PHẦN PHỤ
LỤC
CƯ SĨ
THIỀU
CHỬU - NGUYỄN HỮU KHA
(1902 - 1954)
Cư sĩ Nguyễn Hữu Kha,
pháp danh Thiều Chửu, tên tự là Lạc Khổ, sinh năm Nhâm Dần (1902), tại
làng Trung Tự, quận Ðống Ða, Hà Nội.
Ông sinh ra trong một
gia đình có truyền thống Nho học nhiều đời, thân sinh là cụ Cử Cầu, một
nhà hoạt động cách mạng lão thành trong phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục.
Ông là người con thứ hai trong bốn anh em: 3 trai, 1 gái.
Từ thuở bé, ông đã
được sống với bà Nội, vốn là một cô Tú văn hay chữ giỏi ở đất Hà Nội và
lại là người Phật tử mộ đạo thuần thành. Do đó, ông đã tiếp cận được nếp
sống đạo hạnh, tập ăn chay từ năm lên 8 tuổi, và cũng nhờ bà Nội chỉ dạy
cặn kẽ về Nho học, nên ông đã sớm tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ðược thừa
hưởng vốn liếng căn bản quan trọng ấy, khi vào độ tuổi thiếu niên ông được
học chữ Quốc ngữ, đồng thời tự nghiên cứu thông thạo các ngoại ngữ Anh,
Pháp, Hoa và Nhật. Nhờ thiên tư sẵn có, ông dễ dàng bước vào lãnh vực
nghiên cứu giáo lý Phật Ðà, và thấm nhuần sâu sắc, nhanh chóng.
Năm Tân Dậu (1921),
lúc ông 20 tuổi, đã bắt đầu dạy Nho học giúp cho Tăng đồ quanh vùng, nên
có điều kiện trao đổi, tìm hiểu thêm trong việc nghiên cứu giáo lý. Từ đó,
nhận thấy mình có túc duyên với Phật pháp, và với khả năng tri thức của
mình, ông sẵn sàng hộ pháp. Bằng tâm nguyện và tư thế một người cư sĩ, ông
đảm nhận phụ giảng cho Tăng Ni và công tác từ thiện xã hội.
Tâm nguyện cao đẹp
đó, được ông thể hiện qua nếp sống giản dị, đạm bạc. Ông bắt đầu trường
chay và mỗi ngày chỉ ăn một bữa; y phục đơn giản như những người chân quê.
Ông rất quí thời giờ nên công việc được phân chia thời khóa rành mạch,
phaàn lớn là dịch kinh, viết sách, tu học và dành rất nhiều thời giờ để
gần gũi và chăm sóc các trẻ em mồ côi.
Ðể tạo thêm điều kiện
thuận lợi trong việc góp phần tuyên dương Phật pháp. Ban đầu, ông lập nhà
bán sách lấy hiệu là Hòa Ký ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Khi phong trào chấn
hưng Phật Giáo ở Bắc Kỳ được khởi xướng, Ông cùng các đạo hữu cư sĩ cùng
thời như Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Nguyễn
Ðỗ Mục, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Bá Trạc v.v... là những
nhà trí thức tiên tiến, được chư vị Tăng giới như Ngài Trí Hải, Tố Liên
mời đồng đứng ra thành lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo vào năm Giáp Tuất (1934).
Hội ban đaàu do Hòa thượng Thích Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.
Năm Ất Hợi (1935),
hoạt động nổi bật nhất của Hội Phật Giáo Bắc kỳ là việc cho ra đời tạp chí
Ðuốc Tuệ. Trong đó ông là một cây bút đắc lực và bền bỉ nhất, phát huy
được vai trò Phật học trên từng trang báo, góp phần cổ xúy cho phong trào
chấn hưng Phật giáo. Báo Ðuốc Tuệ do ông quản lý trực tiếp, đặt trụ sở tại
chùa Quán Sứ - Hà Nội.
Có thể nói, thời gian
Ðuốc Tuệ tồn tại trên văn đàn là do ông điều hành, đã nêu bật tính tích
cực và tầm vóc của một tạp chí Phật giáo lớn thời bấy giờ nơi đất Bắc.
Song song với công việc báo chí, ông còn là tác giả của bộ Hán Việt Tự
điển, đương thời đã được sử dụng rộng rãi trong cả nước.
Năm 1941, nhằm phát
triển công tác giáo dục và từ thiện xã hội, Hòa thượng Trí Hải đã ủy thác
cho ông lập trường Phổ Quang và nghĩa trang Tế Ðộ, cả hai cơ sở này đặt
tại ngoại thành Hà Nội. Ông tận tình trông nom và ra sức dạy học. Lớp học
có các Tăng Ni theo học, ngoài việc dạy chương trình thế học, Nho học, ông
còn kiêm giảng dạy Phật học cho Tăng Ni. Từ những lớp Phật học đầu tiên,
có nhưõng vị đã trở thành danh Tăng sau này như Hòa thượng Tâm Tịch, Hòa
thượng Thanh Kiểm..., bên Ni như Ni sư Ðàm Tuệ, Ni sư Ðàm Ánh...
Năm 1945, nạn đói xảy
ra ở miền Bắc. Thể hiện lòng từ bi, ông cùng với các Hòa thượng Tố Liên,
Trí Hải đứng ra thành lập Tổng hội Cứu tế, đặt tại chùa Quán Sứ để giúp
những người đói khổ, và dựng nên một Cô nhi viện, nuôi dạy hơn 200 trẻ mồ
côi. Cuối năm 1946, chiến tranh lại bùng nổ, các Phật sự phải đình chỉ và
số phận các cô nhi bấp bênh. Một nửa các em được đưa về chùa Mai Xá tự túc
sinh sống. Một nửa còn lại, ông mang theo lên Phúc Yên làm thủ công và
trồng khoai sắn vừa sinh sống vừa học tập.
Thời gian ông nhận
công tác từ thiện dạy dỗ chăm lo các trẻ cô nhi, cũng là nhân duyên ông
dịch kinh và sáng tác nhiều bài hát để dạy các em Cô nhi và truyền bá cho
dân chúng như: Tấm lòng vị tha, Người chân tu, Lấp biển trầm luân, Khuyeân
tu... và một số bài có nội dung giáo dục thiếu nhi như: Ðánh đu... ước
tính có đến 15 bài Phật Ca do ông sáng tác lưu truyền lúc bấy giờ.
Năm Mậu Tý 1948, ông
còn mở thêm lớp học bình dân cho người nghèo ở Cao Phong - Phúc Yên, quy
tụ trên 100 học viên đến học thường xuyên, ông hướng dẫn các em mồ côi lớp
trước chăm nom trở lại người lớp học sau.
Năm Kỷ Sửu 1949,
chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt, dân chúng phải sơ tán khắp nơi. Ông
phải đưa lớp học đi sơ tán qua những vùng khác nhau như: Ðan Thầm, Ðồng
Quan, Sơn Tây, Phúc Yên, Thái Nguyên... rất vất vả khó khăn, có khi chỉ ăn
toàn cháo sắn (khoai mì) suốt tháng. Tuy trong hoàn cảnh khó khăn như vậy,
đi đến đâu ông cũng cùng học trò xây dựng trường học, cất nhà cho người
nghèo và kiên định giữ đúng thời khóa của bản thân. Vẫn ăn ngày một bữa,
đêm thức dịch kinh, chỉ ngủ 3 giờ đồng hồ, 2 giờ sáng thức dậy ngồi
thieàn, trì chú, rồi tập thể dục, uống trà và đôi phút ngâm thơ... Ông
nghiêm khắc với bản thân cho nên với đồ chúng ông cũng tạo được sự nghiêm
minh triệt để, kỷ luật gắt gao khi có sai phạm. Riêng đối với Tăng Ni, tuy
laø học trò của ông, nhưng ông luôn kính lễ, sách tấn họ tu học và tận tâm
chỉ dạy sở học của mình cho họ.
