Tại đây, có thể hiểu rằng Lý
Công Uẩn là vị vua được khai nghén từ trong bào thai Lạc Việt,
được sinh ra trong triều đại nhà Lê đã đang trên đường suy vong,
được lớn lên trong vòng tay giáo dục bởi một tinh thần Vạn
Hạnh, không chỉ cầu giải thoát cho mình, cũng không thờ ơ với xã
hội, mà chỉ tâm nguyện giải thoát mọi sự khổ đau cho đời. Lý
Công Uẩn đã đi vào cuộc đời với sứ mệnh hồi phục và phát
triển để mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc. Kỷ nguyên Độc lập -
Tự do - Hạnh phúc với bản sắc văn hóa dân tộc riêng biệt lâu
đời. Lý Công Uẩn không những là ông vua Hộ Quốc mà còn là vị
vua "Hộ Pháp" đầu tiên của vương triều nhà Lý.
Đại Việt sử Lược quyển 2 tờ 1a 3 - 2a 8 viết :
"Tên Uẩn, họ Lý, người làng Cổ Pháp, Bắc
Giang, mẹ Phạm Thị, sinh ngày 19 tháng 2 năm Thăng Bình thứ 5 (975).
Thuở nhỏ thông minh, sáng trí, tính khí rộng rãi. Đến học ở chùa
Lục Tổ, thầy Vạn Hạnh cho là khác thường, nói : "Đó là một
người phi thường, lớn lên tất có thể giúp đời yên dân, làm
chủ thiên hạ."".
Như vậy cũng đủ có cơ sở để nhận định rằng Lý
Công Uẩn là một con người mang trong mình dòng máu đạo đời viên
mãn, một tấm lòng yêu nước nồng nàn, một tâm hồn luôn ưu tư
giải thoát cho đời.
Ông vốn sinh ra trong mảnh đất có nền văn hóa với
một bề dày lịch sử, một vùng đất có truyền thống đạo Phật
lâu đời, nơi đó lại gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Nơi đây
chiếc nôi Phật giáo đã đúc kết bao nhiêu tinh túy đạo Phật để
làm nên những con người lịch sử. Tục truyền Lý Công Uẩn đã
được sinh ra như là một huyền thoại rất lịch sử nhưng cũng đầy
hiện thực.
Truyền rằng Lý Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm
Thị đi chơi chùa Tiêu Sơn, nằm mộng thấy Thần Sơn rồi về có thai
sanh ra đứa con trai. Lên ba tuổi đem cho người Sư ở chùa Cổ Tháp
tên là Lý Khánh Vân. Ông nhận làm con nuôi đặt tên là Lý Công
Uẩn, là người thông minh, được Thiền sư Vạn Hạnh dạy dỗ, nên
ông luôn được sự quan tâm, ủng hộ của mọi người.
Dưới thời tiền Lê, ông làm quan đến chức Tả
thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Khi Lê Long Đĩnh (1009) thì Lý Công
Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Bấy giờ Đào Cam Mộc cùng quan lại trong
triều đưa ông lên làm vua (1009) đổi niên hiệu là Thuận Thiên, Lý
Thái Tổ đã quyết định dời đô về Đại La thành lập nên thủ
đô mới. Tại đây, nhà vua thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi Đại
La thành Thăng Long tức Hà Nội ngày nay, đổi Hoa Lư thành Trường An
phủ và Cổ Tháp thành Thiên Đức phủ.
Việc dời đô ra Thăng Long là một việc làm có tính
chiến lược lâu dài của vua Lý Thái Tổ trong việc xây dựng và
bảo vệ đất nước. Đọc kỹ văn chiếu dời đô, mới thấy rõ
tầm quan trọng của việc làm này.
"Xưa kia nhà Thương đến vua Bàng Canh năm lần dời
đô, nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô, phải đâu
các vua đời Tam Đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ?
Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan việc lớn, tính kế
muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân,
nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong
tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý kiến riêng mình,
khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của nhà Thương Chu
cứ đóng yên đô thành ở nơi đây khiến cho triều đại không
thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời
đổi".
"Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương
ở vào trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi.
Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa
núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi
chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt
tươi. Xem khắp đất Việt ra, chỉ nơi đây là thắng địa. Thật là
chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi
kinh đô bậc nhất của các đế vương muôn đời". (1)
Với chiếu dời đô đầy đủ ý nghĩa "nghĩ sâu,
ý xa, lý rành, khí mạnh, lời giàu, văn hay" Lý Thái Tổ muốn
khẳng định chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước là nhiệm
vụ hàng đầu của dân tộc mang tính chất lâu dài và ổn định. Ông
muốn mở một chiều hướng mới của lịch sử dân tộc : Quyền
được sống hạnh phúc trong lãnh thổ toàn vẹn của đất nước,
với toàn thể sự sinh hoạt theo phong tục tập quán của nền văn
hóa lâu đời của dân tộc mà không bị một thế lực ngoại bang
nào mà chi phối cả. Cho nên chiếu dời đô ban ra, nó có tác dụng
tuyên truyền đường lối hoạt động triều Lý là đúng đắn. Một
mặt nó gây tin tưởng sắt thép đối với người đáng lên ngôi
thiên tử. Nó kín đáo, khéo léo so sánh nhà Lý với nhà Thương,
nhà Chu để giành lấy chính nghĩa. Sau đó nó cảnh cáo nhà Đinh,
nhà Lê và các thế lực phản động khác có mưu phản loạn ở Hoa
Lư thông qua việc tin tưởng địa lý và lòng người. Mặt khác nó
biểu hiện khía cạnh xây dựng đất nước trong ý nghĩa tích cực
nhân hòa địa lợi : "trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng
dân ; ở vào trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ
ngồi". Thực tế Lý Thái Tổ đã thực thi tâm nguyện đó một
cách thành công khi ông thừa hiểu đất Thăng Long là nơi nằm ở
vị trí giữa đồng bằng sông Nhị, dân cư trù phú. Đặc biệt là
toàn bộ dân chúng, nhất là vùng này đều thấm nhuần tư tưởng
Phật giáo qua nhiều thế hệ. Ngay cả đội ngũ trí thức cũng như
quần chúng lao động số đông đều theo Phật giáo. Đọc sử chúng ta
có thể khẳng định rằng thời đó, đội ngũ trí thức nước ta
không phải là Nho sĩ mà là Tăng sĩ. Theo Thượng tọa Mật Thể thì :
"Ngày xưa mỗi khi tiếp Sứ Tàu, vua ta phải chọn những người
lỗi lạc, uyên bác ra tiếp, mà hai vị Thiền sư cùng được cử vào
việc ấy đủ biết văn hóa trong nước hầu hết đều do ở đám
Tăng sĩ cả".
"Những Pháp sư ấy lại mở trường giáo hóa
Tăng chúng nên ta có thể đoán thời ấy Phật giáo thịnh vượng
nhất. Vua tin theo, triều đình ủng hộ, lại có sứ đi cầu kinh, tất
nhiên ai cũng phải biết đến". (2) Khi đã được toàn bộ lòng
dân hướng về mình, Lý Thái Tổ chỉ có trách nhiệm đứng ra thực
thi thông điệp. Chấm dứt mọi đau khổ mà cuối triều đại nhà Lê
trị vì, mở ra trang sử huy hoàng hơn. Hay nói cụ thể hơn là quần
chúng nhân dân, chủ yếu là quần chúng Phật giáo số đông bấy
giờ đang mong mỏi có vị vua xuất thân từ Phật giáo đem Chánh pháp
vào đời. Để đạt được tâm nguyện ấy Lý Thái Tổ phải có
chiến lược lâu dài như đã đề ra là xây dựng đất nước thịnh
vượng không chỉ triều đại nhà Lý do ông lập nên mà cho cả muôn
đời : "Cũng là nơi kinh đô bậc nhất của các đế vương lâu
đời". Việc thành Đại La được trở thành kinh đô Thăng Long
đã khẳng định sức mạnh tiềm ẩn của cả dân tộc đã và đang
vươn lên không gì ngăn cản được. Sự kiện vua Lý Thái Tổ vừa
tới kinh đô mới đã thấy rồng hiện, chứng tỏ vua đã khéo khơi
sâu đến ý thức nguồn gốc dân tộc : Con rồng cháu tiên để
vững niềm tin xây dựng đất nước. Trong ý nghĩa "Rồng" bay
hiện trong sự phồn thịnh an lạc từ xưa cho đến nay. Tại đây, vua
Lý Thái Tổ muốn xây dựng một trung tâm đầu não về văn hóa,
chính trị, giáo dục, tôn giáo cho cả nước.
Khi đất nước thịnh vượng thì việc hoằng dương
Chánh pháp mới thuận lợi và khi nào đạo pháp đã đi vào đời
một các rộng rãi thì dân chúng mới an cư lạc nghiệp. Thực tế
lịch sử đã chứng minh như vậy. Cho nên có thể khẳng định rằng
nếu có nguyên nhân nào làm cho đạo pháp và dân tộc thịnh vượng
thì nguyên nhân đó chính là chất liệu từ bi, giải thoát của đạo
Phật và tấm lòng yêu nước nồng nàn của muôn người như một.
