Sư đệ Nguyên Anh và
tôi là những người hay bị Thầy la nhất vì hay sơ suất trong những công
việc thầy giao, nhưng cũng là người may mắn nhất vì được ở cạnh Thầy một
thời gian khá lâu. Tính tình mỗi người Thầy đều biết rõ. Tình Thầy trò
vì thế không có gì phải ân hận sau ngày Thầy vĩnh viễn ra đi. Chỉ tiếc
rằng Thầy không còn trụ thế lâu hơn để dạy dỗ cho Tăng Ni và hướng dẫn
cho Phật tử trên bước đường học đạo.
Ðối với lớp đệ tử chúng
tôi, Thầy ít khi nói về bản thân và gia đình cũng như lớp dự bị xuất gia
với Thầy trước chúng tôi. Sau ngày Thầy viên tịch, sư đệ Nguyên Anh, tôi
cùng đạo hữu Võ Trọng Thưởng có về quê Thầy để thăm lại ngôi nhà thờ
song thân của Thầy. Nhưng cảnh đìu hiu của làng quê sau bao năm chiến
tranh chưa hồi phục, khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng và một hồi
lâu thì cả ba chúng tôi vào thắp hương tưởng niệm nơi ngôi từ đường mà
Thầy đã cất tiếng chào đời, như để cám ơn một dòng họ và làng quê giàu
lòng nhân ái vì đã sản sinh ra một bậc Long tượng cho Phật giáo đất Thần
kinh.
Trong cuộc sống đạm bạc
và phạm hạnh của Thầy, thăng trầm thế sự đôi lúc cũng có tác động đến
Phật sự. Khi còn là Sa-di, Thầy đã được Hòa thượng Trí Ðộ là Ðốc giáo
rất thương và cưng chìu nhất, vì Thầy được tiếng là chú tiểu thông minh,
chăm chỉ, chịu thương chịu khó. Có lẽ vì thế mà mới 26 tuổi Thầy đã được
Hội cử làm Trú trì chùa Từ Ðàm thời bấy giờ. Nói là Trú trì, nhưng thực
chất là trông coi chùa cho Hội vì Trú trì chùa Từ Ðàm từ trước tới nay
vốn dĩ là thuộc về Hội. Mọi việc lớn nhỏ đều thông qua Hội, đó là điều
rất đặc biệt, rất hãnh diện nhưng cũng rất khó đối với một vị Trú trì
tuổi đời tuổi đạo như Thầy có lẽ chưa tương ứng với tầm cỡ của ngôi Tổ
đình gần 400 năm. Lại nữa, các cụ trong Hội là người bề trên, là Thầy
dạy của Thầy nên cũng rất khó cho Thầy điều hành nếu không phải là một
chữ nhẫn thật lớn. Có lần Thầy kể: Trú trì một ngôi Tổ đình như Thầy
không có mấy đồng xu dính túi. Ngày 30 tết đợi khi chợ hoa sắp tàn mới
đạp xe đi mua, nếu bông trái rẻ thì mua một ít về cắm để cúng Phật. Lỡ
bông trái họ bán đắc thì đành đạp xe về.
Trú trì cũng lắm nỗi
gian truân. Thời ấy, mọi người rất khổ cực vì chiến tranh, cuộc sống
không ổn định nên dân chúng rất vất vả. Nhà chùa, cuộc sống chư Tăng lại
càng vất vả hơn. Nói là Trú trì Tổ đình nghe có cũng oai lắm nhưng Tăng
chúng thì chỉ vài người: trong chùa, ngoài Thầy và một số thầy khác ra
thì còn có hai chú, là chú Thiện Giải và chú Thiện Lộc. Cả hai là em
ruột và em chú bác. Sau này, thầy Thiện Lộc ở lại làm Tri sự phụ tá cho
Thầy để Thầy du phương giáo hóa. Còn thầy Thiện Giải phải rời xa Từ Ðàm
để đi vào các tỉnh Trung Trung bộ nhận Phật sự mới. Như vậy thầy Thiện
Lộc là tri sự lâu nhất ở chùa Từ Ðàm. Nhờ có thầy Thiện Lộc trông coi
chùa nên Thầy yên tâm làm Phật sự phương xa. Rất tiếc thầy Thiện Lộc mất
quá sớm ở tuổi 58. Sư đệ Hải Ấn đang ở chùa Báo Quốc là đệ tử trực tiếp
được Thầy gọi lên thay thế trong vai trò tri sự cho đến ngày Thầy viên
tịch.