Cư sĩ Nguyễn Hữu Kha
còn là một người yêu nước triệt để. Khi Pháp trở lại chiếm Hà Nội, ông dứt
khoát không chịu sống ở những vùng nào mà đã rơi vào tay người Pháp. Vì
thế ông đã dẫn dắt học trò của mình lên tận Phúc Yên, nơi vẫn thuộc quyền
quản lý của cách mạng. Năm 1945, lúc Cách Mạng thành công, Hồ Chủ Tịch đã
mời ông ra làm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục, nhưng ông từ chối, để tiếp tục việc
giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng Cô nhi, để theo con đường tu trì lợi
tha mà mình đã chọn.
Năm 1951, nghe biết
ông gặp nhiều khó khăn ở Phúc Yên, Hòa thượng Tố Liên có cho người đem
giúp ông 6 lượng vàng. Ông dứt khoát từ chối không nhận trợ giúp nào từ
nơi vùng bị chiếm đóng. Do những phong cách chuẩn mực đó, mà đi đến đâu,
ông cũng được người xuất gia, tại gia và dân chúng quí trọng, yêu mến, xem
ông như một bậc thầy, một Cư sĩ có đạo hạnh khả kính. Năm 1954, Hiệp định
Genève được ký kết, miền Bắc tiến hành phong trào cải cách ruộng đất, cải
tạo tư sản địa chủ. Nhận thấy những đau khổ của không ít nông dân bị hàm
oan, ông rất đau buồn, cộng vào sự kiện có lời vu cáo ông về mặt uy tín,
và thuộc tầng lớp trí thức tư sản. Ðể chứng minh cho sự trong sáng và
thanh bạch của mình, ông đã viết bốn bức tâm thư, ba bức gởi cho chính
quyền trình bày nỗi lòng của ông với ý kiến đóng góp những điều nên làm và
nên tránh để lợi nước ích dân. Một bức thư còn lại, ông gởi cho các học
trò của mình, dặn dò cố gắng tu hành, hoïc tập để giáo hóa đời mà đừng để
bị đời hóa.
Ngày 15.7.1954, tức
ngày 16.6 năm Giáp Ngọ, sau khi từ biệt học trò, lễ tạ bốn phương, ông đã
kết thúc đời mình tại sông Ðuống, thuộc Ðồng Mỹ - Thái Nguyên, để cúng
dường Tam Bảo tấm lòng trong sáng thanh tịnh của mình, và để giữ toàn khí
tiết một nhà Nho, một người yêu nước chân chính, một cư sĩ hoàn thành
nhiệm vụ giáo hóa cho đạo và đời. Ông mất năm 52 tuổi với 30 năm công quả
cống hieán cho sự nghiệp đạo pháp.
Trong sự nghiệp phiên
dịch và trước tác, ông đã để lại cho hậu thế một di sản tác phẩm quí báu.
Tăng Ni Phật tử đều trân trọng sự thâm nhập giác ngộ cao của ông qua các
kinh sách được tiếp tuïc lưu truyền:
1. Phật học cương
yếu.
2. Khóa Hư Kinh diễn
giải.
3. Sự Tích Phật Tổ
diễn ca.
4. Giải thích truyện
Quan Âm Thị Kính.
5. Con đường học
Phật thế kỷ XX này.
6. Nhòm qua cửa
Phật.
7. Cải tà qui chính.
8. Thế nào là Phật
và Phật pháp.
9. Lục Tổ Ðàn Kinh.
10. Khóa tụng hằng
ngày.
11. Bốn mươi tám phép
niệm Phật.
12. Vì sao tôi tin
Phật Giáo (dịch của B. Brongthon).
13. Kinh lễ sáu
phương (dịch).14. Kinh Di Giáo (dịch).
15. Kinh Di Ðà
(dịch).
16. Kinh Tứ Thập Nhị
Chương (dịch).
....
Cư sĩ Thiều Chửu -
Nguyễn Hữu Kha là một Phật tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng Cư sĩ trong tứ
chúng môn đồ của Phật. Bàn tay đóng góp của người ghi đậm trong lịch sử
chấn hưng Phật giáo miền Bắc Việt Nam. Và hơn nữa, xứng đáng là gương mẫu
tiêu biểu cho sự trọng thị một nhân cách khiêm ái từ hòa của người con
Phật.
CƯ SĨ
TÂM MINH
- LÊ ÐÌNH THÁM
(1897 - 1969)
Cư sĩ Tâm Minh - Lê
Ðình Thám sanh năm Ðinh Dậu (1897) tại làng Ðồng Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú
Khương, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là tỉnh Quảng Nam - Ðà Nẵng. Ông
xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan. Thân sinh là
Binh Bộ Thượng Thư Lê Ðỉnh ở triều Tự Ðức.
Cùng với anh là Y sĩ
Lê Ðình Dương trực tiếp học chữ Nho với thân phụ. Cả hai anh em đều tỏ ra
thông minh xuất chúng ngay từ thuở niên thiếu. Riêng ông từ nhỏ, đã tỏ ra
laø người có năng khiếu văn chương thi phú.
Trong những năm theo
học tại các trường Tiểu học, Trung học và Ðại học, ông đã chiếm được cảm
tình cả thầy và bạn. Luôn luôn giành thứ vị thủ khoa trong các kỳ thi tốt
nghiệp cuoái cấp.
Ông tốt nghiệp Y sĩ
Ðông Dương (đậu Thủ Khoa) tại Hà Nội năm 1916, và sau đó đậu Y khoa Bác sĩ
năm 1930, ngạch Pháp quốc, tại Y khoa Ðại học đường Hà Nội.
Khi ra trường với
danh hiệu Y sĩ, đúng lúc phong trào Duy Tân khởi nghĩa bị thất bại, bào
huynh Y sĩ Lê Ðình Dương bị Pháp tù đày tại Buôn Mê Thuột. Ông bị tình
nghi và luôn bị theo dõi. Từ năm 1916 đến năm 1923, ông được bổ nhiệm và
làm việc tại các bệnh viện Hội An, Bình Thuận, Soâng Cầu, Qui Nhơn, Tuy
Hòa. Chính trong thời gian này, ông nghiên cứu thêm về triết lý Ðông
phương như Khổng, Lão và Phật giáo... Năm 1926, ông phụ trách điều trị tại
bệnh viện Hội An (Quảng Nam). Nhân một buổi viếng cảnh taïi chùa Tam Thai
(tức Ngũ Hành Sơn), ông được đọc bài kệ của Tổ Huệ Năng ghi trên vách chùa
:
Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi
đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhá trần ai.
Ðây là lần đầu tiên
ông tiếp xúc với triết lý Phật giáo, bài kệ trên đã gieo vào tâm thức ông
một ấn tượng sâu sắc về đạo Phật, mặc dầu thời điểm lúc ấy chưa cho phép
ông đến gần với cửa thiền.
Nhân cụ Phan Chu
Trinh mất, được tin ấy ông cũng như những người yêu nước khác, đã làm lễ
truy điệu tại nơi đang làm việc, tỉnh Quảng Nam; mật thám Pháp biết được
nên chuyển ông ra làm việc ở Hà Tĩnh.
Năm 1928, ông lại
được thuyên chuyển về Huế, đảm trách Y sĩ trưởng Viện bào chế và vi trùng
học Louis Pasteur, ông phát minh ra Sérum Normet. Chính năm này, ông mới
lên chùa Trúc Lâm, cách kinh đô Huế khoảng 7 cây số ở sau đàn Nam Giao, để
thỉnh tôn ý về bài kệ trên với Hòa thượng trụ trì là Ngaøi Giác Tiên. Sau
khi hiểu thấu đáo bài kệ, ông đã thực sự chuyển hướng đời mình: Phát
nguyện quy y Tam bảo, ăn trường trai từ đó và nghiên cứu học hỏi kinh điển
Phật giáo để hoằng hóa giúp đời. Với chí nguyện như trên, ông được thọ tam
quy ngũ giới với Hòa thượng Giác Tiên, pháp danh là Tâm Minh, pháp tự là
Chiêu Hải.
