TIỂU SỬ
DANH TĂNG
VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Thích Đồng Bổn
chủ biên
TẬP II
--- o0o ---
II
GIAI ÐOẠN CHẤN HƯNG
PHẬT GIÁO
VIỆT NAM
1931 – 1950
Phật giáo đã đứng lên phục hồi lại giá trị truyền
thống của mình từ giai đoạn này, cũng như đất nước đã có hướng đi bằng con
đường cách mạng của Ðảng Cộng sản Việt
Nam ra đời năm 1930.
Phong trào chấn hưng
bắt đầu bằng cuộc lặn lội vận động khắp 20 tự viện ở lục tỉnh Nam kỳ của
Hòa thượng Khánh Hòa và việc ra mắt tờ Pháp Âm, rồi Phật học tùng thư của
Sư Thiện Chiếu năm 1929. Ðó là bước khởi đầu cho hằng loạt những sự kiện
chấn hưng Phật giáo qua các cột mốc lịch sử :
- Thành lập Hội
Nam
kỳ nghiên cứu Phật học (26.8.1931) và xuất bản tờ bán nguyệt san Từ Bi Âm.
- Thành lập Hội Phật
học Trung kỳ, Hội An Nam Phật học (1932) xuất bản bán nguyệt san Viên Âm.
- Thành lập Phật học
tùng thư của cư sĩ Ðoàn Trung Còn (1932)
- Thành lập Liên
đoàn Học xã (29.1.1993)
- Thành lập Thiên
Thai Thiền Giáo Tông liên hữu hội (19.10.1934) và xuất bản tờ Bát Nhã Âm.
- Thành lập Hội
Lưỡng Xuyên Phật học (13.8.1934) và xuất bản tạp chí Duy Tâm.
- Thành lập Hội Phật
giáo Bắc kỳ (18.11.1934) và xuất bản tạp chí Ðuốc Tuệ và Tiếng Chuông Sớm.
- Thành lập Hội Phật
giáo Kiêm Tế (23.3.1937) xuất bản tờ Tiến Hóa.
- Thành lập Ðoàn
Thanh niên Phật học Ðức Dục của Hội An Nam Phật học (1940)
- ....
Ðây là giai đoạn rực
rỡ nhất của Phật giáo từ đầu thế kỷ, với công lao của những bậc Danh Tăng
làm nên sự nghiệp chấn hưng, phần chủ yếu đã được giới thiệu ở Tập thứ I
là 16 vị, ở Tập thứ II này là 10 vị.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH PHỔ HUỆ
1870 – 1931
Hòa thượng Thích Phổ
Huệ người họ Trần sinh năm Canh Ngọ – 1870 tại xã Nhơn Thành, huyện An
Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh (đồng hương với Quốc sư Phước Huệ). Năm 12 tuổi (Nhâm
Ngọ – 1882) Ngài xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Từ Mẫn, tại chùa Tịnh
Lâm, làng Chánh Lộc, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Ðịnh, được đặt pháp hiệu là
Phổ Huệ.
Sau một thời gian tu
học tại chùa Tịnh Lâm, Ngài được Hòa thượng Bổn sư Từ Mẫn cho vào tham học
Phật pháp với Hòa thượng Pháp Hỷ, tỉnh Phú Yên.
Ðến khi Hòa thượng
Bổn sư viên tịch, Ngài kế tục trụ trì chùa Tịnh Lâm và kiêm nhiệm trụ trì
chùa Bảo Phong (chùa Bảo Phong cách chùa Tịnh Lâm khoảng 03 cây số về phía
Ðông).
Khoảng năm Mậu Thân
– 1908, cũng như Hòa thượng Phước Huệ (chùa Thập Tháp), Ngài được triều
đình Huế thỉnh vào trong hoàng cung để thuyết pháp. Vì thế, Ngài được tôn
xưng là “Pháp sư Phổ Huệ” và là một ngôi sao sáng của Phật giáo Việt Nam
lúc bấy giờ.
Sau thời gian hoằng
hóa tại Huế, Ngài trở về chùa Tịnh Lâm, mở đạo tràng giảng dạy Phật pháp.
Vốn là bậc chân tu thạc đức, lại có biệt tài thuyết pháp, nên đạo tràng
Tịnh Lâm lúc này rất thịnh vượng, tiếng tăm vang khắp cả Trung kỳ.
Ngoài ra, Ngài còn
có biệt tài về thi ca, đã sáng tác nhiều bài thơ, kệ mang đậm ý Thiền, còn
lưu truyền mãi đến ngày nay.
Vào năm 1901, Ngài
Viên Thành (1879 – 1928) khai sơn chùa Tra Am - Huế có nhân duyên hội ngộ
Ngài Phổ Huệ tại Ðại giới đàn tỉnh Phú Yên (Ngài Phổ Huệ lúc này làm Giáo
thọ Sư tại đây) rất lấy làm cảm phục kiến thức và đức độ của Ngài, ước ao
được thân cận để học hỏi, nhưng không được thỏa nguyện, nên Ngài Viên
Thành đã làm bài thơ sau đây kính tặng Ngài Phổ Huệ :
“Bình bát truy tùy dĩ hữu niên
Ðạo năng thâm khế diệc tiền
duyên
Vân quang thuyết pháp hoa ưng
trụy
Quý phạp Tô Tuân chí học kiên”
Dịch: Y bát
bên mình trọn mấy niên
Ðạo tình thâm áo cũng tiền duyên
Vân quang thuyết pháp hoa rơi rụng
Thẹn với Tô Tuân chí học bền.
(Nguyễn Lang dịch)
Khoảng năm 1926,
Ngài Phổ Huệ có viết thư khen Ngài Viên Thành về bài bạt mà Ngài Viên
Thành đã đề trong kinh Pháp Bảo Ðàn ấn hành tại Huế năm 1925. Cảm động về
bức thư này, Ngài Viên Thành liền gửi hai bài thơ vừa được sáng tác, trình
bày kiến giải của mình, để cầu Ngài Phổ Huệ ấn chứng. Hai bài như sau :
Bài 1: Tham thiền trực hạ liễu căn nguyên
Thánh giả phàm tinh lưỡng bất
tồn
Ðại đạo khởi tòng tâm ngoại đắc
?
Yếu giao nhất niệm tuyệt phan
duyên.
Dịch: Tham
cứu cho lên tột cội nguồn
Còn đâu ai thánh với ai phàm
Ngoài tâm, đạo lớn tìm đâu thấy ?
Nhất niệm chuyên trì dứt vạn duyên.
Bài 2: Sơn cùng thủy tận chuyển thân lai
Bức đắc kim cương chính nhãn
khai
Vạn tượng tòng trung thân độc lộ
Niết bàn, sinh tử tuyệt an bài
Dịch: Cùng
non tột nước gửi thân về
Miễn được kim cương mở mắt ra
Vạn tượng bao la thân hiển lộ
Niết bàn, sinh tử có hề chi ?
(Nguyễn Lang
dịch)
Khoảng năm 1927,
nhân dịp du hóa Nam kỳ, đến Châu Ðốc Ngài đã dừng chân một tháng tại chùa
Phi Lai. Thấu rõ được nguyên lai và chí nguyện của vị sư trụ trì Thích Chí
Thành nên Ngài Phổ Huệ đã làm bài thơ tán thán :
Ðương thế Phi Lai chấn đạo tôn
Chí thành khí sắc cổ phong tồn
Phong lưu bất tẩy tâm thường
tịnh
Diệu nghĩa năng tham tự tánh
dung
Vân khứ, vân lai vô trụ trước
Hoa khai, hoa tạ tổng thành
không
Phong quang hảo cực tư thời tận
Sa nhược linh san lạc bất ưng
Dịch: Chùa Tổ Phi Lai hương đạo xông
Chí thành nguyện tiếp bước Thiền
tông
Phong lưu chẳng xóa tâm thường
tịnh
Diệu nghĩa năng cầu tự tánh
không
Mây lại, mây qua lòng há vướng
Hoa tàn, hoa nở tổng thành không
Gió thuận, thời lành xe pháp
chuyển
Non thiêng cây báu mãi vun trồng
Ngoài bài thơ trên,
Ngài còn cảm tác nhiều thi phẩm khác, nhưng hiện nay chưa sưu tập được.
Ðệ tử đầu tiên của
Ngài là Hòa thượng Huyền Giải, sau kế vị Ngài, trụ trì chùa Tịnh Lâm, và
đệ tử kế tiếp tức giảng sư Trí Quang, kế thế trụ trì chùa Bảo Phong.
Năm 1931, Ngài viên
tịch tại chùa Tịnh Lâm, trụ thế 61 năm hơn 40 tuổi đạo. Bảo Tháp tôn trí
tại chùa Bảo Phong nơi Ngài đã sáng lập để môn đồ pháp quyến tôn thờ,
chiêm ngưỡng và ghi mãi công ơn của một bậc Thầy tài năng và đức độ, đã
góp phần to lớn, điểm tô nền Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ
XX thêm phần xán lạn rực rỡ, làm tiền đề cho phong trào Chấn hưng Phật
giáo sau này.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH TỪ VĂN
1877 – 1931
Hòa thượng Thích Từ
Văn pháp hiệu Chơn Thanh, thế danh Nguyễn Văn Tầm, sinh năm Ðinh Sửu
(1877) tại làng Phú Cường, Thủ Dầu Một - Bình Dương.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình sùng kính Tam Bảo. Thân phụ và thân mẫu của Ngài đều là
người quy y Tam bảo. Nhờ ảnh hưởng truyền thống gia đình, năm lên 10 tuổi,
Ngài sớm có nhân duyên mến mộ đạo Phật, và được phép song thân cho xuất
gia học đạo.
Ngài được song thân
đưa đến xuất gia tại Tổ đình chùa Hội Khánh với Hòa thượng Ấn Long - Thiện
Quới vào năm 1887, lúc Ngài chỉ mới tròn 11 tuổi, được Bổn sư ban pháp
danh là Từ Văn. Với bản chất thông minh, lanh lợi và tinh tấn công phu bái
sám, Ngài đã được Hòa thượng Ấn Long cũng như Tăng chúng trong chùa thương
mến. Sau 5 năm học đạo, Ngài thuộc nhiều kinh, luật, Hòa thượng Ấn Long
thấy đệ tử Từ Văn thông minh hơn các Tăng chúng trong chùa nên quyết định
giới thiệu đến học đạo với Tổ Huệ Lưu ở chùa Huê Nghiêm – Thủ Ðức.
Sau khi Tổ Huệ Lưu
viên tịch năm 1898, Ngài đến dự nhiều khóa Hạ tại chùa Sùng Ðức, Chợ Lớn –
Gia Ðịnh và theo học đạo với nhiều vị cao Tăng nổi danh khác.
Năm 1906, Ðại lão
Hòa thượng Ấn Long viên tịch, Ngài cùng môn đồ pháp quyến đứng ra tổ chức
lễ tang và xây tháp cho Bổn sư. Mến trọng đức độ và tài trí của Ngài, chư
sơn Thiền đức và môn đồ pháp quyến Tổ đình Hội Khánh đồng nhất trí công cử
Ngài đảm nhiệm trụ trì để điều hành Phật sự. Tiếng tăm và uy đức của Ngài
càng được chư sơn thiền đức trong vùng biết đến. Vào năm 1909, Ngài được
cung thỉnh Chứng minh để trùng tu lại ngôi tháp Tổ Nguyên Thiều chùa Kim
Cang – Biên Hòa.
