Tổ Hoằng Ân thế danh
Nguyễn Văn Khiêm, húy Minh Khiêm, pháp hiệu Liễu Khiêm-Diệu Nghĩa. Sinh
ngày rằm tháng 07 năm Canh Tuất (1850) tại làng Bà Ðiểm, tỉnh Gia Ðịnh.
Ngài sinh ra trong một gia đình nông dân, hai vị thân sinh do tham gia vào
cuộc nổi dậy chống sưu cao thuế nặng của triều đình nhà Nguyễn nơi Mười
Tám Thôn Vườn Trầu và Bưng Tầm Lạc, nên gởi Ngài lại nhờ bà con nuôi giúp
để lánh mặt, tránh những đợt truy lùng gắt gao của hương hào địa chủ.
Năm 1859, lúc vừa
được 9 tuổi, thực dân Pháp sau khi đánh chiếm thành Gia Ðịnh đã cử binh
đến nơi đÂy, nông dân lại nổi dậy, kế đó nghĩa binh Trương Ðịnh sau khi
đánh đồn Thuận Kiều đã kéo quân về đây và được nhân dân trao thanh kiếm
Bình Tây Ðại Nguyên Soái(1). Giữa lúc tình thế nhiều biến đổi ấy, Ngài
không thể tìm lại được song thân. Vì thế tên tuổi của hai người cho đến
mãi về sau vẫn không biết được, sống chết như thế nào, tại đâu?
Chưa thấy có sử liệu
nào ghi lại ngày tháng Ngài xuất gia lúc bao nhiêu tuổi. Chỉ biết Ngài đã
đến chùa Giác Lâm (Nay ở quận Tân Bình - Sài Gòn) xin xuất gia với Tổ Hải
Tịnh.
Khi đã trở thành một
vị xuất gia, Ngài hết lòng học hỏi, tham cứu tất cả các pháp yếu nơi thiền
môn. Với trí tuệ và tư chất thông minh, Ngài đã sớm vượt xa các pháp lữ đã
xuất gia trước mình trong một khoảng thời gian rất ngắn. Do đó Ngài đã
được Bổn sư chú ý và chăm sóc tận tình. Ngoài sở học uyên thâm, Ngài còn
có phong thái nhanh nhẹn mà điềm đạm, vóc người cao ráo, thanh thoát, hội
đủ các tướng hảo ở một vị Tỳ kheo xuất trần vi thượng sĩ.
Năm 1870, Ngài được
trao nhiệm vụ trụ trì chùa Giác Viên khi vừa đúng 20 tuổi. Ðây là một
trường hợp cá biệt, rất hiếm thấy nơi lịch sử các vị Tổ đức xưa. Ðủ để
khẳng định hoài bão mà Bổn sư Ngài đã đặt để, quả chẳng uổng.
Năm 1876 ở độ tuổi
26, Ngài lại được cử làm Giáo thọ và đã được Tăng chúng kính trọng do sự
tinh tấn và uyên thâm Phật pháp. Cùng năm đó, Tổ Minh Vi - Mật Hạnh (trụ
trì chùa Giác Lâm) cảm thấy sức khỏe suy yếu và nhận biết một vị Tăng trẻ
như Ngài lại có nhiều nỗ lực, đầy trách nhiệm, nên đã giao cho Ngài cùng
lúc trụ trì hai chùa Giác Vieân và Giác Lâm.
Năm 1899, với trách
nhiệm của mình, Ngài đã cho tiến hành trùng tu lại ngôi chùa Giác Viên.
Ðây là lần trùng tu lớn nhất trong lịch sử chùa này. Trong đó Ngài cho mở
rộng mặt bằng chùa và chỉnh trang lại chánh điện theo đúng sở nguyện chư
Tổ đời trước chưa có dịp thực hiện được.
Cũng như các vị Tổ
trong tông môn, Ngài cũng không có đệ tử nhiều ngoài hai Ngài Như Nhu -
Chơn Không và Như Phòng - Hoằng Nghĩa. Vì thế thời gian kế tiếp Ngài đã cử
Ngài Chơn Không trụ trì chùa Giác Viên, giúp cho Ngài có thời gian lo việc
khác (Chức trụ trì nơi này khi Ngài Chơn Không tịch thì được trao cho Ngài
Như Phòng tiếp nối)(2).
Sự kiện nổi bật
trong việc hoằng đạo của Ngài là việc sao chép kinh sách, bằng cách cho
khắc bản gỗ kinh, luật và diễn nôm một số sách Phật giáo khác. Số lượng
công trình biên tập diễn nôm và các loại sách khác do Ngài chứng minh rất
nhiều nhưng đaõ thất lạc cũng không ít. Hiện tại chỉ còn lưu lại một số
như bản chép tay bộ Kinh Pháp Hoa, được chép vào năm Bính Tuất (1886) mỗi
phẩm đóng thành một tập.
Năm 1880, tác phẩm
bằng thơ lục bát dưới dạng chữ Nôm, tập “Hứa Sử Vãn Truyện” cũng được Ngài
cho khắc gỗ để in lại.
Năm 1894, bộ sách
Thiền Môn Trường Hàng Luật bằng chữ Hán, được Ngài chỉnh biên tóm lược lại
bằng chữ nôm và đặt tên là TỲ NI NHỰT DỤNG YẾU LƯỢC cùng cho khắc in để
phổ biến rộng rãi.
Ðể tiến hành khắc in
bộ Luật nói trên cùng nhiều loại sách khác, Ngài đã nhờ đến sự trợ lực của
Ngài Ðạt Lý - Huệ Lưu (trụ trì Chùa Huê Nghiêm, Thủ Ðức), giúp phần sao
chép để khắc vào bản gỗ.
Với khối lượng bề
dày của mỗi quyển sách thì cũng bấy nhiêu số lượng bản gỗ. Và như thế,
ngay tại chùa Giác Viên, Ngài cho mời các thợ khắc về ăn ở tại chùa để
thực hiện công trình.