Năm 1929, ông thọ học
thêm với Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp, Bình Ðịnh. Hòa thượng chỉ
đạo ông nghiên cứu các bài giảng của Ngài Thái Hư đại sư ở Trung Hoa về
cách thức tổ chức Phật giáo, và suy nghĩ cải cách thế nào cho phù hợp với
tình hình Phật giáo nước nhà. Ông đã đề đạt ý kiến của mình lên chư Hòa
thượng Phước Huệ, Giaùc Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết... và đã
được các Ngài chấp thuận.
Năm 1930, ông trở ra
Hà Nội thi bằng Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp. Khi trở về, ông vừa học Phật vừa
làm ngành y mà vẫn vượt xa các bạn đồng học trong thời gian ấy.
Năm 1932, Hội An Nam
Phật Học ra đời, do các vị Hòa thượng và ông đứng ra chịu trách nhiệm gánh
vác công cuộc hoằng dương chánh pháp. Trụ sở hội đầu tiên đặt ở chùa Trúc
Lâm, sau đó là chùa Từ Ðàm. Ông làm Hội trưởng và các Hòa thượng trong Ban
Chứng minh là cố vấn cho Hội. Hội bắt đầu truyền đạo với nhiều hình thức:
- Thuyết pháp hằng
nửa tháng cho tín đồ nghe tại chùa Từ Quang.
- Mở trường đào tạo
Tăng tài cho Giáo hội sau này.
- Mở thêm các chi hội
để gánh vác trách nhiệm hoằng dương chánh pháp khắp các tỉnh.
- Thành lập Thanh
niên Ðức dục (Phật học).
- Xuất bản tờ báo
Phật giáo (Nguyệt san Viên Âm).
- Thiết lập các tòng
lâm để chư Tăng tu học, và đào tạo Tăng tài.
Từ năm 1930, bắt đầu
xuất hiện những bài viết của ông trên tờ nguyệt san Viên Âm. Ông tự tay
viết cả truyện ngắn (ký tên T.M), truyện dài (ký tên Châu Hải) và truyện
hài hước (ký tên Ba Rảm).
Từ năm 1934-1945 là
những năm hoàn chỉnh các tổ chức của Phật giáo và hệ thống đào tạo Tăng
tài, các lớp Phật học cho thanh niên. Kết quả mà ông đã đóng góp được
trong những năm tháng ấy, vẫn mãi mãi được ghi nhớ: Một thế hệ Tăng sĩ tài
ba đã nở rộ, làm nền tảng tuyên truyền phát huy chánh pháp, đoàn kết Tăng
Ni và Phật tử, bảo vệ Phật giáo trước những khó khăn lúc bấy giờ. Chùa Từ
Quang, nơi làm giảng đường bước đầu để tuyên dương chánh pháp cũng đã thấy
bóng dáng của ông trong chiếc áo dài màu đen và chiếc khăn đóng tươm tất,
thành kính đảnh lễ chư Tăng trước khi bước lên Pháp tòa để giảng kinh cho
họ.
Năm 1946, cuộc chiến
tranh chống Pháp bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, ông cùng gia đình di tản
về Quảng Nam. Từ năm 1947 đến 1949 ông làm chủ Tịch Ủy ban Hành chánh
Kháng chiến miền Nam Trung bộ. Tại Liên khu V của vùng kháng chiến, ông
tập hoïp một số đoàn viên của đoàn Phật học Ðức dục có mặt trong vùng và
thành lập tổ chức “Phật giáo và Dân chủ mới” tại Bồng Sơn - Bình Ðịnh,
nghiên cứu việc tổng hợp giáo lý Phật giáo và triết học Mác-Lê Nin.
Mùa hè naêm 1949, ông
tập kết ra Bắc. Sau đó được đề cử làm Chủ tịch phong trào vận động Hòa
Bình thế giới. Năm 1956, ông và Hòa thượng Trí Ðộ tham dự phái đoàn sang
dự đại hội Phật giáo Buddha Jayanti tại Ấn Ðộ.
Năm 1961, toàn boä
kinh Lăng Nghiêm mà ông đã dày công phiên dịch và chú giải trong nhiều
năm, đã được đăng tải trên báo Viên Âm trước đây được ông hoàn tất và
xuất bản tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Sau đó, sách được gia đình ông tái baûn
lưu hành rộng rãi ở miền Nam.
Trong những năm ở
Bắc, ngoài ngày giờ làm việc cho Nhà nước, ông đến chùa Quán Sứ để dịch
kinh và giảng kinh, hướng dẫn việc tu học giúp nhà chùa. Kết quả của những
năm tháng dày công quả vì đạo pháp và dân tộc ấy còn được thể hiện qua các
kinh sách uyên thâm như:
1. Kinh Thủ Lăng
Nghiêm.
2. Luận Nhơn Minh
3. Ðại Thừa Khởi Tín
Luận
4. Bát Thúc Qui Củ
tụng.
5. Phật Học thường
thức.
6. Bát Nhã Tâm Kinh.
7. Lịch sử Phật giáo
Việt Nam và Phật Tổ Thích Ca.
8. Tâm Minh - Lê Ðình
Thám tuyển tập (gồm 5 tập).
Ðời người là vô
thường, ông đã ngộ lý ấy và đã bình thản ra đi ngày 23-4-1969 (nhằm 7-3
âl, năm Kỷ Dậu), sau khi đã đàm đạo lần cuối cùng với Hòa thượng Ðôn Hậu,
tại bệnh viện Việt - Xô, Hà Nội. Thọ 73 tuổi và 42 năm phụng sự Tam Bảo.
Tinh thành trong giai
đoạn chấn hưng Phật giáo giữa thế kỷ XX, Cư sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám quả
là bậc tieàn bối hữu công thật sáng chói, ông đã vượt qua ranh giới hình
thức để tựu thành đạo nghiệp cao quí cho hàng hậu tấn ngưỡng vọng dù xuất
gia hay tại gia.
CƯ SĨ
CHÁNH TRÍ - MAI THỌ TRUYỀN
(1905 - 1973)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền
sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình
trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến
Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi
đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ
Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh,
Long Xuyên và Sa Ðéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra lieâm khiết, chính trực
và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
Năm 1945, sau đảo
chính Nhật, ông đang làm Quận trưởng Cầu Ngang, được mời về giữ chức Phó
Tỉnh trưởng Trà Vinh. Tháng 6 năm ấy, chính quyền Trần Trọng Kim cử ông
làm Quận trưởng Thốt Nốt (Long Xuyên). Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông được
cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Quận Bộ Việt Minh Châu Thành, Long Xuyên, rồi Chánh
văn phòng kiêm Ủy viên Tài chánh Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Long Xuyên.
Sau khi quân đội Pháp
chiếm Long Xuyên, ông cùng Ủy ban dời về núi Sập rồi giải tán, nhường
quyền chỉ huy kháng chiến cho quân sự. Ông lánh về vùng thôn quê ẩn náu.
Chính phủ Nguyễn Văn Thinh mời ông làm Quận trưởng, rồi Phó tỉnh trưởng Sa
Ðéc. Trước cảnh quân đội Pháp bố ráp tàn sát dân chúng, ông can thiệp
không được, nên xin từ chức. Chính phủ không cho, ông bèn cáo bệnh xin đi
điều dưỡng.