Hồi tưởng lại những năm
tháng sống cạnh Thầy, huynh đệ chúng tôi có duyên may được Thầy dạy dỗ
từ việc nhỏ đến việc lớn. Trong những bữa cơm chiều hoặc khi rảnh rỗi,
Thầy thường hay kể chuyện cho cả chúng nghe. Các câu chuyện Thầy kể đều
có ngụ ý giáo dục cách này hay cách khác. Có hôm Thầy kể chuyện lớp học
của Thầy ngày xưa: Khi còn là học Tăng của An Nam Phật Học Hội, Thầy học
với Hòa thượng Trí Ðộ, 8 giờ một ngày với các môn Kinh, Luật, Luận toàn
bằng chữ Hán. Hòa thượng Trí Ðộ là người cưu mang dạy dỗ gần 10 năm trời
cho cả lớp học. Hòa thượng là bậc Thầy dạy học nghiêm túc nhưng cũng rất
nghiêm khắc ! Có lần Thầy kể: Một hôm, có một học Tăng tìm đâu ra quyển
tiểu thuyết phóng sự: Tôi kéo xe của Vũ Trọng Phụng đem vào lớp
đọc nhưng bị Thầy bắt được và cả lớp đều bị phạt quì theo. Thầy giáo
giới gần cả tiếng và kể từ đó, chả ai dám đem sách ngoài đời vào lớp nữa.
Học là vậy, nhưng ăn, giải trí, áo mặc thì sao? Ăn theo sự phân phối vì
hồi đó chùa còn nghèo. Trưa tối sáng chiều có gì ăn nấy, nhưng đa số thì
không được no. Giải trí thì chỉ một vài trò chơi đơn giản như ù mọi và
đánh bi. Mặc thì một năm được các nữ Phật tử may cho một người hai bộ áo
quần bằng vải to. Vải to là một loại vải người Tàu dệt sợi rất thô và
nhiều hồ nên khi mặc rất nặng. Cuộc sống, học tập, tu hành như vậy ngày
này qua ngày khác, gần 10 năm mà cả lớp đều vượt qua được. Cuộc sống học
Tăng thời ấy so với học Tăng bây giờ thì khác một trời một vực. Bây giờ
có điện, chứ ngày xưa học bằng dầu mù u khói xông lên ngẹt cả mũi. Ngày
xưa làm gì có Ti-vi, xe Honda và Thầy kết luận: Tóm lại là các Thầy cô
bây giờ sướng hơn trước nhiều.
Hôm khác, Thầy đem xuống
cho một hộp bánh của đạo hữu vừa mới cúng cho Thầy, Thầy nói: cả chùa Từ
Ðàm chỉ có chỗ cửa sổ của Hải Ấn là có gió mát nhất, rồi Thầy ngồi rất
lâu và kể chuyện: Hồi thời Nhật đánh Pháp, học Tăng phải tản cư. Thầy
Minh Châu đưa học Tăng ra ngoài Thế Chí, mùa đông vừa đói vừa lạnh, thầy
Minh Châu vấn thuốc lá to bằng ngón tay hút cho đỡ lạnh, nhưng sau đó
thầy quyết tâm bỏ thuốc kể cũng lạ. Nghĩ lại chuyện cũ mà thấy ớn lạnh.
