TIỂU SỬ
DANH TĂNG
VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Thích Đồng Bổn
chủ biên
TẬP II
--- o0o ---
IV
PHẬT GIÁO
GIAI ÐOẠN ÐẤT NƯỚC BỊ CHIA ÐÔI (1957 – 1974)
Ðại
hội Phật giáo toàn quốc kỳ III họp tại Sài Gòn ngày 17.8.1957 và Hội nghị
thường niên Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã ra nghị quyết xác định con
đường phát triển là đi đến thống nhất toàn diện, xóa bỏ các tổ chức riêng
lẻ. Khởi đầu của giai đoạn này là khóa huấn luyện trụ trì Như Lai Sứ Giả,
quy tụ chư Tăng khắp các tỉnh miền Nam tham dự, đào tạo một đội ngũ cán bộ
Giáo hội đầu tiên mang tính thống nhất tư tưởng và hành động (năm 1957).
Thế nhưng, cục
diện đất nước đi đến bước ngoặt lịch sử, đất nước tạm thời bị chia đôi từ
vĩ tuyến 17.
Hoàn cảnh lịch
sử này khiến Phật giáo cũng tạm thời gác lại việc tiến hành thống nhất
toàn diện. Phật giáo miền Bắc thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam
năm 1958, Phật giáo miền Nam gian nan bước vào cuộc đấu tranh chống lại
nạn kỳ thị tôn giáo của chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm, đỉnh điểm là năm
1963.
Ðây là giai đoạn
máu và lửa của Tăng Ni Phật tử miền Nam, nhiều vị đã hy sinh tánh mạng để
đánh động lương tri nhân loại trước sự bạo tàn của một chế độ cầm quyền,
làm nên một giai đoạn lịch sử đau thương cùng tột của Phật giáo Việt Nam.
Mãi đến năm
1964, miền Nam mới thành lập được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
nhưng chẳng bao lâu lại rơi vào cuộc khủng hoảng mới bởi sự chia rẽ sâu
sắc giữa các tổ chức Phật giáo. Tuy nhiên, sự phát triển như trăm hoa đua
nở giữa các tổ chức cũng thật phong phú, làm nên sức sống đặc thù của
Phật giáo miền Nam.
Tập thứ I đã
giới thiệu 25 vị danh Tăng hoàn thành sự nghiệp ở giai đoạn này. Ðến Tập
thứ II này xin giới thiệu thêm 22 vị, đặc biệt là các bậc Vị pháp thiêu
thân để minh chứng cho giai đoạn lịch sử này.
HÒA
THƯỢNG THÍCH
DIỆU PHÁP (1882
– 1959)
Hòa thượng Thích
Diệu Pháp, pháp danh Không Ðàm, thế danh là Lê Viễn, sinh năm 1882 (Nhâm
Ngọ) tại làng Mỹ Thạnh, tổng Nhơn Nghĩa, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh
Bình Ðịnh. Thân phụ Ngài là cụ ông Lê Phước Ðặng, thân mẫu là cụ bà Phạm
Thị Thình, đều là Phật tử thuần thành của chùa Thập Tháp – Bình Ðịnh.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình có truyền thống nho phong. Ngay thuở nhỏ thường theo
cha mẹ lên chùa Thập Tháp nghe kinh, giảng đạo. Vốn gieo trồng thiện duyên
nhiều đời, nên năm 14 tuổi, Ngài đã xin song thân được xuất gia đầu Phật
với Hòa thượng Phước Huệ trụ trì chùa Thập Tháp, được Bổn sư ban cho pháp
danh là Không Ðàm.
Năm Canh Tý 1900
(Thành Thái thứ 12), Ngài được 19 tuổi, sau hơn bốn năm khai tâm học đạo,
Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư được đi tham học các nơi để tăng tiến đạo
nghiệp. Nhân lúc này, có người chú là Hòa thượng Bửu Quang vào Nam, Ngài
liền tháp tùng và tiếp tục tu học tại chùa Linh Tuyền nay là chùa Phước
Minh, xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Năm Tân Sửu 1901
(Thành Thái thứ 13), Ngài được Tổ Thập Tháp gọi về cho thọ tam đàn Cụ túc
giới tại Ðại giới đàn tỉnh Phú Yên, do chính Bổn sư làm Ðàn đầu Hòa
thượng, Ngài được Tổ Thập Tháp ban pháp hiệu là Diệu Pháp.
Sau khi thọ Ðại
giới được hai năm, Hòa thượng Bửu Quang viên tịch, Ngài kế vị trụ trì chùa
Linh Tuyền, để hướng dẫn tín đồ tu học.
Nhận thấy tuổi
đời còn trẻ, tuổi đạo lại chưa nhiều, Ngài quyết chí tầm sư học đạo để
trau dồi tuệ nghiệp. Ngài liền giao lại chùa cho huynh đệ đồng tu, một
mình sang chùa Tuyên Linh, xã Tân Hương, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cầu học
kinh luật với Hòa thượng Khánh Hòa.
Ngài nỗ lực tu
hành, nghiêm trì giới luật ở đây hơn 5 năm và đến năm 1910, lúc 29 tuổi,
nhân chùa Phước Sơn, xã Cẩm Sơn, Bến Tre khai giới đàn, Ngài đến tu học và
nhận chức Tôn chứng sư cho các giới tử.
Năm Tân Hợi
1911, Ngài giao hẳn chùa Linh Tuyền cho vị khác và tiếp nhận chùa làng
Long Bình ở tỉnh Trà Vinh, là tiền thân của chùa Long Khánh hiện nay. Từ
đây, cuộc đời sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Ngài đã gắn chặt trên
mảnh đất này.
Năm Ðinh Mão
1927, sau gần 17 năm xây dựng, gắn bó với đồng bào Phật tử chung sức tôn
tạo, ngôi chùa mới được hoàn thành. Ngài vâng lời Hòa thượng Bổn sư ở Tổ
đình Thập Tháp lấy tên hiệu là chùa Long Khánh.
Năm Kỷ Tỵ 1929,
chùa Phụng Sơn ở Chợ Lớn khai trường Kỳ, cung thỉnh Ngài làm Yết Ma tại
Ðại giới đàn.
Năm Tân Mùi
1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học do Hòa thượng Khánh Hòa và các vị tôn
túc, cư sĩ thành lập tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn; Ngài được cung thỉnh làm
Hội viên Tăng già sáng lập, và nhận trách nhiệm phát hành tờ Phật Học bán
nguyệt san Từ Bi Âm cho Hội tại Trà Vinh cho đến khi Hội giải thể.
Năm Quý Dậu
1933, sau 2 năm hoạt động, do Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học không thực
hiện được việc mở Thích học đường; quý Hòa thượng miền Nam, đứng đầu là
Hòa thượng Khánh Hòa, lui gót về lục tỉnh sáng lập Liên đoàn Phật Học Xã
với mục đích chấn hưng Phật pháp, đào tạo Tăng tài. Ngài hưởng ứng chủ
trương của Liên đoàn, mở trường gia giáo, tập họp hơn 60 vị Tăng trong
chùa để giảng dạy nội, ngoại điển. Ngoài ra, Ngài vận động tín đồ Phật tử
thỉnh Ðại tạng kinh từ Trung Quốc về chùa để làm tư liệu tham khảo cho
Tăng Ni tu học.
Năm Giáp Tuất
1934, Ngài cùng quý tôn túc như Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Tâm
Quang, Niệm Nghĩa và cùng một số Phật tử giàu đạo tâm thành lập Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học tại chùa Long Phước, ấp Thanh Lệ, Trà Vinh để hoàn thành sứ
mạng đào tạo nhân tài, hoằng dương chánh pháp. Cũng trong năm này, Hội
Lưỡng Xuyên cho ra đời tờ báo Duy Tâm, khiến thực dân Pháp phải kiêng nể
tiếng nói Phật giáo bấy giờ và Ngài giữ chức vụ Phó Tổng Lý trong Ban trị
sự.
Từ năm 1945 đến
năm 1955, hưởng ứng lệnh của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, Ngài cùng nhân dân
địa phương tạm thời tản cư sang chùa Phước Sơn. Chùa Long Khánh bị giặc
Pháp chiếm giữ hơn một năm, sau đó cảm thấy không ổn khi lòng dân và các
Phật tử sục sôi đấu tranh quyết liệt, chúng đành phải trả lại cho Ngài.
Những năm sau
đó, tuy tuổi già nhưng Ngài vẫn đảm nhiệm mọi Phật sự, đấu tranh chống sự
áp bức cường quyền của thực dân Pháp.
Ngày 28 tháng 6
năm Kỷ Hợi (1959), biết trước thời duyên đã đến, sau khi dặn dò các chúng
tiếp nối Phật sự, truyền thừa Tổ ấn, cũng như việc trà tỳ tang lễ một cách
đơn giản, Ngài nhắm mắt thâu thần nhập diệt giữa ba hồi chuông trống Bát
nhã tiễn đưa. Ngài trụ thế 77 tuổi đời, hưởng 57 tuổi đạo. Ðồ chúng xây
dựng Bảo tháp tôn thờ Ngài tại khuôn viên chùa Long Khánh.
HÒA
THƯỢNG THÍCH
THIỆN BẢN (1884
– 1962)
Hòa thượng Thích
Thiện Bản (Tổ Cao Ðà), pháp danh Thông Ðoan, thế danh Hoàng Ngọc Thụ, sinh
giờ Dần ngày mồng 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1884) tại làng Tử Mặc, huyện Ý
Yên, tỉnh Nam Ðịnh trong một gia đình nông dân có truyền thống mến mộ đạo
Phật. Ngài là con út của cụ Ngô Ngọc Luyện tự Phúc Ứng (truyền thống dòng
họ : sinh họ Hoàng, thác theo họ Ngô), cụ bà Nguyễn Thị Xây hiệu Diệu Cao.
Chị Ngài là Ni sư chùa Bảo Sái – Yên Tử.
Năm 16 tuổi
(Canh Tý – 1900), Ngài từ biệt song thân đến chùa Diên Phúc, thị trấn Vân
Ðình, tỉnh Hà Ðông (nay là Hà Tây) khất cầu xuất gia, thấy người tuấn tú
lễ độ, nhất tâm cầu đạo nên Thầy trụ trì chấp nhận cho tập sự xuất gia.
Trước đó, Ngài đã được theo học Nho với cụ Cử trong làng và được cha mẹ
dạy bảo giáo lý Phật đạo căn bản, nên ngày 16 tháng 11 cuối năm, Ngài được
cầu giới Sa di tại chốn Tổ Bồ Ðề, Gia Lâm, Hà Nội do Tổ đệ nhị Quảng Gia
làm Hòa thượng giới đàn. Cũng từ đây, Ngài được Tổ cho làm thị giả tu học
tại trường Phật học chùa Bồ Ðề. Năm sau 1901, Ngài được Tổ cho lễ Sư tổ
Phổ Tụ – Tế Xuyên tham học đạo thiền, ở đâu Ngài cũng được thầy mến bạn
yêu, chuyên trì giới luật, nghiêm thân tiến đạo.
Năm 20 tuổi
(Giáp Thìn – 1904), Ngài được nghiệp sư cho đăng đàn cầu Ðại giới tại Tổ
đình Tế Xuyên ngày 15 tháng 2, theo học đắc pháp nơi tổ Phổ Tụ (đệ tam Tổ
chùa Bảo Khám, làng Tế Xuyên) với pháp danh Thông Ðoan. Trải qua năm năm
nương thừa học đạo, Ngài không rời Thầy nửa bước.
Năm Bính Thìn
(1916) mở rộng tầm hiểu, Ngài xin phép Tổ Tế Xuyên du tích tham phương học
đạo nơi Tổ Thanh Hanh (Thiền Gia Pháp Chủ Phật Giáo Bắc Kỳ) trải qua 10 Hạ
tại chốn Tổ Vĩnh Nghiêm.