Giữa năm 1947, ông
xin đổi về Sài Gòn và lần lượt giữ các chức vụ sau đây: Chánh văn phòng
Phủ Thủ Tướng chính phủ Nguyễn Văn Xuân (Hà Nội), Chánh văn phòng Bộ Kinh
Tế, Giám đốc hành chánh sự vụ Bộ Ngoại Giao, Ðổng lý văn phòng Bộ Nội vụ
của Chính phủ Nguyễn Phan Long, Ðổng Lý văn phòng Phủ Thủ Hiến Việt Nam và
Phó Ðổng lý văn phòng Phủ Thủ tướng của Chính phủ Bửu Lộc. Năm 1955 ông
đổi qua ngạch Thanh tra Hành chánh và Tài chánh, đến năm 1960 thì về hưu.
Sau ngày 01-11-1963,
ông tham gia Hội Ðồng Nhân Sĩ cách mạng. Năm 1967 ông ứng cử Phó Tổng
thống trong liên danh Trần Văn Hương. Năm 1968 ông giữ chức Quốc vụ khanh
kiêm Viện trưởng Giám sát viện, rồi Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa cho
đến năm quy tịch. Với trách vụ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, ông đã làm
được những việc có ích cho đương thời và hậu thế: xây dựng Thư viện Quốc
gia (ngay trên khuôn đất mà thực dân Pháp đaõ dùng xây khám lớn Saigon
gieo biết bao tội ác) nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố, xúc
tiến việc thành lập Văn khố quốc gia và Nhà văn hóa, thành lập và đẩy mạnh
hoạt động của Ủy ban Ðiển chế văn tự, lập UÛy ban dịch thuật và xuất bản
các sách Hán Nôm quý hiếm, thành lập Chi nhánh Bảo tồn Cổ tích Huế.
Sự nghiệp lịch sử của
ông đối với Phật giáo từ khi ông bắt đầu trở thành cư sĩ Phật tử. Trong
những năm làm việc đó đây khắp lục tỉnh miền Tây, ông để tâm nghiên cứu
tìm hiểu về Phật giáo, Nho giáo, và các tư tưởng tôn giáo triết lý khác.
Ðến đâu ông cũng tham vấn các vị danh nho nổi tiếng để thử tài học vấn và
biện bác, nhưng chưa vị nào giúp ông thỏa nguyện. Ðến khi làm việc ở Sa
Ðéc, ông đến tham vấn Hòa Thượng Thích Hành Trụ thế danh Lê Phước Bình, là
giảng sư tại chùa Long An, chính nơi đây ông thực sự qui ngưỡng cảm phục
trước đức độ và trí tuệ của vị danh Tăng nên cầu làm đệ tử của Ngài. Hòa
thượng Thích Hành Trụ đặt pháp danh cho ông là Chánh Trí. Từ đây, ông bắt
đầu dốc lòng đem khả năng và trình độ học thức của mình ra hộ trì chánh
pháp.
Ðối với phong trào
chấn hưng Phật giáo, ông là một kiện tướng trong hàng cư sĩ đã đóng góp
công sức rất lớn. Là một Phật tử thuần thành, ông ăn chay trường từ ngày
thọ Tam quy ngũ giới, làm Phật sự không biết mệt mỏi. Năm 1950, tại
Saigon, ông vận động thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Ban đầu hội đặt trụ
sở tại chùa Khánh Hưng, sau dời qua chùa Phước Hòa. Ông vận động và đứng
ra xây dựng ngôi chùa lịch sử Xá Lợi, một ngôi phạm vũ huy hoàng tráng lệ
nhất, tiêu biểu cho nét văn hóa mới của Ðông Tây hòa quyện, làm trụ sở của
Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1958 hội chuyển về chùa Xá Lợi. Ông làm Tổng
thư ký của hội khi mới thành lập và Hội trưởng từ 1955 cho đến ngày ông
mất. Hội đã mở các lớp Phật học phổ thông lúc bấy giờ do chư Thượng tọa
Thiện Hòa, Trí Hữu, Thiện Hoa, Quảng Minh diễn giảng. Ông cũng tham gia
soạn và giảng một số tiết mục cho học viên. Hàng tuần, tại chùa Xaù Lợi,
ông còn tổ chức các thời thuyết pháp cho đại chúng do ông mời các vị cao
Tăng Ðại đức trong nước hay nước ngoài đăng đàn. Có khi chính ông là giảng
sư.
Bên cạnh đó, Hội Phật
Học Nam Việt còn xuất bản tạp chí Từ Quang do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ
bút. Tạp chí này suốt gần 24 năm liên tục (1951- 1975) đã đóng góp không
nhỏ cho công việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn và các tỉnh. Tạp chí đã được
chư Tăng bên Giáo Hội Tăng Già Nam Việt sốt sắng góp phần về phương diện
biên tập. Chính ông là người viết thường xuyên trên Từ Quang. Với lối hành
văn nhẹ nhàng, bóng bẩy và sâu sắc, với trình độ thâm hiểu nghĩa lý sâu xa
của kinh điển, những bài ông viết đã được độc giả hoan nghênh, đã tạo cơ
duyên cho nhiều người đến với đạo Phật. Ông cùng Hội Phật Học Nam Việt đã
thành lập trên 40 Tỉnh hội và Chi hội Phật học khắp miền Nam.
Ðể làm đòn bẩy thúc
đẩy cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam, năm 1952, ông và Hội
Phật Học Nam Việt đã tạo nên Phật sự vô cùng quan trọng, gây được tiếng
vang khắp toàn quốc. Ðó là lễ rước ngọc Xá Lợi tại Sài Gòn vào ngày
13-9-1952. Nhân khi phái đoàn Phật giáo Tích Lan đi dự Ðại Hội Phật Giáo
thế giới kỳ II tại Tokyo, có mang theo một viên ngọc Xá Lợi để tặng quốc
gia Nhật Bản. Trên đường đi, phái đoàn quá cảnh Sài Gòn 24 tiếng đồng hồ.
Cuộc rước ngọc Xá Lợi đã được đông đảo Tăng Ni, Phật tử và đồng bào thành
phố và các tỉnh lân cận tham dự để chiêm bái Xá Lợi Phật đầu tiên đến Việt
Nam.
Trong giai đoạn đấu
tranh năm 1963 được coi là pháp nạn, ông giữ nhiệm vụ Tổng thư ký Ủy Ban
Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đòi hỏi chính quyền Ngô Ðình Diệm thực thi bình
đẳng tôn giáo. Ông và Hội Phật Học Nam Việt đồng ý để Ủy ban đặt trụ sở
trung ương tại chùa Xá Lợi. Khi chính quyền cho quân đội và cảnh sát đánh
phá, phong tỏa chùa, bắt bớ cầm tù Tăng Ni Phật tử, ông cũng chịu chung số
phận. Chùa Xá Lợi trở thành địa điểm lịch sử trong cuộc đấu tranh kiên
cường đẫm máu của Phật giáo đồ chống chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo. Năm
1964, ông tham gia Ủy ban soạn thảo Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất và được bầu làm Phó Viện trưởng Viện Hóa Ðạo. Nhưng vì bất
đồng ý kiến về mặt tổ chức, chỉ một tháng sau ông tưø nhiệm, quay về hoạt
động cho Hội Phật Học Nam Việt trong cương vị Hội trưởng.
Khi Viện Ðại Học Vạn
Hạnh được thành lập, tạm đặt tại chùa Xá Lợi trong khi chờ xây xong cơ sở,
ông nhận làm giáo viên cho Viện trước tiên, và sau đó ông còn giữ chức Phụ
tá Viện trưởng đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm Tổng thư ký niên
khóa 1967- 1968.
Ngoài những Phật sự
nói trên, ông còn để tâm nghiên cứu kinh điển Phật Ðà. Với học lực uyên
thâm và sự thông hiểu sâu sắc giáo lý ông đã dành nhiều thời gian dịch và
trước tác các tác phẩm có giá trị về Phật học như sau:
- Tâm và Tánh (do Nhà
Xuất bản Ðuốc Tuệ -_Hà Nội ấn hành năm 1950).
