Tiểu Sử
Sư Bà Ðàm Lựu
Viện Chủ Ðức Viên Ni Tự
Tại San Jose, California,
Hoa Kỳ
(1933 – 1999)
I) Thân thế:
Thế
danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con,
nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì
chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông
Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13
tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây
lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc
Việt Nam.
II) Xuất gia, Thọ giới và
Tu học:
Năm
1948, Nghiệp Sư, tức Sư Cụ Ðàm Soạn, nhận thấy Sư Bà là người tuy còn nhỏ
tuổi, nhưng chí nguyện thì cao vời, tâm nguyện lại bao la nên được truyền
thụ Sa Di Ni Giới tại chùa Cự Ðà, Hà Ðông, thuộc sơn môn Tổ Trung Hậu và
Ðống Ðồ. Năm ấy Người tròn 16 tuổi. Thụ giới Sa Di Ni thì 16 tuổi, nhưng
thật sự đã được Nghiệp Sư chính thức cho thế phát xuất gia khi còn là
“Bạch Xỉ”.
Tuổi
thì vị thành niên, nhưng lòng ham tu, hiếu học; nhất là chí nguyện xuất
trần, thì người thành niên cũng hiếm ai bì kịp; do vậy, Sư Cụ Nghiệp Sư đã
không ngần ngại cho đi tham học hầu hết các Chùa trong sơn môn tại Miền
Bắc như Cự Ðà, Thanh Nhàn, Nhân Hòa, Từ Hàng, Ðống Ðồ, Trung Hậu, Vân Ðồ,
Ðức Viên…
Năm
1951, Ðại Giới Ðàn tổ chức tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội; quy tụ hầu hết các
bậc Cao Tăng trong hàng Giới Sư. Nhận thấy đây là một Ðại Giới Ðàn đặc
biệt, thêm vào đó, sức học và chí tu của Sư Bà cũng đã vững chãi, nên Sư
Cụ Nghiệp Sư đã hướng dẫn Sư Bà đi đảnh lễ Quý Tổ cầu xin Quý Ngài Yết Ma
cho thêm tuổi để được thụ giới; vì lúc ấy Sư Bà mới hơn 19 tuổi. Nhờ vậy,
Sư Bà đã được thụ Tỷ Khưu Ni Bồ Tát Giới tại Ðại Giới Ðàn trên. Trong hàng
Giới Sư Tăng lúc bấy giờ có các Tổ như Pháp Chủ Mật Ứng, Thượng Thủ Tuệ
Tạng, Pháp Chủ Ðức Nhuận, Cao Tăng Tố Liên, Trí Hải..., bên Ni có chư Hòa
Thượng Ni như Sư Cụ Ðàm Soạn, Sư Cụ Trịnh Xá, Sư Cụ La Hán… Sau khi đắc
giới được Sư cụ Nghiệp Sư cho hầu cận làm thị giả.
Ðầu
năm 1952, Sư Cụ Nghiệp Sư được Chư Tôn Ðức Tăng, Ni thỉnh cử vào Nam nhận
lãnh ngôi vị Trú Trì Chùa Dược Sư tại Gò Vấp, Sư Bà được theo hầu cận.
Tiếp nhận xong Chùa, Sư Cụ đi thỉnh ý Chư Tôn Ðức Tăng Ni tại địa phương
để được mở Ni trường, đào tạo Ni tài. Thế là Chùa Dược Sư được biến thành
Ni trường Dược Sư. Sư Bà trở thành một trong những Ni Sinh ưu tú đầu tiên
của Ni trường nầy. Tại đây, hai chương trình Nội Ðiển và Ngoại Ðiển được
chú trọng song song, nên:
Năm
1960, Sư Bà thi đỗ Tú Tài.
Năm
1961, sau 9 năm tu học tại Ni Trường Dược Sư mãn khóa, Sư Bà về lưu trú
tại Chùa Phước Hòa, Sàigòn.
Năm
1964, được Sư Bà Ðàm Hướng giới thiệu đi du học ở Tây Ðức, ngành Xã Hội
Học. Thời gian lưu học tại đây, Sư Bà vừa học vừa hướng dẫn tinh thần cho
Sinh viên Việt Nam du học.
Năm
1969, tốt nghiệp ngành Xã Hội Học, Sư Bà về nước nhận lãnh Phật sự thuộc
sở học, sở tu của mình.