Việc vua Lê Long Đĩnh (1005 - 1009) dùng chính sách cai trị dân chúng
không đúng Chánh pháp đã chứng minh quy luật đó. Theo sử chép
thì ông là người hạ lệnh "róc mía lên đầu chư Tăng, buộc
cỏ vào lưng tù mà đốt, giam người vào chuồng rồi đẩy xuống
nước cho chết ngộp, trồng cây sắt nung đỏ bắt leo..." đã tự
đưa ông vào cửa tử trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dẫn đến
triều đại Nhà Lê phải sụp đổ, mở ra triều đại nhà Lý theo
tâm nguyện của quần chúng nhân dân, cũng là tâm nguyện, tâm đạo
của Lý Thái Tổ. Tại đây có thể đi đến kết luận dời đô ra
Thăng Long là việc làm "Hộ Pháp" đầu tiên nằm trong chiến
lược xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt của vua Lý
Thái Tổ.
Việc làm thứ hai của vua Lý Thái Tổ là đem đạo
vào đời đi từ công cuộc xây dựng một xã hội nhân bản tốt
đẹp hơn. Đây cũng chính là tâm nguyện muôn đời của những con
người theo đạo Phật, đúng như lời Thế Tôn dạy "Vì sự lợi
ích, vì sự hạnh phúc an lạc cho chư Thiên và loài người".
Với ý tưởng đó thì mới chuyển hóa xã hội nhân bản sang xã
hội Phật bản đúng nghĩa theo tinh thần đạo Phật. Chính lẽ sống này
khi Lý Thái Tổ lên ngôi, ông đã thay đổi chính sách cai trị dân
khác hẳn với các triều đại khác, đúng như lời nhận định của
cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết : "Các vua vũ biền đời
trước (nghĩa là trước nhà Lý) đã đem những thói giết chóc
thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng
ngày, chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người
rừng thú". (3)
Chính sách trị dân mà Lý Thái Tổ ban hành và ứng
dụng trong triều đại của ông được xây dựng trên cơ sở của
một nền Phật học mà ông hấp thụ từ trong di sản văn hóa dân
tộc, và trực tiếp Thiền sư Vạn Hạnh. Ở vào địa vị quyền ưu
tuyệt đối, bậc đế vương mà Lý Thái Tổ đã đánh mất cái
"Ta" thường tình, lại không quên vai trò Hộ Pháp của
người Phật tử thuần thành là điều đáng ghi nhận muôn đời.
Chính vua là người được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong
chốn Thiền lâm, chất liệu từ bi giải thoát đã thể nhập vào
việc "bình thiên hạ" lúc nào chả rõ. Mới lên ngôi, ngoài
việc dời đô ra Thăng Long vua đã cho dựng chùa, thỉnh kinh từ Trung
Quốc, đúc chuông, tạo tượng, giảng kinh, truyền bá Chánh pháp, xá
tội vong nhân... khiến cho cả triều đại nhà Lý bao trùm tinh thần
Phật giáo "từ bi hỷ xả", vừa oanh liệt về chiến công,
vừa nhân từ về chính trị hơn cả.
Sử chép "Năm Thuận Thiên" nguyên niên (1010)
Thái Tổ sắc lệnh làm nhiều chùa ở phủ Thiên Đức, lấy tiền kho
hai vạn quan để dựng 8 ngôi. Trong thành Thăng Long dựng chùa Hưng
Thiên Ngự, gần điện Thái Thanh, dựng chùa Vạn Tuế, ngoại thành
lại dựng chùa Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh
Thọ, Thiên Quang và Thiên Đức. Triều đình lại sắc đi khắp các
làng hễ chùa nào đổ nát thì phải tu bổ lại.
"Sang năm thứ 9 (1010) Thái Tổ sai sứ là Phạm
Hạc và Nguyễn Đạo Thanh sang Trung Quốc thỉnh kinh. Khi được vua Tống
ban cho, ngài lại sắc một vị Thiền sư là Phi Trí đi sang tận Quảng
Tây đón về và để vào kho sách Đại Hưng. Đó là lần thứ hai
nước ta có sứ đi cầu kinh".
"Năm sau (1020) Ngài sắc lập đạo đường và phái
Tăng sĩ đi diễn giảng Phật đạo khắp trong nước, lại sắc đúc
mấy quả chuông để treo ở các chùa Hưng Thiên, Đại Giáo, Thắng
Nghiêm".
"Năm Thuận Thiên thứ 15 (1024) tháng chín, ngài
lập chùa Chân Giáo ở trong thành và sắc các Tăng sĩ, Pháp sư
đến đó tụng kinh và giảng đạo để ngài thường đến nghe".
(4)
Tất cả những việc làm thành tựu trên thể hiện
tinh thần Hộ Pháp của Lý Thái Tổ trong buổi đầu xây dựng phát
triển triều đại nhà Lý, mở ra một giai đoạn mới cho dân tộc
Việt Nam. Một giai đoạn lịch sử không còn giới hạn thay đổi ngôi
triều, mà thật sự làm một cuộc cách mạng xây dựng con người
giải thoát mọi khổ đau trong tự thân mỗi người. Kinh Duy Ma phẩm
Phật Quốc dạy Bảo Tích rằng : "Thị cố Bảo Tích, nhược Bồ tát
dục đắc Tịnh độ đương tịnh kỳ tâm, tùy kỳ tâm tịnh đắc Phật
độ tịnh".