- Ý nghĩa Niết Bàn
(1962).
- Một đời sống vị tha
(1962).
- Tâm kinh Việt giải
(1962).
- Le Bouddhisme au
Viet Nam (1962)
- Pháp Hoa huyền
nghĩa (1964)
- Ðịa Tạng mật nghĩa
(1965)
(Do Hội Phật Học Nam
Việt ấn hành).
Ngoài ra, ông còn một
số tác phẩm chưa xuất bản như: Truyền tâm pháp yếu, Tây Du Ký, Hư Vân Lão
Hòa Thượng, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Mười lăm ngày ở
Nhật, Vòng quanh thế giới Phật giáo, Ðạo đời, Khảo cứu về Tịnh Ðộ Tông,
Mật Tông và một tác phẩm đang viết dở là Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày 15-4-1973, ông
còn cùng các đại biểu các tỉnh của Hội Phật Học Nam Việt họp đại hội tại
chùa Xá Lợi, chia tay vào lúc 23 giờ khuya. Sáng 17-4-1973 tức rằm tháng
ba năm Quý Sửu, vào lúc 8 giờ 15, ông nằm ngay thẳng, từ giã cõi trần rất
nhẹ nhàng, thanh thản, hưởng thọ 69 tuổi.
Ông đã cống hiến trọn
đời cho việc phụng sự Phật pháp. Ông là một người cư sĩ mẫu mực uyên thâm
giáo lý, tận tụy với đạo dù đang ở những địa vị cao của quan trường. Ông
là một điển hình cho sự tích cực của hàng cư sĩ lợi đạo ích đời theo tinh
thần đạo Phật, và là điểm sáng chói ở miền Nam trong phong trào chấn hưng
và thống nhất Phật giáo, góp phần lớn lao trong sự nghiệp truyền bá tri
thức Phật học, nhất là phát triển hệ thống Phật học cư sĩ do ông sáng lập
ra vẫn còn duy trì hoạt động cho đến ngày nay.
CƯ SĨ
NGUYỄN
VĂN HIỂU
(1896 - 1979)
Cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu
sinh ngày 01/10/1896 tại làng Tân An, tổng Ðịnh Bảo, tỉnh Cần Thơ, con của
ông Nguyễn Quang Diệu và bà Mai Thị Ðường.
Từ nhỏ ông học chữ
Nho, sau chuyển sang học chương trình Pháp - Việt trong năm năm tại Cần
Thơ.
Năm 1911, ông thi đậu
học bổng trường Trung học Mỹ Tho, sau đó lên Sài Gòn học trường Chasseloup
Laubat, thi đậu bằng Thành Chung năm 1915. Rồi ông học trường Công Chánh
Hà Nội và thi đậu bằng Cao hoïc Kỹ thuật Công chánh Hà Nội năm 1918. Năm
1919 ông sang làm việc tại Campuchia, năm 1925 về làm Sở Hỏa Xa Sài Gòn,
năm 1944 làm Giám Ðốc Hỏa Xa miền Nam.
Lúc nhỏ, ông quy y
theo phái Cao Ðài Tiên Thiên. Sau đó ông chuyển qua nghiên cứu Tin Lành -
Gia Tô Giáo.
Cuối năm 1930, nhân
đọc quyển La Sagesse du Bouddha (Tuệ Giác của Phật) và hiểu được giá trị
đích thực của đạo Phật, từ đó ông ôm ấp ý nguyện truyền bá giáo pháp
Nguyên Thủy. Lúc đầu ông tập họp được các bạn đồng học gồm cư sĩ Cầm, Núi,
Nhật, Hương cùng nhau thực hành thiền định.
Năm 1935, khi gặp lại
người bạn là Bác sĩ Thú Y Lê Văn Giảng, ông đem quyển kinh Phật bằng chữ
Pháp giới thiệu và khuyên về Campuchia tầm sư học đạo. Sau đó người bạn
xuất gia là Hòa thượng Hộ Tông, người sáng lập Phật giáo Nguyên thủy Việt
Nam.
Năm 1938, khi đi tìm
đất cất chùa ở vùng ngoại ô Sài gòn Chợ Lớn, ông gặp được ông Bùi Ngươn
Hứa hiến phần đất ở Gò Dưa - Thủ Ðức để lập nên chùa Bửu Quang, ngôi chùa
đầu tiên của Phật giáo Nam Tông Việt Nam.
Năm 1939, ông đã
thỉnh Ngài Hộ Tông, Ngài Thiện Luật, Ngài Huệ Nghiêm và một nhà sư người
Campuchia về Việt Nam hoằng dương giáo pháp. Cũng trong năm 1939 này, ông
đã thỉnh Ðức vua Sãi Campuchia Chuôn Nath và 30 vị Tỳ kheo Campuchia về
làm Lễ Kiết Giới Sìmà tại chùa Bửu Quang.
Năm 1940, ông bán nhà
lấy nửa số tiền cất lại chùa Bửu Quang bằng ngói gạch và một cốc lầu gồm
ba căn cũng bằng gạch ngói, phân nửa tiền còn lại ông mua ruộng để lo chi
phí ẩm thực cho chùa.
Năm 1948, ông khởi
công xây dựng chùa Kỳ Viên tại Bàn Cờ Sài Gòn và thỉnh chư Tăng đến thuyết
pháp, Pháp sư Thông Kham từ Lào đã được thỉnh về thuyết pháp tại chùa Kỳ
Viên này. Ngài Naradà ở Tích Lan đã đến ngôi chùa này để mở đạo tràng
giảng giáo lý.
Ngày 14/5/1957 ông
đứng ra thành lập Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy dành cho cư sĩ hoạt động.
Ngày 18/12/1957 ông cùng với các Cao Tăng Nam Tông thành lập Giáo Hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam.
Bên cạnh Phật sự quan
trọng trên ông còn lưu tâm trước thuật, phiên dịch một số kinh sách phục
vụ công cuộc hoằng truyền Phật đạo, như sau:
1. Tại sao theo phái
Tiểu Thừa.
2. Chọn đường tu
Phật.
3. Trên đường hoằng
pháp của Ðức Phật.
4. Con đường giải
thoát.
5. Pháp vô ngã.
6. Thiền định.
7. Luân lý và xã hội
Phật giáo.
8. Niệm tâm từ.
9. Thành kiến ngã
chấp.
Năm 1961, ông đứng ra
vận động quyên góp tài chính để xây cất Thích Ca Phật Ðài (Vũng Tàu).
Ngoài ra, ông đã tham
dự Hội nghị kết tập Tam Tạng lần thứ 6 tại Miến Ðiện, tham dự Hội nghị
Phật giáo Thế Giới tại Thái Lan và Ấn Ðộ năm 1964, và ông cũng đã sang
Tích Lan và Singapore để thăm viếng các Hội Phật Giáo.
Tuổi cao sức yếu và
một số sở nguyện hộ phaùp đã viên thành. Cư sĩ về cõi Phật ngày mùng 2
tháng 5 năm 1979, tức ngày mùng 7 tháng 4 năm Kỷ Mùi, hưởng thọ 83 tuổi
đời, hơn 40 năm là Cư sĩ hộ pháp.
Là bậc tiên phong kỳ
vĩ trong lịch sử cộng đồng cư sĩ Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam, cư sĩ
Nguyễn Văn Hiểu đã để lại một sự nghiệp lớn lao là du nhập và phát triển
Phật Giáo Nguyên Thủy tại Việt Nam.
Lời Cuối Sách
Cẩn bạch cùng chư Tôn
đức, thân hữu tri thức.