III) Tu Tập và Hành
Ðạo:
Năm
1970, Sư Bà được Chư Tôn Ðức Tăng Ni tín nhiệm giao phó Phật sự trong chức
vụ Giám Ðốc Cô Nhi Viện Lâm Tỳ Ni tại Sàigòn.
Năm
1977, Sư Bà tìm đường vượt biên tại Vũng Tàu; đến đảo Kuchin-Malaya, hoạt
động Phật sự tại đây gần 2 năm.
Năm
1979, Sư Bà được Hòa thượng Thanh Cát tọa chủ Chùa Giác Minh, Palo Alto
bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Năm 1980, Hòa Thượng đề cử Sư Bà về vùng San Jose để
hành đạo và sáng lập Chùa Ðức Viên.
Khởi
đầu cho Chùa Ðức Viên, Sư Bà thuê một ngôi nhà nhỏ hẹp, tọa lạc tại số
2003, Evelyn Ave, San Jose CA 95122. Chùa tuy nhỏ hẹp, nhưng tấm lòng của
người hướng dẫn tinh thần lại bao la; do vậy, những Phật sự khiêm tốn,
nhưng vô cùng quan yếu sau đây được khởi sự:
- Tu
Bát Quan Trai, tụng kinh, thuyết giảng, đáp ứng mọi nhu cầu Tôn Giáo cho
quần chúng Phật tử ly hương;
- Mở
lớp dạy Việt Ngữ đầu tiên tại vùng San Jose;
- Sinh
hoạt thanh thiếu niên, thành lập Gia Ðình Phật Tử mang tên Ðức Viên, quy
tụ trên 200 em;
- In
kinh, sang băng giảng để cúng dường quý Chùa, tặng các Thư viện, ấn tống
cho Phật Tử, gửi tặng các trại tỵ nạn Ðông Nam Á.
Vì nhu
cầu tu học, quần chúng Phật tử và đồng hương quy tụ quá đông, ngôi Chùa củ
đã không đủ nơi dung chứa để đáp ứng nhu cầu Phật sự nên:
Năm
1984, Sư Bà phát động Phật sự kiến lập Chùa chính thức. Khởi đầu cho công
tác Phật sự khá quy mô này, Sư Bà nghĩ ra một cách mà mọi người giàu nghèo
đều có thể đóng góp công sức, tài vật để gieo trồng căn lành với Tam Bảo,
đó là thu góp đồ phế thải: lon nhôm, ve cha, giấy báo, thùng cát-tông… bán
để gây quỹ xây chùa. Kẻ góp công sức, người giúp tài vật; kết quả:
Năm
1985, mua được khu đất tương đối rộng và một ngôi chùa cũ để thỉnh Phật về
an vị nơi đây tiếp tục sự nghiệp tu tập, hoằng truyền Chánh Pháp.
Năm
1986, nhân duyên Phật Pháp đưa đến, Sư Bà được ủng hộ và khuyến khích từ
chư Tôn Ðức Tăng, Ni đến thập phương thiện tín, nên đã mua tiếp lô đất kế
cận với tâm nguyện không những hoằng truyền Chánh Pháp, mà còn mang văn
hóa Dân tộc-được gói ghém qua hình ảnh ngôi chùa-vào đất lạ. Diện tích
chung cho cả hai lô đất này là 94,000 bộ vuông; đủ rộng để xây một ngôi
chùa mang tính biểu trương cho một nền Văn Hóa cổ truyền Dân tộc gần 5,000
năm.
Năm
1991, ngôi Ðại Tự Ðức Viên chính thức đặt viên đá đần tiên để khởi sự một
công trình kiến thiết đúng với tầm cỡ hầu đáp ứng nhu cầu tu học của Ni
Chúng và quần chúng Phật tử.
Năm
1995, ngôi Ðại Ðiện được giấy phép chính thức sinh hoạt. Ðáp ứng khả dĩ
một số những nhu cầu Phật sự quan trọng. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới đạt
được phân nửa tâm nguyện kiến thiết của Sư Bà đã được “bổ xứ Phật sự nơi
khác”!!!