Năm Quý Sửu (1913),
Ngài lại được quý Hòa thượng miền Tây Nam Bộ cung thỉnh làm Pháp sư tại
trường Hương chùa Tam Bảo – Rạch Giá, năm Nhâm Tuất (1922) làm Chánh chủ
khảo kỳ thi tại trường Hương chùa Giác Lâm – Gia Ðịnh và năm Giáp Tý
(1924) là Pháp sư Chúc thọ giới đàn chùa Giác Viên – Gia Ðịnh.
Vào năm Canh Thân
1920, tại Thủ Dầu Một nổ ra cuộc đấu tranh của đồng bào yêu cầu nhà cầm
quyền Pháp phải có chính sách đối với những gia đình có con đi lính thuê
cho Pháp. Ðáp lại, nhà cầm quyền Pháp có tổ chức buổi lễ cầu siêu cho các
tử sĩ tại thành phố Marseille, miền Nam nước Pháp. Mượn uy tín của hòa
thượng Từ Văn, nhà cầm quyền Pháp ở Thủ Dầu Một đã cậy nhờ Ngài sang pháp
làm Sám chủ cuộc lễ này. Với năng khiếu mỹ thuật bẩm sinh, nhân dịp này
Ngài đã quản lý và chỉ đạo nhóm thợ thủ công ở Thủ Dầu Một mang mô hình
chùa Hội Khánh và một số tượng Phật của chùa sang Marseille để triển lãm.
Từ đây, ở cương vị Tăng thống, Ngài đóng một vai trò chủ đạo trong giới
Phật giáo nước nhà, các nhà chức trách cũng như Tăng tín đồ đều gọi Ngài
là Hòa thượng Cả.
Trong phong trào
chấn hưng Phật giáo, Ngài đứng ra mở các lớp đầu tiên dạy giáo lý, qui tụ
tất cả các Tăng sĩ Thủ Dầu Một lúc bấy giờ đến tham dự khóa học. Ngài đã
khơi dậy ý thức cho giới Tăng sĩ trong công cuộc chấn hưng Phật giáo và
các phong trào đấu tranh bảo vệ bản sắc dân tộc. Ðặc biệt vào năm 1923, do
tiếng tăm và đức độ cũng như tinh thần yêu nước của Ngài, nên cụ Phó bảng,
Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Hồ Chủ Tịch) và cụ Tú Cúc – Phan Ðình Viện,
một sĩ phu yêu nước, hai vị đã tìm đến Hòa thượng Từ Văn. Cùng chung lý
tưởng trên tinh thần yêu nước bảo vệ dân tộc, ba vị đã đứng ra thành lập
“Hội danh dự yêu nước” tại chùa Hội Khánh. “Hội danh dự yêu nước” chủ
trương giáo dục đồng bào sống đúng với đạo lý con người, truyền bá tư
tưởng yêu nước chống ngoại xâm trong đồng bào cũng như Tăng sĩ Phật giáo ở
Thủ Dầu Một. Hội hoạt động đến năm 1926 thì bị nhà cầm quyền Pháp giải
tán.
Cũng trong năm này
(Bính Dần 1926), Ngài được ông bà Hội đồng Lương Khắc Minh đứng ra xây
dựng chùa Trường Thạnh ở Sài Gòn đến cung thỉnh trụ trì chùa tại đây. Ngài
nhận lời và cử sư Thiện Tòng về trụ trì. Gắn bó, tâm huyết với Phật sự
giáo dục Tăng Ni, giữa năm 1926, Ngài làm Pháp sư ở trường Hạ chùa Hội
Phước, Mỹ Tho; rồi năm Mậu Thìn (1929), làm Chứng minh tại trường Hương
chùa Long Phước.
Năm 1930, Ngài đứng
ra tổ chức khắc bản in kinh để ấn tống cho khắp cả vùng miền Ðông và Tây
Nam
bộ. Hiện nay bút tích của Ngài còn lưu lại tại nhiều chùa ở thành phố Hồ
Chí Minh như chùa Giác Lâm, Giác Viên, Sắc Tứ Từ Ân, Trường Thạnh...
Hòa thượng là vị cao
Tăng thạc đức trọn đời chăm lo hoằng dương Phật pháp và giàu lòng yêu nước
xứng danh bậc thạch trụ của thiền lâm. Ngài đã góp phần xây dựng và định
hướng cho sự phát triển của Phật giáo ở Thủ Dầu Một nói riêng và miền Ðông
Nam bộ nói chung từ đầu thế kỷ XX.
Ngài đã xả bỏ xác
thân giả huyễn, an nhiên thị tịch vào lúc 11 giờ ngày 26 tháng 11 năm Tân
Mùi (1931). Môn đồ tứ chúng tổ chức tang lễ một cách trọng thể và xây tháp
tôn thờ trong khuôn viên Tổ đình chùa Hội Khánh. Tinh thần nhiệt thành vì
đạo, vì đời và sự uyên thâm Phật học của Hòa thượng Từ Văn đã được chư Sơn
thiền đức khắp vùng và tứ chúng đồng kính ngưỡng, niềm tôn kính bộc lộ rõ
nét qua câu đối :
Ðinh Sửu Hạ,
long thần nhập đạo siêu nhân duy học tử
Tân Mùi Ðông,
thị tịch qui không tùy Phật chứng vô sanh
HÒA
THƯỢNG
THÍCH PHƯỚC CHỮ
1858 – 1940
Hòa thượng Thích
Phước Chữ, pháp danh Thanh Thái, thế danh Nguyễn Huấn, sinh ngày 05 tháng
5 năm Mậu Ngọ, Tự Ðức thứ 11 (1858), tại làng Ða Nghi, tỉnh Quảng Trị,
thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 41.
Thân phụ Ngài là cụ
ông Thanh Ðức, thân mẫu là cụ bà Võ Thị, gia đình thuộc thành phần trung
nông, có lòng tín hướng Phật đà nhiều đời. Ngài là con trai thứ ba trong
số 4 người anh em trai ().
Năm Canh Dần, Tự Ðức
thứ 13 (1860), lúc này giặc Pháp đã thật sự nổ súng và xâm chiếm đất nước
từ Bắc chí Nam, các phong trào nghĩa quân nổi lên chống ngoại xâm khắp đó
đây. Gia đình Ngài vì có nhiều thanh niên nên bị dòm ngó từ nhiều phía.
Phụ thân Ngài phải vào chùa Xuân Tây sống đời ẩn tu và khuyên các anh em
Ngài hãy phân tán mỗi người một nẻo. Thân mẫu Ngài từ đó do lo âu, buồn
khổ đã qua đời khi Ngài vừa mới hai tuổi.
Tuổi thơ Ngài không
có niềm vui, bởi đã sớm chịu màu tang tóc chung của đất nước. Khắp nơi,
những lời than oán của tầng lớp sĩ phu, những người quan tâm đến thời thế,
trước những bước chân rầm rập và ngày càng gia tăng của đội quân xâm lược
Pháp. Sự việc đó luôn ghi đậm vào tâm khảm Ngài khi đã biết suy tư.
Năm Tân Mùi, Tự Ðức
thứ 25 (1872). Một sáng đầu mùa hè, Ngài đến chùa Diệu Ðế với những nỗi
băn khoăn ấy, bộc bạch cùng Hòa thượng Tăng Cang Diệu Giác (1806 – 1895),
Hòa thượng lắng nghe và nhận ra sự thông minh hiếm thấy nơi Ngài. Bằng
những lý giải nhân quả luân hồi, lẽ thịnh suy thế sự, Hòa thượng Diệu Giác
đã cảm hóa tâm hồn Ngài ngay ngày đầu gặp gỡ. Sau đó, Ngài cầu xin được
xuất gia học đạo. Hòa thượng Diệu Giác nhận lời, nhưng do tình hình đương
thời bất ổn nhiều mặt nên Hòa thượng dạy phải ẩn nhẫn hành điệu cho thuần
thục luật thanh quy chốn già lam, chờ lúc thời cơ thuận lợi sẽ cho thọ
giới, Ngài vui mừng khôn xiết. Năm đó, Ngài vừa đúng 14 tuổi.
Năm Kỷ Mão, Tự Ðức
thứ 30 (1879), Hòa thượng Diệu Giác gởi Ngài sang Hòa thượng Linh Cơ ở am
Tường Vân để tiếp tục tham học và phụ công việc trùng tu. Ðây là thời điểm
Hòa thượng Linh Cơ đang sát nhập am Tường Vân với chùa Từ Quang. Quang
cảnh chung quanh hãy còn u tịch nên Ngài có điều kiện chuyên hành công phu
nghiêm mặt và chiêm nghiệm những lời dạy của chư Hòa thượng đã khai mở,
nhờ vậy tri kiến của Ngài đã được bước tiến đáng kể.
Năm Nhâm Ngọ, Tự Ðức
35 (1882), Ngài được Hòa thượng Linh Cơ thế độ, ban pháp danh là Thanh
Thái, tự Phước Chữ và liền được cử giữ chức tri sự chùa Tường Vân vừa được
tân tạo. Tháng bảy cùng năm, nhân Ðại giới đàn chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi)
do Hòa thượng Giác Tánh khai mở và làm Ðường Ðầu, Ngài được phép Hòa
thượng Bổn sư cho vào thọ Cụ túc giới.
Sau khi được thực
thụ trở thành vị Tỳ kheo với niềm hỷ lạc, Ngài nhân cơ hội đã đến thăm
chùa Phước Lâm ở ngoại ô thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây được Hòa
thượng Toàn Nhâm – Vi Ý ân cần khai mở cho Ngài thêm nhiều kiến giải sâu
sắc. Sau đó Hòa thượng Vĩnh Gia (kế thế trụ trì) cũng giúp Ngài bằng cách
khơi thông các mạch nguồn Phật pháp.
Rời chùa Phước Lâm,
Ngài đến chùa Tam Thai ở núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn – Quảng Nam) được Hòa
thượng Bửu Tài ân cần giảng dạy. Nơi đây Ngài còn được nghe nhiều về Ông
Ích Khiêm, người bản xứ được tiến cử làm quan từ thời vua Thiệu Trị, rất
được nhiều người mến phục về bản tính bộc trực khẳng khái của ông. Từ một
người được xem là cao đẹp và cũng nhanh chóng trở thành kẻ nhiều tội lỗi
qua sự kiện “Tam Ban Triều điển” ngày 29.11.1883, Ngài càng thấm thía hơn
những lời dạy của bậc trưởng thượng nơi các chốn già lam.
