGA”,
thuật lại cuộc đánh chiếm xứ KALINGA của bạo chúa bách chiến bách thắng
ASOKA, sau này lại trở nên một vị chuyển luân vương và tích cực hộ trì
chánh pháp.
Từ
năm Canh Dần (1950), tài năng của ông được biết đến không chỉ riêng về
nghiên cứu, sáng tác thơ văn Phật học; mà cả trên lãnh vực kiến thức pháp
luật của ông cũng được trọng thị, do vậy ông được mời làm việc một thời
gian dài ở Bộ Tư pháp chính quyền Sài Gòn.
Năm
Ðinh Dậu (1957), ông gia nhập Hội Phật học Nam Việt khi chùa Xá Lợi, trụ
sở của Hội được khánh thành. Ông được Cư sĩ Hội trưởng Chánh Trí-Mai Thọ
Truyền mời viết bài và biên tập cho tạp chí Từ Quang, cùng tham gia vào
Ban Quản trị Hội Phật học.
Năm
Giáp Thìn (1964), sau pháp nạn Phật giáo năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất được hình thành, ông được mời tham gia ở hai Tổng vụ giáo
dục và văn hóa. Khi Ðại học Vạn Hạnh được thành lập, ông cũng được mời
giảng dạy ngay những ngày đầu tiên.
Năm
Canh Tuất (1970), ông lại được mời tham gia vào Giám sát Viện, là một cơ
quan quan trọng của ngành tư pháp.
Tất
cả những đóng góp của ông cho văn hóa Phật giáo lẫn các mặt hoạt động xã
hội, được biểu hiện một cách tích cực ở góc độ cuộc đời bản thân mình mà
qua những lời tự bạch khiêm nhường trong “Chuyển một hướng say” đã viết
như sau :
“Trúc Thiên, đó là người làm thơ thơ hỏng, viết văn văn hỏng, dịch sách
sách hỏng. Bằng tất cả cái hỏng ấy, người lội qua hai ngọn trào văn hóa
với lời thơ cao ngạo trên môi : Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu.
Rồi
một ngày nào đó người nhận chân con người của chính mình, không thể là gì
khác hơn một con số 0 ! Không to tướng : Không dĩ vãng, không tương lai,
không kỷ niệm sau lưng, không thiên đường trước mặt, không thân thế, không
tiểu sử, không tuổi không tên, không là gì hết !
Lớn
và ngu, người mang tất cả một tấm lòng trịnh trọng đối với đời, biết ơn
tất cả, cả đau thương và bệnh tật, chấp nhận tất cả, cả cái chết và hư
vô...”
Bàng bạc trong những dòng ấy là cả một không gian tri thức Phật học lớn
lao, nói lên được giá trị của một người làm văn hóa Phật giáo đúng nghĩa,
đáng để cho đời sau noi gương.
Năm
Tân Hợi (1971,) căn bệnh nan y đã khép lại cuộc đời tài ba của Cư sĩ vào
lúc 6 giờ 30 sáng ngày 5 tháng 4 năm 1971 một cách âm thầm tại nhà riêng ở
đường Cô Bắc - Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.
Cư
sĩ mất đi đã để lại cả một gia tài văn học của cuộc đời mình cho văn đàn
nghệ thuật, cũng là để lại những đóng góp cho văn học Phật giáo nhiều tác
phẩm biên khảo dịch thuật có giá trị muôn thuở cho người học Phật.
CƯ
SĨ
NGUYỄN ÐĂNG THỤC
1908 – 1999
Cư sĩ Nguyễn Ðăng Thục sinh ngày 19
tháng 9 năm 1908 (có sách ghi ngày 14.6.1909) tại làng Thổ Khối, huyện Gia
Lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân trong một gia đình có
truyền thống nho học và khoa bảng. Thuở nhỏ ông học tiểu học ở trường
làng, cấp trung học ở trường Albert Sarraut - Hà Nội.
Năm 1927 ông sang du học ở Pháp, Bỉ và
Thụy Sĩ. Năm 1928-1929 ông đậu tú tài I và II ban Triết học và Toán học,
được xếp hạng giỏi tại trường Marseilles – miền Nam nước Pháp. Sau đó ông
theo học ngành kỹ nghệ và khoa học tại L’ École Nationale des Arts (Trường
Quốc gia Mỹ thuật) và Ðại học Lille ở Roubais ở miền Bắc nước Pháp và đã
tốt nghiệp Kỹ sư hóa học.
Năm 1934, ông trở về nước. Năm 1935
cùng với các ông Bùi Ngọc Ái và Vũ Ðình Di xuất bản tờ báo L’ Avenir de la
Jeunesse (tương lai của tuổi trẻ) tại Hà Nội. Năm 1937, ông làm bỉnh bút
cho tờ Le travail (Lao Ðộng), nhưng được ít lâu tờ báo này bị đình bản.
Ông quay về với nghề chuyên môn đã học là ngành kỹ nghệ, nhận làm kỹ sư
hóa học cho Nhà máy dệt Nam Ðịnh (S.F.A.T).
