Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới


...... ... .

 

 

ĐẠT MA HUYỀN TRANG

 

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

---o0o---

 

PHẦN 1

Mục Lục

Dẫn Nhập

Lời giới thiệu

Lời nói đầu

Cuộc Đời Và Huyền Thoại Bồ Đề Đạt Ma

Tài Liệu Về Bồ Đề Đạt Ma

Yếu Tố Xã Hội

Ngôn Ngữ Thiền

Tài Liệu Bồ Đề Đạt Ma

Các Truyền Thuyết Về Bồ Đề Đạt Ma

Nghi Vấn Về Nhóm Nghiên Cứu:

Tổ Bồ Đề Đạt Ma Đến Việt Nam

Tiểu Sử Tổ Bồ Đề Đạt Ma 

Lời Tụng Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma 

Bia Văn Tưởng Niệm Bồ Đề Đạt Ma

Lý Giải Của Bồ Đề Đạt Ma

Phép Bích Quán Của Bồ Đề Đạt Ma

Tĩnh Quán và Bích Quán

Ý Nghĩa Bích Quán Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma

Huệ Khả Được Tổ Bồ Đề Đạt Ma Truyền Tâm Ấn

Huệ Khả Cầu Đạo

Kệ Phú Pháp Của Bồ Đề Đạt Ma 

Các Môn Đồ Của Bồ Đề Đạt Ma

Đạt Ma Xách Dép:

Đạt Ma Cắt Mí Mắt:

Kế Thừa Tổ Bồ Đề Đạt Ma

Đạt Ma Tổ Sư Thiền

Phần dịch âm và ghi chú

 

Dẫn Nhập

 

Khi trình bày tiểu sử, tư tưởng hoạt động cho sự phát triển Phật Giáo của hai ngài Đạt Ma Huyền Trang, sự thống nhất trong liên hệ đó, cho ta thấy những điểm then chốt như sau: 

1.- Về Phương Diện Truyền Giáo: Hai ngài Đạt Ma Huyền Trang chính là những nhăn vật tiên phong trong việc phát triển, chuyển hóa Phật Giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa. 

*.- Một Vị, từ Trung Hoa theo con đường lụa, sang Ấn Độ để nghiên cứu về Duy Thức Học. 

*.- Một Vị, đưa Thiền tông từ Ấn Độ sang phát triển ở Trung Hoa. 

Và từ đó, đã bành trướng qua những vùng Châu Á Gió Mùa (Asie des Moussons). 

2.- Về Hạnh Nguyện: Hai nhân vật chính yếu nầy là những vị Tổ Sư của các môn phái về Thiền tông và Duy thức tông, khi đã du nhập vào Trung Hoa, tức là đã bước sang một chuyển hóa mới. Nguyên tắc của việc du nhập nầy là: Tùy Cơ Bất Biến, ứng dụng và từng khung cảnh xã hội khác nhau, để truyền bá. 

3.- Điều Thống Nhất giữa Hai Vị Truyền Giáo Nầy Là: Cuộc đời cống hiến đạo pháp của họ đã được mọi tầng lớp trong quãng đại quần chúng ngưỡng mộ, đến độ, đã biến những giai thoại trong những cuộc truyền giaó thành những thiên ký sự thật ly kỳ. Nếu không phải là những nhân vật có đầy đủ uy tín và trọng vọng như thế thì đã không có những tác phẩm như: Tây Du Ký, Tây Du Ngoại Truyện, ... 

4.- Đối Với Việt Nam: Tư tưởng của hai ngài Đạt Ma Huyền Trang đã chiếm một địa vị rất sâu đậm. Khoa luận lý học, lối tọa thiền mà ngày nay đã trở thành một nếp sống phổ cập trong dân chúng, dù là Phật tử hay chưa tin Phật, cũng lấy đó làm cơ sở an tâm,, dưỡng tánh cho mình. 

Với những lý do trên, tác phẩm nầy có tính chất tổng hợp và so sánh. Với những nét đại cương, khaí quát, ở đây chúng tôi chỉ nêu những vấn đề có tính điển hình, tính phổ biến. 

 -- Những câu chuyện gần như giai thoại được giải thích lại.

 -- Những yếu tính cơ bản đưọc khai thác sâu thêm. 

Đó, là những ước mong của người viết, với khả năng hạn hữu của mình, để nói lên hai vấn đề: Lý Luận Nhân Sinh của người Phật tử. 

 

Lời Giới Thiệu

Trong tinh thần đóng góp Văn Hóa Phật Giáo, làm phong phú thêm tài liệu học Phật là những công tác tinh thần cao quý, cần phải được tán thán, lưu ý, giúp đỡ. Nay, Đại Đức Tín Nghĩa đưa cho tôi bản thảo tựa đề: Đạt Ma Huyền Trang để có ý kiến cụ thể. 