Năm Bính Dần
(1926) Tổ Phổ Tụ thị tịch, Ngài từ biệt thầy bạn trở về Tế Xuyên thụ tang,
đền đáp công ơn giáo dưỡng giới thân tuệ mệnh của Tôn sư.
Năm Mậu Thìn
(1928), Ngài nhận lời thỉnh cầu của nhân dân làng Thượng Nông (huyện Lý
Nhân, Hà Nam) trụ trì chùa Bảo Khám-Tế Xuyên, trùng tu Bảo điện, Tổ đường
nhất nhất trang nghiêm, thiện tín quy y, Tăng Ni cầu pháp tham học vài
trăm người.
Năm Canh Ngọ
(1930), Ngài giao chùa cho trưởng tử trụ trì, còn Ngài đến trụ trì và xây
dựng chùa Bà Hướng (thôn Cao Ðà, xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).
Năm sau Tân Mùi – 1931, Ngài cùng nhân dân người hằng tâm, kẻ hằng sản tôn
tạo phạm vũ nguy gia tráng lệ như ngày nay (ngôi chùa vốn có từ đời Trần
lợp lá, vách đất, với truyền thuyết mẹ con bà Hướng), đồ chúng tham học,
kiết Hạ an cư trở thành nơi hội tụ Tăng sinh lớn nhất vùng Nam Xương quận
Lý.
Ngài còn trùng
tu các chùa : Vạn Thọ (1932); Ðiện Bàn (1936), Ðô Quan (1942). Tuy Phật sự
đa đoan nhưng công việc giáo dục Tăng Ni vẫn được Ngài duy trì, ngoài ra
còn phụ tá Hòa thượng Doãn Hài (Tổ Tế Cát) duy trì nề nếp Tổ đình Tế
Xuyên, mở Hạ an cư hàng năm cho Tăng Ni sơn môn quy tụ. Ngài cũng là bạn
đồng hàng tâm đắc với Hòa thượng Tuệ Tạng (Thượng thủ Tăng Già toàn quốc
1952) chung xây dựng Phật học Bắc kỳ. Tờ báo Ðuốc Tuệ ra đời, Ngài đóng
góp trí tuệ tài năng và vật lực duy trì tiếng nói của Bắc kỳ Phật giáo.
Năm Mậu Tuất
(1958), Ngài là Trưởng phái đoàn Phật giáo đến yết kiến Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Cũng năm này, Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt
Nam thành lập, Ngài được Hội suy tôn trong Ban Chứng Minh Ðạo Sư. Ðầu năm
1959, Hòa thượng Doãn Hài viên tịch, Ngài nhận lãnh trách nhiệm thống lãnh
sơn môn, làm chủ các khóa Hạ tại Tổ đình Tế Xuyên, làm thầy Hòa thượng các
giới đàn của tỉnh Hà Nam.
Giờ Thìn ngày
mồng 10 tháng 5 năm Nhâm Dần (1962), sau 2 ngày thị bệnh, Hòa thượng an
nhiên xả báo thân, trải qua 79 năm ứng tích Sa bà, 68 mùa kiết Hạ an cư.
Hòa thượng Thích
Thiện Bản đã để lại cho môn đồ đệ tử và Tăng Ni hậu học đức tính khiêm
cung, tinh thần hiếu học, cần mẫn, nhiệt tình trong mọi công việc. Suốt
đời vì sự nghiệp đào tạo Tăng tài, mà kết quả đó thể hiện trong số các đệ
tử : Hòa thượng Thích Tâm Tịch (Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam), Hòa
thượng Trí Hải; Hòa thượng Tâm Nguyện; Hòa thượng Tâm Thông... Nếu có ai
đó qua các ngôi già lam tự viện mà trong cuộc đời Ngài có tác phúc hưng
công, dừng gót ngắm cảnh, chiêm ngưỡng Phật đài tham quan kiến trúc, tất
cả có lẽ đều khâm phục tài năng kiến trúc nghệ thuật nơi Ngài, thể hiện
tinh thần tận tụy đối với công việc phúc quả viên thành. Chính những thành
quả đó đã tô thắm cho danh thắng địa phương, góp phần làm phong phú đa
dạng nền văn hóa Phật giáo Việt Nam.
VỊ
PHÁP THIÊU THÂN
THƯỢNG TỌA THÍCH
TIÊU DIÊU (1892
– 1963)
Thượng Tọa Thích
Tiêu Diêu, pháp danh Tâm Nguyện, tục danh là Ðoàn Mễ, sinh năm Nhâm Thìn
(1892) tại làng An Truyền (tức làng Chuồn), quận Hòa Vang, tỉnh Thừa Thiên
– Huế (cách thị xã Huế 10km về hướng Ðông Nam).
Gia đình Ngài
luôn được kính trọng trong xã hội, rất giàu có nhưng sống khiêm tốn hòa
đồng nên được lòng những người chung làng. Ngay từ thời niên thiếu, Ngài
đã sớm chuyên cần trong việc trau dồi kiến thức và đã bộc lộ tính chất
thông minh qua các cách lý giải thời cuộc, nhận định thế thái nhân tình,
khiến những vị khách của thân phụ Ngài trong những dịp đàm đạo, đối ẩm tại
tư gia đều khâm phục. Do đó, Ngài được song thân hết sức thương yêu và
luôn đặt để nhiều hy vọng mai hậu.
Năm Kỷ Dậu
(1909), Ngài phải vâng lời song thân thành lập gia đình khi vừa tròn 18
tuổi. Ðược vun đắp và thừa hưởng hạnh phúc trong niềm tin tưởng vô biên
của một gia đình có truyền thống thuần thành Phật đạo, các người con của
Ngài sau này cũng nương thừa phước báu ấy, sống hữu ích cho đời, cho đạo
một cách tích cực.
Năm Canh Ngọ
(1930), nhận thấy các con đều đã lớn khôn, sau khi sắp đặt các mối liên hệ
gia đình đầy đủ và ổn thỏa, Ngài liền đến chùa Tường Vân tại làng Dương
Xuân Thượng cầu xin xuất gia với Hòa thượng Tịnh Khiết, được ban pháp danh
là Tâm Nguyện, pháp hiệu Tiêu Diêu. Năm đó Ngài ba mươi chín tuổi.
Thời điểm này,
việc chấn hưng Phật giáo phát triển khắp ba miền đất nước, tạo thành một
phong trào học Phật rầm rộ sau hằng bao năm dài mờ nhạt tiềm tàng bởi thực
dân đô hộ.Vì Ngài xuất gia muộn và đã có gia thế riêng nên Hòa thượng Bổn
sư đặt pháp danh cho Ngài là “Tâm Nguyện”, đồng thời chấp thuận ước nguyện
tự lực phấn đấu tu học, cho đến nào khi tự thân Ngài cảm thấy xứng đáng
với tư cách một Tỳ kheo mới xin thọ giới. Ðó là phong cách rất đáng trân
trọng nơi Ngài.
Năm Nhâm Thìn
(1952), Ngài được đăng đàn thọ Cụ túc giới. Ðể có thời gian tu học, Ngài
xin phép Hòa thượng Bổn sư cho lên một nơi thanh vắng ở ngọn đồi sau vườn
chùa Châu Lâm, dựng một am tranh nhỏ để tiện nhập thất tu niệm.
Ngài chọn nếp
sống khổ hạnh thiểu dục tri túc, mỗi hai ngày mới dùng một bữa ngọ. Ngài
không ngại gian lao, thường xuyên theo dự học tại các trường Phật học Tây
Thiên, Linh Quang...
Năm Quý Mão
(1963), năm mà tất cả những người lương thiện còn chút lòng tự tôn dân tộc
và Phật tử thiết tha với đạo pháp đều không thể đứng ngoài cuộc, Ngài
quyết định đến chùa Từ Ðàm, là trung tâm lãnh đạo phong trào Phật giáo ở
Huế để tiện việc dấn thân, tranh đấu cho 5 nguyện vọng Phật giáo đồ Việt
Nam. Không một cuộc biểu tình, xuống đường, tuyệt thực hay cầu an cầu siêu
nào cho cuộc đấu tranh và cho những người hy sinh vì đạo pháp mà Ngài
không có mặt. Người dân cố đô Huế luôn thấy hình ảnh vị Sư già yếu ấy, có
mặt trước tiên và bền bĩ ở khắp mọi nơi có làn sóng biểu thị.
Ngài không quên
mình là đệ tử của Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam và là
đương kim Lãnh đạo tối cao Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, người đã
luôn tích cực dấn thân nơi đầu sóng ngọn gió, chẳng quản tuổi cao sức yếu.
Tấm gương đó không chỉ để Ngài tự hào, mà phải nghĩ đến việc tự thân phải
làm sao cho xứng đáng một người đệ tử của bậc cao Tăng khả kính ấy. Ðó vừa
là cách báo đáp công ơn tiếp độ, vừa thể hiện trách nhiệm người tu sĩ
trước vận mệnh tối đen của đạo pháp, dân tộc.
Tình trạng đàn
áp Phật giáo đồ khắp mọi nơi của chính quyền Ngô Ðình Diệm đã không ngừng
mà còn gia tăng khốc liệt. Những tin tức chẳng lành từ khắp nơi liên tiếp
đưa về khiến lòng Ngài càng thêm đau buồn lo ngại. Ðặc biệt, ngọn lửa hùng
lực dũng trí của Hòa thượng Quảng Ðức (11.6.1963), tiếp đến là của Ðại đức
Nguyên Hương (04.8.1963), Ðại đức Thanh Tuệ (13.8.1963), Ni cô Diệu Quang
(15.8.1963) đã làm chấn động lương tri khắp cả nhân loại yêu công lý, tự
do và bình đẳng. Nhưng chỉ riêng gia đình nhà Ngô là vẫn tiếp tục điên
cuồng nhắm đến một kế hoạch lớn là thủ tiêu Phật giáo. Thông tư mang tính
nhân bản và từ bi của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo ngày 14.8.1963
nhằm “kêu gọi Tăng Ni hạn chế tự thiêu cúng dường Tam bảo” vẫn chưa đủ sức
hạn chế sự căm phẫn, xót xa của hàng triệu Tăng tín đồ khắp mọi nơi. Hơn
thế nữa, bản thông cáo chung giữa chính quyền và Phật giáo ký kết ngày
26.6.1963 mà người hạ bút ký vào đó không ai khác hơn là Ngô Ðình Diệm,
nhưng Diệm đã phản bội bản thông cáo chung đó, khiến Phật giáo đồ Việt Nam
phải tiếp tục cuộc đấu tranh.
Trong những
tháng ngày tuyệt thực, đấu tranh, biểu tình, xuống đường và cả những khi
bị bắt bớ giam cầm, Ngài luôn nghĩ phải tìm ra một phương cách phản kháng
mạnh mẽ nhất : tự thiêu thân để bày tỏ sự phản kháng của mình, hy vọng làm
bừng tỉnh lương tâm những kẻ chủ trương kỳ thị và đàn áp Phật giáo.
Ngày 16 tháng 8
năm 1963, lúc 4 giờ sáng, ngay tại sân chùa Từ Ðàm, nơi lãnh đạo cuộc đấu
tranh bất bạo động của Phật giáo miền Trung, Ngài tự châm ngọn lửa thiêu
đốt thân mình, để soi sáng vô minh và nhắn nhủ hậu sinh về sự kiên cường
bất khuất, dũng lực trong mọi nghịch chướng.
Ngài trụ thế 71
tuổi đời, với 32 tuổi đạo, để lại lịch sử đấu tranh của Phật giáo nét son
vĩnh cửu của một bậc Vị pháp thiêu thân hiến dâng cho sự nghiệp chung.