Bom đạn tụi Pháp nó trút như mưa. Mạnh ai nấy lo thân. Tôi và thầy Minh
Châu ở Thế Chí một thời gian coi bộ không yên, nên anh em bàn với nhau
trở lui về Huế. Nhưng về cách nào? Thầy Minh Châu xung phong đi tiền
trạm coi có yên ổn thì mới đưa học Tăng về Huế. Và sau lần tiền trạm đó,
Thầy quyết định đưa học Tăng về Huế. Trên đường trở về phải thuê đò. Ðò
thì phải đi đêm vì sợ máy bay Pháp tấn công. Có hôm phải thay đò, gặp cụ
Ưng bình Thúc giạ thị cũng đi đò. Mấy đồn bót của Tây từ hai bên bờ bắn
ra và la chí chóe, sợ quá, Cụ nói chủ đò cho đò ghé vô. Hai người nói
tiếng Pháp và giải thích một hồi nó mới cho đi. Ði được một hồi thì lại
bị ách lại...; khổ, sợ lại thêm đói, lạnh, thế rồi cũng vào được Huế.
Khi vào được vùng Huế, Thầy phải đi tản bộ về làng để chờ bắt liên lạc
và nghe ngóng động tĩnh ở các chùa ra sao, coi có yên thì mới về. Thầy
Minh Châu lại xung phong đi mở đường. Một vài ngày sau thầy nói có thể
về được. Trên đường đi bộ về Thuyền Tôn, đồn Pháp cứ chĩa mũi súng ra la
oai oái, thầy Minh Châu lại phải giải thích, nó cho qua và sau mới về
được Thuyền Tôn. Thật hú hồn. Cái sống cái chết coi như có số. Nghĩ lại,
tôi rất thương thầy Minh Châu.
*
Bình sanh, Thầy là người
ưa đọc sách. Những sách gì đã vào tay Thầy dù hay dù dở bao giờ Thầy
cũng coi hết. Khi có đoạn nào hay thì Thầy ghi lại trong sổ tay. Cho đến
nay, sư đệ Nguyên Anh còn giữ lại 5 quyển sổ tay của Thầy ghi, chữ chi
chít, Hán có, Việt có. Chúng tôi là đệ tử, từ xa về thăm Thầy, gặp lúc
Thầy đang đọc sách, dịch kinh thì chỉ cúi chào và lui xuống. Những lúc
ấy Thầy chỉ ngước mắt nhìn và ngúc một cái rồi lại tiếp tục đọc, mọi
việc diễn ra xung quanh coi như không có. Có lần, một vài vị khách đến
hầu Thầy, gặp lúc Thầy đang xem sách và đang tra cứu các điển tích, khi
họ chào Thầy, Thầy chỉ chào lại bằng cái ngúc, rồi chú tâm vào sách vở.
Có người nói Thầy là người lạnh nhạt, nhưng thật ra, huynh đệ chúng tôi
lúc đầu chưa biết ý Thầy cũng có cảm tưởng hụt hẩn ấy. Sau này biết ra
rằng, lúc đã đọc kinh sách thì Thầy thường không để ý cảnh chung quanh.
Thầy kể: Các Thầy họ hay đến thăm tôi, gặp lúc đang đọc hay tra cứu, lúc
ấy, lòng tôi không yên, phải tìm cho ra để khỏi vướn bận trong lòng. Vì
họ là người quen, nên tôi nghĩ chắc cũng chỉ là chuyện thăm bình thường,
nên tôi chỉ ngúc một cái rồi tiếp tục tra cứu tiếp, có nhiều vị không
hiểu đâm ra buồn, nói tôi là người lạnh nhạt. Nhưng tôi có cái tật hễ đã
đọc kinh sách là như nhập tâm, không rời xa nó được, nên có người cho
tôi là con mọt sách. Ðối với kinh sách thì Thầy rất quí. Có sách gì mới
xuất bản nghe hay là Thầy cho người đi tìm mua ngay cho dù ở thành phố
Hồ Chí Minh hay Hà Nội.