Ðối với lịch sử cận
đaïi và hiện đại, việc công bố sớm một sự kiện cũng có những mặt hạn chế
nhất định vì quan điểm về sự kiện đó là của người ở trong cuộc nên chưa
thể nhận định chính xác và diễn đạt đầy đủ các nguyên nhân. Chính vì thế
mà nguyên tắc của ngành sử học là chỉ có các sự kiện được công bố sau 50
năm thì mới được xem là có giá trị lịch sử. Cho nên việc công bố tác phẩm
lịch sử trong hoàn cảnh nhất định sẽ chỉ có giá trị nhất định ở thời điểm
đó.
Vì thế trong khả năng
có thể và được phép, quyển sách này chỉ nêu những điểm nổi bật về thân thế
và sự nghiệp của Danh Tăng. Do đó, chắc có nhiều khiếm khuyết vì các sự
kiện trong bối cảnh liên quan đã ít nhiều được đơn giản hóa.
Ngoài ra, trong tập
sách này còn thiếu bóng một số vị Cao Tăng đã có công đóng góp lớn lao cho
Phật pháp, những lúc khó khăn cũng như lúc thuận lợi, chẳng hạn như các
Hòa Thượng Thiện Luật, Ðạt Từ, Tối Thắng hoặc các vị đã chịu đựng bao
nhiêu gian khổ, tìm lên vùng rừng sâu nước độc ở Cao Nguyên để gieo hạt
giống Phật pháp giáo hóa chúng sinh nơi đèo heo hút gió như các Hòa Thượng
Nhơn Thứ khai sơn chùa Linh Quang ở Ðà Lạt, Lâm Ðồng, Hòa Thượng Quang Huy
ở Buôn Ma Thuột, Hòa Thượng Trí Hữu ở Quảng Nam - Ðà Nẵng.
Vì việc thu thập tài
liệu quá khó khăn như đã nói trên đây, mà lại muốn tập sách đầu tiên này
sớm ra mắt Chư Tôn Ðức vaø quí vị độc giả, nên Ban chủ biên đành phải gác
lại trong tập sau, chứ không phải là đã bỏ sót.
Chúng tôi mong rằng,
công trình này sẽ là tiền đề thúc đẩy việc làm sáng tỏ thêm những nghi vấn
lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp của Danh Tăng mà người biên khảo chưa tìm
thấy đầy đủ ở mọi khía cạnh.
Chúng tôi cũng hy
vọng nhận được sự góp ý, tư liệu để những trang sử được tiếp tục viết sâu
hơn, đầy đủ hơn và sẽ được công bố tiếp theo vào một thời điểm khác bằng
các quyển sử chuyên đề và chi tiết hơn về hành trạng của các vị Danh Tăng
mà điều kiện cho phép.
Trân trọng.
BAN BIÊN TẬP
CONTENT SYNOPSIS
“Biographies of
Prominent Monks of the Twentieth Century” is the first volume of the
research project of Vietnamese Buddhism's history.
It has as object the
introduction to researchers and readers of the lives of prominent monks,
from birth to death, who had made exceptional contributions to religion,
people and the Vietnamese Buddhist sangha during their present existences,
and of what they had bequeathed as lessons for coming generations to
follow.
This study, of a
comprehensive character, includes prominent monks of all three regions of
Vietnam - North, Center and South, without distinction of sects,
localities and nationalities provided they were Vietnamese and had
distinguished themselves by their works to religion and people in every
sphere.
In addition, this
study makes no difference of these personalities, subjective political
convictions during their lives and in their activities_: instead, it
offers a summary of these in three contents_: life, work and
accomplishments, left behind and recognized by Buddhist group, and the
memory of whose work and virtue remains vivid in the hearts of Buddhists.
In the process of
writing this book, we strove to keep to the method of historical research
and of objective evaluation of data expected of historians. As oriented by
the initialtheme, we limited ourselves to draw up the biographies of
concrete personalities, who are ranged according to the chronological
order of their demises. So that readers may gain awareness of the
relationship between different periods of the history of Vietnamese
Buddhism, we have tentatively divided it into such periods as_:
- Pre - renascence
period of Vietnamese Buddhism _ 1900 - 1929
- Renascence period
of Vietnamese Buddhism_: 1930 - 1945
- Period of
Vietnam's division_: 1954 - 1975
- Period of national
reunification_: 1975 - 1933
This book contains
biographies of one hundred monks and of four Buddhist laymen who deserved
well of the religion and of the country by making significant
contributions during these four periods. It is volume I, the first part of
the historical project which has yet to be completed.
The history of the
nation has turned over its pages which affords pre - conditions for the
renascence of Buddhism. Along with the people' s progress to win back
independence and their own values, Vietnamese Buddhism, after having been
many centuries in the twilight, has sparkled all of a sudden into light to
make contributions to the country and nation by the lives and deeds
prominent monks recorded in this volume.
In so far as
centemporary and modern history are concerned, the ealy revelation of an
event presents limitations since its causes cannot yet be ascertained and
appraised fully. Thus, in what is possible and permissible, this book only
deals with the positive aspects of the works bequeathed by prominent monks
to serve as lodestar for coming generations.
It is therefore
unavoidable that it contains shortcomings with regard to related events.
We only hope that it affords a precondition for further clarification of
doubts which howere remain unknown to the authors. We welcome advices and
assistance in the form of materials from learned scholars so that we may
be able to write the next volumes more deeply and exhaustively.
SYNOPSIS DU CONTENU
“Biographies des
Bonzes Illustres Du Vingtième Siècle” est le premier volume qui fait
partie d'un projet d'étude sur l'histoire du Bouddhisme Vietnamien.
L'objet de ce livre
est de presénter aux chercheurs et lecteurs la vie des bonzes illustres,
de la naissance à la mort, qui ont bien mérité de la religion, de la
nation et de l'Eglise Bouddhiste durant toutes leurs présentes existences,
et ce que ces personnages ont légué comme lecons à suivre aux génération
qui viennent.
Cette étude, de
caractère global, comprend les illustres bonzes de toutes les trois
régions - Nord, Centre et Sud du Viet nam - sans distinction de secte, de
localité et de nationalité pourvu qu' ies fussent Vietnamiens et eussent
apporte des contributions à la religion et à la nation dans tous les
domaines.
Elle ne fait en outre
aucune différence entre convictions politiques subjective de ces
personnage durant leur vie et dans leurs activités et se veut d'en faire
un résumé selon ces trois contenus_: Vie, Travail et Oeuvtes léguées et
reconnues par les groupes Bouddhistes, et dont le souvenir de leurs
actions et vertus reste vivant dans les esprits.
Au cours de la
rédaction de ce livre, nous nous sommes efforcés de nous astreindre au
processus de recherche scientifique en historiographie et d'évaluer les
donneés en toute objectivité en tant que historiens. Respectant le sujet
initialement adopté nous nous bornons à écrire les biographies des
personnalités coverètes et de les classer d'après l'ordre chronologique
des dates de dècès.
Afin que les lecteurs
saisissent les liens entre les différentes périodes de l'histoire du
Bouddhisme Vietnamien, nous tentons de la diviser en périodes comme suit_:
- Période de pré -
renaissance du Bouddhisme Vietnamien_: 1900 - 1929
- Période de
renaissnace du Bouddhisme Vietnamien_: 1930 - 1954
- Période de division
du pays_: 1954 - 1975
- Période de ré
unification nationale_: 1975 - 1993
Le livre présent
comprend les biographies de cent bonzes et de quatre laiques bouddhistes
qui ont apporté des contributions significatives durant ces quatres
périodes. C'est le vomume I de la première partie du projet d' étude de
l'histoire du Bouddhisme Vietnamien qui reste à parachever.
L'histoire du pays a
tourné ses pages, ce qui a fourni les conditions préalables de la
renaissance de Bouddhisme. En marche avec la nation dans le recouvrement
de son indépendance et de ses propres valeurs, le Bouddhisme Vietnamien,
étant pour plusieurs siècles dans les brumes, a éclaté de mille feux pour
contribuer an pays et à la nation les accomplissements et oeuvres des
bonzes illustres aux quels ce livre fait houneur.
