( HT Thích Thiền
Tâm sống giữa loài rắn )
Ưu Bà Di Bảo Đăng
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm sinh
năm 1924. Tại làng Bình Xuân, quận Hoà Đồng, Gò Công, xuất gia từ
năm 13 tuổi . Năm 1964 Hoà Thượng là Viện Trưởng Sáng Lập Viện
Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm . Hoà Thượng Thích Thanh Từ , vị
thiền sư nổi danh tại VN hiện nay, và Hòa Thượng Thích Bửu Huệ,
lúc đó là hai vị phụ tá của Hoà Thượng Thiền Tâm .
Trong khi điều hành Phật Học Viện Huệ Nghiêm, Hoà ThượngThiền Tâm
còn giảng dạy Phật pháp tại Phân Khoa Phật học Viện Đại Học Vạn
Hạnh , làm Giáo thọ tại các Ni trường Dược Sư và Từ Nghiêm .
phiên dịch và trước tác nhiều kinh sách giá trị, hiện vẫn đồng
được dùng cho việc tu học .
Năm 1964-1965: Hoàn thành công việc soạn thuật bộ sách "PhậtHọc
Tinh Yếu", gồm 3 cuốn , dài trên 1200 trang . Năm 1965-1966. Ngài
hoàn tất việc biên soạn quyển Niệm PhậtThập Yếu" gồm 10
chương , dài gần 400 trang (kể luôn cácphần bổ túc sau này, trên 50
trang (1979-1980). Năm 1966-1967. Ngài hoàn tất hai quyển kinh sách:
1 . Duy Thức Học Cương Yếu , gần 300 trang. Sách giảng dạy hầu hết
các phần quan yếu trong Bộ Môn DuyThức Học .
2 . Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Kinh, còn gọi là "Thiên Thủ Thiên
Nhãn,Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Kinh" trên 150 trang . Đây là
quyển kinh Mật Tông , giảng dạy và hiển dương về oai lực của chú
Đại Bi , một thần chú rất phổ thông đang được dùng trong
hầu hết các khóa lễ hiện nay nơi Phật tự .
Năm 1974, Hoà Thượng Thiền Tâm xin từ chức Viện Trưởng Phật
Học Viện Huệ Nghiêm. vào núi ẩn tu giữa hàng ngàn rắn độc. Năm
1992, nhằm này 14 tháng 12 dương lịch. Hoà Thượng viên tịch, thọ 68
tuổi . Ba ngày sau trong lễ khai mộ của Ngài, mọi người hiện diện
đều trông thấy một đôi kim xà màu vàng rực rỡ dài khoảng hai
thước tây bò đến trước đầu mộ của Đại Sư nằm im một chốc,
đoạn cất đầu ngó lên Ni Sư trưởng tử Thanh Nguyệt, gật đầu ba
lượt. Các hình ảnh về đôi Kim Xà này đều đã được ghi nhận
đầy đủ bằng hình chụp và video.
Phú An là một thôn nhỏ, nằm trong Tổng Đại Ninh, thuộc xã PhúHội,
Huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng (Tuyên Đức - Đà Lạt).Dân số
nơi đây vào năm 1968 chỉ có chừng 50 mươi nóc gia, mà trong đó
khoảng 10 nhà là người Kinh (người Việt), số còn
lại là người Thượng (dân tộc thiểu số) . Đa số nhà người Kinh
thì ở gần bên quốc lộ Đà Lạt-Sài Gòn (tức làquốc lộ số
20), còn nhà sàn của người Thượng thì nằm sâu trong rừng. cách
quốc lộ khoảng chừng 3,4 cây số . Thôn này nằm trên bờ sông
Đại Ninh , còn gọi là sông Đa Nhim , vì ở thượng nguồn của con
sông này trên Đà Lạt . có đập thủy điện cao thế Đa Nhim . Chiều
ngang của con sông rộng chừng 300 thước , chảy từ hướng tây của
ấp, qua hướng Nam Đông-nam của vùng Đại Ninh với một giòng nước
ngọt êm đềm , hiền hòa và mang nhiều chất phù sa mầu mỡ đã
làm cho đất đai
của vùng nầy ,từ lâu trở nên vô cùng phong phú
"Hương
Quang tịnh thất" là nơi của cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm ẩn
tu không nằm sát ngoài quốc lộ như đa số nhà của các người kinh
khác trong thôn, mà lại là nằm sâu bên trong , sát với khu vực
của người Thượng - cho nên muốn vào đến chỗ trú xứ của Ngài
thì phải đi bộ một khoảng đường rất xa, mất gần cả giờ đồng
hồ mới tới .