VỊ PHÁP THIÊU THÂN ÐẠI
ÐỨC THÍCH
QUẢNG HƯƠNG (1926
– 1963)
Ðại đức Thích
Quảng Hương, pháp danh Nguyên Diệu, pháp hiệu Bảo Châu, nối pháp dòng Lâm
Tế Liễu Quán đời thứ 44. Ngài thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, sinh ngày 28 tháng
7 năm Bính Dần – 1926 tại xã An Ninh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình có truyền thống tu Phật rất thuần thành. Nhờ thế, ngay
từ thuở niên thiếu, đã sớm được sống trong sự yêu thương, đùm bọc bởi niềm
tin Phật đà cao đẹp đó. Làng xóm quanh vùng cũng qua đó mà quý trọng và
xem gia đình Ngài như một mẫu mực tốt để phấn đấu giáo dục con em của
mình.
Năm Canh Thìn
(1940) càng thuận duyên hơn khi người anh ruột của Ngài được song thân cho
xuất gia. Dù mới 14 tuổi, thế nhưng, Ngài đã tỏ quyết tâm mai này sẽ nối
gót người anh, nương nhờ phước lực gia đình để tìm cầu Phật đạo, Ngài đã
tự cho rằng ngay giai đoạn này mình đã là một vị “xuất gia” chưa mặc áo
thiền gia. Ðiều đó nói lên cách sống thuần thục đạo hạnh mà các kỳ trai
giới, các buổi thọ Bát Quan Trai luôn được Ngài tích cực tham dự và giữ
gìn nghiêm nhặt.
Song hành với
lối sống đó, Ngài còn có duyên trong các công việc từ thiện địa phương,
luôn đi đầu ở những nơi hiểm nghèo, khát vọng tình tương thân tương ái.
Ngài còn kiêm luôn những công việc của một vị xuất gia là tổ chức, điều
hành các Ban Hộ Niệm từ thôn ấp đến tận quận xa; quy tụ rất đông các thanh
thiếu niên tham gia tụng niệm và hộ niệm.
Năm Quý Mùi (1943), nhận thấy
cơ duyên hộ pháp, thực thi công hạnh qua giai đoạn của một cư sĩ Phật tử
đã đạt nhiều thành tựu và đã có các đạo hữu khác kế thừa; ngày 26 tháng 5
năm 1943, Ngài quyết định đến cầu xuất gia với Hòa thượng Minh Lý, trụ trì
chùa Quang Sơn, thôn Phong Phú, xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên,
được Hòa thượng ban pháp danh là Nguyên Diệu ().
Năm Ðinh Hợi (1947), Ngài hiệp
lực cùng năm vị Ðại đức khác thành lập Chi hội Phật học tại thôn An Ðức,
xã An Thành, huyện Tuy An ().
Ðây là một địa phương Phật học phát triển chậm nhất trong tỉnh Phú Yên
thời bấy giờ và nhờ uy tín vang rộng khiến chư Tăng, Phật tử tại đây phải
tìm đến tài tổ chức khéo léo của Ngài.
Năm Kỷ Sửu
(1949), lúc 23 tuổi, Ngài cầu pháp và thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Liên
Tôn, kế vị trụ trì chùa Quang Sơn, được ban pháp tự là Quảng Hương, hiệu
Bảo Châu. Cùng năm ấy, sau khi thọ Cụ túc giới không lâu, Ngài lại được
nhận chức Thư ký chi hội Phật học xã An Hiệp.
Năm Canh Dần
(1950), do phải điều hành cùng lúc nhiều nhiệm vụ và di chuyển liên tục để
trực tiếp điều hành tổ chức, sức khỏe Ngài có chiều hướng suy kiệt trầm
trọng. Vì thế, Ngài được khuyến cáo của chư Sơn và Phật tử ân cần khuyên
nhủ nên có thời gian tịnh dưỡng để sớm phục hồi sức lực, hầu có điều kiện
tiếp tục đạo pháp lâu dài. Sau khi sắp đặt bàn giao các chức trách, Ngài
đến Phan Thiết để chữa bệnh.
Tháng 8 năm
1950, tuy chưa bình phục hoàn toàn nhưng Ngài vẫn lo ngại tri thức Phật
pháp chưa cao để hy vọng đảm đương các trọng trách mai sau, nên Ngài xin
nhập học tại Phật học viện Hải Ðức, Nha Trang. Từ cơ duyên này, sở học
Phật pháp của Ngài càng được nâng cao một cách nhanh chóng.
Từ đó, Ngài lại
chuyên tâm học tập trở thành một giảng sư và đạt nhiều thành tựu đáng kể,
được khắp nơi biết đến. Ðó là khoảng thời gian sau chấn hưng, Phật giáo
phát triển rất cần nhiều vị pháp sư tài giỏi cả về đức lẫn trí, có tinh
thần phóng khoáng và phù hợp; Ngài đã đáp ứng được các tiêu điểm trên một
cách rất xuất sắc.
Năm Kỷ Hợi
(1959), Ngài được Hòa thượng Thích Trí Thủ – Giám Viện Phật học viện Nha
Trang tin tưởng tiến cử làm Giảng sư chuyên trách cho Tỉnh hội Phật giáo
Ðà Lạt. Như vậy thuận duyên hoằng pháp của Ngài đã mở ra chân trời thành
tựu to lớn.
Năm Tân Sửu
(1961), Ngài được Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam cử trụ
trì chùa Khải Ðoan và kiêm nhiệm Giảng sư tại Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê
Thuột. Trách nhiệm nặng thêm, nhưng Ngài vẫn tỏ ra vững chãi ý chí, không
ngừng vun bồi thêm đạo hạnh. Nhờ vậy hầu hết cư dân Phật tử nơi này càng
thêm tin yêu, quý trọng Ngài.
Năm Quý Mão
(1963), những tưởng từ nơi trú xứ này sẽ giúp Ngài đạt nhiều thành tựu mới
trong việc phục vụ chánh pháp; thế nhưng một đại nạn đã xảy ra với Phật
giáo Việt Nam, bởi chánh quyền Ngô Ðình Diệm muốn triệt tiêu Phật giáo và
loại trừ luôn ảnh hưởng của Phật giáo ra khỏi xã hội Việt Nam – một hành
động phi nhân đạo. Họ đã thực hiện với nhiều thủ đoạn từ đe dọa rồi đến cả
khủng bố : máu đã đổ, lửa căm hờn đã ngùn ngụt liên tiếp bùng lên, một
người như Ngài không thể làm ngơ hay phó mặc sự đời xoay chuyển.
Ðã có 5 ngọn lửa
đấu tranh chân chính đó được thắp lên bằng chính máu xương của những người
con Phật, vốn luôn mong cầu hạnh từ bi và cứu khổ giúp người. Thế nhưng
với tham vọng thiển cận, hẹp hòi, u tối, chính quyền Ngô Ðình Diệm càng
ngoảnh mặt xem thường tất cả, để rồi điên cuồng thực hiện kế hoạch triệt
tiêu Phật giáo đồ Việt Nam bằng chiến dịch “nước lũ” vào đêm 20.8.1963,
tấn công, phong tỏa các chùa chiền, bắt bớ và thủ tiêu nhiều vị lãnh đạo
Giáo hội Phật giáo .
Sau sự kiện này,
Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu trong nội các của Ngô Ðình Diệm xuống tóc,
từ chức để phản đối chính quyền ngày 21.8.1963; rồi Ðại sứ Trần Văn Chương
tại Mỹ do quá xấu hổ về hành vi con gái ông là Trần Lệ Xuân chủ động cùng
Diệm – Nhu xúc phạm nghiêm trọng đến Phật giáo, đã lên tiếng “từ con”, bị
Diệm-Nhu cách chức ngày 22.8.1963.
Trở về nước, ông
Trần Văn Chương và giáo sư Vũ Văn Mẫu đứng ra trực tiếp ủng hộ phong trào
sinh viên, học sinh vùng lên chống đối Diệm – Nhu. Trước tiên là thành lập
và ra tuyên ngôn đấu tranh của Ðại học Y Khoa ngày 23.8.1963 rồi đến các
trường Trung học như : Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn, Võ Trường Toản, Gia Long,
Trưng Vương v.v... Ngay cả các trường Pháp như Jean-Jacques Rousseau,
Marie Curie, Kỹ thuật Cao Thắng, Mỹ thuật Gia Ðịnh... cũng nhất tề phản
đối và đứng về phía Phật giáo để ủng hộ công cuộc đấu tranh.
Khi nữ sinh viên
Quách Thị Trang bị bắn chết trước chợ Bến Thành ngày 25.8.1963 thì làn
sóng bãi thị, lãng công càng bùng lên dữ dội và như vậy, Phật giáo đấu
tranh cho nguyện vọng bình đẳng tự do lại hóa thành cuộc cách mạng lớn,
không còn của riêng ai trước sự cai trị của chính quyền Ngô Ðình Diệm.
Ðó là một phần
cuộc đấu tranh của Phật giáo đồ Việt Nam diễn ra tại Sài Gòn khi Ngài đang
có mặt tại đây. Sự cảm khái chen lẫn chua xót, bùi ngùi đã dấy lên trong
lòng Ngài nhiều trăn trở, thầm mong đóng góp chút phần mình cho Phật giáo
trong những tháng ngày tang thương biến động ấy.
Tuy nhiên, ước
nguyện dấn thân giúp ích đạo pháp chỉ dừng lại ở việc tham gia các cuộc
tuyệt thực, biểu tình chống đối. Trò hề: “bi kịch một mình” của hồi hai
cảnh hai, với tên gọi là “Ủy ban Liên hiệp Thuần túy Phật giáo” mà đạo
diễn không ai khác hơn là Ngô Ðình Nhu. Ngài cảm thấy xấu hổ cho những
việc làm đó của họ, trong khi một em nữ sinh 15 tuổi hồn nhiên là Quách
Thị Trang mà còn biết xả thân đối mặt với u minh ma chướng trước ánh mặt
trời đô thị, góp vào xương máu chung để bảo vệ chân lý Phật giáo.
Do tình hình lúc
này các nhà lãnh đạo Phật giáo bị bắt hầu hết, nhưng khắp mọi nơi làn sóng
đấu tranh bất bạo động vẫn tiếp tục dâng cao, bởi Phật giáo không còn con
đường lựa chọn nào khác. Vì vậy, nỗi lo của Ngài càng lớn hơn thêm lên và
tự nhủ phải làm sao nhanh chóng tiếp tục đánh động lương tâm thế giới, góp
phần nhỏ vào nỗi đau của đạo pháp và sự bất hạnh của dân tộc Việt Nam.
Ngày 20.9.1963,
khối Á-Phi đưa vấn đề “kỳ thị, đàn áp tôn giáo tại Việt Nam” ra trước Ðại
hội đồng Liên hiệp quốc, song đó mới chỉ là bàn luận, việc thực hiện hãy
còn xa. Trong thời gian ấy, biết bao đau thương bất công nữa sẽ còn phủ
chụp lên Phật giáo Việt Nam. Thêm vào nữa là thái độ bưng bít mọi thông
tin của Ngô quyền càng thêm trầm thống. Do đó Ngài quyết định tự thiêu,
vừa để thúc hối, báo động cho Liên hiệp quốc, vừa là để cho ngọn lửa đấu
tranh tiếp tục bừng sáng thêm ý chí quyết tâm.
Ngày 5.10.1963,
dù chưa rõ Liên hiệp quốc có còn tích cực quan tâm đến tình hình chính
trị, xã hội ở Việt Nam nữa hay không, nhưng Ngài tin rằng nhất định việc
làm của Ngài sẽ góp phần tác động không nhỏ vào tình thế đó. Sau khi để
lại huyết thư gởi Tổng thống Diệm và gởi cho toàn thể Phật giáo đồ Việt
Nam với nội dung “đấu tranh cho đến cùng, khi nào quyền tự do căn bản được
tôn trọng mới thôi”. Vào lúc 12 giờ 5 phút cùng ngày, Ngài đến trước chợ
Bến Thành, nơi mà không bao lâu trước đó, nữ sinh Quách Thị Trang đã ngã
xuống trước viên đạn ác nghiệt bạo quyền, tự châm lên ngọn lửa đốt cháy
thân mình, thành ngọn lửa thứ 6 của dũng lực, hy sinh thân tứ đại giả hợp
này để thành tựu tinh thần bất diệt của hạnh Bồ Tát.