Vốn đã được thấm nhuần tư tưởng Khổng
Mạnh do truyền thống gia đình nên ông rất thích môn triết học Ðông Phương,
trong thời gian du học ở Pháp, ông thường đi dự thính các buổi thuyết
trình về triết học tại Ðại học Sorbonne của các Giáo sư danh htiếng. Trong
thời gian làm việc ở Nam Ðịnh, ông đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu về văn
hóa Á Ðông và đã viết hai tác phẩm “Bình giải sách Ðại học” và “Tinh thần
khoa học và đạo học”. Năm 1944, ông xuất bản tạp chí “Duy Nhất” tại thành
phố Nam Ðịnh với chủ trương dung hòa văn hóa Ðông-Tây.
Năm 1945, thời thế thay đổi, ông thôi
việc tại Nhà máy dệt Nam Ðịnh, về làng Thụy Khê gần hồ Tây – Hà Nội mở nhà
máy riêng và tham gia các hoạt động văn hóa. Sau Cách mạng tháng Tám rồi
kháng chiến toàn quốc, ông làm kỹ sư cho công binh xưởng Liên khu 3. Năm
1948, ông làm giám đốc học vụ Trường Dân Huấn Vụ. Năm 1949, hồi cư về Hà
Nội và qua năm sau, ông được mời dạy bộ môn Triết học Ðông Phương tại
trường Ðại học Văn Khoa Hà Nội, và làm chủ bút tờ “Văn hóa Tùng Biên”.
Năm 1954 ông vào Sài Gòn, sáng lập và
làm Chủ tịch Hội Việt Nam Nghiên cứu và Liên lạc Văn hóa Á Châu, đồng thời
làm giảng sư tại trường Ðại học Văn Khoa Sài Gòn. Từ năm 1961 đến năm
1965, ông được mời làm Khoa trưởng Khoa Văn học Việt Nam tại trường này.
Ông còn đảm trách chủ nhiệm tạp chí văn hóa Á Châu và Trưởng tiểu ban văn
hóa của tổ chức Văn hóa Giáo dục Liên hiệp Quốc (UNESCO) tại Việt Nam.
Từ năm 1964, Viện Ðại học Vạn Hạnh của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập, ông được mời làm Khoa
trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn kiêm giảng sư môn Triết học
Ðông phương. Năm 1964 – 1965, ông cùng một số trí thức, nhân sĩ tiến bộ
tại Sài Gòn ký một bản kiến nghị yêu cầu chính quyền Sài Gòn trực tiếp
thương thuyết với Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam để chấm dứt chiến
tranh. Do đó ông bị chính quyền Phan Huy Quát cách chức và buộc thôi dạy ở
Ðại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm 1973, ông được Trường Ðại học Vạn
Hạnh trao văn bằng Tiến sĩ danh dự, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập trường.
Ông mất ngày 3 tháng 6 năm 1999 tại
thành phố Hồ Chí Minh, thượng thọ 92 tuổi. Ông để lại cho cuộc đời nhiều
tác phẩm rất có giá trị về triết học Ðông phương, trong đó đóng góp rất
lớn của ông cho triết học Phật giáo qua các tác phẩm :
-
Ðại
học (1940)
-
Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (1950)
-
Tinh thần khoa học Ðạo học (1953)
-
Dân
tộc tính (1956)
-
Triết lý văn hóa khái luận (1956)
-
Triết học Ðông phương nhập môn (1958)
-
Văn
hóa Việt Nam và Ðông Nam Á (1961)
-
Lịch sử triết học Ðông Phương, 5 tập (1956-1962)
-
Tư
tưởng Việt Nam (1964)
-
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, gồm 4 tập (1967 – 1970)
-
Thiền học Việt Nam (1967)
-
Democracy in traditional Vietnamese society (1962)
-
Asian Culture and Vietnamese Humanism (1965)
-
Thiền học Trần Nhân Tông (1971)
-
Khóa Hư lục của Trần Thái Tông (dịch và chú thích 1973)
-
Lý
hoặc luận của Mâu Bác (dịch và chú thích 1974)
... và nhiều tác phẩm khác chưa xuất
bản.
Cư sĩ Nguyễn Ðăng Thục là một nhà giáo
trọn đời tận tụy với sứ mạng trồng người, nhất là về phương diện đào tạo
nhân cách. Học trò của ông đã có nhiều người thành đạt vẫn luôn luôn kính
trọng ông là người thầy mẫu mực. Ðối với Phật giáo ông có công lớn trong
việc truyền bá và thuyết giảng giáo lý cao siêu của đức Phật lồng trong
các bài thuyết giảng về triết lý Ðông Phương. Ðối tượng ngồi nghe ông nói
về triết học Ðông Phương trong đó có triết học Phật giáo, đều là những
người có trình độ trí thức, đủ sức nhận định, phân tích, phê phán và lãnh
hội để tự chiêm nghiệm. Hiệu quả của những gì đứng trên giảng đường của
ông thật là lớn lao. Các tác phẩm của ông để lại cho chúng ta, cho hậu thế
đều là những bài thuyết pháp hữu ích mãi mãi.
--- o0o ---
[
Mục Lục ]
[
Phần tiếp theo ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-02-2003