"Cho nên này Bảo Tích, nếu Bồ tát muốn được
quốc độ thanh tịnh thì phải thanh tịnh chính bản tâm mình, tùy theo
sự thanh tịnh của tự tâm mà cõi Phật được thanh tịnh". Theo
tinh thần này, Lý Thái Tổ muốn xây dựng hình ảnh đất nước
Đại Việt thịnh vượng hạnh phúc thì cần phải thực thi cuộc cách
mạng tận căn rễ trong chính cội nguồn sâu thẳm nội tâm. Khi thế
giới nội tâm không cáu bẩn thì thế giới ngoại tâm sẽ trong sạch
hoàn toàn. Mọi cuộc cách mạng bên ngoài chỉ là những giai đoạn
tiền đề mang tính thức thời. Phương tiện hữu hiệu nhất để kiến
thiết con người xã hội có giá trị hạnh phúc vĩnh hằng là triển
khai trí tuệ Phật đà triệt để trong cuộc cách mạng nội tâm. Việc
xây chùa, thỉnh kinh, giảng kinh khắp nơi của Lý Thái Tổ là việc
làm sống động thể nhập hình ảnh : "Đất vua, chùa làng, phong
cảnh Bụt" mà cả dân tộc đã khát vọng từ lâu. Tại đây
nhà chùa trở thành nhà trường, trở thành những trung tâm giáo
dục, văn hóa phát triển theo tinh thần Phật giáo cho cả nước, thể
hiện nếp sống đạo đức Phật giáo trong lòng mỗi người dân.
Do áp dụng đường lối dùng Chánh pháp để trị dân,
vua Lý Thái Tổ đã thành công vai trò lãnh đạo đất nước, vai
trò Hộ Pháp của người Phật tử đúng như lời nhận định
"Về đời Lý Thái Tổ, trong nước đã cường thịnh, các nước
ngoài như Chiêm Thành, Chân Lạp đều chịu triều cống, bên Tàu nhà
Tống cũng giao hiếu không sanh sự, dân tình an lạc, vua và triều
đình lại hết tâm ủng hộ, nên Phật giáo nước ta ở hồi ấy có
thể gọi là cường thạnh nhất từ trước đến sau". (5)
Tóm lại, với vai trò nguyên thủ quốc gia, vị vua đầu
tiên khai sáng ra triều Lý, Lý Thái Tổ đã làm tròn trách nhiệm
người công dân đối với đất nước, một người Phật tử đối
với đạo Pháp. Chính ông là đứa con dân tộc được kết tinh từ
dòng máu đạo pháp và dân tộc để rồi lịch sử đã giao cho Lý
Thái Tổ cái quyền tối hậu khai sáng ra triều đại nhà Lý vững
chắc và thịnh vượng ngự trị hơn 200 năm nhờ thực thi tinh thần
Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt nam đúng như lời cố giáo sư
Hoàng Xuân Hãn : "Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ
nhất, vững chắc nhất nước ta. Đó là nhờ ảnh hưởng của đạo
Phật". Trong sự thành công rực rỡ này, chính Lý Thái Tổ là
ông vua biết vận dụng giáo lý Phật đà để trị vì. Điều này
cũng có nghĩa Lý Thái Tổ là vị vua Hộ Pháp đầu tiên của Phật
giáo nước nhà. Nghiên cứu lời nhận định của nhà sử học Ngô
Thời Sĩ thì ít nhiều sẽ hiểu rõ tấm lòng Hộ Pháp của ông đối
với đạo Phật như sau : "Vua Lý Thái Tổ sinh trưởng nhờ cửa
Phật, được Khánh Vân nuôi lớn. Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân
quả ăn sâu ở trong lòng, cho nên khi mới kiến quốc đã sáng lập
nhiều chùa, cấp điệp độ Tăng chúng, muốn đưa cả thế giới vào
nếp Phật, bất luận hiền ngu, muốn cho quy y Phật...". (6)
-------------------------------------
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Viện Văn học. Thơ
văn Lý Trần, tập I, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội 1977, trang 230, Nguyễn
Đức Vân dịch.
Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức
1960, trang 115.
Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Tu Thư Đại học
Vạn Hạnh tái bản lần thứ I - 1966, trang 426.
Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức
1960, trang 118.
Mật Thể, Việt Nam Phật giáo Sử lược. Nxb Minh Đức
1960, trang 119.
(6) Nguyễn Đăng Thực, Khái quát tư tưởng thời
đại nhà Lý - Tạp chí Vạn Hạnh số 1 - 1965 Phật lịch 2509.