Năm đó, Ngài
hưởng 37 tuổi đời, 20 tuổi đạo, giới lạp trải 14 mùa Hạ.
VỊ PHÁP THIÊU THÂN ÐẠI
ÐỨC THÍCH
NGUYÊN HƯƠNG
(1940
– 1963)
Ðại đức Thích
Nguyên Hương, pháp hiệu Ðức Phong, thế danh là Huỳnh Văn Lễ, sinh năm Canh
Thìn (1940) tại làng Long Tĩnh, xã Liên Hương, quận Tuy Phong, tỉnh Bình
Thuận (Phan Thiết), thân phụ là ông Huỳnh Thân, thân mẫu là bà Trương Thị
Sang. Ngài là người con duy nhất của ông bà.
Làng quê nơi
Ngài chào đời và lớn lên thuộc vùng rừng núi, đời sống của hầu hết bà con
nơi đây chỉ dựa vào một ít ruộng khô hạn quanh năm, còn lại thì làm những
nghề khác như nung gạch, ngói hoặc các nghề thủ công gia truyền lạc hậu
khác; số còn lại thì làm thuê kiếm cơm độ nhật. Gia đình Ngài cũng không
ngoài thực trạng chung ấy. Tuy nhiên, không vì thế mà người dân nơi đây
thiếu vắng nếp sống cao đẹp, trái lại biết bao là sự hoan lạc, hòa ái,
tương thân, nhờ vào khả năng thích nghi với Phật đạo, tạo nên truyền thống
tốt đẹp tự bao đời. Nhờ vậy mà cuộc sống vật chất tuy khó khăn, chật vật
nhưng vẫn có được niềm tin son sắt và biết nhìn thực tại trong tinh thần
lạc quan yêu đời của người dân Long Tĩnh, trong đó có Ngài và song thân.
Gia đình Ngài
thừa hưởng một thuận duyên rất lớn là được ở cạnh một ngôi chùa làng thân
yêu, do đó ngay từ lúc vừa chập chững bước đi đã được song thân dìu những
bước chân đầu đời vào nẽo đạo, nhờ vậy chất đạo thanh thoát ấy đã sớm ươm
mầm nhuần thấm và phát triển rực rỡ mai sau.
Năm Bính Tuất
(1946), Ngài được song thân nhất trí cho xuất gia làm một chú tiểu hầu
thầy khi vừa tròn sáu tuổi, được Hòa thượng Quang Chí, tọa chủ chùa Linh
Bửu trong làng, được đặt pháp danh Nguyên Hương.
Cho đến năm Nhâm
Thìn (1952), Ngài mới thọ ngũ giới. Từ đó, Ngài chuyên tâm công phu, dốc
lòng phụng sự Tam bảo. Thấy người đệ tử có tâm tu, Bổn sư cho theo tập sự
hầu hạ chư Tăng an cư tại chùa Linh Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng Già ở Huế.
Và cứ thế, mỗi năm mùa Hạ lại về, Ngài lại được cơ duyên tập sự tại chùa
Phật Quang, Phan Thiết.
Năm Mậu Tuất
(1958) 18 tuổi, sau bao năm tháng học hạnh thiền môn, Ngài được Bổn sư cho
đến cầu pháp thọ Sa di giới với Hòa thượng Viên Trí tọa chủ chùa Bửu Tích,
quận Hòa Ða, Phan Rí Thành. Từ đây cuộc đời tu học của Ngài đều y chỉ vào
Bổn sư truyền giới, để chuẩn bị cho giai đoạn được dự vào hàng Thích tử
sau này.
Năm Canh Tý
(1960) khi vừa tròn 20 tuổi Ngài được thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa
Bửu Tích và được Bổn sư truyền thụ ban pháp hiệu là Ðức Phong.
Qua từng giai
đoạn, kể từ lúc bước vào cuộc sống thiền gia, Ngài đã được Bổn sư giáo
dưỡng, vừa chu toàn kiến thức Phật học, vừa hoàn tất các chương trình phổ
thông thế học. Từ đó, Hòa thượng Bổn sư an tâm cho Ngài thực hiện bước vân
du học đạo nơi chư tôn đức gần xa. Ngài đã xuôi đến các vùng đất phía Nam,
đặc biệt là Sài Gòn. Trong lúc này, Ngài đã nhìn thấy chính quyền Ngô Ðình
Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, các phong trào chống đối sự kỳ thị tôn giáo
của Diệm khắp nơi nổi lên. Là một tu sĩ Phật giáo, Ngài không khỏi chạnh
lòng, bàng hoàng và đau xót, vội quay trở về quê nhà Phan Thiết và đảm
nhiệm trụ trì chùa Bửu Tạng.
Năm Quý Mão
(1963) khi bao dự án tái thiết và lập chương trình tu học cho Phật tử nơi
chùa Bửu Tạng chưa kịp hoàn thành, thì ngày 11.6 ngọn lửa thiêu thân của
Hòa thượng Quảng Ðức đã thổi bùng, lan tỏa khắp mọi miền đất nước, nung
thêm khí thế của Tăng tín đồ vốn đã từng sôi sục ý chí đấu tranh để bảo vệ
chánh pháp. Trong chiều sâu tâm khảm kiếp nhân sinh, đó còn là một ai tín,
gây sửng sốt không riêng gì hàng triệu Phật giáo đồ Việt Nam, mà còn cảm
động loài người khắp năm châu.
Sự kiện tự thiêu
của Hòa thượng Quảng Ðức đã đánh thức lương tri nhân loại và hai từ “Phật
Giáo” dù đối với các thế lực chính trị chưa hoặc còn lờ mờ về tôn giáo
này, phải được minh định vị trí và tôn trọng. Chính Tổng thống Hoa Kỳ
J.Kennedy trước buổi họp của Hội đồng An ninh Quốc gia ngay sau sự kiện
Hòa thượng Quảng Ðức tự thiêu, đã hỏi một câu rất ngây thơ nhưng cũng
không kém phần chua xót rằng “Phật giáo là cái gì ?”. Rõ ràng các tập đoàn
lãnh đạo Pháp, Mỹ đến xâm lược nước Việt Nam họ rất xem thường hoặc chẳng
cần biết đến Phật giáo, một tôn giáo lớn vốn gắn liền như xương với thịt,
như máu với linh hồn của dân tộc Việt Nam.
Với Ngài, sự
kiện đó vừa làm tăng nỗi đau vừa như dung nạp thêm bao điều bức xúc đã dồn
nén bấy lâu. Ngay tại ngôi chùa Ngài đang trụ trì ngày 30.5.1963, đáp ứng
lời kêu gọi đấu tranh của Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết, tổ chức lễ
cầu siêu cho Phật tử bị tàn sát tại Huế ngày 8.5.1963, việc này đã bị
chính quyền tỉnh Bình Thuận buộc phải giải tán, đe dọa mọi người và bản
thân Ngài bị gán cho tội manh động.
Hệ quả đã trở
thành thảm trạng : sự lo sợ vu vơ cứ đè nặng trong đầu những người Phật tử
chơn chất chân quê; không còn ai dám đến chùa, bàn thờ tổ tiên, thờ Phật ở
gia đình cũng phải vội xếp cất ! Một số Phật tử có tâm huyết thì gạt nước
mắt tạ từ Ngài, giã biệt quê hương; lớp tránh bắt đi cải huấn, lớp tránh
bị vu cáo “tay sai cộng sản”; lớp tìm vào Sài Gòn trực tiếp hòa nhập công
cuộc đấu tranh sâu rộng hơn.
Riêng Ngài, cũng
đã định sẵn cho mình một hình thức đấu tranh, hình thức đó vẫn còn trong ý
niệm nếu bản thông cáo giữa Phật giáo và chính quyền không bị biến thành
kế hoãn binh của Ngô Ðình Diệm, để rồi tiếp theo sau đó là từng bước phản
bội, đàn áp. Trong ba vùng Phan Rang – Phan Rí – Phan Thiết những ngày ấy
các ngôi chùa trở nên hoang vắng, thê lương. Những đêm vắng tiếng chuông
chùa, vắng thời khóa và người qua lại, Ngài thường ngồi bên ngọn đèn dầu
lạc cháy leo lét, tâm tư luôn đè nặng bao tấm lòng thiết tha với vận mệnh
đạo pháp. Ngài đôi lần đắp y lên chánh điện lễ Phật rồi đi xuống, không
đánh một tiếng chuông, thậm chí không một bước đi mạnh, bởi mật vụ lãng
vãng chung quanh, chờ có sơ hở để phục bắt Ngài.
Tất cả những
diễn biến trên xảy ra chưa đầy sáu tháng của năm 1963, đã đưa Phật giáo
Việt Nam đến bước phải khẳng định thế đứng của mình. Thế mà vẫn chưa đủ để
Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc bấy giờ là Nolting báo cáo về Ngũ Giác Ðài
với ý đồ xuyên tạc, đánh lừa dư luận và có vẻ khinh thường nỗ lực đấu
tranh của Phật giáo Việt Nam, nên ngày 01.8.1963 Hòa thượng Hội chủ gởi
Tổng thống Hoa Kỳ một điện văn phản đối về hành động này một cách quyết
liệt nhưng vẫn bặt vô âm tín. Ngài quyết định thực hiện ý nguyện thiêu
thân, để chứng tỏ với thế giới rằng ở miền Nam Trung bộ lửa đấu tranh đã
bùng cháy. Vấn đề còn lại là chọn ngày giờ và thời điểm, để thực hành chí
nguyện tha thiết đó.
Ngày 2 tháng 8
năm 1963, Ngài nhận được tin chư tôn đức khắp nơi và ngay cả Phật tử ở
Bình Thuận bị bắt bớ, Ngài cùng Tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận quyết định
tổ chức cuộc tuyệt thực với quy mô lớn tại chùa Tỉnh hội từ 12 giờ trưa
ngày 3 tháng 8 đến 12 giờ trưa ngày hôm sau.
Vào 12 giờ trưa
ngày 4 tháng 8 năm 1963 (đúng ngày Rằm tháng 6 Âm lịch), Ngài lặng lẽ một
mình tay xách thùng xăng 4 lít, tay mang y thất điều, tiến về Ðài Chiến Sĩ
đối diện với Tòa tỉnh trưởng Bình Thuận (Phan Thiết) ngồi xuống trong tư
thế kiết già sau khi đắp y hậu và quyết ấn, tự đổ xăng và châm lửa. Chỉ
trong chốc lát vẫn tư thế kiết già bất động, ngọn lửa đã bùng cao thẳng
đứng khi trời trong xanh lặng gió, để làm một chân lý bất diệt : soi sáng
u minh.
Ngài đã để lại
bức trần tình thư đầy tâm huyết với đạo, với đời thiết tha gửi cho toàn
thể Phật giáo đồ :
“Tôi, một chú
tiểu quét lá đa nhà chùa, cảm thấy cái trách nhiệm mình đã đến không thể
ngồi yên nhìn đạo pháp suy tàn, lý tưởng thiêng liêng bị dày xéo, nên đã
phát nguyện tự thiêu thân giả tạm này cho cúng dường mười phương chư Phật,
nguyện cầu bản Thông cáo chung được chính phủ thực thi một cách trọn vẹn”.
Năm ấy Ngài vừa
đúng 23 tuổi, một tuổi Hạ, 15 tuổi đạo. Xúc động trước sự hy sinh cao cả
của Ngài, một thi nhân đã cảm tác:
Trong tìm dân tộc đá vàng
Thiên thu kỷ niệm
chưa tàn NGUYÊN HƯƠNG
(Mật Hạnh)
VỊ PHÁP THIÊU THÂN THÍCH
THANH TUỆ (1946
– 1963)
Thầy Thích Thanh
Tuệ, tục danh Bùi Huy Chương, sinh năm Bính Tuất 1946, tại thôn Ba Khê,
quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thân phụ là ông Bùi Dư, thân mẫu là bà
Hoàng Thị Phúc. Ngài là người con thứ tư trong năm anh chị em (2 chị gái,
anh trai, Ngài và em út).