Năm Giáp Thân (1884)
Ngài mang tâm trạng ấy trở về Huế, đúng vào ngày vua Hàm Nghi làm lễ đăng
quang (01-8-1884) sau 55 ngày ký “hòa ước” (06-6-1884). Từ nay Nam triều
đã thật sự bước vào đêm dài nô lệ, lễ đăng quang ấy không được Khâm sứ
Pháp Rheinart thừa nhận, vì chưa được Nhà nước bảo hộ thông qua. Ngài càng
thấy rõ cảnh đời huyễn mộng đổi thay tủi nhục, tự nhủ phải xa lánh để tìm
về sự tĩnh lặng của chơn thức bằng con đường thủ hạnh. Một buổi sáng, Ngài
viết vội mấy câu thơ lên tường chùa Tường Vân rằng :
Phù sanh huyễn cảnh nhược vi an
Mạt pháp tu trì chuyển thậm nan
Phi thị, thị phi hà nhật liễu
Xả thân cầu Ðạo thượng tâm đoan
Rồi Ngài nhắm thẳng
hướng Tiêu Sơn lẳng lặng ra đi.
Năm Kỷ Sửu, Thành
Thái nguyên niên (1889), Hòa thượng Linh Cơ lui về nhập thất tu niệm, gọi
Ngài về để hiệp trợ các công việc Phật sự, nhất là công việc trùng tu chùa
Tường Vân. Trong đợt trùng tu này, Ngài cho xây thêm “Lạc Nghi Ðường” nối
liền chánh điện và hậu điện. Bảng “Sắc Tứ Tường Vân” cũng được lập trong
đợt này.
Năm Giáp Ngọ, Thành
Thái thứ 6 (1894), Hòa thượng Linh Cơ phú pháp cho Ngài qua bài kệ đắc
pháp như sau :
Ðịnh tâm Phước Chữ tịnh an nhiên
Xử thế tùy cơ liễu mục tiền
Ðạo niệm tinh tu tình niệm đoạn
Như kim phó chúc vĩnh lưu truyền
Cùng năm đó, Ngài
được cử làm tri sự chùa Từ Hiếu.
Năm Tân Hợi, Duy Tân
thứ 5 (1912), Ngài được vua ban sắc trụ trì chùa Thánh Duyên (núi Túy
Vân).
Năm Nhâm Thân, Bảo
Ðại thứ 6 (1932), Ngài được sắc ban Tăng Cang chùa Thánh Duyên.
Năm Ðinh Sửu, Bảo
Ðại thứ 12 (1937), Ngài được phong Tăng Cang chùa Diệu Ðế.
Năm Kỷ Mão, Bảo Ðại
thứ 15 (1940), ngày 17 tháng Chạp, Ngài an nhiên thị tịch, thọ 82 tuổi và
sống 58 năm trong đời tu hành. Nhục thân Ngài được các đệ tử nhập tháp
trong khuôn viên chùa Từ Hiếu.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH BỔN VIÊN
1873 – 1942
Hòa thượng Thích Bổn
Viên, pháp tự Chơn Thành, thế danh Nguyễn Văn Hượt, sinh năm Quý Dậu
(1873) tại làng Bàng Long, tổng Thuận Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho
(nay là Tiền Giang).
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình trung lưu có truyền thống nhân từ phúc hậu, là người
con trai út sau hai người chị và hai người anh, nên được cha mẹ chăm nom
và thương yêu hết mực. Việc học hành cũng được quan tâm hàng đầu – nên với
tư chất thông minh – Ngài đã sớm biết chữ nho lẫn chữ quốc ngữ. Tuy là con
út được nuông chìu, nhưng Ngài rất hiếu thảo, luôn vâng lời cha mẹ.
Thời cuộc xã hội từ
lúc Ngài sinh ra cho đến khi trưởng thành luôn xao động bất ổn, nhưng ít
có gia đình nào hưởng được sự bình an trọn vẹn như gia đình Ngài. Năm Quý
Tỵ (1893), khi bốn anh chị được cha mẹ lo cho an bề gia thất, kế đến chuẩn
bị tìm người mai mối để xây dựng gia đình cho Ngài; thì cuối năm ấy Ngài
âm thầm từ biệt gia đình, ra đi tìm đường học đạo. Năm ấy Ngài vừa tròn 20
tuổi.
Từ năm Giáp Ngọ
(1894) đến năm Ðinh Mùi (1907) Ngài đến Châu Ðốc, vào vùng núi Thất Sơn
tìm thầy học đạo, quyết tâm thực hiện chí nguyện xuất gia học Phật của
mình. Tuy không chọn pháp môn chuyên tu, nhưng hành trạng của Ngài trong
thời gian này như một mật hạnh chuyên cần, rất gần với mật tông, kết hợp
với các hiểu biết về thảo dược làm thuốc nam, trị bệnh cho bá tánh quanh
vùng rất đạt hiệu quả. Từ đó y thuật của Ngài càng ngày được nâng cao dần
với tiếng tốt vang xa. Cuộc sống tu hành của Ngài rất khép kín, ít biểu
lộ, nên vẫn chưa rõ Ngài học đạo thọ giới với ai; chỉ thấy Ngài thường hái
rau trái và cây thuốc đem ra chợ Nhà Bàn để đổi lấy gạo đem vào hang núi
ăn; lo tu thiền, trì chú, nuôi giữ đời phạm hạnh.
Năm Mậu Thân (1908)
từ ngọn núi Tà Lơn, Ngài quyết định trở về thăm mẹ sau 15 năm cách biệt.
Thời gian cũng đủ để các sự kiện nguôi ngoai và Ngài đã vững bước trên lộ
trình tu Phật, không còn trở lực nào cản ngăn. Ngày 12 tháng 7, Ngài đã về
đến nhà đúng lúc mẹ Ngài đang lâm bệnh nặng. Ngài dùng hết tài y thuật của
mình, tự tay chữa bệnh và hốt thuốc cứu chữa, một mặt lập đàn tràng khấn
nguyện, xin được giảm thọ mười năm để mẹ sống thêm với đời mười năm nữa.
Với trí tuệ của
người con Phật và với bản chất vốn rất hiếu từ, Ngài cố gắng bằng mọi
phương tiện để được gần gũi chăm sóc cũng như hướng dẫn nẽo tu cho mẹ (do
thân sinh đã mất lúc Ngài vừa 14 tuổi). Cuối năm ấy các chức sắc trong
làng tìm đến thỉnh Ngài đứng ra nhận lấy ngôi chùa Bửu Long vốn bị hoang
phế lâu nay. Nhận thấy cơ duyên sớm đưa đến rất vẹn vẻ đôi đàng, Ngài hoan
hỷ nhận lời và thu xếp cho mẹ cùng về chùa để tiện việc chăm nom, hướng
dẫn tu học. Nhờ công đức tu tập, tiếng thơm hiếu đễ và đặc biệt là tài bốc
thuốc chữa bệnh của Ngài, không lâu sau chùa Bửu Long nhanh chóng biến
thành chốn già lam hưng thạnh, được nhiều Phật tử đến tu học và lễ bái
thường xuyên.
Năm Canh Tuất (1910)
nhận thấy trọng trách mai sau đã dần đưa đến và để có thể tiếp Tăng độ
chúng đúng giới luật, Ngài đến chùa Phước Linh ở Thạnh Phú, Xoài Hột xin
cầu pháp với Hòa thượng Thục Thiện, thuộc dòng Thiền Lâm Tế Trí Thắng (),
được đặt pháp danh là Bổn Viên, pháp tự là Chơn Thành.
Năm Nhâm Tý (1912)
trong các khóa Hạ và các trường Kỳ thời gian này, Ngài thường được cung
tiến ngôi vị Yết Ma A Xà Lê.
Năm Nhâm Thân (1932)
Ngài được cung thỉnh làm Hòa thượng Ðàn đầu tại trường Kỳ giới đàn chùa
Minh Ðức, Phú Túc – Bến Tre. Từ đây, Ngài hội lực cùng quý Hòa thượng
Khánh Hòa (chùa Tuyên Linh – Bến Tre), Hòa thượng Thiện Chiếu (Gò Công),
Hòa thượng Thiên Trường (chùa Bửu Lâm), Hòa thượng An Lạc (chùa Vĩnh
Tràng)... xúc tiến khởi phát phong trào chấn hưng Phật giáo. Khi Hội Nam
kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập tại chùa Linh Sơn (Sài Gòn) Ngài
tham gia với tư cách là sáng lập viên, cộng tác với báo Từ Bi Âm, tạp chí
của Hội.
Năm Ðinh Sửu (1937)
Ngài cùng với các Hòa thượng trong phong trào chấn hưng, đồng sáng lập Hội
Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh cùng với tạp chí Duy Tâm.
Năm Canh Thìn
(1940), Ngài tổ chức trường Hương tại chùa Bửu Long với quy mô lớn nằm
trong chủ trương của phong trào chấn hưng Phật giáo, với sự tham dự của
hầu hết danh Tăng lãnh đạo trong vùng. Tuy nhiên, khi gần đến ngày khai
mạc thì chánh quyền thực dân tìm cách cản trở, không cho tổ chức vì phong
trào cách mạng đang sôi sục khắp nơi.
Ngày 23 tháng 11
cùng năm, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, chùa Bửu Long và Ðình Bàng Long
trở thành một trong nhiều nơi che giấu cán bộ. Ngài cho xuất bồ lúa của
chùa (khoảng 60 giạ) đóng góp cho lực lượng cách mạng. Ngày 2 tháng 12,
thực dân Pháp ruồng bố tại Vĩnh Kim, thả bom vào chợ làm chết hơn 40 người
và bao vây chùa Bửu Long lẫn đình Bàng Long bắt Ngài đem đi.
Năm Nhâm Ngọ (1942)
sau khi được thực dân Pháp thả ra, sức khỏe Ngài suy kiệt do những ngày
tháng tù đày và bị tra tấn, cộng vào sức yếu tuổi già, nên lúc 10 giờ ngày
24 tháng Giêng năm ấy, Ngài đã viên tịch tại chùa Bửu Long, hưởng thọ 69
năm, với 32 năm hành đạo.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH ÐẠI TRÍ
(1897 – 1944)
Hòa thượng Thích Ðại
Trí, pháp hiệu Nhơn Duệ, pháp húy Trừng Thông, pháp tự Công Thắng, thế
danh là Huỳnh Huệ, sanh ngày 17 tháng 10 năm Ðinh Dậu (1897) tại làng Phú
Hòa, tổng Hiệp Trung, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Thân phụ và thân
mẫu của Ngài đều là người đức hạnh, chuyên trì trai giới, tu niệm tại gia.
Sinh trưởng trong
một gia đình thâm tín Tam Bảo, Ngài có 4 anh chị, thân sinh và hai người
anh cả sớm khuất núi, còn lại thân mẫu và mấy anh chị em đùm bọc thương
yêu hòa thuận lẫn nhau.
Thiếu thời, Ngài
được thân mẫu đưa đến quy y với Tổ Phổ Xứ tại thảo am Ðồng Nẫy, thôn Tân
Hưng, huyện Ninh Hòa và được Tổ đặt tên là Huỳnh Huệ. Sau Tổ Phổ Xứ về trụ
trì chùa Kim Long và viên tịch tại đây, kế thừa Tổ Phổ Xứ là Tổ Phước
Tường (1867-1932).
Lúc này, Ngài vừa
lên 6 tuổi, đã sớm phải chịu cảnh xa cách người thân, sư phụ. Dù gặp phải
trở duyên, thân mẫu Ngài vẫn giữ nguyên ý nguyện là cho hai người con trai
xuất gia theo thầy học đạo.
Năm lên 16 tuổi
(1903), Ngài cùng với người anh xuất gia với Tổ Phước Tường – Quảng Ðạt.