Sau khi đọc qua bản thảo về Hai Vị Tổ, tôi nhận thấy hai tài liệu nầy khúc chiếc, dễ hiểu, không dùng những hình thức văn chương, những chi tiết rườm rà, cốt cho người nghiên cứu nắm vững sự kiện chính yếu, tài liệu nầy căn cứ vào những tài liệu trong và ngoài nước đáng tin tưởng. 

Với sự cố gắng đúng mức, Đại Đức đã sưu tầm một sử liệu Phật Giáo mất nhiều công phu như vậy, thiết tưởng nó sẽ giúp cho những vị nào muốn nghiên cứu về hai vị tổ lớn trong nền Văn học Tư tưởng Phật Giáo, và cho những ai muốn có một vài khái niệm xác thực về nhân vật Bồ Đề Đạt Ma Huyền Trang. Ngoài tính cách huyền thoại, tiếp đến cách bố cục của tác phẩm. Đại Đức đã sắp đặt Tổ Đạt Ma, một con người với bộ óc lớn, bất cần không gian, thời gian và những liên hệ với nhân thế, cuộc đời đối với Tổ Bồ Đề Đạt Ma như sợi lông hồng đầu gậy. Bên cạnh Tổ Huyền Trang ngoài ý nghĩa Cao Tăng, là một Học Giả uyên thâm của Phật Giáo, tìm đến với đạo Phật trước phải tìm đến cội nguồn của nó. Cả hai Tổ đều làm cho đạo Phật nói chung, cho đạo Phật Trung Hoa nói riêng thâm trầm, phong phú về mặt tư tưởng và học thuật. Phải chăng dụng ý của Đại Đức đưa vào tác phẩm mình hình ảnh của hai vị tổ có hai lãnh vực tuy dị biệt mà bổ sung cho nhau làm thành một nền tư tưởng vừa cao thâm và thực dụng, để tránh cho người học Phật khỏi mắc bệnh chỉ chú trọng tư tưởng mà xem nhẹ phần nghiên cứu đích thực để rơi vào những hiểu biết không căn cứ và trái lại, cho những ai chỉ biết lần mò với sự tra cứu mà thiếu phần tư tưởng, thì sự tra cứu ấy không biết đến bao giờ mới thấu đạt? 

Xuyên qua hình thức, nội dung tài liệu có giá trị của Đại Đức, tôi khuyến khích Đại Đức nên in thành sách và cho phổ biến. Đương nhiên tài liệu vẫn còn thiếu sót không sao tránh khỏi, nhưng, những thành công nào mà chẳng trải qua thất bại, những đầy đủ nào mà chẳng đi qua thiếu sót. Chỉ có điều là dám làm và có những sự cảm thông mang một ý nghĩa xây dựng không? 

Với những lý do đó, tôi được hân hạnh giới thiệu tập sách ĐẠT MA HUYỀN TRANG đến với người đọc để chia xẻ những lý do thầm kín và đóng góp tinh thần sơ khởi của Đại Đức cho ngôi nhà Văn Hóa Phật Giáo hôm nay và mai sau. 

Hoa Kỳ, Xuân Quý Hợi – 1984

Đại Đức THÍCH NGUYÊN ĐẠT 

 

 

Lời Nói Đầu  

Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 của Thiền Tông tại Tây Trúc, nhưng, Ngài là vị Tổ thứ nhất tại Đông Độ (Trung Hoa) về môn phái Thiền. Cuộc đời ghi chép với nhiều kỳ bí, huyền thoại. Những tư tưởng về An Tâm, Pháp Thân, Phật Thân, lối chỉ thẳng là những thay đổi lớn, về mặt tìm về Giác Ngộ và Giải Thoát. Ngôn ngữ thiền vô cùng súc tích, uyên bác. 

 