Gia đình Ngài
thuộc tầng lớp trung nông, có truyền thống tin Phật nhiều đời và hầu hết
anh chị em đều được giáo dục cả về mặt trí và đức nên rất được lòng bà con
thôn xóm. Những ngày sóc-vọng hoặc các ngày lễ lớn, cả gia đình đều trì
trai giới và đi lễ chùa thường xuyên. Do vậy mà anh em Ngài đều sớm có
được niềm tin Phật pháp trong sáng, luôn sống hòa thuận, nhường nhịn nhau,
trở nên một gia đình gương mẫu về ý nghĩa Phật đạo lẫn xã hội.
Năm Ất Mùi
(1955), thân mẫu Ngài qua đời sau cơn bạo bệnh, vốn là một gia đình gương
mẫu và vì tình thương dành cho các con nên thân phụ Ngài quyết ở vậy, tiếp
tục nuôi dạy các con cho đến khi khôn lớn, gánh nặng lao động đều được anh
chị em Ngài tự nguyện chia đều, hầu nhẹ bớt phần lao nhọc của thân phụ.
Nhưng không vì vậy mà sức học của Ngài suy giảm. Ngược lại càng tinh tấn
thêm hơn do bởi lòng hiếu thảo dành cho thân phụ.
Thời niên thiếu
của Ngài tuy cơ hàn nhưng cũng hưởng đầy đủ niềm vui hồn nhiên cùng các
bạn đồng lứa, những niềm vui ấy còn là hành trang để mang đi theo suốt cả
một đời người. Những buổi trưa hè, Ngài cùng chúng bạn đến chùa học bài,
vừa là tiếp cận với Phật pháp bằng những thắc mắc của tuổi hoa niên; nhờ
đó lại được thêm các nguồn tình cảm từ nơi quý thầy. Với phụ thân Ngài, đó
là những thú vui, những mối giao lưu rất bổ ích, không thể thiếu mà với
tâm lành của một người Phật tử, phụ thân Ngài luôn lấy làm hoan hỷ. Từ đó,
những dịp cuối tuần hay nghỉ hè, Ngài thường theo thân phụ hoặc các anh
chị em vô Huế thường xuyên, vừa để thăm thú các ngôi già lam cổ kính, cũng
vừa tìm lại các chú Sa di ngày nào ở thôn làng giờ đã được tu học tại đây.
Nhờ đó giữa Huế và làng thôn Quảng Trị chẳng còn cách bao xa.
Năm Canh Tý
(1960), với một gia đình như thế, việc đồng ý cho các người con xuất gia
đối với thân phụ Ngài quả là điều nan giải, bởi hầu hết ai cũng đều muốn
là người trước tiên được vinh dự làm việc ấy. Nhưng với lòng mộ đạo thiết
tha tràn đầy, cộng vào tư chất thông minh, cả quyết của Ngài đã chiếm được
lòng tin của thân phụ; khiến phụ thân Ngài không còn đắn đo, nhất trí cho
Ngài xuất gia học đạo tại chùa Phước Duyên, thôn Hưng Long, quận Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên (gần chùa Linh Mụ – Huế). Năm ấy Ngài vừa tròn 15
tuổi đời, được Bổn sư đặt pháp danh là Thanh Tuệ.
Ðạt chí nguyện
lớn, lại được ở gần các mối quan hệ đạo tình được vun trồng xưa nay và lại
là nơi xứ Huế. Ngài dốc lòng trau dồi kiến thức Phật học lẫn văn hóa phổ
thông, nên luôn chiếm được lòng tin yêu của thầy, bạn và các Phật tử lân
cận, nhờ đó việc học hành mỗi ngày thêm tinh tấn vượt trội rõ rệt.
Tuy việc tu học
và thời khóa chấp tác công phu luôn bận rộn đêm ngày, nhưng với tấm lòng
hiếu thảo vô hạn, hằng năm, cứ đến ngày giỗ mẹ, dẫu bận bịu thế nào, Ngài
cũng về quê Hải Lăng để trực tiếp tụng kinh cầu siêu cho thân mẫu quá cố.
Những dịp như thế, gia đình Ngài trở thành ngày hội với những lời giảng
giải Phật pháp bằng nhận thức riêng của Ngài, trước bà con thân quyến và
chòm xóm có mặt. Nhiều lúc cha, anh và người thân còn tỏ ý muốn Ngài về
nhiều hơn để được nghe con mình, nhìn người thân tiến bộ và kiến giải đạo
lý. Có lần Ngài nói một câu tưởng như đùa mà mãi đến sau này đó lại là lời
khẳng định rất thật : “Khi con không về nữa, Cậu và các anh chị, bà con
chòm xóm đừng buồn, vì như thế có nghĩa là con đã thực sự đi vào nẽo
đạo...”.
Năm Quý Mão
(1963) tháng 5, Ngài thi đỗ bằng Trung học Ðệ nhất cấp, chưa kịp chuẩn bị
cho hành trang bước tiếp con đường mở mang kiến thức phổ thông, thì tiếng
xích xe tăng và lựu đạn nổ báo hiệu cơn đại họa cho Phật giáo Việt Nam xảy
ra : Pháp nạn ! Ngài là một trong hàng ngàn dân Huế đầu tiên chứng kiến
cảnh chính quyền triệt hạ cờ Phật giáo vào ngày 07.5.1963, để rồi đích
thân Ngài có mặt tại Ðài phát thanh Huế ở đầu cầu Tràng Tiền lúc 21 giờ 30
ngày 08.5.1963, chứng kiến hành động dã man của cảnh sát, quân cảnh, hiến
binh, lực lượng xe thiết giáp, vòi rồng của chính quyền Diệm, ra sức tàn
sát những người vốn thờ phụng và thực thi giáo lý từ bi của đức Phật trong
tay không một tấc sắt. Ngài chạy thoát được cuộc tàn sát kinh hoàng ấy
nhưng cũng kịp ghi vào tâm khảm hình ảnh 8 em oanh vũ gia đình Phật tử ngã
gục dưới làn đạn, 4 người khác oằn oại dưới xích xe tăng. Họ chỉ có “cái
tội” là đến để đón nghe giờ phát thanh Phật Ðản, không biểu tình, không
bạo động.
Chư tôn đức Lãnh
đạo Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã từ đó tuyên cáo, đòi hỏi thực thi 5
nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam ban hành ngày 10.5.1963, để
rồi ngày 30-5 lại chính thức kêu gọi Tăng tín đồ cả nước hiệp lực đấu
tranh, bảo tồn Phật giáo, bởi máu đã đổ, thịt đã nát, xương đã thực sự rơi
! Ngày 4 tháng 6 năm 1963, Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo được thành
lập. Ngày 11.6.1963, Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu tại Sài Gòn. Như
vậy tình thế đã lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng và mặc dầu ngày 17.6.1963 đã
có thông cáo chung giữa Phật giáo và chính quyền Ngô Ðình Diệm, nhưng tội
ác của Diệm vẫn lan tràn và khốc liệt rõ nét kỳ thị.
Ðến thời điểm
này, tình hình tranh đấu của Phật giáo đã diễn ra đều khắp các tỉnh thành.
Bàn thờ Phật tại gia còn phải đem giấu huống là hình thức một Tăng sĩ dễ
bị theo dõi, gây khó dễ đủ điều và dĩ nhiên thân nhân họ ở gia đình càng
là điểm đàn áp cụ thể nữa. Gia đình Ngài là một trong vô vàn nạn nhân ấy,
thân phụ Ngài gởi thư tay khuyên Ngài chớ nên về quê vì gia đình đêm ngày
bị cảnh sát mật vụ tra hỏi liên tục. Vốn cá tính mạnh mẽ nhưng Ngài không
khỏi thốt lên “Phật giáo làm nên tội tình gì ?”. Như vậy pháp nạn không
chỉ bổ ập vào ngôi chùa, vào quý Tăng sĩ mà đã lan tràn đến từng gia đình,
từng ngõ ngách làng thôn quy ngưỡng Phật đạo.
Ngày 04.8.1963
(nhằm ngày Rằm tháng 6 Âm lịch), với bản tính thiết tha yêu đạo, thương
đời và một mực chí hiếu với gia đình, đứng trước hoàn cảnh nghiệt ngã, bức
xúc như thế; Ngài quyết định về quê Hải Lăng vì ngày đó chính là ngày giỗ
thân mẫu, để tận mắt chứng kiến những hư, thực. Kết quả thực tế đã minh
chứng cho những thông tin Ngài từng nhận được là hoàn toàn không sai sót,
càng tê tái đau lòng hơn khi thực tế ngày giỗ mẹ nhưng gia đình không dám
bày cúng như mọi năm. Khi quay gót về chùa Ngài còn văng vẳng nghe tiếng
khẩn thiết của phụ thân là chớ nên liều lĩnh về đây nữa ! Ðêm đó về lại
chùa, Ngài lòng sửng sốt hơn khi nhận được tin : Ðại đức Nguyên Hương vừa
tự thiêu tại Phan Thiết trưa cùng ngày ! Từ đó, hằng đêm Ngài thường suy
tư và viết vào nhật ký mấy dòng bôi xóa rồi gạch dưới nhóm câu “Máu đã đổ
từ Huế (vụ thảm sát đêm 08.5.1963 tại Huế) tràn đi khắp nơi, đến Sài Gòn
bùng lên ngọn lửa (Hòa thượng Quảng Ðức tự thiêu ngày 11.6.1963), lửa đã
lan tỏa ngược về Nam Trung bộ (Ðại đức Nguyên Hương tự thiêu ngày
4.8.1963) và sẽ còn ai nữa tự nguyện thắp lên ngọn đuốc ấy tại nơi đây
(Huế) ? Là một Tăng sĩ tu học từ các chốn già lam đủ đầy kiến thức, ơn
giáo dưỡng của thầy Tổ còn đây, mình phải làm sao ?”.
Ngài đã tự trả
lời điều đó lúc chưa đầy mười ngày sau, sau khi đã viết 4 bức thư để lại :
- Một gởi cho
Tổng thống Ngô Ðình Diệm.
- Một gởi cho
toàn thể Tăng Ni tín đồ Phật giáo Việt Nam.
- Một gởi cho
thầy Bổn sư của Ngài.
- Một gởi cho
thân phụ cùng thân quyến.
Như vậy, trước
khi tuẫn đạo, Ngài không có một lời nào về mình, người không nghĩ đến
mình; chỉ nghĩ lo cho người khác, cho những người còn sống. Ðặc biệt về
thân phụ, Ngài viết : “... Con chết đi, Cậu sẽ phải đương đầu với mọi đe
dọa. Cậu đừng sợ, đừng xiêu lòng khi họ dùng nhiều mánh lới khác, mà Cậu
phải hy sinh hoàn toàn cho Phật giáo, dù cho bản thân tứ đại của Cậu phải
bị diệt vong...” Lời của Ngài, mặc dù viết cho thân phụ, nhưng cũng chính
là viết cho toàn thể Phật giáo đồ chân chính.
Ngày 13 tháng 8
năm 1963, như để sáng ngọn lửa rực chiếu thấu tận cõi u minh. Ngài đã tự
thiêu thân vào lúc 01 giờ khuya tại chùa Phước Duyên, thành phố Huế, tuổi
đời 18 năm, với 3 tuổi đạo tràn đầy nhiệt huyết Thích tử từ bi.
VỊ PHÁP THIÊU THÂN ÐẠI
ÐỨC THÍCH
THIỆN MỸ (1940
– 1963)
Ðại đức Thích
Thiện Mỹ, thế danh là Hoàng Miều, sinh năm Canh Thìn 1940 tại Bình Ðịnh
trong một gia đình nhiều đời sùng tín Phật đạo.