Ngài đã bỏ công và
mạnh dạn thực hiện công trình in bộ Luật quan trọng ấy. Ngài ý thức được
rằng đó sẽ là bộ sách giáo khoa đầu tiên ở cấp sơ học, rất cần thiết cho
các chùa ở Nam Bộ. Kết quả là đã trở thành giáo trình học tập nơi các cuộc
khảo thí của những Trường Hương, Trường Kỳ thời bấy giờ.
Năm 1898, một số
kinh chủ yếu như Nhơn Quả Thực Lục Toàn Bản, Lăng Nghiêm Kinh Tán, Thí
Thực Khoa v.v... được Ngài chứng minh dưới bản khắc với tên Diệu Nghĩa, và
diễn nôm Tống Ðàn Tăng.
Năm 1912, Ngài còn
đứng ra hiệu đính cho bộ Quy Nguyên Trực Chỉ do đệ tử là Ngài Từ Phong-
Như Nhãn diễn nôm.
Trong số kinh sách
chép tay lưu lại, hiện còn thủ bút của Ngài bằng hai câu đối. Trong đó
neâu lên Pháp danh, Pháp hiệu và tên chùa Giác Viên:
“GIÁC ngộ đốn HOẰNG
ÂN, ân mộc Như Lai thọ ký.
VIÊN thông minh DIỆU
NGHĨA, nghĩa tùng Bát Nhã nghiên cầu”.
Ngoài việc thực hiện
các công trình in khắc kinh trên, Ngài coøn dành rất nhiều thời gian du
hóa khắp nơi. Bước chân Ngài đã từng trải suốt cả đồng bằng sông Cửu Long
như Mỹ Tho, Ðồng Tháp, Cửu Long, An Giang, Hà Tiên v.v... Ngài đi bằng tất
cả phương tiện, có lúc phải đi bộ, kể cả trèo đèo băng suối như khi qua
vùng hiểm trở Thất Sơn. Ðặc biệt, tại Tiền Giang và An Giang, Ngài đã trụ
lại một thời gian khá dài từ năm 1905 cho đến khi viên tịch.
Trong thời gian ở
Tiền Giang, Ngài đã tu tập tại am Viên Giác, cách chùa Bửu Lâm không xa,
do đệ tử là Thiên Trường dựng. Cũng tại nơi này, khoảng năm Ất Mùi (1895)
Ngài đã đứng ra vẽ kiểu và chứng minh cho việc xây dựng ngôi chùa Vĩnh
Tràng, một ngôi chùa lớn nhất Nam Bộ hiện nay.
Sau khi rời Tiền
Giang, Ngài đi sang một số tỉnh khác và trụ lại chùa Tây An (Núi Sam -
Châu Ðốc). Ðến đâu Ngài cũng để lại niềm kính mến sâu xa trong lòng Tăng
chúng và Phật tử. Cho đến hôm nay, khi nhắc đến Ngài, Phật tử nơi này vẫn
còn gọi Ngài là “Tổ Núi Sam”. Thời gian tại chùa Tây An, Ngài ở trong một
am nhỏ sau chùa do Sư bà NHƯ THÀNH - DIỆU DANH (3) là đệ tử của Ngài dựng
nên và thường xuyên công quả lo cơm nước cho Ngài. Tại đây, Ngài còn hai
thị giả nữa là Thiện Diệu (chùa Châu Viên) và một vị là thư ký nên gọi là
Ký Viên (chùa Pháp Võ).
Những ngày cuối
cùng, Ngài không cảm thấy đau nhức như các bậc luống tuổi, mặc dù Ngài đã
đi suốt cả một thời gian dài như thế. Ngược lại, những ngày này Ngài càng
tráng kiện và minh mẫn hơn. Do đó, Ngài tận dụng những giây phút hiếm hoi
còn lại để khuyên nhủ các đệ tử, nhắn gởi về Giác Lâm, Giác Viên chăm lo
giữ gìn ngôi chùa Tổ v.v...
Vào giờ Thìn, ngày
29 tháng Giêng năm Giáp Dần (1914) Ngài đã thâu thần thị tịch tại chùa Tây
An (Núi Sam - Châu Ðốc)(4). Hưởng thọ 64 tuổi. Nhục thân Ngài sau đó được
đưa về nhập tháp tại chuøa Giác Lâm (Sài Gòn). Tại chùa Tây An tháp vọng
cũng được dựng lên để kính thờ Ngài.
Với hành trạng như
thế Ngài thật quả xứng đáng là người hậu duệ đời thứ 38 dòng Lâm Tế (Bổn
Ngươn) và truyền thừa cho các đệ tử sau này như Ngài Ðạt Lý - Huệ Lưu
(chùa Huê Nghiêm, Thủ Ðức), Như Lợi (chùa Giác Lâm), Như Nhu - Chơn Không,
Như Phòng - Hoằng Nghĩa (chùa Giác Viên), Như Nhãn - Từ Phong (chùa Giác
Hải, Q.6 - TP. HCM) và chùa Thiền Lâm (Tây Ninh).
Chú thích:
1) TP. CCT - Thanh
Giang - NXB TP. HCM 1980.
2) Sau đó, Ngài lập
một am trong khuôn viên chùa Giác Lâm (vị trí là bót Nguyễn văn Cự sau
này) đó là am Giác Ðế ( PTS Trần Hồng Liên).
3) Ảnh và bàn thờ Sư
Bà hieän đặt tại chùa Thới Hòa (Gò Vấp).
4) Có ý kiến cho
rằng Ngài tịch tại am Viên Giác (PTS Trần Hồng Liên).