Cuộc Đời Và Huyền Thoại Bồ Đề Đạt Ma 

Những tài liệu biên chép cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma như Cao Tăng truyện của Nam Sơn Đạo Tuyên, Truyên Đăng Lục của Thiền sư Đạo Nguyên, Bích Nham Lục của Phật Quả Viên Ngộ, ... thường chen vào những huyền thoại. Thoại về Tổ Đạt Ma cỡi sóng qua Đông Độ. Thoại về Tổ Đạt Ma cỡi bè lau về Tây Trúc, xách dép phi hành trên ngọn Thông Lãnh. Thoại về Tổ Đạt Ma ngủ gục cắt mí mắt, mí mắt rơi xuống thành cây trà đầu tiên, ... (để trở thành nghệ thuật trà đạo). Những thoại ấy, cốt để thi vị hóa một cuộc đời ngang dọc xông pha, phi thường, ngang dọc vượt biển, ngang dọc chống lại triết thuyết theo danh số, theo giáo điều, ... Chín năm nhin vách đá chùa Thiếu Lâm không nói một lời (Thiếu thất cửu niên vô nhất ngữ). Thoại là lối thi vị hóa cuốc đời. Một cuộc đời quá sôi động, quá cao cả. Sơ Tổ xách dép, đi trên cọng cỏ, ...là nói lên một tâm hồn phơi phới, siêu thoát nghịch đời. Chỉ ngủ quên một chút mà cắt đứt mí mắt, cho thấy sự cuồng nhiệt lúc đi tìm ánh sáng đạo lý. Đó là tất cả những nét độc đáo của tâm hồn Đạt Ma Tổ Sư. Chín năm bích quán, đã phản ảnh một tâm hồn bi đát trên đường tìm đạo. Lương Võ Đế đã không hiểu nổi những ý tưởng mạnh mẽ, những ý nói thẳng. Các danh sĩ, các Cao Tăng đương thời xa lánh và khinh thường Ngài. Họ không thể hiều được ý nghĩ huyền diệu ấy. Họ tôn thờ luân lý. Họ còn mang danh tướng. Họ đam mê phương pháp quy nạp để tìm đạo. 

Câu chuyện chiếc dép trong quan tài được vua Hiếu Trang sắc chỉ đưa về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Hai trăm năm sau, thiện tín đưa về thờ ở chùa Hoa Nghiêm. Thì ra, năm vị Tổ kế thừa đã xiển dương thiền học thành một tông phái chính thống. Cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư thường gặp nhiều trở ngại. Lương Võ Đế dù là người ngoan đạo, thuần thành, vẫn chưa thoát khỏi trí óc tầm thường của kẻ tục. Các danh sĩ xa lánh Ngài đã đành, mà môn đệ cũng ít nữa. Năm lần Ngài bị đầu độc.

Khi Ngài đến Vô Môn, quan Thái thú là Huyện Chi, sau một thời hỏi pháp, có nêu vấn đề: 

 -- Từ lúc vào Trung Hoa đến nay, ai thường hại thầy, xin thầy chỉ họ, con sắp xếp?

Bồ Đề Đạt Ma: 

 -- Nói ra, ắt có tổn hại. Ta nên đi vậy. Sao can tâm hại người, cho mình vui? Có những tình cảm cô độc thê lương đến thế? 

 

Tài Liệu Về Bồ Đề Đạt Ma 

a.- Về Thân Thế: Ghi chép và lưu hành trong Cao Tăng truyện và Truyền Đăng Lục. Tài liệu Tây phương và Ấn Độ thường nêu lên hai nghi vấn: 

*.- Phải chăng Bồ Đề Đạt Ma là Sơ tổ Thiền tông ở Trung Hoa?

*.- Có thật một nhân vật tên Bồ Đề Đạt Ma hay không? Nếu không, lý giải ra sao? 

Tài liệu nầy sẽ nêu ra giải đáp tổng hợp. 

b.- Kinh Sách: Hiện nay các kinh sách được xem là của Bồ Đề Đạt Ma tổ sư là: “Thiếu Thất Lục Môn”. Ngoài ra, còn có một số bài thuyết pháp mà các học giả Tây phương (Wilger, Hébert) đã tìm ra một vài dịch thuật. Cuốn trên còn nhiều nghi vấn, nhưng, có nhiều phần đã phản ảnh tư tưởng Bồ Đề Đạt Ma, nên càng dễ soi sáng thêm các yếu lý thiền. Còn các bài thuyết pháp (vấn đáp) đã đặt các vấn đề cơ bản thiền tông: Như pháp an tâm, vấn đề pháp thân, Phật tâm. Bài kệ phú pháp nêu rõ yếu chỉ thiền. Tất cả đã tạo được một cơ cấu tư tưởng triết học thiền, từ Bồ Đề Đạt Ma về sau; tức là từ lúc bành trướng sang Trung Hoa, thoát ảnh hưởng huyền bí của Ấn Độ. 

 

Yếu Tố Xã Hội 

Nghiên cứu hệ tư tưởng thiền của Bồ Đề Đạt Ma, phải nhìn vào một thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Và cũng từ đó, Ngài xiển dương chủ trương: “Chỉ Thẳng Vào Tâm Tánh”. Trong cuốn: Thiền Nguyên Chư Thiền Tập, tác giả là Thiền sư Khuê Phong có dẫn:

 -- “Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào đời Lương đã nhận thấy rằng: Ở xứ nầy, hầu hết các người học Phật đều chưa đắc Pháp. Họ chỉ hiểu theo danh số, hành theo sự tướng (Dĩ danh số vi giải, sự tướng vi hành)”. 