Ngài được song
thân cho vào chùa làng xuất gia từ thuở bé thơ, theo chư Tăng hầu cận thị
giả và học tập thời khóa thiền môn để mong khi lớn lên sẽ là bậc Như Lai
sứ giả kế tục truyền đăng ánh sáng chánh pháp.
Năm Bính Thân
1956, khi đến tuổi 16, Ngài thọ giới Sa di tại chùa do Bổn sư truyền thụ.
Sau khi thọ giới, Ngài được Bổn sư cho theo học tại các Phật học đường của
Giáo hội tổ chức ở Tổ đình Thập Tháp và Long Khánh – Qui Nhơn.
Năm Canh Thân
1960, khi tuổi đời đủ 20, Ngài được Bổn sư cho thọ đại giới tại giới đàn
chùa Bửu Tích ở Phan Rí Thành, Bình Thuận, do Hòa thượng Thích Viên Trí
làm Ðàn đầu truyền giới. Ðồng khóa giới tử với Ngài là Ðại đức Thích
Nguyên Hương, cũng là một bậc Vị pháp thiêu thân trong cuộc pháp nạn 1963.
Sau khi thọ đại
giới, Ngài bắt đầu du phương tham học hành đạo. Nhận thấy miền cao nguyên
sơn cước Phật đạo còn sơ khai, Ngài chọn phương này làm nơi du hóa. Ðầu
tiên, Ngài ngược con đường từ Tây Sơn – Bình Ðịnh lên cao nguyên Ðắc Lắc,
rồi dần đến cao nguyên Lâm Viên và Ngài dừng chân tại thành phố Ðà Lạt để
tu học trau giồi Giới Ðịnh Tuệ và bước đầu hoằng hóa độ sanh.
Năm Quý Mão
1963, lúc này tại Sài Gòn, phong trào đấu tranh chống đàn áp Phật giáo của
chính quyền Ngô Ðình Diệm đã lên đến cao trào. Những ngọn lửa thiêu thân
thắp sáng vô minh để bảo vệ Phật giáo trước cường quyền của những vị Bồ
Tát Quảng Ðức, Thượng tọa Tiêu Diêu, Ðại đức Nguyên Hương, Thanh Tuệ,
Quảng Hương... đã đánh thức lương tâm nhân loại.
Ðầu tháng 7 năm
1963, trong cuộc đấu tranh đòi thực thi năm nguyện vọng Phật giáo của Tỉnh
Giáo hội Tuyên Ðức (Ðà Lạt), Ngài đã tự chặt ngón tay trỏ trong một cuộc
biểu tình để bày tỏ sự phản đối chính quyền không thi hành đúng đắn bản
thông cáo chung đã ký với Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo.
Ngày 7 tháng 10
năm 1963 tại New York, Ðại hội đồng Liên hiệp quốc mở cuộc họp về tình
hình Việt Nam. Một phái đoàn điều tra của Liên hiệp quốc gồm 7 người tới
Sài Gòn vào ngày 24 tháng 10 năm 1963, mục đích tiếp xúc với Phật giáo để
nắm rõ sự vi phạm của chính quyền Ngô Ðình Diệm đối với Phật giáo.
Bức xúc trước
cuộc đấu tranh của toàn thể Tăng Ni Phật giáo đồ, Ngài từ thành phố Ðà Lạt
xuống Sài Gòn vào giữa tháng 10 năm này, cư trú tại chùa Vạn Thọ – Tân
Ðịnh để cùng chư tôn đức tham gia cuộc tranh đấu đang đến hồi quyết liệt
trước sự quan tâm của thế giới, đang dần đi đến kết quả.
Ngày 27 tháng 10
năm 1963, phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc đã có cuộc tiếp xúc riêng với
Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết tại chùa Ấn Quang. Ngài dự định tự
thiêu trước chùa Ấn Quang để bằng hành động tỏ với phái đoàn điều tra tâm
nguyện của Phật giáo đồ, nhưng vì chính quyền ngăn trở đề phòng, Ngài bèn
chuyển bước âm thầm đến ngay trước Nhà thờ Ðức Bà – Sài Gòn thực hiện ý
định của mình. Vào lúc 10 giờ 30 sáng hôm đó, Ngài ngồi kiết già tự tẩm
xăng, châm lên ngọn đuốc cúng dường Tam bảo, cầu nguyện Phật giáo đồ Việt
Nam thoát khỏi pháp nạn.
Ngọn lửa thiêu
thân của Ngài bùng cháy trước sự chứng kiến của đồng bào Công giáo trong
Nhà thờ, đồng bào Phật tử ở gần đấy và các phóng viên ngoại quốc đã được
thông tin trước. Họ đã quay phim chụp ảnh cảnh tượng này nhưng bị cảnh sát
giật lấy đi. Khi bốn người phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc hay tin đến
nơi, thì xe cứu hỏa vẫn còn đang xịt nước hầu xóa đi dấu tích của vụ tự
thiêu. Trong khi đó, đồng bào đã tụ họp lại biến thành một cuộc biểu tình
để phản đối chính quyền đã cố tình làm ngơ những nguyện vọng của Phật giáo
đồ Việt Nam, và để tưởng niệm đến một bậc Vị pháp thiêu thân nữa vừa hiến
mình cho sự trường tồn của đạo pháp.
Trước lúc ra đi
về cõi tịch diệt, Ngài đã viết bốn bức thư để lại:
- Gửi cho Tổng
thống Ngô Ðình Diệm;
- Gửi cho đức
Hội chủ Phật giáo Thích Tịnh Khiết;
- Gửi cho ông
U-Thant, Tổng thư ký Liên hiệp quốc.
- Gửi cho Phật
giáo đồ Việt Nam, kêu gọi hãy tiếp tục cuộc đấu tranh đòi quyền tự do bình
đẳng của Phật giáo cho đến khi thành tựu.
Ngọn lửa tự
thiêu của Ngài Thiện Mỹ cũng là ngọn lửa cuối cùng báo hiệu sự sụp đổ của
chế độ bạo quyền kỳ thị tôn giáo đã xảy ra bốn ngày sau đó. Ngài ra đi vào
lúc tuổi đời tròn 23 với 3 Hạ lạp.
Ngày 1 tháng 11
năm 1963, quân đội thuộc chánh quyền bấy giờ đã thực hiện cuộc cách mạng
lật đổ chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm, chấm dứt giai đoạn tăm tối của đêm
dài lịch sử pháp nạn Phật giáo ở miền Nam Việt Nam.
VỊ PHÁP THIÊU THÂN THÍCH
THIỆN HUỆ (1948
– 1966)
Thầy Thích Thiện
Huệ tục danh Nguyễn Lang, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1948 (Mậu Tý), tại ấp
Ðịnh Nhiên, xã An Nghiệp, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên, thân phụ là cụ ông
Nguyễn Cương và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Giã.
Thầy sinh trưởng
trong một gia đình thuộc thành phần bần nông nhưng nhờ sự giáo dục nghiêm
khắc của song thân, dựa vào nền tảng đạo lý truyền thống tín ngưỡng Phật
đạo nhiều đời, nên đức tính điềm đạm và sự hiểu biết về mọi nghĩa vụ đã
sớm được phát triển.
Năm Quý Tỵ
(1953), không như những đứa trẻ khác, khi vừa tròn 5 tuổi, Thầy đã được
học thẳng vào lớp 5 (lớp Một ngày nay) mà không phải qua các năm vỡ lòng
nơi trường làng, đã khiến nhiều người ngạc nhiên, khâm phục và không ngớt
lời ca ngợi sức dạy dỗ của phụ thân Thầy. Từ đó, con em các gia đình chung
quanh đều được cha mẹ họ khuyến khích cho chơi thân để phần nào chịu sự
ảnh hưởng đáng quý đó nơi Thầy.
Nhờ vào mối quan
hệ rộng rãi sớm sủa đó mà trong suốt quảng đời niên thiếu cho đến lúc
trưởng thành, Thầy đã huân tập được rất nhiều hiểu biết cần thiết. Những
năm trung học là thời gian tìm hiểu Phật học thêm lớn dần theo chí tham
cầu học hỏi. Các bạn bè thêm những mối thân mới, nhưng cũng đều gặp nhau
trong lý tưởng Phật đà, khiến con đường đến với đạo của Thầy không còn
khoảng cách xa nữa.
Năm Quý Mẹo
(1963), cùng theo kiến thức Phật học của mình lớn lên với cả một niềm tự
hào về một tôn giáo lớn của dân tộc, cũng là nỗi đau khi Phật giáo đang
đứng bên bờ vực sự kỳ thị của chính quyền Ngô Ðình Diệm, đã làm Thầy và
các bạn bật dậy hành động cùng nhau bãi khóa, xuống đường và tham gia
tuyệt thực cùng với hàng ngàn tôn đức Tăng ni, Phật tử toàn tỉnh và miền
Nam Việt Nam. Ðó là quảng đời đáng nhớ nhất của Thầy và bạn hữu. Càng đáng
nhớ hơn là tên tuổi Thầy đã bị mật vụ luôn đón lỏng trước cổng trường để
hòng bắt Thầy cùng các bạn. Những lúc như thế, Thầy và các bạn như những
con sóc khôn lanh, lòn lách theo bản năng của tuổi trẻ năng động. Khi mối
đe dọa đến mức phải tạm lánh xa trường học, gia đình, Thầy cùng các bạn
phải sống dưới nhiều dáng vẻ, đến cả làm “lũ hành khất trẻ”, khiến mật vụ
không ít phen điên đầu khổ nhọc đối phó.
Năm Giáp Thìn
(1964), khi chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm sụp đổ theo tham vọng bạo quyền
thì sự an lành tạm đến với Phật giáo, cũng là đến với thời tuổi trẻ của
Thầy. Từ đây, Thầy ra sức học hành để bù lại thời gian biến động ấy. Kết
quả tiến bộ rõ nét hơn bao giờ hết.
Hình ảnh chư tôn
đức Tăng Ni, Phật tử xả thân vì đạo pháp luôn khắc đậm trong tâm khảm,
khiến lòng khâm phục, ngưỡng mộ nơi Thầy thêm rạng rỡ thôi thúc. Ðặc biệt
các bậc Tử Ðạo đã đem thân mình làm đuốc soi sáng nẽo u minh, đã nêu bật
lý tưởng về một vị Tăng sĩ ngày thêm cao đẹp nơi Thầy. Từ đây ý nguyện
xuất gia đã rạo rực nơi trái tim trẻ trung chân chính của Thầy.
Ngày 18 tháng 4
năm 1964, khi 16 tuổi, Thầy được phép song thân cùng vài bạn hữu khác đến
chùa Từ Ân ở Tuy An xin xuất gia, được Thượng tọa Thích Từ Viên, đặt pháp
danh là Quảng Trí, pháp tự Thiện Huệ. Nhờ vào căn bản Phật học vốn đã có
từ lâu, cộng vào lòng thiết tha với Phật đạo, nên khi đã thọ giới xuất gia
Thầy tỏ ra vượt trội hơn bạn đồng tu, khiến thầy Tổ, pháp lữ càng thêm tin
tưởng hy vọng.
Năm Ất Tỵ
(1965), Bổn sư đã gởi Thầy vào tu học tại chùa Tu Bông, quận Vạn Ninh,
tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây sở học của Thầy càng được củng cố và được sự quý
mến của Tăng chúng. Tuổi 17 tận dụng sức khỏe đang thời sung mãn, Thầy tự
nguyện gánh vác các công việc nặng nhọc thay cho chư huynh đã lớn tuổi
hoặc bận học ở cấp cao hơn.
Năm Bính Ngọ
(1965), Thầy được phép đăng đàn thọ Sa di giới tại ngôi chùa đang trú xứ.
Bổn sư truyền giới cho Ngài là Hòa thượng Thích Thiên Sơn.