Có hôm từ thành phố Hồ
Chí Minh ra thăm, ban đầu ra gặp Thầy, chào Thầy, Thầy ngước lên gật đầu
rồi tiếp tục đọc. Sau đó, biết ý, tôi đi mua một chồng sách mới xuất bản
về chuyện cổ tích Hy Lạp, tôi chào Thầy và để ngay chồng sách ấy lên bàn
và nhẹ nhàng cúi đầu chào rồi rút lui. Trưa ăn cơm, Thầy hỏi chuyện ở
thành phố Hồ Chí Minh. Chiều ngủ dậy, Thầy ra ngồi ở bàn sách, dở từng
cuốn ra coi và thế là Thầy nằm đọc luôn cho đến chiều, tới giờ cơm mới
xuống và lúc ấy Thầy vui vẻ nói chuyện cùng cả đại chúng. Thế cho biết,
hễ có sách là như có chất men kích thích và Thầy như là con ong hút mật
bao giờ hết mật (hết sách) thì thôi.
Sư đệ Nguyên Anh là người
thích văn hóa và rất quí trọng sách vở. Biết Thầy là người yêu sách và
quí sách nên huynh đệ chúng tôi bàn cách sưu tập lời giảng của Thầy
thành sách và đóng từng tập đem lên Thầy xem và xin Thầy một tựa đề.
Thầy nghĩ một lát và nói: Trí Ðức Văn Lục được không? Chúng tôi dạ. Từ
đó, bao nhiêu bài giảng, bài viết, chúng tôi đều sưu tập lại thành bộ
Trí Ðức Văn Lục, được 9 tập. Tuy qúy sách vở nhưng Thầy thích đọc hơn là
dịch. Vì thế khi một bộ sách của Thầy xuất bản bao giờ cũng có nhân
duyên của nó, ngoại trừ 2 tập đã ra trước đây là Trường A-hàm và Pháp Cú,
lúc ấy chúng tôi không được ở bên Thầy, các cuốn còn lại đều do huynh đệ
chúng tôi sưu tập và một số đã cho ra mắt độc giả. Sư đệ Nguyên Anh và
tôi có cái thuận lợi, mỗi khi đề xuất in ấn sách thì Thầy hoan hỷ ngay.
Cọng thêm sự ủng hộ của một số sư đệ như: Hải Liên, Minh Thông, Kiên
Tuệ ..., nên cũng coi như Ðồng thanh tương ứng, trong việc xuất
bản. Trong các tác phẩm, dù dịch hay tuyển tập của Thầy đã xuất bản, đều
có những kỷ niệm mang đậm dấu ấn của thời gian và không gian của nó.
1. Cuốn Vô ngã là
Niết-bàn – 1990 (tuyển tập). Cuốn này gồm một số bài giảng sau 1975
tại các Phật học viện và các bài giảng tại trường Cao cấp Phật học. Sau
khi ghi lại và đưa Thầy đọc, Thầy đồng ý. Thầy Chơn Thiện và tôi xem lại
các bài lần cuối để in vì Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam là cơ quan
chịu trách nhiệm in ấn. Thế là sách được hình thành. Cuốn này thầy Hải
Ấn, Quang Nhuận, Minh Thông và Ni sư Trí Hải có đóng góp một phần cho sự
hình thành một số bài Thầy giảng. Tựa cuốn sách mới đầu lấy tên Vô Ngã
và Niết Bàn và Thầy đã sửa lại Vô Ngã là Niết Bàn. Sách ra đời được
nhiều người hoan nghênh và tái bản nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của bạn
đọc.
2. Cuốn Tỏa ánh Từ
Quang – 1992. Ðây là bài giảng của Thầy cho các Tăng Ni sinh ở các
Phật học viện miền Trung. Sư đệ Nguyên Anh và tôi thưa Thầy xin in để
cho lớp trẻ Gia đình Phật tử có tài liệu đọc thêm. Ảnh bìa thì do sư đệ
Nguyên Anh chụp ở liêu chùa Từ Hiếu. Khi bản thảo được sưu tập đầy đủ,
đưa Thầy xem lại, Thầy hỏi: nên lấy tựa đề gì? Và cuối cùng Thầy nói:
thôi lấy đề Tỏa ánh từ quang. Thầy quay qua hỏi thầy Giác Quang
lúc đó cũng có mặt, đề như vậy có được không? Thầy Giác Quang và chư
huynh đệ thưa: Thưa Ôn, đề hay quá. Thế là Thầy đã quyết định và sách
được in. Cuốn sách này sau đó đã tái bản nhiều lần và nay đã hết.