HÒA THƯỢNG MINH HÒA - HOAN HỶ
(1846 - 1916)
Hòa thượng Minh Hòa
- Hoan Hỷ, thế danh là Nguyễn Thiên Hỷ, sinh năm Bính Ngọ (1846), tại ấp
Giồng Cám, làng Ðức Hòa, quận Ðức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc tỉnh Long
An). Trong một gia đình hằng kính tin đạo Phật, Ngài đã hưởng nguồn ân
phúc ấy nơi song thân từ thuở nhỏ. Do Ngài sinh ra giữa lúc cao trào chống
Pháp của các phong trào bùng nổ dữ dội, và nhất là giữa triều đình Tự Ðức
với cuộc nổi dậy của Trương Ðịnh. Hai cụ thân sinh của Ngài cũng nhập
cuộc, giữa một bối cảnh đaày nhiễu nhương, vừa chạy giặc vừa chống giặc
như mọi gia đình nông dân khác, nên nguồn gốc và tên tuổi của hai vị đến
nay chưa có sử liệu nào ghi lại được.
Năm ấy (1846), Ngài
sinh đúng vào năm Nguyễn Ðình Chiểu ra Huế hoïc thêm để chờ khoa thi Hội,
để rồi sau đó bao biến cố của gia đình và xã hội ập đến làm tiền đề cho
con người tài hoa ấy cảm tác nên những áng văn chương bất hủ. Ngài lớn
lên, được thâm nhập vào những giá trị tinh thaàn đó, nên ý chí và lòng yêu
nước đã bộc lộ từ rất sớm.
Năm 1862, lúc 17
tuổi, Ngài đã có đủ nhận xét trước sự kiện Quan Kinh Lược Sứ Phan Thanh
Giản, Lâm Duy Hiệp vâng lệnh vua Tự Ðức ký hòa ước Nhâm Tuất (1862)
nhươøng ba tỉnh miền Ðông cho Pháp. Do đó, trước và sau sự kiện này, Ngài
biết đến và tìm gặp Phan Văn Ðạt, Lê Cao Dõng ở vùng Tân An, đang lãnh đạo
phong trào chống Pháp nơi đây để thể hiện lòng bi phẫn trước thời cuộc.
Do sống trong hoàn
cảnh nghèo khốn, xa cha mẹ, lại chứng kiến biết bao nỗi khổ của đồng bào
trong chiến tranh. Cho nên trong khi liên lạc và theo dõi các phong trào
kháng Pháp, Ngài vẫn tìm đến Tổ Tiên Cần - Từ Nhượng tại chuøa Long Thạnh
(hiện này là xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) để xin
xuất gia học đạo giải thoát.
Cùng xuất gia tu học
với Ngài còn có Ngài Hoằng Chiếu-Minh Nhiên và Chơn Như-Minh Nghĩa trở
thành huynh đệ đồng sư và sống tu học rất lâu với Ngài nơi mái chùa này.
Ðối với tình hình
Phật giáo thời bấy giờ, Ngài cũng như các vị đồng môn thường hay được Thầy
mình dạy bảo tận tường, thường hay bộc lộ niềm ao ước đào tạo được tầng
lớp Tăng tài, dù là trong thời gian sơ khởi còn khó khăn mọi phía. Cho nên
truyền thống Tông môn trở thành điều cơ bản nhất để có thể truyền trao
giới pháp.
Mang hoài bão thiết
tha ấy của Thầy, sau khi Bổn sư Tiên Caàn-Từ Nhượng viên tịch, Ngài cùng
các vị đồng môn đã quy tụ được các Tăng sĩ từ nhiều hướng, với ý đồ thành
lập trường Phật học và đã được sự hưởng ứng đồng tình của rất nhiều vị Tôn
đức thời bấy giờ. Kết quả đã không phụ lòng mong mỏi chính đáng của Ngài,
ngôi chùa Long Thạnh đã nghiễm nhiên trở thành một trung tâm hoằng pháp
danh tiếng toàn Nam kỳ lục tỉnh, thu hút được Tăng sĩ khắp nơi đến tu học.
Trong số những vị đã
được đào luyện tại đây, dù thường xuyên hoặc gián đoạn, có thể kể đến các
vị Hòa thượng ở chùa Phước Long (Sa Ðéc), chùa Linh Phước (Mỹ Tho) v.v...
xuất thân tu học tại đây. Ngoài ra, theo một vài nguồn tin truyền khẩu từ
các vị Toå đức, thì chính Phật Thầy Tây An, vị giáo chủ sáng lập giáo phái
Bửu Sơn Kỳ Hương, không rõ thọ giới với Tổ nào nhưng mang pháp hiệu Minh
Huyên, thường xuyên lui tới nơi này để học đạo.
Song song với nhiệm
vụ tu học và hoằng dương, Ngài vẫn cùng vài pháp lữ khác dành nhiều thời
gian, bàn bạc trao đổi hoặc trực tiếp tham gia vào các phong trào chống
Pháp.
Từ tuổi niên thiếu
đến lúc trưởng thành, Ngài đã chứng kiến quá nhiều sự kiện không vui cho
đất nước. Sau này khi xuất gia rồi, Ngài còn có thêm một nỗi đau nữa là
Phật giáo - một tôn giáo vốn là nguồn sống hạnh phúc của dân An Nam lại bị
đẩy dần vào tàn lụi, sống âm thầm ở những nơi sơn cùng thủy tận. Tất cả
đều qua bàn tay và thâm ý bảo hộ vay mượn từ thực dân. Ðầu tiên vào năm
Mậu Ngọ (1858), Ngài cũng như hàng triệu thiếu niên khác chứng kiến việc
Pháp đánh chiếm (đầu tiên) thành Gia Ðịnh. Ngài cũng ghi đaäm hình ảnh đại
đồn Chí Hòa Phú ThỌ thất thủ, Nguyễn Duy tử trận, Nguyễn Tri Phương rút về
Biên Hòa; rồi việc Hồ Huấn Nghiệp lãnh quyền Tri phủ Bình Dương (Sài gòn -
Chợ Lớn) lập nên do tổ chức bí mật của các nghĩa sĩ, tieâu biểu nhất vẫn
là hình ảnh Trương Ðịnh, được mệnh danh “Hai người Việt Nam yêu nước”
v.v... (1)
Do đó, Ngài mang chí
cả của các bậc Tổ xưa dấn thân giúp nước cứu đời. Nhất là thời gian sau
khi ba tỉnh miền Tây bị chiếm, các cao trào chống Pháp càng rầm rộ, chia
thành bốn vùng rõ rệt (Bến Tre -Vĩnh Long - Trà Vinh, Rạch Giá - Cà Mau -
Cần Thơ, Thất Sơn - Châu Ðốc - Long Xuyên - Sa Ðéc và Bà Ðiểm - Hốc Môn).