Vùng Phú An này (vào thời gian 1968, đặc biệt là chỗ của cố Hòa
Thượng tịnh tu, vì là nơi rừng núi, ít người lai vãng và có lẽ
, cũng vì ở gần sông, suối nên có rất nhiều loại rắn khác nhau .
Theo lời Ngài kể lại thì trong gần nửa năm đầu tiên về ẩn tu
nơi đây, Ngài gặp nhiều thứ rắn độc khác nhau, to có, trung bình
có, nhỏ có . To thì cỡ bằng cột nhà, trung trung thì bằng bắp vế ,
nhỏ thì bằng bắp chân, cườm tay trở xuống v.v ... Có đôi lúc sau
khi làm vườn xong, đến khi trở vào thất thì thấy rắn nó quấn
đuôi trên ngạch cửa thòng mình xuống, hả miệng, le lưỡi thở
khè khè . Ban đầu thì Ngài cũng có ý sơ,ï chần chờ không dám
bước qua, nhưng rồi nghĩ không lẽ đứng ở ngoài sân hoài, hay là
dùng cây đập đuổi thì gây thù oán khó lòng .Thôi thì cứ niệm
Phật mà bước ngang qua đại, rủi có bị nó cắn chết thì mình cũng
quy Tây, càng tốt chớ sao . Rồi Ngài nhiếp tâm niệm Phật và nghĩ
đến phép "từ bi quán" đoạn nhắm mắt, đi ngang qua cửa . Con
rắn "đánh đu mình qua bên nầy, bên kia phạm vào mắt, vào cổ
lạnh ngắt, mà Ngài vẫn cứ làm tỉnh bước đi . Đến khi vào trong
thất xong rồi, mới mở mắt nhìn lại thì nó cũng vừa buông mình
ra, rớt xuống đất nghe một cái đụi rồi bò ra ngoài rừng đi mất
.
Lại có lần khác, sáng sớm thức dậy (để sửa soạn vào khóa
lễ) . Vừa bước chân xuống "đơn" (tức là cái đi văng
nhỏ, bề ngang khoảng 8 tấc, bề dài khoảng 2 thước rưỡi của
người tu) thì Ngài có cảm giác như là đạp trúng phải vật gì
tròn tròn và mềm mềm . Ngó xuống, té ra đó là một con rắn hổ
đen thui , to bằng bấp chân đang nằm khoanh một đống ở dưới chân
giường ! Ngài nghĩ: Cha chả, mình đạp trúng nó một cái mạnh như
vậy, chắc nó cắn mình quá. Liền niệm A Di Đà Phật năm bảy câu
rồi đứng chết trân tại chỗ chớ không dám nhúc nhích . Còn con
rắn kia dù bị Ngài đạp trúng mà nó cũng không có phản ứng gì
hung hăng hết , y từ từ cất đầu lên . nhìn Ngài một hồi rồi le
cái lưỡi đỏ lòm ra khè khè mấy cái đoạn nằm im trở lại .
Lúc đó Ngài mới dám bước đi, vừa mở cửa ra vừa niệm Phật
mà bảo với y ta rằng: Thôi sáng rồi, đạo hữu cũng nên về đi
để cho thầy còn niệm Phật nữa. Tưởng đâu nói khơi khơi vậy
rồi thôi , không dè y ta dường như biết nghe nên y mới từ từ
bung mình ra dài cả mấy thước , chầm chậm bò đến cửa một cách
êm ái hòa bình, rồi ra ngoài rừng mất dạng .