3. Cuốn Câu Xá luận
Ðại cương – 1978. Cuốn này Thầy soạn để giảng cho Tăng sinh Viện Cao
đẳng Phật học Hải Ðức - Nha Trang. Sau này Thầy tiếp tục giảng cho
Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi
xin phép Thầy in thành sách. Thế là sách được in.
4. Thành Duy thức luận
– 1995. Ðây là bộ luận được dịch khi Thầy vào ở Nha Trang. Nguyên do
là khi ở Huế, lúc khai giảng trường Trung cấp Phật học ở Thừa Thiên thì
có sự cố. Thầy bị một số người quấy nhiễu nên phải bỏ Huế để vào tịnh cư
Nha Trang. Khi Thầy dịch bộ Thành Duy Thức này xong, chúng tôi xin in và
Thầy đồng ý.
5. Lối vào Nhân Minh
học – 1995. Ðây là tập hợp các bài Thầy soạn để dạy cho Trường Cao
cấp Phật học ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi Thầy dạy xong, theo yêu cầu
của chư Tăng Ni và các học giả trí thức Phật giáo muốn có thêm tài liệu
để nghiên cứu, nên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam gợi ý xin in và
Thầy đã đồng ý cho in.
6. Kinh Pháp hoa giữa
các kinh điển Ðại thừa – 1997. Ðây là tuyển tập các bài do Thầy
giảng về kinh Pháp Hoa cho Tăng Ni và các đạo tràng ở Huế, Sài Gòn.
Chúng tôi ghi lại đưa Thầy xem, Thầy coi xong và đồng ý. Thầy dặn thêm:
nên đưa một số bài Thầy đã viết và đã đăng trong các báo Phật giáo để in
cho nội dung sách được phong phú.
7. Ngũ uẩn vô ngã –
1997. Là tập hợp các bài Thầy giảng cho Tăng Ni sinh tại Học viện
Phật giáo Việt Nam tại Huế. Sách được tuyển đưa Thầy xem và Thầy đã cho
phép in thành sách để đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu cho Tăng Ni
sinh các trường Trung cấp, Cao cấp và các Học viện cũng như giới trí
thức Phật giáo.
8. Bộ Luận Ðại Trí độ
– 1997-2001. Sau khi đọc một số dịch giả dịch Trí độ luận ra tiếng
Việt, Thầy quyết định dịch, vì các bản dịch trước có nhiều chỗ Thầy
không đồng ý. Khởi đầu dịch năm 1997, Thầy dự định dịch mỗi năm 1 cuốn.
Dịch xong cuốn nào in cuốn đó. Và đã in được 3 tập thì Thầy phát bịnh.
Tuy nhiên, với quyết tâm và sự thỉnh cầu của chư huynh đệ nên Thầy đã cố
gắng dịch. Dịch đến cuốn thứ 5 thì bịnh tái phát nặng. Sách được in trọn
bộ 5 tập từ năm 1997 đến năm 2001. Ðây là bộ sách thứ hai mà Thầy ưng ý
nhất vì dịch trọn vẹn. Cuốn trước là Pháp Cú.