Ngài tham gia vào vùng thứ tư, tức vuøng Bà Ðiểm - Hốc Môn. Tại nơi đây,
năm 1885 hình thành “Hội kín” do Nguyễn văn Bường, Phạm văn Hớn (Quản Hớn)
chỉ huy. Tổ chức này liên lạc được với anh em Phan Liêm (Cậu Ba), Phan Tôn
(Cậu Năm) hai con của Phan Thanh Giản (Nổi lên với khẩu hiệu: Cần Vương
cứu quốc, 5 tháng sau khi cụ Phan tuẫn tiết). Rồi Thủ Khoa Huân ở Mỹ Tho,
Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá v.v...
Có thể nói rằng, chi
tiết quan trọng trong việc dấn thân trực tiếp của Ngài vaøo phong trào
chống Pháp ở Hội Kín, động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất đối với một người vì
đạo và yêu nước như Ngài là từ thơ văn Nguyễn Ðình Chiểu, Nguyễn Thông và
đặc biệt là Phan Văn Trị (Cử Trị) với bài thơ Chùa Hư, mươïn thực cảnh để
chuyên chở tấm lòng yêu quí quê hương dân tộc; đồng thời kêu gọi sĩ phu
cùng góp sức, đã nung nấu trong Ngài thành hành động.
Dù Nguyễn văn Bường
cầm đầu nghĩa binh đánh vào Sài Gòn đã bị bắt trước khi khởi nghĩa, nhưng
trước đó đã nổi lên và chiếm được Hốc Môn đêm 30.1.1882, cùng với Nguyễn
Ðăng Hòa, Phan Văn Hớn, đốt cháy phủ đường Hốc Môn. Ngài cùng nghĩa quân
đột nhập vào tận phủ đường giết chết Ðốc Phủ Ca (Trần Tử Ca). Do Ðốc Phủ
Ca rất tàn ác , lập công với Pháp, bắt trẻ thơ, con cháu của những người
“đằng cựu” đánh Tây, bỏ vào cối giả gạo , lấy chày quết nát xương, gây nên
biết bao oán hờn đau xót trong nhân dân. Lý do đó, sau khi Ðốc Phủ Ca bị
giết, người dân còn chưa nguôi căm hờn , đã cắt đầu đem treo lên cột đèn
chợ Hốc Môn(2). Việc trừ (bằng biện pháp trên) được một người hung ác có
tội lớn với nước với dân như thế, sau này được nhaéc nhở như một gương
nhập thế tích cực nơi Ngài trong sự hy sinh cho phép “sát nhứt miêu, cứu
vạn thử”.
Sau đó, để trả thù
sự kiện trên, thực dân Pháp đã không ngừng bố ráp, tìm thủ tiêu những
người có liên quan đến nghĩa binh đêm khởi nghĩa. Cai quản Hớn đã bị giết
tại Hốc Môn. Hội Kín coi như tan rã, một số sĩ phu yêu nước sống sót tứ
tán tìm nơi ẩn náu. Ngài cũng thế, phải lánh xa chùa, xa những người thân
khá lâu. Trong thời gian lánh nạn đó, Ngài thực sự chuyên tâm trở về với
công việc một Tăng sĩ: tịnh tu, lo chuyển nghiệp.
Năm 1915 (Ất Mão),
do tuổi cao sức yếu và nhận thấy trước cơn gió vô thường sắp thoảng qua,
Ngài đã di chúc, trao quyền thừa kế lại cho Ngài Thiên Quang -Như Hào.
Năm 1916 (Bính Thìn)
ngày 26 tháng giêng, Ngài thị tịch, thọ 71 tuổi đời, 54 tuổi đạo.
Do công đức truyền
thừa đời thứ 38, chi phái Lâm Tế (dòng Bổn Ngươn), hiện nay bài vị của
Ngài còn được đặt thờ tại các chùa Long Thạnh, chùa Từ Ân (Q.6 - Thành phố
Hồ Chí Minh), chùa Thạnh Hòa (Cần Giuộc - Long An), chùa Kim Sơn (Phú
Nhuận); chùa Ðức Lâm (quận Tân Bình)...
Ðể đắc quả, có tám
vạn bốn ngàn phương cách (con đường) tu trì khác nhau. Mọi hành giả đều
tùy nhân duyên mà tạo tác (theo tinh thần Hành Xả của Ðại thừa), Ngài Minh
Hòa đã có mặt thật rực rỡ trong cuộc thế và đã tích cực giúp chấm dứt một
ác nghiệp bằng sự nhận chịu nhơn quả đối đãi ở mai sau về mình. Ngài đã
thể hiện một đức hạnh đặc thù vậy.
Chú thích:
1) Tập Văn yêu nước
Nam Bộ - Bảo Ðịnh Giang.
2) Có tư liệu cho
rằng: Ðó là ngày 25 tháng chạp năm Giáp Thân (1884) (PTS Trần Hồng Liên).
HÒA THƯỢNG
THÍCH VĨNH GIA (1840 - 1918)
Ngài họ Ðoàn tên
Nhược, quán làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, sinh vào năm
thứ 21, triều vua Minh Mạng (1840).