Ðó cũng là năm
Phật giáo đang lâm vào cuộc khủng hoảng mới, Giáo hội cũng đang đi đầu
trong cuộc đấu tranh cho một nền dân chủ lập hiến và vận động chấm dứt
chiến tranh, Thầy có đủ nhận thức để nhìn sâu vào cục diện đất nước và
Giáo hội hiện thời. Do vậy mà đã không ít lần Thầy phải tự hỏi tại sao
Phật giáo – một tôn giáo vốn dĩ thiết tha yêu hòa bình và thực thi hạnh từ
bi cao đẹp của nhân loại, lại phải luôn gặp những chướng duyên ? Lúc này
đây, máu xương Tăng tín đồ lại tiếp tục đổ và đã có không ít ngọn lửa tự
thiêu thân làm hồi chuông cảnh tỉnh. Những người vốn thiết tha với tiền đồ
chánh pháp sẽ không còn đủ thời gian để tự vấn hoặc đơn lẻ buông mãi lời
tiếc than, khi hàng loạt sự kiện đau lòng liên tục đổ ập vào thân phận
Phật giáo Việt Nam.
10 giờ 30 phút
sáng ngày 1.6.1966, tin Thượng tọa Thiện Minh bị ám sát hụt đã lan nhanh
mọi nơi, khiến tất cả những người con Phật đều bàng hoàng sửng sốt, trong
đó có Thầy. Và như một động lực mạnh mẽ thôi thúc, Thầy quyết định về Sài
Gòn để thực hiện một việc có ý nghĩa. Tiếc rằng ý định đó, Thầy không thể
thực hiện được ở đó, vì chính quyền đã chốt chặt mọi nơi để ngăn ngừa, nên
ngay buổi trưa hôm ấy, Thầy đến Gò Giếng Nước Nóng tại ấp Tân Phước, xã
Vạn Phước, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, đã tự châm ngọn lửa thiêu thân,
làm ngọn đuốc ngưỡng vọng từ phương xa, gởi chư tôn đức kính yêu và soi
đường cảnh tỉnh nẽo u minh mà chính quyền đang bước sâu vào tội ác.
Hôm ấy nhằm ngày
13 tháng 4 năm Bính Ngọ (1.6.1966) – Phật lịch 2510, Ngài đã hiến dâng
tuổi trẻ đầy hoài bão của mình cho chân lý Phật giáo, Thầy hưởng dương 18
tuổi xuân, với 2 tuổi nhập đạo, và hạnh nguyện Vị pháp thiêu thân của Thầy
là tín hiệu nhập lưu thánh chủng ở mai sau.
Khi tổ chức lễ
an táng của Thầy, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa đã phát hiện ba bức thư
Thầy viết tự bao giờ để gửi :
- Tỉnh hội Phật
giáo Khánh Hòa.
- Bổn sư Thích
Từ Viên.
- Và gởi cho gia
đình.
VỊ PHÁP THIÊU
THÂN THÍCH
HẠNH ÐỨC (1948
– 1967)
Thầy Thích Hạnh
Ðức, thế danh là Trần Văn Minh, sinh ngày mồng 10 tháng 4 năm 1948 (nhằm
mùng 2 tháng 3 năm Mậu Tý), tại xã Bình Ðức, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi.
Thầy sinh trưởng
trong một gia đình nông nghiệp thuần lương, có truyền thống tín ngưỡng
Phật đạo lâu xa. Thông minh, hiền hậu, luôn hòa ái để học hỏi, thân cận;
nên Thầy rất được lòng với mọi người. Do vậy, Ngài đã sớm có những mối
quan hệ đạo tình ngay từ tấm bé, kỷ niệm tuổi thơ rất đẹp với các bạn cùng
trang lứa trong làng cùng nhau đến chùa tụng kinh và nghe giảng.
Ngay từ những
năm tiểu học ở trường làng, Thầy đã được xem là tấm gương hiếu học và rất
mực lễ độ với thầy, cô và với bạn bè.
Tháng 6 năm Kỷ
Hợi (1959), Thầy được gia đình đồng ý cho xuất gia tu học nơi chùa Viên
Giác – Thanh Thanh Sơn (núi Thình Thình thuộc hạt Sơn Tịnh, giáp ranh với
Bình Sơn) làm đệ tử của Hòa thượng Thích Huyền Ðạt. Thầy đã nhanh chóng
chiếm được lòng tin yêu của đại chúng, Bổn sư nhận thấy nơi Thầy có tư
chất thông minh, nên khuyến khích cố gắng tiếp tục con đường học vấn là
việc ưu tiên.
Sau lưng chùa
Viên Giác - Thanh Thanh Sơn là cả một vùng đồi thoai thoải thuộc quyền sở
hữu Tăng chúng trong chùa, ngoài việc tu học còn phải tham gia công việc
trồng tỉa, thực hiện phương châm của Tổ Bách Trượng “Nhất nhật bất tác,
nhất nhật bất thực”. Công tác nông thiền ấy không ngoại trừ bất cứ ai.
Thầy tuy chưa đến tuổi phải nhọc sức như các sư huynh vì còn ưu tiên cho
việc học, nhưng vẫn xông xáo bằng tất cả những thì giờ rảnh rang để phụ
giúp phần nào công việc. Nhờ vậy mà Thầy trông khỏe và vạm vỡ như một
thiếu niên.
Năm Quý Mẹo
(1963), như bao ngôi chùa khác, chùa Viên Giác cũng hòa mình vào công cuộc
đấu tranh chống chế độ gia đình trị Ngô Ðình Diệm, vì họ đang ra sức tận
diệt Phật giáo. Ngày ngày cắp sách để trường quận lỵ xa xôi, nhưng với
tuổi 15 nhanh nhẹn ấy, Thầy mang đi mang về những thông tin liên lạc từ
chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội tỉnh với Bổn sư là Cố vấn Ủy ban Liên phái
Bảo vệ Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi.
Những ngày tháng
này, trước cảnh đau thương của Phật giáo, đã chuyển biến tâm hồn Thầy trở
nên trầm tư trước tuổi, từ đó bao nỗi uẩn khúc khi được bày giải, đã làm
ngạc nhiên Bổn sư và chư huynh đệ được nhân lên dành cho Thầy.
Năm Giáp Thìn
(1964), sau khi hoàn thành công cuộc đấu tranh giành lại quyền tự do tín
ngưỡng và chế độ Ngô Ðình Diệm sụp đổ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất ra đời với hiến chương pháp lý. Phật giáo Việt Nam bước sang trang sử
mới với quy mô hoạt động rộng rãi, phù hợp với đà tiến hóa của thời đại
đó. Từ cơ sở thuận lợi ấy, hàng Tăng sĩ được dịp tiếp cận với thực trạng
xã hội để nâng bước phát triển. Chùa Viên Giác tuy ở vùng sâu nhưng là
ngôi chùa đi tiên phong đáp ứng các chủ trương của Giáo hội, do Bổn sư
Ngài được thỉnh cử làm Ðặc ủy Tăng sự của Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi,
nên Tăng chúng trong chùa được nhờ hồng ân oai đức đó, có điều kiện hòa
nhập nhanh chóng. Thầy là một trong những nhân tố được đặt để và giúp đỡ
trong sự hòa nhập đó.
Năm Ất Tỵ
(1965), trước nhu cầu cấp thiết của Giáo hội là đào tạo Tăng tài có khả
năng và trình độ kiến thức để hoằng dương chánh pháp. Thầy được Bổn sư gởi
lên chùa Tỉnh hội để tiện việc học ngoại điển nơi trường Trung học Bồ Ðề
tỉnh, đồng thời có điều kiện gần gũi chư tôn đức tham cầu Phật đạo. Ðây là
dịp may hiếm có trong đời tu sĩ nên Thầy rất hân hoan lạy tạ Bổn sư y giáo
du học.
Năm Bính Ngọ
(1966), Thầy đã thọ Sa di giới tại Giới đàn chùa Hội Phước, tỉnh Quảng
Ngãi. Việc học không xao lãng, việc đạo chẳng lìa xa, Thầy đã đi từng bước
vững chắc trên lộ trình tiến tu trí đức, mang theo bên mình hoài bão phụng
sự chúng sanh cao đẹp và tuân hành lý tưởng Giáo hội một cách thiết tha.
Khi thọ Sa di
giới cũng là lúc trình độ nhận thức của Thầy đã trưởng thành. Do vậy, Thầy
đã chạm phải một thực trạng đau đớn khác đến với Giáo hội, có bàn tay đối
nghịch thâm độc của chính quyền kế sau Diệm. Vết rạn nứt trong lòng Giáo
hội đã manh nha từ lâu, nay lại thêm tác động xấu ấy đã trở nên trầm
trọng, khiến Viện Tăng Thống và Viện Hóa Ðạo phải tạm lánh bỏ mảnh đất
Việt Nam Quốc Tự của mình về đặt trụ sở tạm tại chùa Ấn Quang.
Chính quyền
không chỉ dừng lại ở mức chia rẽ giới lãnh đạo Giáo hội, mà ngấm ngầm hậu
thuẫn cho một số tín đồ đã không ngần ngại khiêu khích tính địa phương,
biến nơi hòa ái tiến tu trở nên đôi bờ thù hận, chia rẽ Nam-Bắc, khiến cục
diện ngày càng trở nên xấu đi. Sự khích động ấy của chính quyền đã gây ra
bao đau thương cho trang sử Phật giáo, hình thành ra cái gọi là “Giáo hội
Quốc Tự” cùng “Giáo hội Ấn Quang” hết sức đau buồn.
Ðể hợp pháp hóa
“Giáo hội Quốc Tự”, chính quyền tạo ra “Hiến chương 23/67” để phát triển ý
đồ công nhận cái mới xóa bỏ cái cũ. Phật giáo đang đứng bên bờ thảm họa
mới, chưa biết rồi sẽ đến mưu chước gì nữa trong những ngày tháng tới.
Ngày 11 tháng 9
năm 1967, đức Tăng thống triệu tập các hệ phái đồng sáng lập Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất năm 1964, để nêu rõ lập trường của Giáo hội và
khẩn trương thành lập ngay Ủy ban Bảo vệ Hiến Chương. Ngày 14-9, Viện Tăng
Thống – Viện Hóa Ðạo đã gởi thư lên tướng Thiệu với 51 chữ ký của các tỉnh
– miền, yêu cầu hủy bỏ “Hiến chương 23/67”. Thế nhưng lời khẩn cầu thiết
tha chính đáng ấy đã không được đoái hoài, một thái độ xem thường tổ chức
Phật giáo Việt Nam. Từ đó, máu xương Tăng Ni, Phật tử tha thiết vì đạo mầu
lại tiếp tục tuôn rơi !
Ngày 31 tháng 10
năm 1967, trước hiểm họa thống hận ấy, Thầy không ngần ngại hiến dâng tuổi
thanh xuân của mình, để bảo vệ Hiến chương Giáo hội bằng ngọn đuốc rực
hồng trước sân chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi. Năm ấy, Ngài vừa đúng
19 tuổi đời, 9 năm trau dồi đạo hạnh
HÒA
THƯỢNG THẠCH
KÔONG (1879
– 1969)
Hòa thượng
Brahma Sara, thế danh là Thạch Kôong, sinh năm 1879, nhằm tháng 11 năm Kỷ
Mão, tại xóm Som Rôong Êck, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà
Vinh.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình nông nghiệp thuần hậu, thân phụ là cụ ông Thạch Chănh,
thân mẫu là cụ bà Sơn Thị Lăm.
Năm 1891, khi
lên 12 tuổi, Ngài được cha mẹ dẫn đến chùa Som Rôong Êck (Ông Mẹc), để học
chữ Khmer với Hòa thượng Huôi, trụ trì tại đây.