Vì vậy, để đáp ứng lại, Bồ Đề Đạt Ma chủ trương: Lấy tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.

Sự nghiệp lớn lao nhất của Ngài trong bước đường qua Đông Độ vào đầu thế kỷ thứ sáu vào trung nguyên chính là đã đặt lại vấn đề “NGỘ” cho phương pháp tu trì. Trên bình diện phá chấp, Ngài cố thuyết minh cho những người học Phật chỉ chuyên tinh luyện tập triết lý, nặng về nghi thức, nặng về giáo điều. 

Lề lối trực tiếp “Truyền Tâm Ấn” do Bồ Đề Đạt ma chủ xướng là: Khi ngộ, phóng ra một nhãn quang mới, một nhận thức mới, quán chiếu vào kim ngôn của đức Phật. Cũng từ đó, thiền trở thành tối thượng thừa, con đường đi thẳng vào nước Phật. 

 

Ngôn Ngữ Thiền 

Thiền là con đường đi thẳng vào chân lý giải thoát. Thiền thoát ly lý luận. Bồ Đề Đạt Ma nêu chuyện A Nan Đà. Ngài là Một trong Mười vị Đại đệ tử của Phật. Ngài nổi tiếng là một nhân vật uyên bác, học rộng. Vì mãi mê nghiên cứu, ngài xa rời Phật tánh. Thiền không nghiên cứu về mặt lý luận, mà là con đường đi thẳng. Ngài Đạt Ma tổ sư không phải là một nhà triết học, chuyên về phân tách, lý luận. Tất cả hệ tư tưởng của ngài chỉ bằng vào một kinh nghiệm, trực tiếp với đời sống tâm linh. Nó kết tinh và nói lên những điều do chiêm nghiệm tinh túy thiền. Cũng vì vậy, nhiều người đương thời đã bài xích, xa lánh. Thái độ nghiên cứu tư tưởng (nhất là các bài thuyết pháp), Ngài không thể phân tách suông theo lý luận học, mà phải sống, phải thiền, mới lãnh hội được. Vì vậy, khi đọc qua bài thuyết pháp cho Lương Võ Đế, những người chuyên phân tích cho đó là lối nhận định táo bạo, “Cách mạng”, kỳ lạ, thẳng thắn. Nếu cứ mãi mê phân tích, thì càng xa dần tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma. Tư tưởng nầy chi đi vào bằng trực giác, bằng “NGỘ”. Từ đó, nảy sinh ra một hệ luận mới: Cần sống một đời sống thiền đến độ đam mê như ngài Bồ Đề Đạt Ma cắt mí mắt, nếu không xao lãng thì Mới Quán Triệt Nổi. Đừng ngạc nhiên khi thấy nhiều danh sĩ xa lánh ngài. Cũng đừng e ngại, khi thoáng thấy những điều mâu thuẩn trong những bài thuyết pháp của ngài. 

Ngôn ngữ thiền có khi chỉ một câu thoại đầu, có khi chỉ là: La, hét, im lặng, ... Vô tự là chơn kinh. 

Nghệ thuật thiền, đến nay thì rất phổ cập. Uống trà là thiền. Múa kiếm, gánh nước, hái củi, ... là thiền. Vậy, thiền chỉ là đạo sống. Sống vô tâm. Bất cấu, Bất tịnh, Bất tăng, Bất giảm. 

Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã lưu lại cho đời những gì? Nếu bằng vào sử liệu, thì một số tiểu sử, giai thoại và câu thoại đầu, vài bài thuyết pháp. Nhưng, ảnh hưởng thì sâu rộng vô kể. Cứ nhìn hai trăm năm thiền tông hưng thịnh. Cứ nhìn ảnh hưởng sâu thăm thẳm vào Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và nhất là Tây phương ngày nay. Cứ nhìn vào con đường “Đi thẳng” vào giải thoát và giác ngộ. 

Giác ngộ là Giải thoát. Lý tưởng người tu Phật chỉ có thế. 

Lời Tổ Đạt Ma dạy: 

“Đạo Bổn Vô Ngôn,

Ngôn Sinh Ly Tán”.

 

Viết tại Hoa Kỳ, Phật Đản 2536 – ngày 04-04-1982

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

 

Tài Liệu Bồ Đề Đạt Ma 

* .- Cao Tăng Truyện: Cao Tăng Truyện là tác phẩm của Nam Sơn Đạo Tuyên. Sách biên soạn vào năm 645, đầu đời Đường. 

Tài liệu được xem là tư liệu cổ nhất, hiện đang còn thích dụng. Nam Sơn Đạo Tuyên là vị tổ sư khai sáng ra Luật Tông ở Trung Hoa, cũng là một học giả uyên bác. 