9. Cuốn Trung Luận –
2001. Duyên khởi là sau khi đọc các bản Việt dịch về Trung Luận của
một số Tôn đức, Tăng Ni, Thầy không vừa ý nên chư huynh đệ chúng tôi
tranh thủ thời cơ xin Thầy dịch lại cho bộ này. Trước mắt huynh đệ chúng
tôi thấy khó được Thầy chấp nhận vì sức đã cạn kiệt; tuy nhiên, còn nước
còn tát, sư đệ Nguyên Anh và tôi phải tác động thêm, bằng cách gởi thư
điện tử cho giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp và Phật tử Thái Kim Lan ở Ðức
để nhờ hai vị thỉnh Thầy dịch, vì hai vị này rất được Thầy thương và mến,
may ra có khi Thầy đồng ý . Huynh đệ chúng tôi biết rằng hiện ngoài Thầy
và một số ít chư Tôn đức cùng lớp với Thầy ra, thì chưa thể có ai đủ sức
để dịch bộ này. Thế là người trong kẻ ngoài quyết tâm thỉnh Thầy dịch.
Khi biết Thầy đã thuận ý, chúng tôi đã viết thư cho Giáo sư Hồng Dương
Nguyễn Văn Hai đang ở Mỹ, email cho bản dịch của thầy Viên Lý để Thầy
coi lại bản dịch ấy. Cuối cùng Thầy đã dịch bộ này cho đến khi hoàn tất
thì Thầy viên tịch. Ở đây chúng tôi xin cám ơn Giáo sư Cao Huy Thuần,
Thái Kim Lan và Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đã viết thư thỉnh cầu
và cung cấp thêm tài liệu để Thầy hoàn thành cuốn Trung Luận này. Chúng
tôi cũng cám ơn chư huynh đệ xa gần đã vì Thầy mà hầu hạ chăm sóc sức
khỏe cho đến ngày Thầy ra đi vĩnh viễn. Cuốn Trung Luận này là cuốn sách
cuối cùng của Thầy được in và đã cúng dường nhân ngày chung thất của
Thầy.
10. Cuốn Chữ
nghiệp trong đạo Phật – 2002. Ðây là tuyển tập các bài giảng của
Thầy đã đăng ở các báo Phật giáo, nay được tuyển tập để in thành sách.
Khi Thầy còn ở thành phố Hồ Chí Minh, chư huynh đệ chúng tôi cũng đã đem
bản thảo cho Thầy xem và Thầy đã sửa một số bài. Sau đó các sư đệ Nguyên
Anh, Minh Thông và Kiên Tuệ đã đọc và sửa lỗi chính tả, cuối cùng trao
lại cho chúng tôi để in thành sách. Ðây có thể là tập cuối cùng có Thầy
chứng minh và đích thân bút phê trong bản thảo. Mỗi lần ra được một cuốn
sách đem trình Thầy coi, Thầy rất vui.
Với huynh đệ chúng tôi, những sách Thầy để lại cũng như các băng giảng
đã được sưu tập là gia tài vô cùng quí giá mà Thầy đã để lại cho huynh
đệ chúng tôi, chúng tôi quyết tâm giữ gìn, học hỏi và tu tập theo lời
Thầy dạy.
*
Thầy là người
rất thương và coi trọng người có học. Trong số các thầy cô xung quanh
Thầy, mỗi lần nhắc đến các thầy như Lê Mạnh Thát, thầy Tuệ Sỹ, cô Trí
Hải... bao giờ Thầy cũng dành một cảm tình đặc biệt đối với các vị ấy.
Chư huynh đệ chúng
tôi là người có duyên may được làm đệ tử của Thầy. Có huynh đệ là người
phụ giúp Thầy trong việc sưu tầm và in ấn kinh sách; có huynh đệ là thị
giả hầu Thầy, có huynh đệ là người chăm sóc lúc Thầy ốm đau... Dù là
huynh đệ ở cương vị nào đi nữa, chúng tôi nghĩ, huynh đệ chúng tôi đã
được sự giáo dưỡng trực tiếp từ bậc Thầy kính mến của mình, như là người
thừa tự Pháp chứ không phải thừa tự tài vật. Ðó là điều chư huynh đệ
chúng tôi rất biết ơn Thầy và nguyện suốt đời là người Thừa tự Pháp như
Thầy đã từng dạy dỗ trong suốt cuộc đời của Thầy.