Four l'histoire
contemporaine et moderne, la publication prématurée des évènements a aussi
ses limites parce qu'il n'est pas encore possible de vérifier et
d'analyser leurs causes justement et profondément.
Ainsi, dans le
possible et permissible, ce livre relate seulenemt les aspects positifs
des oeuvres que ces personnalités ont légueés pour servir d' exemples aux
génération qui viennent.
Cette étude contient
par conséquent des lacunes iné vitables en ce qui concerne certains faits.
Osons - nous espérer qu'elle constituera un stimulant pour clarifier
davantage les doutes qui demeurent, encore inconnus aux auteurs, et de
recevoir de la part des chercheurs érudits des conseils et de l'assistance
en matière de matériaux pourque nous puissions rédiger plus profondément
et exhaustivement l' histoire du Bouddhisme Vietnamien dans volumes
subséquents.
PHỤ LỤC
A:
01. HÒA THƯỢNG THÍCH
KHÁNH ANH
02. HÒA THƯỢNG THÍCH
VẠN ÂN (Hương Tích)
B:
03. HÒA THƯỢNG THÍCH
NGUYÊN BIỂU (Tổ Bồ Ðề)
C:
04. HÒA THƯỢNG THÍCH
THANH CHÂN
05. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUỆ CHIẾU
06. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN CHIẾU
07. HÒA THƯỢNG THÍCH
BỬU CHƠN
08. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN CHƠN
09. HOÀ THƯỢNG THÍCH
BỬU CHUNG
D, Ð:
10. HÒA THƯỢNG THÍCH
THÀNH ÐẠO
11. HÒA THƯỢNG THÍCH
VĨNH ÐẠT
12. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUỆ ÐĂNG (Tổ Thiên Thai)
13. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ ÐỘ
14. HÒA THƯỢNG THÍCH
HOẰNG ÐỨC
15. HÒA THƯỢNG THÍCH
MINH ÐỨC
16. HÒA THƯỢNG THÍCH
QUẢNG ÐỨC
E:
17. HÒA THƯỢNG LÂM
EM
G:
18. HÒA THƯỢNG THÍCH
VĨNH GIA 47
19. HÒA THƯỢNG THÍCH
TÂM GIÁC 451
20. HÒA THƯỢNG THÍCH
VIÊN GIÁC 483
H:
21. HÒA THƯỢNG THÍCH
DOÃN HÀI (Tổ Tế Xuyên)
22. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHÁP HẢI
23. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ HẢI (Bích Liên)
24. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ HẢI
25. HÒA THƯỢNG THÍCH
THANH HANH (Tổ VĩnhNghiêm)
26. HÒA THƯỢNG THÍCH
GIÁC HẠNH
27. HÒA THƯỢNG THÍCH
CHÁNH HẬU
28. HÒA THƯỢNG THÍCH
ÐÔN HẬU
29. HÒA THƯỢNG THÍCH
MẬT HIỂN
30. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN HOA
31. HÒA THƯỢNG THÍCH
KHÁNH HÒA
32. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN HÒA
33. HÒA THƯỢNG THÍCH
TÂM HOÀN
34. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHÚC HỘ
35. HÒA THƯỢNG THÍCH
BỬU HUỆ
36. QUỐC SƯ PHƯỚC
HUỆ (Tổ Thập Tháp)
37. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHƯỚC HUỆ
38. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUỆ HƯNG
39. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ HƯNG
40. HÒA THƯỢNG THÍCH
MINH HÒA - HOAN HỶ
I, K:
41. HÒA THƯỢNG HOẰNG
ÂN - MINH KHIÊM
42. HÒA THƯỢNG THÍCH
MẬT KHẾ
43. HÒA THƯỢNG THÍCH
TỊNH KHIẾT
44. HÒA THƯỢNG THÍCH
THÁI KHÔNG
L:
45. HÒA THƯỢNG THÍCH
AN LẠC
46. HÒA THƯỢNG THÍCH
BỬU LAI
47. HÒA THƯỢNG ẨN
LÂM
48. HÒA THƯỢNG THÍCH
BÍCH LÂM
49. HÒA THƯỢNG THÍCH
TỐ LIÊN
50. HÒA THƯỢNG THÍCH
THẾ LONG
M:
51. HÒA THƯỢNG THÍCH
BÌNH MINH
52. HÒA THƯỢNG THÍCH
NHỰT MINH
53. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN MINH
N:
54. HÒA THƯỢNG TÀNG
NÊ
55. NHƯ PHÒNG HOẰNG
NGHĨA
56. HÒA THƯỢNG GIỚI
NGHIÊM
57. HÒA THƯỢNG THÍCH
MẬT NGUYỆN
58. HÒA THƯỢNG THÍCH
TÂM NGUYỆN
59. HÒA THƯỢNG THÍCH
MINH NGUYỆT
60. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHƯỚC NHÀN
61. HÒA THƯỢNG HỮU
NHIÊM
62. HÒA THƯỢNG THÍCH
GIAÙC NHIÊN
63. HÒA THƯỢNG THÍCH
ÐỨC NHUẬN
P:
64. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUỆ PHÁP
65. HÒA THƯỢNG THÍCH
GIÁC PHONG
66. HÒA THƯỢNG THÍCH
TỪ PHONG (Giác Hải)
67. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỀN PHƯƠNG (Phước Sơn)
Q:
68. TỔ MINH ÐĂNG
QUANG
69. HÒA THƯỢNG GIÁC
QUANG
70. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUỆ QUANG
71. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHƯỚC QUANG
R, S:
72. HÒA THƯỢNG TỊNH
SỰ
T:
73. HÒA THƯỢNG THÍCH
GIÁC TÁNH
74. TỔ TUỆ TẠNG -
THÍCH TÂM THI
75. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỀN TÂM
76. HÒA THƯỢNG THÍCH
HUYỀN TÂN
77. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRỪNG THANH (Tổ Trung Hậu)
78. HÒA THƯỢNG THÍCH
CHÁNH THÀNH
79. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ THẮNG
80. HÒA THƯỢNG THÍCH
MẬT THỂ
81. HÒA THƯỢNG THÍCH
CHÍ THIỀN (Tổ Phi Lai)
82. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ THIỀN
83. HÒA THƯỢNG THÍCH
HOÀN THÔNG
84. HÒA THƯỢNG THÍCH
KHÁNH THÔNG
85. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRÍ THỦ
86. HÒA THƯỢNG THÍCH
TRUNG THỨ (Tổ Bằng Sở)
87. HÒA THƯỢNG THÍCH
THANH TÍCH (Tổ Hương Sơn)
88. HÒA THƯỢNG THÍCH
GIÁC TIÊN
89. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN TÒNG
90. HÒA THƯỢNG HỘ
TÔNG
91. HÒA THƯỢNG THÍCH
HẢI TRÀNG
92. HÒA THƯỢNG THÍCH
PHÁP TRÀNG
93. HÒA THƯỢNG THÍCH
THANH TRÍ
94. HÒA THƯỢNG THÍCH
HÀNH TRỤ
95. HÒA THƯỢNG THÍCH
HƯNG TỪ
96. HÒA THƯỢNG NGỘ
CHÂN TỬ
97. HÒA THƯỢNG THÍCH
THIỆN TƯỜNG
U:
98. HÒA THƯỢNG THÍCH
MẬT ỨNG
V:
99. HÒA THƯỢNG SƠN
VỌNG
Y:
100. HÒA THƯỢNG LIÊN
TÔN - THÍCH HUYỀN Ý
PHỤ LỤC - CƯ SĨ
106. CƯ SĨ NGUYỄN
VĂN HIỂU
103. CƯ SĨ THIỀU
CHỬU - NGUYỄN HỮU KHA
104. CƯ SĨ TÂM MINH
- LÊ ÐÌNH THÁM
105. CƯ SĨ CHÁNH TRÍ
- MAI THỌ TRUYỀN
THƯ MỤC THAM KHẢO
TÁC PHẨM, SÁCH :
- 50 Năm Chấn Hưng
Phật Giáo. Thích Thiện Hoa. Sen Vàng XB - Sàigon - 1970
- Phật Giáo Việt Nam
ngày nay. Thích Thiện Hoa. Sen Vàng XB - Sàigon 1971.