Tuy nhiên, Ngài biên soạn vào lúc thiền tông chưa lập hệ thống ở Trung Hoa (Lục tổ Huệ Năng mới lên được chín tuổi). Chính vì vậy, Cao Tăng Truyện ghi chép không đầy đủ tư tưởng, khuynh hướng của Bồ Đề Đạt Ma.  

*.- Truyền Đăng Lục: Tài liệu nầy do Đạo Nguyên biên soạn vào năm 1101, vào đầu đời Tống. Sách do một thiền sư viết, khi thiền tông được xác nhận là một đắc thù. Truyền Đăng Lục ghi chép những danh ngôn, những hành động của các thiền sư. Vi là “LỤC”, tác giả dẫn giải những bộ sách thiền thời trước, nay đã thất lạc, chỉ còn lại tên sách. 

*.- Tánh Chất: Vì những đặc tính như vậy, hai bộ sách biên soạn sai khác nhau về tiểu sử của Bồ Đề Đạt Ma. 

1.- Cao Tăng Truyện: Được biên soạn trong khi thiền tông chưa được định xong cơ bản lập tông. Vì vậy, trong bộ truyện, Bồ Đề Đạt Ma, vị Tổ khai sáng Thiền được coi như những vị tu sĩ Phật giáo khá lỗi lạc nhiều mặt (Phiên dịch luận, luật có nhiều phép thần thông, ...).

Trên cơ sở ấy, tổ Bồ Đề Đạt Ma không chiếm được một vai trò lãnh đạo tông phái nào, khác hẳn các Cao Tăng khác. Theo Nam Sơn Đạo Tuyên, thì tổ Đạt Ma chỉ là: “Một Pháp sư chuyên về thiền định”. Danh từ thiền định ở đây, chỉ là: Phép hành thiền cổ truyền của môn đồ Tiểu Thừa trong cuốn Manual of Zen Buddhism (Rider, London – 1950) D.T. Suzuki nhận định: 

 -- Đạo Tuyên (trong Cao Tăng Truyện) không nắm được Yếu Chỉ của Thông Điệp Bồ Đề Đạt Ma. Dù rằng, ông có thể nhận định được: Trong tư tưởng thiền ấy, có cái gì khác hơn thường gọi là: Bốn thiền, Tám định. Cũng vì vậy, khi vin vào đó, nhiều nhà chú giải quan niệm rằng: 

 -- Trong sự tích Bồ Đề Đạt Ma của Đạo Tuyên, ít có gì được gọi là thiền đúng nghĩa, xứng đáng là vị tổ khai sáng ra thiền tông ở Đông Độ. 

2.- Truyền Đăng Lục: Tài liệu The Way of Zen cua Alan W. Watts có viết: 

- “Nếu Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên có nhiều chi tiết thật khó tin (Nhất là đoạn đời của tổ Đạt Ma trước thời kỳ Đông Độ) ta có lý do tin được rằng: Hầu hết, tiểu sử Đạt Ma qua Đông Độ có giá trị lịch sử. Như vậy, có thể đem sử liệu của Đạo Tuyên để bổ khuyết cho Đạo Nguyên. Nếu không, quả thiếu hẳn tinh thần vô tư trong phương pháp luận, không phân tích đúng dữ kiện lịch sử.”. 

 

Các Truyền Thuyết Về Bồ Đề Đạt Ma 

Hai Vấn Đề Tổ Đạt Ma: Các nhà nghiên cứu lịch sử triết học tư tưởng Ấn Độ và Trung Hoa, khi bàn đến nhân vật Bồ Đề Đạt Ma, thường đưa ra hai vấn đề mang tính chất sử liệu và huyền thoại. 

1.- Có phải Bồ Đề Đạt Ma là Sơ tổ thiền tông của Trung Hoa (Cũng như Nhật Bản và Việt Nam) không? 

2.- Có thật có một nhân vật lịch sử tôn giáo, mang tên Bồ Đề Đạt Ma không? 

Hai nghi vấn nầy đặt trên nền tảng lý luận như sau: 

a.- Tài liệu về Bồ Đề Đạt Ma hầu hết dựa vào hai tài liệu căn bản: 

*.- Cao Tăng Truyện của Nam Sơn Đạo Tuyên,

*.- Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên. 