Thêm một lần khác, đêm đó Ngài niệm Phật và trì chú Đại bi
đến khuya mới xong, vừa 1 bước chân xuống cầu thang thì đạp phải
lên một đống gì đó đen thui, to tướng , Ngài biết , chắc là rắn
(quen với mấy người quá xá rồi!) nhưng cũng làm tỉnh niệm A Di
Đà Phật một hồi , đoạn bước đến bàn viết , vặn đèn lên cho
tỏ để xem thì thấy một con rắn quá to (không biết làm sao mà nó
lọt vào nhà được, trong khi cửa nẻo đã đóng kín rồi - sau này
mới biết chúng nó là các loại rắn thần) đang cuộn tròn một
đống bên cạnh đôi dép của mình . Nó nhìn Ngài, Ngài nhìn nó . Hai
bên làm thinh ngó nhau một chặp, Ngài vừa niệm Phật vừa hỏi, có
phải đạo hữu vào đây để nghe kinh , nghe niệm Phật không ? Nếu
phải vậy thì gật đầu ba cái cho thầy biết đi . Rắn ta liền gật
đầu 3 cái . Cố Hòa Thượng biết rằng đây là loại rắn linh cũng
ưa tu niệm chớ không có ý gì muốn làm hại mình . Cũng như các
lần trước, Ngài mở cửa ra bảo thôi đạo hữu hãy về đi, và y
ta nhìn Ngài với ánh mắt hiền lành rồi từ từ bò ra ngoài đi
mất .Từ đó trở đi , mỗi lần làm vườn hay tình cờ gặp phải
các "người bạn dài thòn", thấy dễ sợ này thì Ngài niệm
Phật cho nó nghe một hồi , rồi mạnh đường ai nấy đi , việc ai nấy
làm chớ không có xảy ra chuyện gì khác lạ cả .
Biết vùng này có nhiều loại rắn linh mến mộ tu hành như vậy, nên
Ngài mới làm pháp "Du già thí thực", hồi hướng công
đức tu niệm của mình để bố thí đến cho loài rắn và nói rằng:
(nói khơi khơi một mình nhưng dùng tâm tưởng và tác ý cho loài
rắn được nghe). Vì khác loài nhau , nên từ nay nếu như quý vị
muốn nghe kinh chú và niệm Phật . v.v... để tu theo thì cứ ở ngoài
sân chớ đừng có vào trong thất của Thầy nữa .
Sau vài lần "truyền lịnh" như thế rồi thì từ đó về sau
tuyệt nhiên không còn có một con rắn nào vào trong cốc nữa .
Nơi miền rừng núi cao nguyên này thường thì có rất nhiều gò mối
lớn đặc biệt của miền sơn cước . Chính chi Thất mà Ngài đang ở
(Phương Liên thất) cũng nằm trên một gò mối lớn. Hầu hết gò
mối đều là ổ hang của rắn cả (rắn làm hang trong đó để ăn
mối) gò mối càng lớn bao nhiêu thì rắn ở trong đó càng nhiều
và càng to bấy nhiêu .