- Việt Nam Phật Giáo
Sử Lược. Thích Mật Thể. Minh Ðức XB - Ðà Nẳng - 1960.
- Việt Nam Phật Giáo
Sử Luận tập III. Nguyễn Lang. Lá Bối XB - Paris -
1985.
- Sự Phát Triển Của
Tư Tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến CMT8. Trần Văn Giàu. Tập II - NXB Khoa
Học Xã Hội XB - Hà Nội - 1973.
- Tăng già Việt Nam.
Trí Quang. Linh Quang XB- Huế - 1960.
- Phật Giáo Tranh Ðấu
Sử. Quốc Oai - Sàigon - 1963.
- Lược Sử Phật Giáo
Việt Nam. Nguyễn Tài Thư- Viện Triết Học XB - Hà Nội 1990.
- Việt Nam Phật Giáo
Tranh Ðấu Sử. Tuệ Giác- Sàigon - 1964.
- Chung Một Bóng Cờ.
Ủy Ban TW MTTQ Việt Nam XB - Thành phố HCM - 1993.
- Tiểu Sử Chư Tổ Chùa
Quán Sứ. Thiều Chửu. Ðuốc Tuệ XB - Hà Nội - 1953.
- Việt Nam Anh Kiệt.
Trần Trung Nghĩa - Thích Bổn Châu. Sở VHTT Kiên Giang XB - Kiên Giang
1991.
- Tiểu Sử Hòa Thượng
Tuệ Tạng Và Lá Tâm Thư. Thích Bình Minh. Giác Minh XB - Sàigon - 1959.
- Tháp Ða Bảo. Thích
Thiện Hoa. Chùa Phước Hậu XB - Vĩnh Long - 1968.
- Tiểu Sử Chư Hòa
Thượng Tôn Sư. Thiện Quí - Ðồng Ðiển. Tổ Ðình Ðông Hưng XB - TPHCM - 1991.
- Ánh Minh Quang.
Thích Giác Toàn. Hệ Phái Khất Sĩ XB - TPHCM - 1991.
- Lửa Thiêng Ðạo Mầu.
Lan Ðình - Phương Anh. Viện Phật Học XB, Sàigon 1963.
- Ký Sự Dự Hội Nghị
Phật Giáo Thế Giới. Thích Tố Liên. Quán Sứ XB - Hà Nội - 1950.
- Lược Khảo Phật Giáo
Sử Việt Nam. Vân Thanh. Các Phật Học Viện và các chùa XB - Sàigon - 1974.
- Thiền Sư Việt Nam.
Thích Thanh Từ. Thành Hội Phật Giáo TPHCM. XB - TPHCM - 1992.
- Tiểu Sử Cố Hòa
Thượng Thích Thiện Hoa. Hướng Chân. Tổ Ðình Ấn Quang XB - Sàigon - 1978.
- Tiểu Sử Cố Hòa
Thượng Thích Thiện Hòa. Môn Ðồ Pháp Quyến. Tổ Ðình Ấn Quang XB - TPHCM -
1978.
- Tiểu Sử Hòa Thượng
Thích Trí Hưng. Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Tổ Ðình Sắc Tứ Từ Lâm XB - Quảng
Ngãi - 1968.
- Kỷ Yếu Tưởng Niệm
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng. Môn Ðồ Pháp Quyến. Huệ Quang Tu Viện XB - TPHCM
1990.
- Mấy Vấn Ðề Về Phật
Giáo Và Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam. Viện Triết Học. NXB Khoa Học Xã Hội XB
- Hà Nội - 1986.
BẢN THẢO :
- Lược Sử Phật Giáo
Tỉnh Bến Tre năm 1990. Hòa Thượng Vĩnh Ðạo. Bản chép tay - Bến Tre 1927.
- Lược Sử Ðấu Tranh
Của Phật Giáo Nam Kỳ 1862 - 1975. Tống Hồ Cầm. Bản thảo đánh máy 1985.
- Chùa Tháp - Danh
Tăng - Phật Sự. Nguyên Hồng. Bản thảo đánh máy.
TẠP CHÍ BÁO :
- Bồ Ðề Tân Thanh.
Nguyệt San, các số 61-80, 101-120 - năm thứ 4-6. Hội Phật tử Việt Nam XB -
Hà Nội 1953.
- Tam Bảo. Tạp chí,
các số 2-6 - năm thứ nhất, Hội Ðà Thành Phật Học, Ðà Nẳng 1937.
- Phương Tiện. Bán
Nguyệt San 17-33. Hội Việt Nam Phật Giáo XB - Sàigon - 1950.
- Tưø Bi Âm. Tạp
chí - số 101-120 - năm thứ 5. Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học XB - Sàigon -
1936.
- Phật Giáo Việt
Nam. Nguyệt San, các số 1-20, năm thứ nhất. Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
XB- Sàigon - 1956.
- Từ Quang. Tạp chí,
các số 1-201. Hội Phật Học Nam Việt XB - Sàigon - 1955-1965.
- Liên Hoa. Nguyệt
San - số 3 - năm thứ 7. Phật Giáo Trung Phần XB - Huế 1965.
- Ðại Chúng. Tuần
Báo, số 237-249. Nguyễn Duy Hinh XB - Sàigon - 1963.
- Tiến Hóa. Bán
nguyệt San, số 4, năm thứ nhất. Hội Phật Học Kiêm Tế - Rạch Giá - 1938.
- Duy Tâm. Nguyệt
San, số 1-10 - năm thứ nhất. Hội Lưỡng Xuyên Phật Học - Trà Vinh 1935.
- Viên Âm. Nguyệt
San, số 1-22 - năm thứ nhất- hai. Hội An Nam Phật học - Huế - 1936.
- Bát Nhã Âm. Tạp
chí, số 1-14, năm thứ nhất. Hội Liên Hữu Thiên Thai Thiền Giáo Tông - Bà
Rịa - 1936.
- Hải Triều Âm. Bán
Nguyệt San, số 1-21, năm thứ nhất. Viện Hóa Ðạo XB Sàigon - 1964.
- Ðuốc Tuệ. Bán
Nguyệt San,số 1-23, miền Vĩnh Nghiêm XB - Sàigon 1964.
- Nội San Nghiên Cứu
Phật Học. Tạp chí số 11, Phân Viện Nghiên Cứu PHVN XB - Hà Nội - 1993.
- Giác Ngộ. Bán
nguyệt san, bộ năm 85-92. Thành Hội Phật Giáo TP HCM XB - TP HCM -
1985-1993.
- Tập Văn Phật Giáo.
Tạp Chí các số 12-15-18-21-24. Ban Văn Hóa TW GHPGVN XB - TP HCM -
1988-1992.
NGOẠI VĂN :
- A short History of
Chinese Philosophy. Phùng Hữu Lan. New York - 1948.
- Cultes et Religions
de L'indochine Annamite - G. Coulet. Saigon 1929.
- Les Empereurs
d'Annam et le Bouddhisme. Trần Văn Giáp - BEFEO.
- Esquisse d'une
histoire du Bouddhisme au Tokin.
Trần Văn Giáp -
BEFEO.
- The central
Philosophy of Buddhism, R.V. Murti London - 1955.
- Popular Buddhism
in China. Shao Chang Lee - 1938.