Xuất thân trong moät
gia đình nho phong, bẩm chất thông minh hiếu học, lúc Ngài được 18 tuổi
thì thân sinh đã mạng chung. Từ đó Ngài vân du đó đây hầu mở rộng kiến
thức. Ðến tỉnh Thuận Hóa, Ngài gặp cụ Bố Chính Nguyễn Khoa Luân (Về sau
tức Viên Giác Thiền sư) tại chùa Ba La Mật. Sau mấy ngày đàm đạo, các Ngài
nhận thấy thân mạng là vô thường, tam giới như nhà lửa, chỉ có lối tu học
chánh pháp của Như Lai mới là con đường giải thoát chân chánh.
Năm 1859, được 19
tuổi Ngài phát tâm tầm sư học đạo. Lúc bấy giờ tại tỉnh Quảng Nam, nơi quê
quán của Ngài, có Hòa Thượng Quán Thông, một vị danh Tăng, vào hàng thứ
năm dòng Lâm Tế, làm trú trì chùa Phước Lâm. Ngài mới xin thế phát đầu sư
với Hòa Thượng. Thọ Sa Di giới được 6 năm, Ngài tỏ ra là một Tăng sĩ xuất
chúng. Hòa Thượng Bổn sư Quán Thông đặt cho Ngài pháp danh là Ấn Bổn, tự
Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia.
Năm 1865, được 25
tuổi Ngài đến cầu đạo với Ngài Huệ Quang tại chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn)
Quảng Nam. Tại đây, Ngài thọ tam đàn Cụ Túc giới.
Năm 1893 (Quý Tỵ -
triều Thành Thái) Ngài cùng Hòa thượng Chí Thành mở Ðại giới đàn tại Tổ
đình Chúc Thánh (Quảng Nam) và Ngài nhận chức Giáo Thọ A Xà Lê tại giới
đàn này.
Năm 1894 (Giáp Ngọ),
Ngài được thỉnh làm Ðệ nhị Tôn chứng cho Ðại giới đàn tại Tổ đình Báo Quốc
(Thuận Hóa).
Năm 1906 (Bính Ngọ),
Ngài nhận làm Yết Ma cho Ðại giới đàn tại Tổ đình Thập Tháp Di Ðà (Bình
Ðịnh).
Năm 1908 Mậu Thân,
Ngài được thỉnh làm Ðàn đầu Hòa thượng Ðại giới đàn tại chùa Phước Lâm
(Quảng Nam).
Ðến năm 1910 (Canh
Tuất - triều Duy Tân) Ngài khai Ðại giới đàn tại Toå đình Phước Lâm, Hội
An, và làm Ðàn đầu Hòa Thượng. Giới đàn này quy tụ gần 200 giới tử, trong
đó sau này có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đệ nhất Tăng Thống Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa thượng Thích Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn
là đệ nhị Tăng Thống... Về phần tại gia thì có Miên Trinh Tuy Lý Vương, cụ
Ðô Thống Lê Viết Nghiêm v.v... và nhiều hoàng thân quốc thích khác đều là
đệ tử của Ngài.
Ngài có công lớn
trong việc đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm, chú trọng việc đào tạo Tăng
tài, giáo hóa hậu lai. Nhờ thế dân chúng thấm nhuần ảnh hưởng đạo đức của
Ngài, không những đối với Phật giáo đồ Quảng Nam mà còn đối với cả Phật
giáo miền Trung. Với sự nghiệp cao dày của Ngài, trọn đời hiến thân cho
việc phục hưng Phật giáo, cụ Thượng thư Hiệp biện Ðại học sĩ Nguyễn Hà
Ðình (đệ tử của Ngài) một nhà thâm nho và cũng thâm uyên giáo lý đã dâng
tặng Ngài hai câu đối bằng gỗ trầm hương, hiện nay còn treo tại chùa Phước
Lâm:
Tăng lữ
thả bồi hương hỏa xã,
Cao tình
du ái thủy vân hương.
Ngài thường căn dặn
đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới thì phải hoàn
lại y bát, ra khỏi già lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia
có vậy, nước Thiền định mới khai thông, đèn tri giác thêm sáng tỏ”. Trên
40 năm tu học và hành đạo, Ngài am tường giới luật, hành trì nghiêm tịnh,
đạo hạnh ngày càng vang dội.
Ðến năm 1918, tuổi
già sức yếu, Ngài gọi đồ chúng dạy bảo lần cuối rồi an nhiên thị tịch.
Ngài thọ 79 tuổi với 54 hạ lạp, tháp của Ngài được xây cất trang nghiêm cổ
kính phía tả Tổ đình Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam - Ðà Nẵng.
Hàng năm đến ngày 20
tháng 3 âm lịch, Tăng tín đồ tề tựu lại Tổ đình Phước Lâm, thành kính lễ
Húy kỵ tưởng niệm công đức Ngài. Ðạo phong cao vời của Ngài tỏa sáng mãi
trong Tăng tín đồ hậu thế.
HÒA THƯỢNG
THÍCH CHÁNH HẬU (1852 - 1923)
Hòa thượng Thích
Chánh Hậu, thế danh là Trà Xuân Tồn, gốc người Minh Hương, sinh năm Nhâm
Tý (1852) tại làng Ðiều Hòa, tỉnh Ðịnh Tường, nay thuộc tỉnh Tiền Giang.
Ngài xuất thân từ
một gia đình thế gia vọng tộc. Thân phụ Ngài làm chức Tri Phủ, nhưng khi
Ngài lớn lên thì gia đình gặp lúc suy vi vì thực dân Pháp bắt đầu xâm
chiếm nước ta. Tuy nhiên Ngài vẫn được giáo dục chu đáo từ thuở nhỏ.
Năm 18 tuổi, Ngài
vâng lệnh song thân kết hôn với cô Phan Thị Lê, con quan Thủ Hạp(1) Ðịnh
Tường ở cùng làng. Ðược người vợ trẻ đẹp, đoan trang, con quan, tưởng đâu
Ngài sẽ được sống hạnh phúc đời thường. Không ngờ năm Ngài 22 tuổi (1874),
cha mẹ đều qua đời, lại gặp lúc thời cuộc đang buổi rối ren, Ngài cảm thấu
luật “sanh lão bệnh tử” của kiếp người và lẽ “vô thường” của tạo vật, bèn
giao gia tài cơ nghiệp lại cho người anh, khuyên vợ về bên gia đình cha mẹ
ở, rồi Ngài cất một cái am đặt tên là “Thiền Lâm Tiểu Viện”, tự tu hành để
báo hiếu cha mẹ.