Như vừa lược qua căn Tịnh thất của Ngài ơ,û được xây cất
trên một gò mối lớn (đã được san bằng) vì vậy nên có nghĩa
là trên mặt đất thì cố Hòa Thượng ở, còn dưới mặt đất là
rắn ở . Hòa Thượng đã vô tình "sống chung hòa bình" với
cả đống rắn độc mà không hay biết chi hết. Sở dĩ các con rắn
này nó không làm hại chi đến Ngài là vì cứ mỗi tối, khi ngài
niệm phật trì chú , hoặc lễ bái, sám hối, tụng kinh v. v... thì các
"y ta" nằm im ở dưới nền nhà, hoặc là bò lên mặt đất,
rồi an bình nằm tại chỗ để nghe và tu theo. Đây là lý do vì sao mà
khi Ngài mới dọn về - như đã có lược qua trong phần trước - là
ở dưới chân giường, cầu thang , bỗng nhiên có rắn xuất hiện,
con nào con nấy cũng dài đến cả mấy thước , to bằng bắp vế, nằm
một đống đen thui trong cốc mà Ngài không hiểu vì sao nó lại vào
Thất được , trong khi Ngài đã đóng cửa nẻo kỹ lưỡng hết rồi
.Nhờ tu theo bằng cách "dựa hơi" hòa thượng "các ông
dài" này dần dần trở nên linh thông biến hóa được . Do vì
thầm cảm cái ơn trọng đại đó, cho nên các "Y ta" kính lễ
cố Hòa Thượng như bậc cha, Thầy , còn các "Y ta" thì giữ
bổn phận của con, cháu hay đệ tử - Vì thế nên từ đó về sau
các loài rắn này trở nên hiền hòa - chẳng những nó không làm
cho Ngài bực bội hay gây thương tổn chi , mà trái lại còn âm thầm
theo bảo vệ cho "Sư Phụ" nữa . Sau đây là một vài chuyện
liên hệ mà khi còn sanh tiền, cố Hòa Thượng đã tự thân kể
lại cho Ni sư Thanh Nguyệt và cháu là Đại Đức bổn sư Thích Hải
Quang nghe: Có lần, cố Hòa Thượng đang ngồi làm cỏ tranh và xới
đất bên cạnh một gò mối lớn ở phía sau thất (Phương Liên) của
Ngài, lúc Ngài quơ tay ra sau lưng để cầm cuốc thì Ngài lấy làm lạ
mà nói trong bụng rằng: Ủa ,sao bữa nay cái cán cuốc có vẻ là
lạ và bự quá vậy ? Ngài quay đầu ngó lại, thì té ra là mình
đang nắm nhằm cần cổ của một con rắn to bằng bắp chân người
lớn , màu đen có sọc vàng . Rắn ta vì bị nắm cổ nên hả miệng, le
lưỡi ra khè khè năm sáu tiếng làm cho Ngài hết hồn vội vã
buông tay ra và bước lùi lại phía sau, niệm Phật cả mấy chục câu
rồi mới định thần được . Xong rồi, Ngài đứng ngó y ta một lúc
và nói rằng: Ủa nhà ngươi ở đâu mà ra đây, nằm sau lưng ta hồi
nào vậy ? thôi hãy đi đi, Ngài lấy tay xua , khởi ý đuổi đi . Rắn
ta cũng ngó Ngài một hồi , gật đâu mấy cái (giống như xin lỗi)
rồi bò ra phía sau gò mối . Ngài đứng ngó theo xem nó bò đi đâu
cho biết , nhưng chờ hoài mà vẫn không thấy tăm hơi gì hết, mới
nghĩ : Ủa .. bộ nó còn nằm gần đây sao mà không thấy bò đi đâu
hết vậy kìa ? Ngài đi vòng quanh gò mối tìm kiếm mấy lần mà cũng
không thấy y ta đâu hết .
Khuya lại , sau thời khoá trì niệm (gần 4 giờ sáng) Ngài đang ngồi
trên ghế bên cạnh bàn viết nghỉ mệt , định bụng chút nữa sẽ pha
cà phê uống thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa . Ngài lấy làm
lạ, trong bụng nghĩ rằng: Ủa, giờ này còn sớm quá mà sao mấy
người Thượng lại tới gõ cửa vậy kìa ? (Bởi vì mỗi buổi sáng
mấy người Thượng ưa tới gõ cửa thất của cố Hòa Thượng để
hỏi việc làm như là cuốc đất , phát cỏ hoang và lên giồng trồng
khoai , sắn v.v... Ngài mới đứng lên , đi ra mở cửa thì thấy bên
ngoài , trước thất của Ngài là hai người Thượng một nam , một
nữ, tuổi chừng 50, dung mạo rất đơn sơ , mặt mũi sần sùi , da dẻ
đen đúa , cả hai đều mặc quần áo màu chàm trông cũng rất sơ
sài, đầu hơi nhọn , đi chơn đất (không có dép, giày gì hết), bàn
tay nhám nhúa giống như cò vảy , đang chắp tay cúi đầu chào Ngài ,
miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật . Ngài nghĩ bụng : Ủa, hai người
Thượng này ở đâu đến mà thấy lạ mặt , mình ở đây cũng
đã lâu rồi mà chưa quen với hai vợ chồng này. Phải hai vị đến
xin việc làm hôn ? Hai người ấy đáp: Mô phật, kính bạch Hòa
Thượng không . Uả ,vậy chớ có chuyện gì cần không mà gọi cửa
tôi sớm quá vậy ? Người đàn ông đáp: Bạch Hòa Thượng, hai
vợ chồng con đến đây để xin lỗi Hòa Thượng về chuyện đáng
tiếc ban trưa , có đứa cháu nội đã làm cho Ngài giật mình . Xin
Hòa Thượng từ bi tha lỗi và cho vợ chồng con sám hối .