Nhờ tuệ căn minh mẫn, đức tính khiêm cung, chỉ hai năm phụng Phật sự Sư,
Ngài đã sớm tỏ rõ thượng căn thượng trí. Thấy vậy, Tổ khuyến khích Ngài
vào Ninh Thuận tham học với Tổ Huệ Ðạo chùa Trà Bang và chùa Sắc Tứ Tây
Thiên. Cũng trong thời gian này, Tổ Phước Tường về làm Hóa chủ Tổ đình
Thiên Bửu, làng Ðiềm Tịnh, huyện Ninh Hòa.
Trong thời gian tu
học ở Phan Rang, Ngài chuyên cần nỗ lực tấn tu, nên được Tổ Huệ Ðạo phú
cho pháp hiệu là Ðại Trí. Khi sở học và giới đức đã tạm vừa đủ, Ngài xin
phép Tổ được vân du tham cứu giáo điển các nơi để tích lũy thêm kiến thức
và kinh nghiệm cho việc giáo hóa độ sanh sau này. Tổ rất hoan hỷ thuận
tình. Trên bước đường du hóa ở Ðà Lạt, Sài Gòn, Ngài luôn luôn thể hiện
tấm lòng vô ngã vị tha, tùy duyên bất biến, khiến cho mọi người con Phật
ai cũng cảm mến kính phục.
Trong lúc ấy, Ngài
nhận được tin bào huynh của Ngài là Hòa thượng Nhơn Nguyện viên tịch ở
chùa Linh Quang, trên sườn núi Ðại An thuộc xã Diên Ðiền, huyện Diên
Khánh. Khi về hộ tang bào huynh Ngài có dịp báo đáp công ơn sanh dưỡng của
thân mẫu, vì người chị đã xuất giá theo chồng đồng thời được gần gũi,
phụng sự Bổn sư (Tổ Phước Tường), thời gian này kéo dài đến 10 năm.
Năm Nhâm Thân 1932,
Tổ Phước Tường xã mãn báo thân, Ngài cư tang trai tuần báo hiếu, cùng lúc
ấy người chị ruột trở thành quả phụ, nên Ngài nhờ người chị cung dưỡng mẹ
già. Ngài tiếp nối chí nguyện rộng bước vân du hoằng dương đạo pháp, lúc ở
Ðà Lạt, lúc vào Sài Gòn (ngụ tại chùa Pháp Vân, tục danh chùa Bà Ðầm ở Phú
Nhuận).
Năm Giáp Tuất 1934,
Ngài trở về lo tròn hiếu sự với Bổn sư tại Tổ đình Thiên Bửu. Một năm sau
đó, chư Tăng Phật tử địa phương đã cung thỉnh Ngài khai Hạ an cư và mở Ðại
giới đàn tại đây năm 1935.
Ngài lần lượt trụ
trì chùa Thiền Sơn (thôn Trường Lộc), chùa Linh Quang (thôn Phước Sơn) và
chùa Kim Long để hướng dẫn Tăng tín đồ Phật tử Ninh Hòa tu học.
Khoảng năm
1936-1937, thân mẫu Ngài quá cố, Ngài trở về quê lo hiếu sự. Năm 1938
trước tấm lòng tha thiết thỉnh cầu của hàng đệ tử, Ngài đã thuận tình vào
làng Phú Lộc, xã Diên Thủy, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa để chứng minh công
cuộc xây cất chùa Thiên Quang.
Năm Canh Thìn 1940,
để phần nào đáp đền hồng ân Thầy Tổ và trang nghiêm chùa cảnh làm nơi
nương tựa tu học cho các Tăng tín đồ huyện Ninh Hòa, Ngài đã trùng tu lại
chùa Kim Long.
Năm Tân Tỵ 1941, tín
đồ Phật tử ở Vạn Giã, huyện Vạn Ninh lại khẩn cầu cung thỉnh Ngài chứng
minh khai sơn chùa Di Ðà ở thôn Mỹ Long.
Công việc hoằng pháp
lợi sanh đã tạm đủ, Ngài trở về chùa Thiên Quang phát nguyện tịnh tu nhập
thất 3 năm từ 12 giờ khuya ngày 18 tháng 7 năm Nhâm Ngọ, Tăng ni tín đồ
nam nữ hay tin Ngài nhập thất 3 năm, hầu hết phát tâm hoan hỷ và tinh tấn
tu niệm, đồng thời từng đoàn về chùa Thiên Quang để đảnh lễ Ngài từ bên
ngoài Thiền thất để trượng thừa công đức.
Lúc 12 giờ khuya
ngày 18 tháng 7 năm Giáp Thân (1944) trong khi các hàng Phật tử xuất gia
cũng như tại gia đang làm lễ cầu an trong chánh điện, chờ giờ Thầy mãn
nguyện xả thất, thì bỗng nhiên từ thất của Ngài, một ngọn lửa sáng bừng
lên cả một vùng, khiến mọi người ai nấy đều kinh hãi và âu lo, nhưng rồi
tất cả bùi ngùi cúi đầu đảnh lễ vì biết Ngài đã phát nguyện thiêu thân
cúng dường chư Phật, Ngài trụ thế 47 tuổi đời, gần 30 năm tuổi đạo.
Cả cuộc đời của Ngài
đã gắn liền với việc tu trì Phật pháp từ thiếu thời cho đến lúc hóa thân,
để hồi hướng công đức viên thành Phật quả. Ánh đuốc ấy vẫn lan tỏa mãi
ngàn sau, trong lòng mọi người con Phật.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH HOẰNG KHAI
1883 – 1945
Hòa thượng Thích
Hoằng Khai, pháp danh Hồng Khê, húy Kiểu Ðạo, tự Thiện Minh, hiệu Hoằng
Khai, thế danh Phạm Văn Tiểng, sinh năm Quý Mùi (1883), tại làng Minh Lễ,
tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là ông Phạm Văn Hữu, thân mẫu là bà Hồ Thị Thị.
Cha mẹ mất sớm khiến Ngài mồ côi từ nhỏ, sống nương nhờ nơi người chú.
Năm 14 tuổi (1897),
Ngài vào Nam tạm trú ở vùng Gia Ðịnh, vốn giỏi võ, nên Ngài mở trường dạy
võ làm kế sinh nhai. Do bản tính hào hiệp, Ngài thường hay cứu giúp những
người thế cô, sức yếu, khiến bọn anh chị Sài Gòn – Chợ Lớn đều kính phục
tôn xưng Ngài là đại ca và không dám bức hiếp những lương dân trong khu
vực ấy nữa. Ngài sớm ý thức được rằng những bất công xã hội không thể cải
tạo được bằng vũ lực, cũng như tâm địa xấu xa, độc ác của con người không
thể giáo hóa bằng đôi tay. Ngài từ bỏ con đường võ nghiệp và dần chuyển
sang cảm hóa bằng lý lẽ và tình cảm, một thể hiện của đạo đức. Ngài tin
tưởng rằng, chỉ có đạo đức mới có thể cảm hóa được lòng người và thực sự
mang lại công bằng và yêu thương cho xã hội.
Năm 20 tuổi (1902),
Ngài đến chùa Bảo An ở Bà Chiểu, xin thế phá xuất gia, được Bổn sư Thiện
An đặt pháp danh Hồng Khê (dòng Lâm Tế đời thứ 40). Hòa thượng trụ trì
biết lai lịch của Ngài nên lúc đầu có ngần ngại. Về sau, khi đã nhiều phen
thử thách, biết được thật tâm cầu đạo của Ngài, Hòa thượng đã hoan hỷ thu
nhận làm đệ tử và đặt pháp tự cho Ngài là Thiện Minh. Về sau, Ngài cầu
pháp với Tổ Thiên Thai – Huệ Ðăng, được Tổ đặt húy là Kiểu Ðạo – pháp hiệu
Hoằng Khai.
Năm Giáp Thìn 1904,
chùa Khánh Quới, Cai Lậy, Mỹ Tho khai trường Kỳ, Ngài được Bổn sư cho đăng
đàn thọ tam đàn Cụ túc giới. Vốn thông minh lại cần mẫn tu học, nên chẳng
bao lâu thiền môn Kinh luận Ngài đều làu thông, phạm tắc uy nghi thảy
tường tận. Lại thêm giới hạnh tinh nghiêm, đạo tâm dõng mãnh nên trên được
Hòa thượng mến yêu tin cậy, dưới được các vị đồng phạm hạnh ngợi khen.
Khi biết nhân duyên
hóa độ của Ngài đã đến, Hòa thượng Bảo An đã cho Ngài đăng đàn giáo chúng
tại các trường Hương ở Gia định, Mỹ Tho, Bến Tre. Từ đó tiếng tăm đạo hạnh
của Ngài càng lúc càng lan rộng. Nữ tín chủ Tư Diêm, chủ chùa Hội Phước ở
xã Tân Thạch, tỉnh Bến Tre, nhân ngưỡng mộ đạo hạnh của Ngài, gặp lúc chùa
chưa có thầy hương khói, nên đã đảnh lễ Hòa thượng Bảo An thỉnh Ngài về
trụ trì. Hòa thượng hứa khả.
Ngài rời đất Gia
Ðịnh về trụ trì chùa Hội Phước ở Tân Thạch, Bến Tre và bắt đầu sự nghiệp
kế đạo khai lai của mình. Chùa Hội Phước lúc bấy giờ chỉ là một am tranh
vách đất, xây cất sơ sài để thờ Phật, lau sậy mọc rậm rạp. Khi về, Ngài đã
cùng bổn đạo địa phương trùng tu, dần dần ngôi Bảo tự ngày càng to lớn,
khang trang.
Có một giai thoại mà
cho đến nay những Phật tử lão thành của chùa vẫn còn truyền tụng : trong
lúc thi công kiến thiết chùa, một người thợ tên Ba Lung đang ngồi lợp trên
nóc, bỗng cây đòn tay bị gãy và làm ông này rơi xuống, mọi người hoảng
hốt, Ngài phóng tới như một mũi tên nhanh nhạy chính xác đỡ ông thợ đứng
xuống nhẹ nhàng trên mặt đất. Từ đó mọi người mới biết được Ngài võ nghệ
siêu quần.
Ðã kính trọng đức độ
tu hành, lại thêm ngưỡng mộ võ công tuyệt học nên những thành phần bất hảo
ở địa phương dần dần đều quy y với Ngài và trở thành Phật tử đắc lực của
chùa. Nhưng cũng với tiếng tăm này mà Ngài gặp phải không ít khó khăn với
nhà chức trách đương thời. Lúc ấy, ở An Hóa có một ông quận trưởng mà dân
địa phương quen gọi là huyện Trụ, nghe tiếng Ngài là tay anh chị ở đất Gia
Ðịnh đi tu, thầm nghi Ngài mượn hình thức tôn giáo để hoạt động chính trị,
nên cho mời Ngài xuống huyện đường thẩm tra.
Khi gặp Ngài, huyện
Trụ biết Ngài là tay bản lãnh thật sự nên ngõ ý muốn kết nghĩa anh em.