Cuốn trên ra đời khi thiền tông chưa hệ thống hóa thành một tông phái (trước khi ngài Lục Tổ Huệ Năng được truyền tâm ấn). Tài liệu mang tính chất truyện ký, nội dung nhắm vào hai yếu tố cơ bản: Những lời kinh vàng và các lối hành đạo. Cuốn dưới sao lục. Mục đích của Đạo Nguyên thiền sư là ghi chép lại các tài liệu Phật giáo (Thiền tông) đã bị thất lạc. 

b.- Nghi vấn về nhân vật Bồ Đề Đạt Ma: Xuất phát từ một số sử liệu Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu không ghi chép đến tiểu sử, tác phẩm, lối hành đạo, truyền đạo của tổ Bồ Đề Đạt Ma. 

c.- Phương pháp lý giải: Có hay không, các nhà nghiên cứu ngày xưa xác định một vấn đề cốt lõi: Thiền tông từ thời đại tổ Đạt Ma sang Trung Hoa đã đặt lại cho sở tu chứng. Gạt bỏ các hình thức, hình tướng, đi thẳng về nguồn, nhìn thẳng vào Tinh túy của kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật Thích Ca. Kinh sách chỉ là như ngón tay, phản ứng của thiền tông là: Chặt đứt ngón tay, đi thẳng vào tinh túy giác ngộ. 

Nói một cách khác, sự hiện hữu của tổ Đạt Ma chỉ nên xem là tượng trưng cho tinh thần và thái độ của một tông phái đối với các tông phái Phật giáo ở Trung Hoa thời bấy giờ. Ngoài ra, Hiện tượng Bồ Đề Đạt Ma là nhịp cầu nối liền Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo Ấn Độ. 

Nghi Vấn: Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 về thiền tông ở Thiên Trúc, nhưng, Ngài lại là vị Sơ tổ Thiền tông ở Đông Độ (Trung Hoa). Điều nầy theo đúng tinh thần truyền thống thiền tông. Tuy nhiên, một vài nhà khảo cổ học và sử học vẫn nêu nghi vấn.  

a.- Nghi Vấn Về Câu Na Bạt Đà La (Guanabhadra): 

*.- Tác giả Tịnh Giác: Trong cuốn Lăng Già Sự Tư Ký, tác giả là Tịnh Giác (Vào thế kỷ thứ tám) cho rằng: 

 --  Chính Câu Na Bạt Đà La là tổ sư thứ nhất của thiền tong Trung Hoa (Chứ không phải là Bồ Đề Đạt Ma). 

*.- Tác già Paul Demiéville (Pháp): Trong cuốn Le Concile de l’hasa của Paul Demiéville cho rằng: 

 -- Nguyên trước, thiền tông có tên là Lăng Già Tông. Tác giả Lăng Già Sự Tư Ký đã có lý khi nhận định rằng: Câu Bạt Đà La là tổ sư đầu tiên của thiền tông (tức Lăng Già Tông), Câu Bạt Đà La là người dịch Lăng Già ra Hán văn. 

*.- Theo tác giả cuốn Lịch Đại Pháp Bảo Ký (The Lankavatara Sutra):  

 -- Tổ sư thứ nhất chính là Bồ Đề Đạt Ma. Ngài là tác giả bộ Lăng Già bốn cuốn trao lại cho ngài Huệ Khả (Thần Quang). Ngài Câu Bạt Đà La (Guanabhadra) chỉ là dịch giả (Tài liệu của Suzuki). 

 

Nghi Vấn Về Nhóm Nghiên Cứu: 

Trong cuốn: Phật giáo, bản chất và sự phát triển (Le Boud dhisme, dans son essence et son developpement), tác giả Edmont Conzé, cho rằng: 

1.- Kinh Lăng Già có từ trước, tổ Đạt Ma không phải là tác giả của bộ nầy. 

2.- Năm 440, đã có một nhóm người nghiên cứu bản phiên dịch kinh Lăng Già do Câu Na Bạt Đà La chuyển sang Hán văn. Mãi đến 80 năm sau (520), Bồ Đề Đạt Ma mới đến Quảng Châu. Và, cũng chỉ là nhân vật hoang đường. Quan điểm của Giáo sư Edmont Conzé không xác quyết ai là tổ sư thiền tông thứ nhất ở Trung Hoa; nhưng, đã gián tiếp công nhận lập luận của Tịnh Giác trong Lăng Già Sự Tư Ký.  

Nhận Định: 

1.- Cho đến nay, công cuộc nghiên cứu vẫn còn tiếp tục. Tinh thần nghiên cứu ấy nhắm vào việc khai quật các tư liệu lịch sử và khảo cổ học. 

2.- Một số học giả cho rằng: Bồ Đề Đạt Ma là tinh túy thiền tông trở về chân lý giác ngộ. Căn bản là tinh thần giáo lý (Theo A. David Neel - Cuốn Initiations – Trang 32 & 33). Đây là ý niệm sáng tạo của một tín đồ nhiệt thành, vào thế kỷ thứ chín hay thứ mười ở Trung Hoa. 