Cố Hòa Thượng lấy làm kỳ, nên Ngài mới hỏi: Cháu nội của hai
vị hả, hồi nào , nó bao nhiêu tuổi ? Tôi nhớ suốt cả ngày hôm
qua có gặp đứa cháu nào đâu ?Người đàn bà đáp: Kính bạch
Hòa Thượng , cháu trai của con là đứa bé hôm qua mặc áo quần
đen có sọc vàng nằm hầu phía sau lưng của Ngài lúc Ngài làm
vườn đó .Ngài mới hỏi (mà trong bụng cũng chưa nhớ rõ ra là
ai, bởi vì đã có đứa nhỏ nào mặc áo quần đen, sọc vàng, theo
hầu sau lưng mình suốt ngày hôm qua đâu?).Vậy hả, cháu bé bao nhiêu
tuổi ? Người đàn bà đáp: Kính bạch bạch Hòa Thượng cháu
được 95 tuổi.Cố Hòa Thượng của chúng ta giật mình, sửng sốt
hỏi tiếp: Ủa, cháu nội mà được 95 tuổi thì hai vị đây bao nhiêu
tuổi ? Người đàn ông đáp: Dạ con được 842 tuổi và vợ của con
760 .
Đến đây thì Hòa Thượng đã biết rõ họ là ai rồi , nên Ngài
mới hỏi tiếp: Hai vị ở đâu tới đây ? Người đàn ông thưa:
Bạch Hòa Thượng, chúng con ở Huỳnh Xà Thôn nằm về phía Đông
của thôn Phú An này cách nơi đây khoảng 9 cây số, gia đình con có
khoảng một ngàn người ... Vừa nói tới đây thì người đàn bà
nắm lấy tay của ông chồng đập mấy cái như ra hiệu đừng nên nói
nữa (chắc sợ bị lộ tông tích) làm cho người chồng mới nói
đến câu khoảng một ngàn người ... thì làm thinh luôn.
Cố Hòa Thượng gật đầu nói: Thôi hai vị yên lòng về đi không sao
đâu .Nghe Ngài bảo nbư vậy thì hai vợ chồng người này đồng chấp
tay cúi chào rồi quay lưng đi vòng ra sau thất của Ngài . Hòa Thượng
mới nom theo xem họ đi đâu và làm thế nào cho biết, thì Ngài thấy
khi họ ra đến phía sau rồi, cả hai người đồng hóa ra hai luồng ánh
sáng màu vàng nhạt lớn bằng cườm tay , bay bổng lên không về
hướng Đông đi mất (giống như ông đi, bà xẹt vậy).
Do đó nên ngài biết rằng: Đứa bé 95 tuổi mặc áo đen, sọc vàng
là con rắn đen có vằn vàng ngày hôm qua đã làm cho mình hết hồn
!Hai vợ chồng này là rắn Chúa (chúa động). Hang ổ chánh của bọn
chúng nằm về hướng Đông của ấp Phú An , cách đây 9 cây
số có tên là Huỳnh Xà Động" (động rắn vàng) . Chắc có lẽ
họ mới biết biến hình nên dung mạo còn thô sơ chớ chưa đẹp
người. Và hơn nữa chắc mỗi đêm họ ít nhiều gì đó cũng có
đến đây nghe kinh và tu theo mình nên mới có vẻ kính trọng mình và
biết chắp tay niêm Phật như vậy ...