Nhưng huyện Trụ còn muốn thử xem Ngài có thật tâm quyết chí tu hành hay
không, nên ông ta yêu cầu Ngài cho xem những hình xăm trên mình. Ngài bằng
lòng và vén tay áo lên cho quan huyện coi. Xem xong, huyện Trụ lại tỏ ý
muốn xin Ngài một vài hình xăm. Ngài cũng bằng lòng và bình tĩnh lấy dao
lạng những hình xăm trên tay đưa cho huyện Trụ. Trước hành động trầm tĩnh
gan dạ của Ngài, huyện Trụ vô cùng kính phục. Biết được thật tâm tu hành
của Ngài nên từ đó về sau ông ta để yên cho Ngài hoằng hóa độ sanh.
Phật học uyên thâm,
đức hạnh kiêm ưu, lại thêm võ nghệ cao cường, tiếng tăm của Ngài mỗi lúc
một lan xa. Tứ chúng bốn phương, Tăng tục mọi miền đều quy ngưỡng, thọ học
rất đông. Chính nơi Tổ đình Hội Phước, biết bao lần Ngài khai trường Hương
giảng dạy cho Tăng Ni, Phật tử; mở trường Kỳ tiếp dẫn hậu lai, chọn người
làm Phật. Biết bao bậc cao Tăng làm lương đống trong Phật pháp đã được đào
tạo nơi đây, trong số đó có vị hóa duyên đã mãn, có vị vẫn còn trụ thế độ
sinh, có vị tuổi thọ vượt ngoài bách tuế như Hòa thượng Từ Quang ở Bà
Chiểu, Hòa thượng Hội Long ở Long An. Ngoài ra, còn có những danh Tăng
thạc đức khác mà Tăng, Ni hai tỉnh Tiền Giang, Bến Tre đều kính ngưỡng như
Hòa thượng Phú Thuận ở Bến Tre (đã viên tịch), Hòa thượng Phật Quang (Bến
Tre), Hòa thượng Thiện An (Tầm Vu), Hòa thượng Thiện Bình ở Cai Lậy (đã
viên tịch).
Tại đạo tràng Hội
Phước, Ni chúng được Ngài hóa độ và đào tạo rất đông. Ðã có biết bao danh
Ni mà đạo đức xứng đáng làm thiền môn quy cảnh cho Ni chúng truyền đời;
như Sư bà Như Hương ở Từ Nghiêm, Sư bà Sắc Tứ ở Soài Hột, Sư bà Phổ Ðức ở
Tân Hương, Sư bà Vạn Phước ở Kim Sơn...
Có thể nói Tổ đình
Hội Phước trong thời kỳ giáo hóa của Ngài là một đạo tràng tu học của
Tăng, Ni rất sùng thịnh. Riêng Ngài còn là Pháp sư giảng dạy kinh Pháp
Hoa, luật Trường hàng và bộ Qui Nguơn Trực Chỉ.
Năm Bính Dần 1926,
Ngài khai trường Hương tại chùa Hội Phước, thỉnh Hòa thượng Từ Văn, chùa
Hội Khánh, Thủ Dầu Một làm pháp sư giảng kinh Pháp Hoa. Sau Hòa thượng Từ
Văn cử Hòa thượng Thiện Tòng, chùa Khánh Quới, Mỹ Tho thay thế.
Năm Bính Tý 1938,
Ngài mở trường Hương, khai trường Kỳ tại chùa Hội Phước. Chính Hòa thượng
Hội Long (Long An) thọ Cụ túc giới trong đàn giới này.
Năm Kỷ Mão 1939, ông
cả Huy, bác của Sư bà Thiên Phước, Tân Hương thỉnh Ngài về trụ trì chùa
Thiên Phước.
Năm Canh Thìn 1940,
Ngài khai trường Hương, mở trường Kỳ tại chùa Thiên Phước. Ngài làm chủ
hương, Hòa thượng Phước Tường làm thiền chủ, Hòa thượng Khánh anh làm Pháp
sư bên Tăng, Sư bà Diệu Kim, Cần Thơ làm Pháp sư bên Ni. Khi mãn đàn giới,
Hòa thượng Khánh Anh có tặng cho Ngài một tấm biển: “Hương Phong Giới
Nguyệt”, này vẫn còn treo nơi Tổ đình Hội Phước.
Năm Tân Tỵ 1941, do
sức khỏe kém, Ngài rời chùa Thiên Phước, trở về Tổ đình Hội Phước để
chuyên tu và dưỡng bệnh.
Năm Ất Dậu 1945,
Ngài lâm bệnh nặng và vùng Tân Thạch lúc bấy giờ lại loạn lạc không yên,
nên hào phú Lâm Tấn Tài ở Vang Quới, Bình Ðại, Bến Tre thỉnh Ngài về đây
tịnh dưỡng. Ngài đề nghị cất cho Ngài một tịnh thất. Thất đang xây dựng
Ngài nói với thị giả: “Thất làm xong chưa ? Ta sắp bỏ nó ta đi”. Khi thất
làm xong, Ngài vào nhập thất được vài hôm thì viên tịch. Lúc ấy nhằm ngày
11 tháng 11 năm Ất Dậu. Ngài hưởng thọ 63 tuổi, hành đạo 41 mùa Hạ.
GIẢNG SƯ
THÍCH TRÍ THUYÊN
1923 – 1947
Khi kháng chiến
giành độc lập bùng nổ, Tùng Lâm Kim Sơn đã vào tình trạng điêu tàn hẳn.
Tăng sĩ thì hoặc vào Nam, hoặc tham gia kháng chiến chống Pháp ở khắp các
tỉnh, hoặc về Huế để lo củng cố Giáo hội Tăng già và củng cố Phật học
đường Báo Quốc. Nhưng lại có một vị Giảng sư trẻ tuổi ở lại Tùng Lâm Kim
Sơn, chịu mọi gian lao, đói khát cực khổ vì chiến nạn với dân quanh vùng
An Ninh, Lựu Bảo...
Giảng sư đó là Thầy
Thích Trí Thuyên, thế danh là Trần Trọng Thuyên, sinh năm Quí Hợi 1923 tại
xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ở chùa từ thuở bé thơ, Ngài là
vị “đồng chơn nhập đạo” xuất gia với Ðệ Lục Tổ Thiên Ấn Hòa thượng Chơn
Trung – Diệu Quang tại chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi.
Với tư chất thông
minh khác người, Ngài được Bổn sư gởi đến học lớp gia giáo Phật học tại
chùa Long Sơn, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Sau một thời gian, Ngài lại đến
núi Thình Thình huyện Bình Sơn thọ học ở chùa Viên Giác – Thanh Thanh Sơn.
Năm Giáp Tuất 1934,
phong trào chấn hưng Phật giáo đang được phát động rầm rộ tại Trung kỳ. Ðể
đào tạo Tăng tài làm trụ cột cho Giáo hội, chư Hòa thượng Giác Tiên và
Ngài Mật Khế đứng ra thành lập trường An Nam Phật Học tại chùa Trúc Lâm –
Huế, cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ làm chủ giảng. Lớp này chỉ thu nhận
50 học Tăng, Ngài dự thi tuyển và có mặt trong khóa học này cùng các vị
Thiện Minh, Trí Quang..., Ngài là một trong 6 vị Tăng sinh ưu tú đỗ cả kỳ
thi viết và vấn đáp.
Năm Quý Mùi 1943,
sau 9 năm chuyên cần học tập ở Phật học đường, Ngài tốt nghiệp khóa Ðại
học Phật giáo đầu tiên của phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài ở lại Huế
tiếp tục nghiên cứu giáo điển và thực tập diễn giảng thuyết pháp.
Năm Giáp Thân 1944,
khi Ngài 21 tuổi, được tấn đàn thọ Cụ túc giới tại Ðại giới đàn chùa
Thuyền Tôn - Huế do Hòa thượng Giác Nhiên làm Ðàn đầu truyền giới. Sau khi
lãnh thọ giới pháp, Ngài được chư Hòa thượng trong Giáo hội Tăng Già Thừa
Thiên - Huế phân bổ cùng chúng Tăng đến Tùng Lâm Kim Sơn hoằng hóa, tại
đây Ngài đã trở thành vị Giảng sư trẻ tuổi được đông đảo tín đồ tín nhiệm.
Năm Ất Dậu 1945, sau
cuộc cách mạng giành độc lập vào tháng Tám, người Pháp trở lại tái chiếm
Việt Nam, và khủng bố ruồng bắt những ai đã ủng hộ phong trào độc lập
không chịu làm tay sai cho chính phủ bảo hộ. Những bài giảng pháp của Ngài
luôn mang tính đoàn kết dân tộc, ca ngợi độc lập tự chủ, chống áp bức bóc
lột theo tinh thần Bi Trí Dũng của Phật giáo. Với lập luận vững chắc, tư
thái đường hoàng, Ngài hướng dẫn tín đồ vào một tương lai tươi sáng của
Ðạo pháp – dân tộc.
Tinh thần yêu nước,
thương đồng bào của Ngài thể hiện rõ nét qua hành động tham gia dạy học
chống nạn mù chữ cho nhân dân; tổ chức phong trào từ thiện quyên góp cứu
trợ nạn đói kém đang hoành hành đồng bào cả nước bởi cuộc chiến gây ra.
Tại Kim Sơn, Ngài đã nhịn bớt phần ăn của mình để lấy gạo nấu cơm phát cho
dân nghèo đói, việc đó khiến cho mật thám Pháp theo dõi, cô lập Tùng Lâm
Kim Sơn.
Năm Bính Tuất 1946,
tất cả Tăng chúng Tùng Lâm Kim Sơn di tản, Ngài tình nguyện ở lại giữ
chùa, trường học và kinh sách, cộng với việc không ít Tăng sĩ ở đây tạm
xếp áo cà sa thoát ly tham gia kháng chiến khiến cho hồ sơ Tùng Lâm Kim
Sơn và bản thân Ngài mỗi lúc thêm nặng nề dưới mắt người Pháp và chính phủ
bảo hộ.
Còn lại một mình nơi
Tùng Lâm Kim Sơn với những “đêm dài u tối” như vậy, Ngài chẳng hề nao
núng, vẫn giữ đúng thanh quy chốn Già lam thường ngày, thể hiện tinh thần
một Phú Lâu Na giữa chốn nghịch duyên là nhiệm vụ của người tu hành trước
chân lý đã tôn thờ.
Vào chiều chủ nhật
ngày mồng 3 tháng 3 năm Ðinh Hợi (23-2-1947), thực dân Pháp đóng đồn ở Văn
Thánh đã tràn qua mở trận càn quét vùng Lựu Bảo – Kim Sơn. Bọn giặc lên
chùa, Giảng sư Trí Thuyên bị chúng bắt. Ngài đã dùng tiếng Pháp nói với
bọn chúng để cho Ngài cầu một thời kinh rồi hãy bắn. Ngài ngồi kiết già uy
nghi tụng kinh trước họng súng của giặc. Thời kinh vừa xong, Ngài đã ngã
gục trước những phát đạn bạo tàn. Một đồng bào người Thiên Chúa giáo ở An
Vân, vô tình chứng kiến được cái chết của Giảng sư Trí Thuyên, đã kể lại
sự việc với lời bình phẩm: “Tôi chưa bao giờ thấy được cái cảnh tử đạo nào
cao cả bi tráng như vậy”.