3.- Thực chất của vấn đề nghiên cứu không phải là vin vào nhân vật nào, nhưng vấn đề là truyền đạt giáo lý chính thông của đức Phật lần đầu tiên vào Trung Hoa. Tất cả sự nhận định về tổ Bồ Đề Đạt Ma chỉ là nhận thức của truyền thống thiền tông.  

Nghi Vấn Về Nhân Vật: 

Có thật có một nhân vật đưa thiền học từ Ấn Độ sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ sáu không? Và, nhân vật ấy đã hợp sáng (Tổng hợp và sáng tạo) thiền học Trung Hoa phải chăng chỉ là biểu tượng mà thôi? 

Có hai lập luận: 

 -- Không có Bồ Đề Đạt Ma. Đó chỉ là huyền thoại. 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma là một hiện hữu. 

 -- Lập luận trên căn cứ vào các luận cứ của Phùng Hữu Lan, P. Pelliot, Conzé, ... 

 -- Lập luận dưới căn cứ vào tài liệu dẫn giải của Hồ Thích, Prabodh Chandra Bagchi, ... 

Cuốn lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Taranatha (1680) ấn hành tại Petropolis, không thấy nói đến nhân vật nầy. P. Pelliot viện dẫn nhiều chứng liệu, rồi đến kết luận. Lịch sử đức Bồ Đề Đạt Ma là nhân vật đáng nghi ngờ. 

Phùng Hữu Lan không chấp nhận và tin rằng Bồ Đề Đạt Ma đã đưa thiền tông vào Trung Hoa.

Tuy nhiên, tất cả những lập luận trên cũng chỉ là những nghi vấn, giả thuyết, kiểm chứng...

Lập luận dưới mở đầu bằng thiên khảo luận của một học già Ấn là Prabodh Chandra Bagchi (Trong cuốn Indian Influence on Chinese thought) đoan chắc: 

 -- Bồ Đề Đạt Ma là một nhân vật thật, một mẫu người lịch sử. Ngài đến Trung Hoa vào tiền bán thế kỷ thứ sáu. 

Một sử liệu lưu hành từ năm 534 chứng giải: 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma có mặt tại chùa Loyang. 

Sau nầy Watts, Suzuki, Hebert, Sasaki, Watanab, Dumouline ... đều xác nhận: 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma đã khai sáng thiền tông Trung Hoa. 

Có hay không có, điều căn bản là tinh thần thiền tông trong suốt 200 năm đã tạo một sắc thái đặc thù và bao quát tại Trung Hoa. Thiền tông đã phá tan những ảnh hưởng của các học thuyết cố chấp hình tướng, lý luận, danh số. Đó là yếu tính để nhập môn. Đó là cơ sở nhận thức quan. 

Ngoài ra, nếu chìm đắm trong tư liệu phụ thuộc, thứ yếu, không thuộc bản chất của thiền.

 

Tổ Bồ Đề Đạt Ma Đến Việt Nam (Bắc Việt) 

Bản Chữ Hán được trích từ cuốn Trung Hoa Thiền Tông Sử, của ngài Ấn Thuận, đệ tử lớn của ngài Thái Hư Đại Sư, trang 04.

 

Tiểu Sử Tổ Bồ Đề Đạt Ma  

1.- Xuất gia: Bồ Đề Đạt Ma thuộc giòng Sát Đế Lợi, ở nước Quảng Hương, thuộc Nam Thiên Trúc (Vùng cao nguyên Dekkan) phía Nam Ấn Độ. Con thứ ba của vua Chí Vương. Tên tục là Bồ Đề Đa La (Bodhi Tara). 

2.- Cao Tăng Truyện: Nhân ngày Quốc Hương thọ lễ cúng dường của nhà vua, tổ thứ 27 là Bát Nhã Đa La (Prajnatra) gặp Bồ Đề Đa La. Tổ nhận thấy vị hoàng tử nầy có nhiều nét đặc biệt (Phong thái, ngôn ngữ) mới cùng bàn luận về chữ Tâm. 

Khi thấy Bồ Đề Đa La nhận định đúng yếu lý về chữ Tâm, Tổ Bát Nhã Đa La gọi đến và bảo rằng:

 -- Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông lượng, mà Đạt Ma có nghĩa là: Thông Đạt rộng lớn. Vậy, Hoàng tử lấy tên là Bồ Đề Đạt Ma. 

Bồ Đề Đạt Ma nhận và bái tổ thứ 27 làm thầy. Liền làm lễ thế phát và thọ cụ túc giới. 

3.- Đông Độ: Một hôm, tổ gọi Ngài đến truyền pháp: “Sau nầy, sang Trung Hoa mới là nhơn duyên lớn. Song, hãy đợi ta diệt độ khoảng 60 năm, rồi hãy đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e sự kiện không tốt.”. 