Từ
ngày ngôi Ðại Ðiện Ðức Viên chính thức sinh hoạt đến nay, các Phật sự sau
đây được mở rộng:
1) Về phần thuyết giảng:
Ðúng
với hạnh nguyện, Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học; Sư Bà đã cung thỉnh
Chư Tôn Ðức thuộc nhiều truyền thống phật Giáo: Việt Nam, Tích Lan, Thái
Lan, Miến Ðiện, Ðại Hàn, Nhật Bản, Lào, Mỹ… về thuyết giảng. Riêng truyền
thống Phật Giáo Việt Nam đã có các bậc Cao Tăng và Pháp Sư sau đây đến
thuyết giảng: Hòa Thượng Tâm Châu (Canada); Hòa Thượng Thanh Cát, Hòa
Thượng Mãn Giác, Hòa Thượng Hộ Giác, Hòa Thượng Giác Nhiên, Hòa Thượng
Thanh Ðạm (Hoa Kỳ); Thiền Sư Nhất Hạnh (Pháp); Hòa Thượng Tịnh Hạnh (Ðài
Loan); Thiền Sư Thanh Từ (Việt Nam); Thượng Tọa Như Ðiển (Tây Ðức); Hòa
Thượng Minh Tâm, Thượng Tọa Thiện Huệ, Thượng Tọa Nhất Chân (Pháp); Hòa
Thượng Như Huệ (Úc); Thượng Tọa Trí Minh (Na Uy); Thầy Huyền Diệu (Ấn Ðộ).
Ngoài ra, Sư Bà Y luật Phật chế cung đón tất cả chư vị Cao Tăng, Cao Ni
thăm viếng Mỹ quốc có dịp ghé qua thiểm tự Ðức Viên để Ni Chúng được đảnh
lễ hầu tăng trưởng đạo phong, đạo lực.
2) Chiêm bái Phật Tích,
Thánh Tích và Danh Lam Cổ Tự:
Nhằm
phát huy niềm tin, thâm tín Tam Bảo, nổ lực tu tập và tích cực Phật sự. Sư
Bà đã tổ chức nhiều chuyến hành hương chiêm bái phật Tích tại Ấn Ðộ; các
chuyến hành hương chiêm bái Thánh Tích và thăm viếng danh lam cổ tự tại
các quốc gia Phật Giáo vùng Ðông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan, Miến
Ðiện…
3) Truyền bá giáo lý:
Trong
Hạnh nguyện Hiển Chánh, phá tà, Sư Bà không những tiếp tục cho in ấn kinh
sách và băng giảng để phổ biến trong quảng đại quần chúng, mà còn hỗ trợ
các đài phát thanh Việt Ngữ có chương trình phát thanh Giáo lý Phật Ðà.
4) Ðào tạo Ni Chúng và
giúp đỡ hậu học:
Trong
hạnh nguyện tiếp dẫn hậu lai, báo Phật Ân Ðức, Sư Bà đã giáo dưỡng Ni
Chúng hữu duyên về xuất gia tu học tại đạo tràng Ðức Viên nghiêm túc; gửi
Ni Chúng đi tham học tại các trung tâm tu học tại các quốc gia; cho Ni
chúng theo học kiến thức phổ thông tại các trường Ðại học Mỹ; ngoài ra, Sư
Bà còn yểm trợ tài chánh cho các Tăng, Ni Sinh du học tại các trường Ðại
học ở Ấn Ðộ, Ðài Loan, Hoa Kỳ cũng như bảo trợ các trường Phật Học tại quê
nhà như Bà Ðá, Quán Sứ (Hà Nội), Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm (Sàigòn), và các
tỉnh miền Trung, Nam như Huế, Quảng Nam, Thủ Ðức, Trà Vinh…
5) Bảo tồn Di Tích và phát
huy cơ sở:
Bảo
tồn di tích, phát huy cơ sở Phật Giáo là một trong những Phật sự mà Người
hằng quan tâm; do vậy; Sư Bà đã tích cực yểm trợ các chương trình trùng tu
các Cổ Tự và danh lam tại Việt Nam; hưởng ứng các chương trình xây cất các
tu viện tại Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Ðộ…
6) Bảo tồn Văn Hóa và thể
hiện Lòng Từ:
Ðể bảo
tồn văn hóa, thể hiện qua danh ngôn: “Tiếng Ta còn, Nước Ta còn”, Sư Bà đã
mở trường Việt Ngữ Ðức Viên để cho con em trau dồi Việt Ngữ. Thể hiện lòng
từ bằng cách khuyến khích các Phật tử và đồng hương giúp đỡ đồng bào tại
các trại tỵ nạn, và gần đây nhất là tích cực trong việc yểm trợ đồng bào
bị thiên tai tại Việt Nam cũng như vùng Nam Mỹ; thăm viếng tù nhân, giúp
đỡ các trại cùi và các trung tâm trẻ em tật nguyền…
IV) Những ngày cuối cùng:
Hữu
thân hữu bệnh, hữu sanh hữu tử đó là di huấn nằm lòng trong kinh Phật. Sư
Bà bị ít nhất là 3 chứng bệnh nan y đã được Bác sĩ dự báo trong hơn ba năm
qua: tiểu đường, ung thư và bệnh đông máu. Nhưng, tâm nguyện hoằng truyền
Chánh Pháp và ý lực phục vụ chúng sanh là cúng dường Chư Phật đã khiến Sư
Bà quên đi là đang là bệnh nhân cần được chữa trị; do vậy, đến khi căn
bệnh phát sanh tới hồi nguy kịch, thì Bác sĩ đành bó tay!!!