Năm 1896, khi
được 17 tuổi, sau 5 năm học hành chữ nghĩa, Ngài xin phép song thân, cho
xuất gia đầu Phật, và Ngài Huôi làm Thầy tế độ cho thọ giới Sa di cũng tại
ngay chùa này.
Năm 1901, lúc 22
tuổi, Sa di Thạch Kôong được thọ Cụ túc giới tại Ðại giới đàn chùa Som
Rôong Êck, do Ngài Huôi làm Thầy tế độ, Ngài Kes trụ trì chùa
Pô-thi-vong-sa-ram Chong Top (Bodhi Vansàràma) làm Thầy Yết ma, Ngài Kuch
trụ trì chùa Som-Bua-Rit-Thi-Sắc làm Thầy Giáo thọ, Ngài được ban pháp
danh là Brahma Sara.
Sau khi thọ đại
giới, Ngài tiếp tục ở tại chùa chuyên tâm tu học, phụng Phật hộ Sư trong
suốt 5 mùa Hạ. Ðến năm 28 tuổi (1907), Ngài xin phép Thầy tế độ đi học
pháp môn thiền (Kammatthàna) tại chùa Pháp-nôo Pro Hôth, huyện Cầu Ngang,
Trà Vinh, với Thiền sư S-vai. Học khóa thiền được một năm, Ngài trở về bổn
tự, tu hành và truyền đạt những điều học được cho các Sư chúng đồng môn,
và giảng dạy các đồng bào Phật tử.
Năm 1911, khi
Ngài được 32 tuổi, lại xin phép Bổn sư sang nước Cao Miên tiếp tục đi học
thiền định (Gandhadhura), tại chùa K-đol, huyện Soong Kêe, tỉnh Bath Ðom
Boong hết hai năm. Sau đó Ngài chuẩn bị sang Thái Lan học tiếp khóa thiền
nâng cao, nhưng gặp được Thiền sư Sao ở chùa Pô-Thi-Lăng-Ka-Ngoài (Bodhi
Lanka) tỉnh Xiêm Rệp, Ngài bèn y chỉ vào Thiền sư Sao và về chùa này tu
học thiền.
Hơn 8 năm tu học
thiền tại đây, nội lực thiền định tăng tiến rất nhanh, Ngài trở thành vị
Thiền sư trưởng đoàn hành thiền hạnh Ðầu Ðà (hành thiền ở chốn rừng núi xa
lánh mọi người), nhưng vì lý do an ninh nên mỗi năm Ngài hướng dẫn các
thiền sinh vào rừng núi hành thiền chỉ được 2 hoặc 3 tháng.
Ngài phát nguyện
hành thiền theo hạnh Ðầu Ðà được 11 năm, sau đó trở lại chùa
Pô-Thi-Lăng-Ka-Ngoài cùng với Thiền sư Sao và các vị trưởng lão hoằng pháp
lợi sanh. Trong thời gian ở tại chùa đây, Ngài thường xuyên giảng dạy pháp
môn thiền cho các Sư và đông đảo Phật tử. Các Sư ở Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
cũng đến thỉnh Ngài về trụ xứ giáo huấn khóa thiền học cho mọi người.
Năm 1932, Ngài
đã 53 tuổi, Ngài xin phép Thiền sư Sao để trở về chùa quê xưa, nơi đầu
tiên xuất gia với Thầy tế độ là Hòa thượng Huôi. Lúc về, Ngài mang theo 2
phiến đá ở đền Ăng Kôo, và cho thợ tạc thành hai tượng Phật đứng để tôn
thờ tại chùa Som Rôong Êck, cho đến nay vẫn còn. Trong năm này, thân phụ
Ngài qua đời, Ngài lo việc hiếu lễ một cách chu đáo, sau đó không bao lâu,
Ngài lại phải lo tang lễ cho Hòa thượng Huôi trụ trì chùa Som Rôong Êck là
Thầy tế độ của Ngài. Sau khi tang lễ xong, Ngài được đồng bào Phật tử đề
cử trụ trì chùa Som Rôong Êck, nối tiếp sự nghiệp hoằng hóa độ sanh của
Thầy Tổ.
Từ đây, với
cương vị trụ trì, lãnh đạo Tăng chúng, Phật tử, Ngài thường tham vấn với
Hòa thượng Mé-Kon Sumangala Silà Sao trụ trì chùa Po-Thi-Lăng-Ka-Ngoài để
tiến tu thêm đạo hạnh, và tổ chức hoạt động Phật sự.
Ngài là một vị
thầy khả kính, đầy lòng từ bi nhân ái, thường xuyên giúp đỡ mọi tầng lớp
dân chúng, khuyến tu cho các hàng đệ tử, trợ giúp xây dựng trường lớp.
Ngài đã tạo được một ngôi học đường Pàli, và một ngôi học đường cho các Sư
và con em đồng bào Phật tử học chữ Khmer-Pháp. Ngay tại chùa, Ngài tổ chức
giới đàn, và cung thỉnh Hòa thượng Thiền sư Mé-Kon Sao làm Thầy Tế độ thay
cho Bổn sư Huôi đã viên tịch.
Ngoài ra, Ngài
còn xây cất 4 ngôi bảo tháp ở xung quanh chánh điện, một ngôi tháp ở phía
dưới và 2 ngôi tháp nằm hai bên sân trước chánh điện cùng tu sửa Tăng xá,
Trai đường thêm khang trang. Ðặc biệt, Ngài đã viết nhiều quyển sách kinh
đọc, kinh học... dày công sao chép nhiều kinh điển bằng lá muôn, như kinh
: Mù La, Sùtra, Dhammapada datthakathà, Mangalatthadipanì... và Ngài đã
thỉnh bộ Tam tạng bằng Pàli-Khmer ngữ, sung vào tủ kinh sách của chùa.
Năm 1937, lúc
này Ngài được 38 tuổi Hạ, 58 tuổi đời, sau khi có văn thư đề bạt của Hòa
thượng Mé-Kon Sao gửi đến các vị Ðại lão Hòa thượng Nànaranisì Ôok chùa
Kh-Tưng và Hòa thượng Visuddhi Vanisà Sơn Ly chùa Bodhisàlaraja Kom Poong,
Ngài được các trưởng lão quyết định đề cử lên chức Hòa thượng, đồng thời
giao phó cho Ngài thừa kế chức vị Hòa thượng Thiền sư Mé-Kon Sao. Những
năm sau đó, Ngài được bầu vào chức Phó Mé-Kon tỉnh Trà Vinh và tiếp tục
hoạt động Phật sự cho đến ngày viên tịch.
Trong vòng gần
10 năm cuối đời, tuy tuổi cao sức yếu, nhưng Ngài vẫn miệt mài làm việc
phụng sự đạo pháp và dân tộc không ngừng nghỉ. Ngài luôn khuyên bảo các
hàng đệ tử xuất gia và tại gia tiến tu học đạo, mở mang kiến thức Phật
pháp và thế pháp, ngõ hầu làm tốt đời đẹp đạo sau này.
Ngày 20 tháng 11
năm Kỷ Dậu, tức ngày 29-12-1969, Ngài đã thu thần nhập diệt, trụ thế 90
năm, tuổi đạo 68 hạ lạp – Lễ tang Hòa thượng phó Mé-Kon Brahma Sara Thạch
Kôong, được tổ chức long trọng và trang nghiêm trong 5 ngày đêm tại chùa
Som Rôong Êck, xã Nguyệt Hóa, Châu Thành, Trà Vinh, và sau đó Lễ trà tỳ
được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24 tháng 11 năm Kỷ Dậu trong sự thương
tiếc của hàng ngàn Tăng tín đồ Phật tử, xá lợi được cung thỉnh an vị trong
Bảo tháp lớn ngay tại bổn tự lúc sinh thời của Ngài.
Hòa thượng
Brahma Sara Thạch Kôong đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp vì lợi ích
chúng sinh, là một vị Thiền sư mẫu mực, đầy lòng từ bi, nhân ái. Phật giáo
Khmer đã mất đi một bậc trưởng lão đức độ, mất đi chỗ dựa tinh thần bi trí
vững chắc, và các thế hệ mai sau mãi ghi nhớ, noi gương tu học của Ngài.
HÒA
THƯỢNG THIỆN
LUẬT (1898
– 1969)
Hòa thượng Thiện
Luật, pháp danh VinayaKusala Bhikkhu, thế danh Ngô Bảo Hộ, sinh năm Mậu
Tuất 1898 tại Sa Ðéc, nay là tỉnh Ðồng Tháp. Phụ thân Ngài là cụ Ngô Văn
Nghi – vốn là người Triều Châu, do điều kiện sinh hoạt nên đã đưa cả gia
đình sang Cao Miên lập nghiệp tại tỉnh Prey-Veng (hay Lò Veng, tức làng
Hòa Mỹ theo cách gọi của cộng đồng người Việt xa xứ).
Cụ ông Ngô Văn
Nghi tinh thâm Hán văn, giỏi Ðông y, Tử vi đẩu số và còn là một Kỳ vương
kiệt xuất. Ðược lớn lên bên một người cha đa tài như vậy, nên từ thuở trẻ
Ngài đã sớm hấp thụ những tinh hoa ấy. Ngoài kiến thức lập thân học được
từ thân phụ, Ngài còn là một thanh niên được bạn bè nể phục vì bản tính
cương liệt, khả năng võ thuật hơn người và ngón đàn độc huyền một thời xao
động những đêm trăng vàng ở làng Hòa Mỹ xa xôi kia. Cũng không ít những
thanh niên bản xứ của đất nước chùa tháp kia đã từng theo học những ngón
nghề của nam tử tài hoa Ngô Bảo Hộ.
Thuận theo thế
thường, năm 26 tuổi Ngài lập gia đình cùng bà Lưu Kim Phùng, con gái một
gia đình kiều bào cùng sinh sống tại làng Hòa Mỹ. Cuộc sống gia đình chỉ
tròn 8 năm thì bà qua đời, để lại cho Ngài 4 người con thơ, 1 trai 3 gái,
rồi đến con gái thứ cũng ra đi theo bà. Buồn vì nỗi bất hạnh của gia đình,
Ngài được các vị Sư ở chùa làng thuyết giảng, bỗng nhận chân ra lý vô
thường, thế là Ngài quyết định chọn cho mình hướng đi giải thoát.
Năm Giáp Tuất
1934, Ngài dẫn theo con trai là Ngô Bửu Ðạt đến chùa Prek-Reng, một ngôi
chùa ở ven sông xin xuất gia. Hòa thượng trụ trì chấp thuận cho Ngài thọ
giới Sa di, ban cho pháp danh là Thiện Luật (VinayaKusala) , còn con trai
Ngài thì được Hòa thượng nhận làm nghĩa tử, dưỡng nuôi trong chùa hầu cận
chư Tăng.
Tu học tại đây
một thời gian, Ngài quyết định rời chùa Prek-Reng, đưa con trai đến gởi
nơi Niệm Phật đường Thiền Lâm của kiều bào lập nên, do Bác sĩ Lê Văn Giảng
quản trị (sau này là Hòa thượng Hộ Tông). Riêng Ngài, đến tu học tại chùa
Sùng Phúc ở quận 5, thành phố Phnom-Pênh, cũng là ngôi chùa do kiều bào
Việt Nam xây dựng trên đất Cao Miên. Có thể nói đây là cơ sở đầu tiên để
hệ phái Phật giáo Nam Tông du nhập vào xã hội người Việt sau này. Chùa đây
là nơi phát hành tờ đặc san đầu tiên của Phật giáo Nam Tông Việt Nam, cùng
một số kinh sách Nam Tông bằng tiếng Việt.
Năm Ðinh Sửu
1937, lúc 39 tuổi, Ngài chính thức thọ giới Tỳ kheo với Thầy Tế độ là Ngài
Phó Tăng Thống Cao Miên là Hòa thượng Uttamamuni Um-Su, Thầy Yết ma là Hòa
thượng Som Dach Choun Nath (sau là vua Sãi Cao Miên) và Thầy Giáo