Nguyên gần 10 năm về trước. lúc cố Hòa Thượng còn nhập thất
ở Bến Tre . Ngài có quen với một vi tu sĩ tên là "ông Sư Mỏ
Cày" Sở dĩ, gọi là ông Sư Mỏ Cày vì vị này tuy có hình
tượng một nhà sư Phật giáo, nhưng thật ra là một người đạo sĩ
tu tiên, luyện điển theo phương pháp xuất hồn , địa danh (tên của
vùng đất) nơi ông Sư này ở tu tên Mỏ Cày, không ai biết được
tên thật của ổng là chi hết . Ông Sư này rất kính quý cố Hòa
Thượng qua phong cách và đạo hạnh của Ngài, nên thỉnh thoảng cũng
có đến viếng thăm . Hòa Thượng cũng có chỉ dẫn thêm cho Sư một
vài pháp tu bổ túc , vì vậy mà Sư có một sự mang ơn ở nơi cố
Hòa Thượng . Lúc Ngài về Sài gòn và làm Đốc giáo ở Phật
Học Viện Huệ Nghiêm rồi thì Sư cũng có đến thăm một lần, đến
khi cố Hòa Thượng lìa Huệ Nghiêm để ẩn tu thì hai đàng biệt nhau .
Mãi đến mấy năm sau. Sư mới tìm được lên Đại Ninh (trước sau
hai lần) để thăm cố Hòa Thượng - và rồi Sư qua đời vào mấy
năm sau . Lần đầu tiên Sư lên thăm cố Hòa Thượng vào năm 1970 ,
lúc đó thì Ngài không còn ở Hương Quang thất nữa,mà đã dời
về thất mới là Phương Liên tịnh xử rồi) và được Hòa Thượng
cho phép ở lại thất của Ngài vài ba hôm để đàm đạo giáo lý
và tu tập (Sư thọ giáo mật tông từ nơi cố Hòa Thượng).
Qua đêm đầu tiên, sáng lại, Sư có thưa với cố Hòa Thượng rằng
thất của Ngài đang ở tu nằm trên miệng hang của một động rắn
"Kim Xà" rất lớn và xin Hòa Thượng hãy cẩn thận, vì đây
là các loại rắn thần, con nào con nấy cũng sống trên mấy trăm
năm hết . Cố Hòa Thượng gật đầu , nói với Sư là Ngài đã
biết việc đó từ lâu rồi và cũng có kể lại cho Sư nghe về vài
ba chuyện của các Kim Xà . Qua ngày kế đó, Sư nằm ngủ và xuất
hồn ra đi thăm" xà động" này , khi thức dậy Sư có thưa
cùng Ngài như sau: Nguyên từ mặt đất của nền thất Phương Liên đi
thẳng xuống dưới (lòng đất) sâu 800 thước có một động rắn
lớn , trong đó có khoảng 200 "ông dài" đều sống từ hơn
100 cho đến gần 1000 tuổi hết . Động này có đường (hầm) thông qua
3, 4 động khác nữa.
- Chúa tể của tất cả các động rắn này là một đôi Xà Vương
(rắn chúa) màu nửa đen, nửa vàng và đều đã được trên một
ngàn tuổi rồi . Cặp Xà Vương này hiện đang ở ngay dưới nền
Thất của cố Hòa Thượng cùng với các con cháu , mỗi đêm đều
nghe Ngài niệm Phật trì chú và tu theo, cho nên biết biến hóa và
đồng thờ cố Hòa Thượng làm Thầy để nương theo tu tập .
(còn tiếp)
Ưu Bà Di Bảo Đăng
(Trích sách Vô Nhất Đại Sư
Hoà Thượng Thích Thiền Tâm)