Ngài thực hiện ăn
chay nằm đất khoảng hai năm, người ngoài không rõ Ngài tu theo pháp môn
nào, vì không có bổn sư hướng dẫn. Một hôm có Hòa thượng Huỳnh Chơn Giác ở
chùa Bửu Hưng (Sa Ðéc) về Tổ đình Bửu Lâm (Mỹ Tho) nghe chuyện này bèn rủ
Yết Ma Nguyễn Huyền Dương cùng tới viếng thăm Thiền Lâm Tiểu Viện. Sau khi
trò chuyện trao đổi, thấy Ngài dốc lòng tu, nhưng không đúng hướng, hai vị
lấy lời giảng giải và thuyết phục Ngài nên đi theo con đường Chánh pháp.
Theo lời khuyên của
hai vị chân tu, năm 24 tuổi (1876) Ngài đến Tổ đình Bửu Lâm đảnh lễ quy y
thọ giới với Hòa thượng Minh Phước (tức Nguyên Phước), hiệu Tư Trung. Hòa
thượng Tư Trung cũng là người Minh Hương, nên ban cho Ngài pháp danh Quảng
Ân, pháp hiệu Chánh Hậu (Theo một doøng kệ phái Lâm Tế phổ biến trong giới
Hoa kiều).
Năm Ngài 27 tuổi
(1879) được Hòa thượng Bổn sư ban cho bài kệ truyền thừa như sau:
Tùng lai
tiền niệm sự kinh dinh
Lũy niên
dũ chướng dũ niệm tình
“Hữu vi”
thị pháp tâm bất liễu
Ðạt đắc
“vô vi” pháp thậm “minh”.
Tạm dịch:
Dò theo
nghĩ lại chuyện kinh dinh
Năm
thâm, chướng lắp, lại thêm tình
“Hữu vi”
là pháp tâm nào được
Ðạt được
“vô vi” pháp thật “minh”.
Năm sau Hòa thượng
Bổn sư cử Ngài làm Thủ tọa chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở gần Mỹ Tho là một danh
lam cổ tự có trước thời Gia Long(2).
Còn bà Phan Thị Lê,
lúc đầu trở về nhà cha mẹ, cùng chồng tuy không phải tử biệt nhưng thực sự
đã sinh ly. Dần dần nhờ bạn beø khuyên giải, bà vơi được nỗi đau buồn cũng
xin xuất gia đầu Phật tìm con đường giải thoát. (Sau thành Tỳ kheo ni hiệu
Diệu Tín, được Ngài An Lạc trụ trì chùa Vĩnh Tràng thờ ở chùa này).
Mùa hè năm Bính Tuất
(1886) Ngài an cư kiết hạ tại chùa Phước Hưng (Sa Ðéc). Sau mùa an cư có
giới đàn, Ngài được cử làm Yết ma A Xà Lê Sư. Năm Canh Dần (1890), ông
Huyện Thụ là một cư sĩ thuần thành cùng các tín đồ đến chùa Sắc Tứ Linh
Thứu thỉnh Ngài về trụ trì chùa Vĩnh Tràng, một ngôi chùa danh tiếng của
đất Mỹ Tho đã bị hoang phế vì nạn binh lửa. Từ khi Ngài về làm trụ trì,
chùa được phục hồi sinh khí như xưa, bổn đạo tới lui tấp nập. Năm Ất Mùi
(1895) Ngài xây lại chuøa Vĩnh Tràng. Năm Kỷ Hợi (1889) Ngài trùng tu chùa
Sắc Tứ Linh Thứu. Năm Giáp Thìn (1904) cơn bão lớn xảy ra vào hồi tháng ba
đã làm hư hại nặng chùa Vĩnh Tràng. Từ năm Ðinh Mùi (1907) đến năm Tân Hợi
(1911) Ngài lại phải khuyến giáo tín đồ góp công góp của trùng tu lại
chùa. Ðáng chú ý trong lần trùng tu này, Ngài đã nhờ nghệ nhân điêu khắc
tài hoa Tài Công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc toàn bộ tượng thờ
trong chùa. Ngày nay, chùa Vĩnh Tràng và Linh Thứu là hai thắng tích bậc
nhất tỉnh Tiền Giang, phần lớn nhờ vào công tu tạo của Ngài.
Thời gian Hòa thượng
Chánh Hậu trụ trì chùa Vĩnh Tràng là thời gian khắp các nước Ðông Á khởi
xướng phong trào chấn hưng Phật giáo. Từ Tích Lan, Ấn Ðộ, qua Thái Lan,
Miến Ðiện, đến Nhật Bản, Trung Hoa, đâu đâu cũng có các trung tâm, các cơ
quan ngôn luận, các vị tu sĩ và học giả hoạt động cho phong trào. Ðặc biệt
tại Trung Hoa là nước gần với Việt Nam, sự giao lưu chặt chẽ, các sách báo
nói về việc chấn hưng Phật giáo đã được các thương buôn Hoa kiều du nhập
vào nước ta, nhất là ở Nam kỳ, đã ảnh hưởng sâu xa đến các vị Tôn túc Hòa
thượng có đaïo tâm, hằng ưu tư về tiền đồ của Phật giáo Việt Nam.