Năm đó, Ngài vừa
đúng 24 tuổi đời, 3 tuổi đạo. Dân trong vùng đã an táng Ngài trong khuôn
viên Tùng Lâm Kim Sơn xưa. Ngày nay Giáo hội đã xây lại tháp của Ngài ở
trước vườn chùa, bên tay phải chánh điện, bia tháp nhìn về hướng Ðông, bên
trên khắc chữ “Tăng Già Giáo Hội” ở dòng giữa có sáu chữ lớn “Trí Thuyên
Giảng Sư chi tháp”.
Tháp của Giảng sư
Trí Thuyên là một nơi chôn giữ dấu tích để phát ra ánh sáng lý tưởng của
con người chân quân tử phương Ðông : “Uy vũ bất năng khuất” và hơn thế
biểu hiện cho phong cách “Sống như Chánh Pháp, chết như Chánh Pháp, nói
năng như Chánh Pháp và yên lặng như Chánh Pháp” của đức Từ phụ đã thuyết
dạy từ ngàn xưa.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH BỬU ÐĂNG
(1904 – 1948)
Hòa thượng Thích Bửu
Ðăng, pháp danh Hồng Lang, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài thế
danh là Trần Ngọc Lang, sinh năm Giáp Thìn 1904 tại xã Bình Mỹ, quận Gò
Vấp, tỉnh Gia Ðịnh (nay là huyện Củ Chi Tp.Hồ Chí Minh). Thân sinh của
Ngài là cụ ông Trần Văn Thểnh và cụ bà Phạm Thị Hoài, gia đình thuộc thành
phần nông dân, có truyền thống Phật giáo nhiều đời, vì thế nên Ngài được
song thân cho ở chùa từ thuở ấu thời.
Nhờ túc duyên nên
chuông sớm mõ chiều nơi cửa thiền thấm nhuần. Ngài lớn lên dưới sự dạy dỗ
của Bổn sư là Hòa thượng Chánh Hòa, ở chùa Vạn Ðức, quận Gò Vấp, nên đã
sớm làu thông chữ nho và kinh kệ Phật gia. Khi tuổi thiếu niên, Ngài đã
được Bổn sư cho thế độ xuất gia, đặt pháp danh là Hồng Lang.
Năm Giáp Tý 1924,
chùa Giác Viên – Chợ Lớn khai Chúc thọ giới đàn, Ngài được Bổn sư cho đăng
đàn thọ Cụ túc giới, ban pháp hiệu là Bửu Ðăng, nối pháp dòng Lâm Tế Gia
Phổ đời thứ 40.
Sau khi thọ đại
giới, Ngài ở lại chùa Giác Viên tu học một thời gian. Trở về lại chùa Vạn
Ðức, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cử chức thủ tọa thay thế Hòa thượng quản
lý mọi công việc chùa, Ngài giữ trọng trách này ở chùa đây trong 8 năm.
Năm Nhâm Thân 1932,
quan Tri phủ Lương Sơ Khai phát tâm muốn cất một ngôi chùa tại làng Bình
Hòa tỉnh Gia Ðịnh, cung thỉnh Ngài đứng ra xây dựng và trụ trì ngôi Bảo tự
này. Xây dựng xong, Ngài đặt tên chùa là Hải Hội. Ngài ở nơi đây hành đạo
trong 9 năm, được chư Sơn trong vùng phong làm Giáo thọ, bởi uy tín qua
các trường Hương mà Ngài kiết Hạ.
Năm Tân Tỵ 1941,
được sự khuyến trợ của quan Tri phủ Lương Sơ Khai, Ngài làm đơn xin dời
ngôi chùa Hải Hội từ làng Bình Hòa lên làng An Hội, tổng Bình Trị Thượng,
Gò Vấp cũng trên đất của quan Tri phủ. Ngôi chùa mới lấy hiệu là Linh Sơn
Hải Hội vừa rộng lớn và khang trang hơn ngôi chùa cũ, vừa có vườn tược đủ
để tự túc kinh tế cho việc tu hành.
Chính nơi đây, Ngài
bắt đầu tham gia phong trào kháng Pháp của các nghĩa sĩ yêu nước và tiếp
sau là tổ chức cách mạng Việt Minh. Ðể che mắt chính quyền thực dân, Ngài
tổ chức ra Hội Lân chùa Linh Sơn Hải Hội hằng ngày qui tụ thanh niên trai
tráng địa phương tham gia tập luyện võ nghệ để chống giặc dướt lốt đội
lân. Vì vậy, Ngài được mọi người quen gọi là “Thủ tọa Lân”.
Năm Ất Dậu 1945, sau
khi cách mạng tháng Tám thành công, giặc Pháp quay trở lại chiếm lấy 3 kỳ,
lập ra chính phủ bảo hộ. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày
19-8-1946, Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ ra đời do Hòa thượng Thích Minh
Nguyệt làm Hội trưởng, Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Gia Ðịnh được thành
lập, Ngài được chư tôn đức cử làm Hội trưởng, Hòa thượng Pháp Dõng làm Hội
phó, Hòa thượng Bửu Ý làm thư ký, Hòa thượng Thiện Hào làm ủy viên Kinh
Tài, trụ sở đặt tại chùa Tường Quang xã An Phú Ðông.
Năm Ðinh Hợi 1947,
giặc Pháp chuẩn bị càn quét vào chiến khu An Phú Ðông. Tổ chức ra lệnh cho
các vị cán bộ nòng cốt di tản để tránh bị giặc bắt. Riêng Ngài vẫn ở lại
bám trụ giữ vững cơ sở để làm đầu mối liên lạc và tiếp ứng cho chiến khu,
dưới vỏ bọc “Thủ tọa Lân” ở chùa Linh Sơn Hải Hội.
Năm Mậu Tý 1948,
ngày 29 tháng 8, trên đường từ trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc ở chùa Tường
Quang – An Phú Ðông trở về chùa Linh Sơn Hải Hội, do có sự chỉ điểm của
mật thám, Ngài bị giặc Pháp phục kích bắt giữ.
Ngày 02 tháng 9, sau
3 ngày bị tra khảo, Ngài vẫn nhất quyết không cung khai bất cứ tin tức gì.
Giặc Pháp đem Ngài ra địa điểm cầu Tham Lương – Hóc Môn xử bắn. Sau đó
chúng bắn phá xóm làng và đốt cháy chùa Giác Ân – Tân Bình ở gần đó.
Nhục thân Ngài được
nhân dân và gia đình vớt từ rạch cầu Tham Lương đem về xây Bảo tháp an
táng trong khuôn viên chùa Linh Sơn Hải Hội. Mặt trận Việt Minh và Hội
Phật giáo Cứu quốc tỉnh Gia Ðịnh đã làm lễ truy điệu Ngài trọng thể không
lâu sau đó.
Với những đóng góp
to lớn cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Ngài đã được Nhà nước
truy phong danh hiệu Liệt sĩ và huân chương Ðộc lập hạng nhì.
Ðối với Phật giáo,
cuộc đời Ngài có một hành trạng tiêu biểu cho sự gắn bó giữa đạo pháp với
dân tộc, hậu thế có một anh hùng Liệt sĩ Phật giáo, được mang tên một con
đường ở quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh lưu danh vào lịch sử.
Ngài hy sinh năm 44
tuổi đời và cũng có bấy nhiêu năm sống nơi cửa thiền môn, tròn 20 tuổi
đạo.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH PHƯỚC HẬU
(1862 – 1949)
Hòa thượng Thích
Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự Như Trung, thuộc dòng Lâm Tế đời
thứ 42. Ngài thế danh Lê Văn Gia, sinh năm Nhâm Tuất 1862 – nhằm Tự Ðức
thứ 15, tại xã An Tiêm, huyện Ðồng Quan, tỉnh Thái Bình.
Ngài ra đời đúng vào
năm quan Kinh lược Phó sứ Nam Kỳ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp thay mặt
triều đình Huế ký “hòa ước” với Pháp ngày 5 tháng 6, nhường 3 tỉnh miền
Ðông Nam kỳ gồm: Ðịnh Tường, Biên Hòa và Gia Ðịnh. Ðất nước bước vào giai
đoạn chịu ách đô hộ của ngoại bang mới.
Do đó, tuổi thơ Ngài
không được may mắn sống yên ấm dưới mái gia đình, từng ngơ ngác trên đôi
tay mẫu thân chạy lánh nạn cùng hàng vạn người dân khác đến Huế trong
những ngày bất ổn.
Như chân lý bao đời
không thay đổi, mái chùa vẫn là nơi che chở các số phận đau thương. Ngài ở
lại chùa Diệu Ðế - Huế, những người khác lần lượt được người thân đến đón
về, còn Ngài thì không. Bù vào đó, Ngài được Hòa thượng Tâm Truyền chùa
Diệu Ðế thương yêu chăm sóc tận tình.
Ngài đã được xuất
gia làm Ðiệu, ngay từ thuở còn thơ ấu dưới bàn tay đùm bọc thương yêu của
Bổn sư thế độ Hòa thượng Tâm Truyền ().
Càng lớn lên, Ngài
tỏ rõ một phong thái đĩnh đạc, không ỷ lại, mà lúc nào xét đoán mọi việc
trước hết đều tự lượng đạo lực của mình, cho nên khi đến tuổi thọ Cụ túc
giới, Ngài cứ lần lựa mãi.
Cho đến năm Giáp Ngọ
1894 (Thành Thái thứ 6), do Hòa thượng Bổn sư quyết giáo, Ngài mới vâng
lời đến thọ Cụ túc giới tại Ðại giới đàn chùa Báo Quốc được tổ chức vào
tháng 4 năm đó. Ðại giới đàn này được mở rộng thu nhận giới tử từ đèo
Ngang trở vào nên rất đông giới tử về thọ giới và thời gian diễn ra suốt
một tuần lễ. Giới đàn do Hòa thượng Tăng Cang Diệu Giác làm Ðường đầu Hòa
thượng. Hòa thượng Hải Thiệu làm Yết ma và Hòa thượng Linh Cơ làm Giáo thọ
().
Năm Ất Mùi 1895
(Thành Thái thứ 7), Hòa thượng Bổn sư Tâm Truyền được cử giữ chức trụ trì
chùa Diệu Ðế sau khi Tăng Cang Diệu Giác viên tịch, nhiệm vụ Ngài trở nên
nặng nề hơn. Vào năm sau 1896, Hòa thượng Tâm Truyền lại kiêm nhiệm trụ
trì chùa Báo Quốc. Thế nên ở Diệu Ðế mọi công việc lớn nhỏ Ngài phải thay
mặt giải quyết như một vị trụ trì thực thụ. Và từ đó, Bổn sư càng tin
tưởng phó thác cho Ngài nhiều trách nhiệm quan trọng khác, đáng kể nhất là
dạy dỗ bước sơ cơ cho các lớp xuất gia gồm có nghi lễ và Sa di luật.
Năm Mậu Tuất 1898
(Thành Thái thứ 10), Hòa thượng Bổn sư Ngài xin bộ Lễ triều đình trùng tu
chùa Diệu Ðế theo các báo cáo của Ngài về tình trạng xuống cấp trầm trọng
của chùa đã lâu. Công việc được tiến hành vào tháng 6, Ngài phải đứng ra
thay mặt Hòa thượng Bổn sư lo liệu trong suốt thời gian trùng tu đó.