Ðiều
cần ghi nhận nơi đây là, mặc dù Phật sự đa đoan, nhất là những tháng gần
đây khi cơn bệnh được Bác sĩ thông báo là không trị được, nhưng Sư Bà vẫn
thản nhiên trong việc hành trì Pháp Môn không lúc nào xao lãng. Pháp Môn
hành trì của Sư Bà là Trì Chú và Niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc.
Sư Bà
chính thức xả bỏ báo thân, thâu thần nhập diệt, liên hoa hóa sanh vào lúc
21 giờ 27 phút, ngày 09 tháng 02 năm Kỷ Mão; nhằm ngày 26 tháng 03 năm
1999. Thọ thế 67 năm; 48 năm hạ lạp.
Lễ
nhập quan nhục thân vào lúc 15 giờ, ngày 11 tháng 02 năm Kỷ Mão; nhằm ngày
Chủ Nhật, 28 tháng 03 năm 1999.
Lễ Di
Quan Trà Tỳ vào lúc 09 giờ 30 ngày 17 tháng 02 năm Kỷ Mão; nhằm ngày Thứ
Bảy, 03 tháng 04 năm 1999.
Nam Mô Ðức Viên Ni Tự Ðường Thượng,
Liên Hoa Hóa Sanh, Ma Ha Tỷ Khưu Ni Bồ Tát
Giới
Ðàm Lựu Giác Linh Tác Ðại Chứng Minh.
Kính
bạch Giác Linh Sư Bà,
Chúng
con biết ghi lại một vài dòng thô thiển về cuộc đời tu học và hành đạo của
Sư Bà là điều trái với tâm nguyện của Sư Bà; vì Sư Bà thường dạy chúng
con: Người tu là tập làm con nhạn bay giữa
hư không, không lưu lại bất cứ vết tích nào; hay như con hạc rời khỏi ao
hoang, không hề lưu luyến. Nhưng kể từ đây Pháp Âm của Sư Bà
không còn trực tiếp rót vào tai của chúng con nữa; hình ảnh thân giáo của
Sư Bà chúng con không còn diễm phúc nhìn tận mắt; thì, những dòng tiểu sử
đơn sơ này sẽ giúp nhắc nhở chúng con noi theo hạnh nghiệp của Sư Bà trên
đường tu học của chúng con. Biết thương yêu nhau như ruột thịt; biết nhìn,
biết hiểu và tha thứ cho nhau những lỗi lầm, nếu có; biết quây quần, gắn
bó bên nhau để sách tấn tu tập; biết chia sẽ với nhau những khó khăn; và
nguyện với nhau rằng dù có gặp nghịch cảnh nào đi nữa, thì vẫn cố tập theo
hạnh từ bi, hỷ xả và nhẩn nhục của Sư Bà để xứng đáng là kẻ “thừa tự Pháp
của Sư Bà và nguyện không làm người chỉ biết thừa tự tài vật của Sư Bà”.
Xin Sư Bà đại xá cho
chúng con những điều khiếm khuyết.
Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.
Môn Ðồ Pháp Quyến Hiệp Thập, Khể Thủ Kính Ghi
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính: Diệu Mỹ;
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-09-2002