Hòa thượng là người
Minh Hương nên dễ dàng tiếp cận và quan hệ chặt chẽ với các bậc thức giả
Hoa kiều, có dịp đọc các bài nói về phong trào chấn hưng Phật giáo của
Thái Hư Pháp Sư bên Trung Hoa. Trong thâm tâm Ngài đã ươm hạt giống chấn
hưng để chờ có cơ duyên là đem gieo rắc vun trồng. Tuy Ngài chưa khởi
xướng lên được phong trào chấn hưng Phật giáo, nhưng việc hoằng dương
Chánh pháp cuûa Ngài đã đi đúng con đường chấn hưng. Ngài thường xuyên mở
trường gia giáo để đào tạo Tăng tài. Khi thì tự Ngài làm Pháp Sư. Khi thì
Ngài thỉnh Hòa thượng Giác Hải. Ðặc biệt Ngài còn mở lớp dạy chữ Nho, dạy
thuốc. Ngài mời các bậc túc nho, phần nhiều là các chiến sĩ Văn Thân, Cần
Vương lánh nạn ẩn tích và các bậc lương y trong vùng đến dạy. Trong số có
cụ Tòng Am Phan Văn Viễn cùng họ với cụ Phan Ðình Phùng ở Hà Tĩnh đã được
chùa Vĩnh Tràng nuôi ở hàng chục năm.
Rất tiếc là công
cuộc chấn hưng Phật giáo tại Nam kỳ đang trong thời kỳ manh nha, thai
nghén thì ngày 29 tháng 7 năm Quý Hợi (1923) Hòa thượng Chánh Hậu viên
tịch, thọ 72 tuổi với 47 hạ lạp.
Sự nghiệp kiến lập
trùng tu tự viện, khai mở các lớp gia giáo đào tạo Tăng tài và quan tâm
đến tiền đồ Phật giáo của Ngài, được xem là bước tiên phong chân chính,
vinh quang như bình minh thế kỷ XX.
Chú thích:
1) Thủ hạp là chức
quan giữ kho tiền, kho lúa của triều đình tại các tỉnh, thành.
2) Chùa Linh Thứu
lúc đầu chỉ là am tranh, sau được Hòa thượng Thiệt Thanh - Nguyệt Hiện
(1759 - 1815) xây lại bằng gạch ngói và đặt tên là chùa Long Tuyền. Trong
thời gian tẩu quốc, có lần Nguyễn Ánh trốn vào chùa này thoát nạn, nên năm
Gia Long thứ 11 (1812) Sắc Tứ Long Tuyền Tự. Ðến triều Thiệu Trị năm thứ
nhất (1841) đổi là Sắc Tứ Linh Thứu Tự.
HÒA THƯỢNG
NHƯ PHÒNG - HOẰNG
NGHĨA
(1867 - 1929 )
Hòa thượng Hoằng
Nghĩa, húy Như Phòng, thế danh Trần Văn Phòng, sinh ngày 29 tháng 9 năm
Ðinh Mão (1867) tại làng Bình Thới, tỉnh Gia Ðịnh. Thuộc dòng Lâm Tế Bổn
Ngươn, đời thứ 39.
Năm ấy là niên hiệu
Tự Ðức thứ 19, bảy năm sau khi thành Gia Ðịnh thất thủ, và ba năm sau khi
Trương Ðịnh cự tuyệt mệnh lệnh triều đình không chịu rời Gò Công, nơi được
nhân dân phong tặng Bình Tây Ðại Nguyên Soái(1). Tướng Nguyễn Tri Phương
với hai trăm khẩu thần công đã không giữ được thành Gia Ðịnh, đồn Chí Hòa
- Phú Thọ... Và năm 1867 chính là năm Pháp vừa chiếm ba tỉnh miền Tây,
chưa kể đến các sự kiện nghĩa quân nổi dậy khắp Nam kỳ lục tỉnh v.v... Vì
vậy, nơi Ngài sinh ra chính là một trong những nơi mà song thân của mình
đã dừng chân tha phương(2) trên đường tìm đất sống. Giữa thời buổi loạn
lạc ấy, phần lớn các gia đình đều ly tán, sinh con rồi gửi lại người thân
nuôi nấng để ra đi vì sinh kế hoặc theo các phong trào nghĩa binh nổi dậy
chống thực dân. Ngài là một trong số hoàn cảnh đó. Vì thế nguồn gốc về
song thân của Ngài, đến nay vẫn chưa có sử liệu nào ghi lại được(3).
Do những hoàn cảnh
kể trên, tuổi thơ của Ngài đã sớm chịu sự xa cha vắng mẹ. Nhưng Ngài vẫn
được những người bảo hộ cho học hành tử tế và có phần ưu đãi, bởi tự thân
Ngài đã sớm biểu lộ đức tính cần cù nhẫn nại và uyên bác trong tri thức.
Bên cạnh đó là lòng thương yêu người và cả những vật thể chung quanh.
Ngoài những lúc làm việc phụ giúp người thân và học hành, Ngài hay theo
các bạn đồng lứa đến chùa lễ Phật, nghe Pháp.
Năm Quý Dậu (1873),
khi vừa bảy tuổi, Ngài đã đến chùa Giác Viên (Chợ Lớn) xin được thọ pháp
xuất gia với Tổ Hoằng Ân - Minh Khiêm.
Thời gian tu học nơi
dây, Ngài được các bạn lữ hết lòng giúp đỡ và khen ngợi. Tổ Hoằng Ân cũng
rất hài lòng về đệ tử mới của mình . Từ trợ duyên tích cực đó Ngài đã tự
sách tấn mình trong việc học hành, tu tập bằng tất cả tư chất thông minh
vốn có nên đạt được kết quả tốt đẹp.
Năm Quý Mão (1903),
Hòa thượng Chơn Không- Như Nhu (huynh đệ với Tổ Như Phòng) viên tịch. Tổ
Hoằng Ân liền giao cho Ngài trách nhiệm trụ trì chùa Giác Viên.
Sau khi nhận trách
nhiệm, Ngài đã đặt cách các chức sự trong chùa hợp lyù hơn, đồng thời hiệp
lực cùng các huynh đệ lo trùng tu chùa, lúc này đã xuống cấp, có nhiều khả
năng hư hoại nặng. Những việc làm kịp thời, đúng lúc của Ngài, đã được sự
tán trợ nhiệt thành của mọi người và Phật tưû gần xa.