Năm Kỷ Hợi 1899
(Thành Thái thứ 11), khi Hòa thượng Bổn sư được phong Tăng Cang chùa Diệu
Ðế, Ngài được đề nghị kế thế trụ trì, nhưng Ngài từ chối, chưa dám đảm
nhận trách nhiệm bằng danh xưng ấy, muốn được tiếp tục hỗ trợ âm thầm bên
cạnh Bổn sư.
Năm Mậu Thân 1908
(Duy Tân thứ 2), Ngài được Hòa thượng Bổn sư phú pháp qua bài kệ dưới đây
và ban pháp hiệu Phước Hậu, húy Trường Thịnh, tự Như Trung :
Thuần thành bổn tánh mỹ Như
Trung
Tảo tận trần tâm Ðạo lý chung
Ðức thạnh tự năng mông Phước Hậu
Chơn truyền y bát chấn tôn
phong.
Năm Bính Thìn 1916
(Khải Ðịnh thứ 1), Ngài được bộ Lễ triều đình sắc ban trụ trì chùa Trường
Xuân.
Năm Kỷ Mùi 1919
(Khải định thứ 4) vào tháng 7, Ngài được chư Sơn bảo cử trụ trì chùa Linh
Quang.
Năm Mậu Dần, Bảo Ðại
thứ 13 (1938), sau khi nghe bộ Lễ trình tấu quá trình xuất gia đến những
thành quả tu học của Ngài được tiếng tốt khắp nơi, vua Bảo Ðại sắc phong
chức Tăng Cang kiêm trụ trì chùa Báo Quốc.
Sự kiện này, dưới
triều Bảo Ðại là một việc được xếp vào diện “tế nhị”. Khi đã biết điều đó,
chư Sơn môn tỏ ra thờ ơ và bản thân Ngài cũng chẳng mấy thiết tha, nếu
không có tiếng nói của Ðoan Huy - Từ Thái Hậu (tức đức Từ Cung, mẹ Bảo
Ðại) thì cả vua tôi đều lâm vào tình trạng “không nên có”.
Có lẽ, đây là lần
phong chức Tăng Cang cuối cùng của triều Nguyễn và người đón nhận đó là
Ngài, như đại diện nét chấm phá của luật nhân quả qua một hành động tốt
đẹp. Nhờ vậy, trong số rất nhiều bài thơ Ngài sáng tác trong thời gian
này, có những bài như :
Tâm thanh thiên hữu nguyệt
Tánh tịnh hải vô ba
Viên minh tàng nhất điểm
Phóng xuất mãn sơn hà
Và với chúng Tăng,
Ngài để lại bài thơ nổi tiếng:
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không
dư
Ðến nay tính lại đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như
Năm Kỷ Sửu 1949,
ngày 30 tháng 2, Ngài an nhiên thị tịch để lại nhiều luyến tiếc của hậu
thế, khi nhìn được lăng kính thời cuộc đã lý giải những lời Ngài hằng dạy.
Ngài thọ 87 tuổi đời là cũng ngần ấy tuổi đạo trắng trong với 55 Hạ lạp.
Nhục thân được các đệ tử lập tháp tôn thờ bên hữu trong khuôn viên chùa
Linh Quang.
HÒA
THƯỢNG
THÍCH TỪ NHẪN
(1899 – 1950)
Hòa thượng Thích Từ
Nhẫn, pháp húy Như Ðắc pháp hiệu Từ Nhẫn, nối pháp đời thứ 39 thiền phái
Lâm Tế, dòng Ðạo Bổn Nguyên, Ngài thế danh Lê Ngọc Thập, sinh năm Kỷ Hợi –
1899 (năm Thành Thái thứ 11) tại làng Long Hậu Tây, tổng Phước Ðiền Hạ,
quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Thân phụ là cụ ông Lê
Ngọc Trạch, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hội.
Ngài sinh trưởng
trong một gia đình mà nội ngoại đều chuyên làm việc thiện, vun trồng cội
phúc. Ngày nay, trên đường quốc lộ 50 đi từ quận 8 xuống Gò Công, người ta
phải qua một cây cầu nổi tiếng từ lâu. Ðó là cầu Ông Thìn. Ông Thìn chính
là nội Cao tổ của Ngài, húy danh là Lê Công Thìn. Ðương thời dân chúng qua
lại sông Rạch Cát ở khu vực này phải dùng đò ngang. Gặp những lúc mưa gió,
hai bên bờ sông bùn lầy trơn trượt, để tránh cho bà con thoát khỏi cảnh
ấy, ông Thìn đã tự xuất tiền của thuê người, mua cây mua vật liệu, bắc một
chiếc cầu để cho mọi người qua lại mà không phải dùng đò ngang nữa. Từ đó,
cây cầu được mang tên Ông Thìn. Về sau cầu được người Pháp xây bằng xi
măng và ngày nay được Nhà nước xây lại kiên cố, nhưng cái tên cầu Ông Thìn
vẫn tồn tại mãi với quê hương.
Thân sinh Ngài làm
giáo viên trường Cần Giuộc, hết lòng đào tạo lớp hậu tiến, truyền dạy đạo
lý làm người, nhất là truyền thống yêu nước của nhân dân ta nói chung, Cần
Giuộc nói riêng. Học trò của ông nhiều người thành đạt, có nhân cách.
Ngoại Tổ Ngài là bà Huỳnh Thị Sách, là người rất đỗi nhân từ, thương kẻ
khó giúp người hiền, cúng chùa chiền, nuôi Tăng chúng, trong lân lý ai
cũng quý mến. Ðặc biệt bà có lập một bến đò qua sông Rạch Dơi ở làng Long
Hậu Tây, để người chèo đò cho dân làng qua lại mà không lấy tiền. Vì vậy,
trong làng xóm người ta nói với nhau : “Muốn qua sông thì đến bến đò bà
Tổng Sách”.
Nguyên từ lúc 4
tuổi, Ngài đã mồ côi mẹ, được bà ngoại đem về nuôi. Kế thừa hai dòng máu
đầy từ tâm ấy, Ngài đã sớm giác ngộ con đường giải thoát của Như Lai ngay
từ lúc còn nhỏ tuổi. Năm 14 tuổi, khi đến chùa Giác Hải lễ Phật, Ngài đã
được Hòa thượng Như Nhẫn – Từ Phong khuyến tấn khai thị pháp môn niệm
Phật.
Nhờ có tiền duyên
ấy, Ngài sớm nhận thấy đời người đắm chìm trong kiếp luân hồi sanh tử, nên
không lưu luyến cảnh nhà cao, đất rộng, của cải bạc vàng, vào ngày mùng 2
tháng 6 năm Ất Mão 1915, lúc được 16 tuổi, Ngài rũ bỏ tất cả, âm thầm ra
đi tìm thầy học đạo.
Ngài đi đến chùa
Linh Nguyên ở Ðức Hòa, cầu xin Hòa thượng Chơn Hương – Minh Phương thâu
nạp làm đệ tử. Hòa thượng thấy Ngài còn niên thiếu mà đã có lòng mộ đạo,
nên chấp nhận thế độ, đặt pháp hiệu là Từ Nhẫn. Từ đó Ngài chuyên cần tu
học, sốt sắng công quả hằng ngày, ham tìm học kinh; luật; luận nên Hòa
thượng Bổn sư rất thương mến, thường riêng dạy truyền giáo pháp.
Năm Mậu Ngọ (1918),
nhân dịp chùa An Lạc ở thôn Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Ðịnh,
Hòa thượng Chánh Hạnh khai trường Kỳ, Ngài được Bổn sư giới thiệu tới nhập
Kỳ thọ Sa di giới. Qua năm sau Kỷ Mùi (1919) tại chùa Diệu Giác ở xã Bình
Hòa, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Ðịnh, Hòa thượng Trí Thắng khai trường Kỳ, Ngài
cũng được Bổn sư giới thiệu đến nhập Kỳ xin thọ Cụ túc giới. Sau khi thọ
giới trở về, Ngài được Bổn sư đặt pháp húy là Như Ðắc, nối pháp đời thứ 39
dòng Ðạo Bổn Nguyên. Lúc này Ngài vừa tròn 20 tuổi.
Vào ngày 27 tháng 10
năm Canh Thân (1920), nhân có lời thỉnh nguyện của các đạo hữu chùa Thới
Bình ở làng Phước Lại, quận Cần Giuộc, Ngài được Bổn sư cử về đó trụ trì.
Khi Ngài về đây thì chùa đã dột nát nhiều, Ngài đứng ra vận động thập
phương đóng góp để trùng tu chùa được khang trang, tạo nên cảnh già lam
thắng địa nơi thôn dã. Từ ngôi chùa này, Ngài Từ Nhẫn khởi bước hoằng
dương chánh pháp, đem lợi lạc đến cho chúng sinh, được nơi nơi biết đến.
Sau đây là đơn cử một số công đức của Ngài:
- Năm Canh Thân
(1920), Hòa thượng Quảng Phát ở chùa Phú Long làng Phú Nhuận, quận Gò Vấp,
tỉnh Gia Ðịnh mở trường Kỳ, Ngài được thỉnh làm Ðệ lục Tôn chứng.
- Năm Tân Dậu (1921)
ngày 10 tháng 10 Âm lịch, chùa Thiền Tông ở thôn Bình Thạnh, quận Gò Vấp,
tỉnh Gia Ðịnh mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Ðệ tam Tôn chứng. Cùng năm ấy,
Hòa thượng Diệu Ðại ở chùa Tịnh Ðộ làng Tân Sơn Nhất, quận Gò Vấp, tỉnh
Gia Ðịnh mở trường Kỳ vào ngày 6 tháng Chạp Âm lịch, thỉnh Ngài làm Ðệ
nhất Tôn chứng.
- Năm Nhâm Tuất
(1922), Hòa thượng Hoằng Nghĩa ở chùa Giác Lâm làng Phú Thọ, quận Gò Vấp,
tỉnh Gia Ðịnh mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Ðệ nhất Tôn chứng. Cùng năm đó,
ngày mồng 8 tháng 7 Âm lịch, Hòa thượng Ngộ Thông tại chùa Châu Long làng
An Bình Ðông, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, mở trường Kỳ thỉnh Ngài làm Ðệ
nhị Tôn chứng. Tại chùa Tam Bảo làng Vĩnh Thanh Vân tỉnh Rạch Giá, vào
tháng 9 Âm lịch, Hòa thượng Trí Thành mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Ðệ tứ
Tôn chứng.
- Năm Quý Hợi
(1923), Hòa thượng Minh Giảng chùa Phước Lâm ở Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Ðệ ngũ Tôn chứng. Cùng năm đó, ngày mồng 8
tháng 7 âm lịch, chùa Sắc Tứ Tập Phước tại xã Bình Hòa, quận Gò Vấp, tỉnh
Gia Ðịnh mở trường Kỳ, thỉnh Ngài làm Ðệ nhất Giáo thọ.
- Năm Giáp Tý
(1924), Hòa thượng Như Hóa ở chùa Ðại Giác làng Nhị Hòa, quận Châu Thành,
tỉnh Biên Hòa mở trường Kỳ, cung thỉnh Ngài làm Ðệ nhất Giáo thọ. Cùng năm
ấy, sau lễ Phật Ðản, chùa Khánh Lâm ở làng Tân Sơn Nhất mở trường Hương,
thỉnh Ngài làm Phó Trị sự cùng chúng Tăng ở lại an cư kiết Hạ.