Cũng từ khi nhận
trách nhiệm trụ trì, Ngài càng tinh tấn hơn trong nếp sống đạo hạnh, bền
chí tu học và giữ gìn giới luật nghiêm tịnh, hầu làm gương soi cho Tăng
chúng. Lúc này, dưới sự quan tâm trực tiếp của Ngài, sinh hoạt thường
nhật, oai nghi tế hạnh trong chùa đã đi vào nề nếp.
Ngoài việc chăm lo
cho chùa Giác Viên, Ngài còn quan tâm, đóng góp nhiều công sức trong việc
trùng tu lần thứ hai ngôi chùa Giác Lâm vào những năm 1900 - 1909. Do đó,
trong lịch sử xây dựng và bảo tồn hai Tổ đình quan trọng này, Ngài là một
trong những vị đầy năng động, nhiệt thành có công rất lớn.
Năm Nhâm Tuất
(1922), giới đàn quan trọng được mở ra tại chùa Giác Lâm nhằm truyền trao
giới pháp cho Tăng sĩ khắp nơi. Ngài được suy tôn làm Hòa thượng Ðàn đầu.
Những năm kế tiếp,
Ngài được cung thỉnh vào các hàng Tôn Chứng, A Xà Lê, Giáo Thọ v.v... ở
những giới đàn khác, do oai đức vang doäi khắp nơi, Ngài cũng ý thức được
sự nghiệp gầy dựng những tầng lớp kế thừa, là nhiệm vụ hàng đầu ở buổi
bình minh của phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngài không quên dặn lòng
cũng như khuyến hóa chúng Tăng phải giữ vững đạo tâm, tuy sẵn sàng cứu dân
giúp nước, nhưng chớ để thời cuộc lôi kéo mà quên bổn phận của một hành
giả: Cứu cánh giải thoát.
Ðiều để nhận ra
trước nhất là đức độ và lòng thiết tha với đạo với đời nơi Ngài luôn chan
hòa và vững chắc, và Ngài là một trong rất ít Tăng sĩ xuất gia rất sớm. Do
đó hành trạng của Ngài như bông hoa bừng nở, tỏa hương. Ðồng thời cũng nhờ
công đức hoằng hóa của Ngài mà nếp sống theo tinh thần Phaät giáo có mặt
mọi nơi trong xã hội. Tạp chí Kim Thi Tập, đã có lời ca ngợi về đức độ và
việc làm của Ngài: “Ông Hoằng Nghĩa thường đêm tụng Pháp Hoa kinh, thập
phương thiện tín người người đều yêu mến, cho nên lúc trùng tu chùa Giác
Lâm, thiên hạ hỷ cúng tới bạc muôn, cũng là nhờ có Phật ân phổ chiếu, đáng
tặng đáng khen...”
Trong số các Tăng sĩ
đệ tử tài ba lỗi lạc của Ngài, được biết đến nhiều sau này như Ngài Hồng
Hưng - Thạnh Ðaïo (trụ trì chùa Giác Lâm từ năm 1910 - 1949), Ngài Hồng
Long - Thiện Phước và Hồng Từ - Tuệ Nhơn (cũng ở chùa Giác Viên).
Một Tăng sĩ tài ba,
suốt cả một cuộc đời đóng góp nhiều cho đạo pháp như Ngài, luôn là kim chỉ
nam cho không ít các bậc thức giả sau này. Khi cao trào chấn hưng Phật
giáo khởi sắc, thì những vị được đào tạo chính qui và trang bị học thuật
sẵn từ bấy giờ chính là những nhân tố rất cần thiết cho đại cuộc. Ngài đã
làm được việc đó, xứng đáng là hậu duệ thứ 39 chi phái Lâm Tế Bổn Nguơn.
Và hai ngôi chùa Giác Lâm, Giác Viên nổi tiếng được biết đến nhờ những vị
cao Tăng như thế.
Khi cảm thấy những
phước báu đưa đến, cũng là lúc công vieäc hoằng hóa đã đến hồi viên mãn.
Không khi nào Ngài tỏ ra tự mãn hoặc tự hào về chính mình. Ngược lại, Ngài
tỏ ra khiêm tốn, hòa ái với chung quanh. Ðó được xem là pháp âm mà Ngài
muốn truyền cho hậu thế. Cũng vậy qua những mẫu chuyện truyền khẩu trong
chốn già lam, việc Ngài đi bộ từ chùa Giác Lâm đến Giác Viên và ngược lại,
không hề màng đến các phương tiện di chuyển là ý khuyến hóa chúng Tăng
trong chùa nên giữ hạnh kham nhẫn khiêm cung, cẩn trọng đối với tứ sự cúng
dường của đàn việt và tình pháp hữu phải được hòa hợp. Ðó là một trong
những lộ trình đến Niết bàn giải thoát, đầy lòng vị tha.
Năm Kỷ Tỵ (1929)
nhằm ngày 23 tháng 11. Ngài đã an nhiên thị tịch tại chùa Giác Viên, thọ
63 tuổi.
Tang lễ của Ngài
được ghi lại rất chi tiết trong vài quyển sách xuất bản hai năm sau đó
(1931) và cho biết có hơn một ngàn người đến thọ tang, tiễn đưa nhục thân
Ngài vào baûo tháp.
Chú thích:
1) Tập Văn Yêu Nước
Nam Bộ (NXB Giải Phóng 1976).
2) Ðất Gia Ðịnh xưa
- Sơn Nam (NXB TP. Hồ Chí Minh 1984).
3) Có sách ghi Ngài
sinh tại Bà Ðiểm, là con của một thầy thuốc gia truyền, và sinh vào năm
1857 (PTS Trần Hồng Liên).
--- o0o ---
|
Mục Lục Tập I |
|
I |
II |
III |
IV |
V |
VI |
VII |
--- o0o ---
[
Tập II ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 05-2003