- Năm Ất Sửu (1925)
tại chùa Sắc Tứ Phước Quang làng Phước Lộc, tổng Nghĩa Hạ, huyện Tư Nghĩa,
tỉnh Quảng Ngãi ở miền Trung, Hòa thượng Tăng Cang mở trường Hương, mời
Ngài làm Phó Duy Na cùng chúng Tăng an cư kiết Hạ. Ðến ngày mồng 8 tháng 7
Âm lịch mãn Hạ, chùa mở tiếp trường Kỳ, Hòa thượng Tăng Cang lại mời Ngài
làm Thạc đức Giáo thọ.
Tại trường Kỳ này,
Ngài gặp được Thiền sư Tra Am - Viên Thành, do mến đức tài đã mời Ngài ra
kinh đô Huế dự lễ chúc hộ vua Khải Ðịnh tại chùa Sắc tứ Báo Quốc, được
Hoàng Thái hậu Khôn Nghi hiệp cùng triều đình ban thưởng ngân tiền, nhà
vua xuống chỉ phong Ngài phẩm vị Hòa thượng và biểu ngạch Sắc tứ Thới Bình
tự. Thời gian ở Kinh đô Huế, Ngài đã đến hội kiến Hòa thượng Tâm Tịnh, Hòa
thượng Hải Hội và thường lui tới đàm luận đạo lý với Thiền sư Tra Am -
Viên Thành ở chùa Ba La Mật.
Rời kinh đô Huế,
Ngài tiếp tục lên đường vân du ra Hà Thành đất Bắc. Do tiếng tăm đạo đức
của Ngài vang xa, lại được các nhựt báo đưa tin vua Khải Ðịnh sắc phong,
nên đi đến đâu Ngài cũng được nghênh tiếp trọng thể. Viếng thăm các Phật
tự, danh lam và yết kiến chư Tôn đức xứ Bắc một thời gian, cuối tháng Chạp
năm Bính Thìn (1926), Ngài xuống tàu thủy trở về miền Nam. Chuyến đi vân
du Trung Bắc của Ngài trải qua 10 tháng.
- Năm Quý Mão (1927)
chùa Long Khánh ở thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh mở trường Hương,
thỉnh Ngài làm Thiền gia Pháp chủ Kiếm Bố Tát Hòa thượng. Khi mãn trường
Hương, chùa mở tiếp trường Kỳ, Hòa thượng Chánh Nhơn thỉnh Ngài làm Ðệ
nhất Yết ma. Trước đó, nhằm ngày 16 tháng 2, chư Sơn và quan viên, hương
chức làng Phước Lại nhất tâm làm tờ thỉnh nguyện, có viên chủ quận Cần
Giuộc chứng thực, viên chủ tỉnh Chợ Lớn chuyển đạt lên triều đình chiếu
phê tôn tặng Ngài là “Quốc Ân Ðại Hòa Thượng”.
- Năm Mậu Thìn
(1928) tháng 4 Âm lịch, chùa Hưng Long ở ngã 6 Chợ Lớn mở trường Hương,
thỉnh Ngài làm Minh Ðàn Hòa thượng. Ðến tháng Bảy mãn trường Hương, chùa
mở tiếp trường Kỳ, Hòa thượng Huệ Quang thỉnh Ngài làm Ðệ nhất Yết ma.
- Năm Kỷ Tỵ (1929)
tháng 4 Âm lịch, chùa Kiến Phước ở làng Vĩnh Kim, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ
Tho mở trường Hương, Hóa chủ là Bửu Thông Yết Ma, Chủ hương là Thiện Niệm
Yết ma chùa Viên Giác, cùng thỉnh Ngài làm Thiền chủ Hòa thượng, ở lại
cùng Tăng chúng an cư kiết Hạ 3 tháng và chưởng quản thiền môn.
- Năm Canh Ngọ
(1930) nhằm ngày 19 tháng 2 Âm lịch, tại chùa Sắc tứ Thới Bình có làm lễ
lạc thành trùng tu và mở trường Kỳ chúc thọ giới đàn, chư Sơn trong miền
hiệp cùng quan viên, hương chức tôn Ngài thăng vị Ðường đầu Hòa thượng.
Tháng 4 Âm lịch cùng năm, chùa Viên Giác ở Bến Tre mở trường Hương. Chủ
Hương là Thiện Niệm Yết ma thỉnh Ngài làm Bố tát Hòa thượng, đồng thời
trường Hương ở chùa An Phước ở Sa Ðéc, Chủ Hương là Chánh Tín Yết ma cũng
thỉnh Ngài làm Bố tát Hòa thượng. Ðiều đó chứng tỏ đạo hạnh và uy tín của
Ngài trong chốn thiền lâm rất là cao trọng. Nửa tháng ở Bến Tre, nửa tháng
lên Sa Ðéc, Ngài phải hành cước khứ lai đem pháp vũ thấm nhuần cho Tăng
chúng, khiến trong giới Tăng già hay hàng tứ chúng thảy đều tán thán công
đức của Ngài. Ðến ngày 20 tháng 10 Âm lịch, chùa Linh Sơn Tiên Thạch ở núi
Ðiện Bà tỉnh Tây Ninh mở trường Kỳ, Hòa thượng Chánh Khâm thỉnh Ngài làm
Chứng Ðàn Hòa thượng.
- Năm Quý Dậu (1933)
vào ngày 12 tháng 3 Âm lịch, chùa Giác Viên ở Chợ Lớn mở trường Kỳ, Hòa
thượng Thạnh Ðạo thỉnh Ngài làm Chứng đàn Hòa thượng. Ngày 8 tháng 4 năm
đó, chùa Giác Hoàng ở làng Tân Thới Nhứt, tổng Bình Thạnh Hạ, tỉnh Gia
Ðịnh (Bà Ðiểm) mở trường Hương. Chủ Hương là Yết ma Bửu Ðạt thỉnh Ngài tái
vị Thiền chủ Hòa thượng chưởng quản bên Tăng giới An cư kiết Hạ ba tháng.
Ðến ngày 11 tháng 8, chùa Sắc tứ Thiên Tôn ở Thủ Dầu Một mở trường Kỳ, Hòa
thượng Từ Phong thỉnh Ngài làm Chứng đàn Hòa thượng.
Năm Giáp Tuất (1934)
chủ chùa Ðông Thạnh, ở làng An Ðông Xã, quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh là Tỳ
kheo ni Diệu Thọ hiệp với bà Montel thiết lập thủy lục trai đàn cầu siêu
cho những kẻ bạc số chết đuối trên các sông rạch từ Tây Ninh, Gò Dầu,
Trảng Bàng, Lộc Giang, Bến Lức, Thủ Thừa, Nhựt Tảo, Bến Ba, Bao Ngược,
kinh Nước Mặn, Thủ Bộ, Cần Giuộc, rạch Cát Hạ, Chợ Lớn đến Thị Nghè, cầu
Bình Lợi, Gò Vấp, Thủ Dầu Một, Bến Thế, Thủ Thiêm. Vì trai đàn quá lớn,
phạm vi cử hành lễ cầu siêu quá rộng, nên phải xin phép và được sự chấp
thuận của các viên chủ tỉnh Tây Ninh, Gia Ðịnh, Thủ Dầu Một, chủ quận Hóc
Môn, Thủ Ðức. Trai chủ đã cung thỉnh Giáo thọ Thiện Huệ chùa Giác Tánh làm
chủ sự, Ngài Từ Nhẫn làm Hòa thượng Chứng minh. Trai đàn kéo dài trong 5
tháng 20 ngày, tổng cộng 23 tuần lễ.
- Năm Mậu Dần (1938)
chùa Phước Thạnh ở Trảng Bàng mở giới đàn do Giáo thọ Thiện Toàn chủ trì,
thỉnh Ngài làm Chứng minh kiêm Bố tát Hòa thượng.
- Năm Kỷ Mão (1939)
chùa Phước Chỉ ở Trảng Bàng, Yết ma Quảng Vân mở giới đàn, thỉnh Ngài làm
Chứng minh kiêm Trị sự Hòa thượng.
- Năm Canh Thìn
(1940) chùa Thái Nguyên ở làng Bình Trưng, quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh mở
giới đàn. Hòa thượng Thiện Huệ làm Chủ Hương, thỉnh Ngài làm Chứng minh
Trị sự kiêm Bố tát Hòa thượng.
Trên đây lược kê
công đức hoằng pháp độ sinh của Ngài Từ Nhẫn, khắp trên các miền đất nước,
từ Thừa Thiên – Huế vào đến miền Ðông, miền Tây lục tỉnh. Trong lúc đó
Ngài cũng không quên kiến tạo và trùng tu các ngôi Tam bảo để có nơi cho
Tăng Ni tu hành và Phật tử chiêm bái tụng kinh, nghe pháp. Ngoài việc
trùng tu chùa Thới Bình ở làng Phước Lại khi Ngài mới tới đây làm trụ trì
năm 1923, Ngài còn trùng tu chùa Linh Nguyên ở Ðức Hòa, là nơi Ngài xuất
gia đầu Phật và là chùa Tổ nơi Bổn sư Ngài hành đạo, đã bị mối mọt xuống
cấp nhiều vào năm 1936.
Về khai sơn tạo tự,
Ngài đã lập ngôi chùa mới là Chưởng Phước tự tại làng Long Hậu Tây là nơi
sinh quán của Ngài vào năm 1935, và chứng minh cho hàng Cư sĩ lập chùa mới
Kỳ Viên ở làng Phú Nhuận. Ngài còn lập hai ngôi tịnh thất trong khuôn viên
chùa Thới Bình năm 1932 và chùa Chưởng Phước năm 1936, cả hai ngôi tịnh
thất này đều được Ngài đặt tên là “Linh Thoại Ứng tịnh thất” và “Từ Tâm
tịnh thất” là nơi hàng năm Ngài nhập thất khi không dự các trường Hương.
Năm Canh Dần (1950)
sự vô thường sanh tử chợt đến với bậc cao Tăng khả kính giữa lúc phong
trào chấn hưng Phật giáo đang nở rộ ở Nam kỳ lục tỉnh. Ngài thị tịch vào
ngày 19 tháng 9 năm Canh Dần (1950), trụ thế 52 năm, giới lạp 31 mùa Hạ,
để lại bao thương tiếc cho thiền lâm tứ chúng. Bảo tháp của Ngài được dựng
tại chùa Linh Nguyên, xã Ðức Hòa Hạ, huyện Ðức Hòa. Linh vị Ngài được tôn
thờ cho đến ngày nay tại Tổ đường chùa Giác Lâm, quận Tân Bình.
Chính do công lao
đóng góp của Ngài cho Ðạo pháp mà đương thời tên tuổi Ngài được ghi vào
thành tích hóa độ cùng với nhiều danh nhân, thượng trí, đại đức trong một
cuốn sách nhan đề : “Kim Bửu Thư” với bức chân dung của Ngài phía dưới ghi
dòng chữ “Ðại Giác Chí Tôn Quốc Ân đại Hòa thượng”.