Triết gia Elliot giải thích như sau: 

Nhận định của tổ sư Bát Nhã Đa La có hai dụng ý: 

1.- Thực trạng tín ngưỡng ở Ấn Độ khó phát triển con đường quy nguyên trực chỉ. Ảnh hưởng của Bà La Môn giáo là một trong các sự kiện phân hóa. 

2.-  Trung Hoa và các nước miền đông là vùng phát triển thuận lợi. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo bấy giờ ở đây coi nặng hình tướng chủ nghĩa. 

Sau khi tổ thứ 27 viên tịch, Ngài vẫn lưu lại Ấn Độ để thuyết pháp và giaó hóa. Cùng chung công cuộc hoằng dương có vị huynh đệ đồng sư là Phật Đà Tiên. Quần chúng Phật tử ở Ấn Độ lúc bấy giờ thường gọi hai vị là: Mở hai cửa cam lồ. 

Giáo Hóa: Trong thời kỳ truyền giáo ở Ấn Độ, có hai sự kiện nổi bật:

a.- Cảm hóa môn đồ: Trong thời kỳ đó, sáu môn đồ của ngài Phật Đà Tiên lại phân hóa thành Sáu tông phái: 

a.1.- Hữu tướng tông,

a.2.- Vô tướng tông,

a.3.- Định huệ tông,

a.4.- Giới hạnh tông,

a.5.- Vô đắc tông,

a.6.- Tịch tịch tông. 

Sự kiện nầy chẳng những gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhân vật chủ trương, xa lần yếu lý của đức Phật, mà còn làm xáo trộn niềm tin của hàng Phật tử. Các giáo phái khác cũng kích bác. 

Bồ Đề Đạt Ma nhận định: Sự phân hóa đó là nguồn gốc của thoái trào, chánh pháp suy vi. 

Vì vậy, Ngài dùng nhiều phương cách khác để cảm hóa họ quay về chánh pháp. 

b.- Vua Dị Kiến: Khi vua Nguyệt Tịnh băng hà, con vua là thái tử Dị Kiến lên kế vị. Lên ngôi chưa được bao lâu, vì tân vương lại tin theo các tà thuyết, đã lên tiếng công kích Phật giáo. Điều nầy đã ngăn cản Phật Giáo Ấn Độ đang bành trướng. Bồ Đề Đạt Ma thấy được nguy cơ ấy, liền sai một đệ tử tên là Ba La Đề, vào cung để nhiếp hóa. 

Nhà vua mới tỉnh ngộ. Vua Dị Kiến nói ra, mới biết Ba La Đề là đệ tử của chú mình (Bồ Đề Đạt Ma). Nhà vua liền phái người đến cung thỉnh Ngài về cung để giáo hóa. 

4.- Đến Quảng Châu (520): Sau một thời gian giáo hóa ở cung vua, Ngài nhận thấy Cơ duyên sang Trung Hoa đã đến. Ngài đem lời huyền ký của tổ Bát Nhã Đa La (thứ 27) thuật lại cho vua rõ. Nhà vua không dám ngăn cản, liền sai đóng một chiếc thuyền lớn, phái thủy thủ đưa Ngài sang Trung Hoa (517). Vua và quần thần ra tận bờ biển để tiển đưa. Ngài ở trên thuyền suốt ba năm (517 – 520). Thuyền cập bến Quảng Châu, bấy giờ vào đời vua nhà Lương, niên hiệu Phổ Thông nguyên niên (520), vào ngày 21 tháng 09 năm Canh tý. 

Thiên sứ ở tỉnh nầy ra tận thuyền đón Ngài. Sau đó, dâng sớ về triều, tâu lên cho vua Lương Võ Đế biết. 

5.- Từ Ấn Độ sang Trung Hoa: Khi tổ thứ 27 là Bát Nha Đa La chỉ dẫn cho Bồ Đề Đạt Ma: Phải du hành sang Trung Hoa, dụng ý sâu sắc nhất là tìm một môi trường thích hợp cho thiền tông. 

Thiền tông ở Ấn Độ thường mang nặng về tinh thần huyền bí, khó hiểu, xa với uyên nguyên của thiền học. Vì vậy, cần phải được phát triển theo một chiều hướng khác; đúng hơn, một môi trường khác. Đó là Trung Hoa.

 D. T. Suzuki (Manual of Zen Buddhism) đã làm một bản so sánh sâu sắc như sau: 

Đất Ấn Độ quá siêu hình, dễ buông xuôi theo trí tưởng tượng thần bí.

Ấn Độ là đất dụng võ của Duy thức tông, Chân như tông, Hoa nghiêm tông, Không luận tông, ... 

Còn Thiền tông, phải cần đến một tâm hồn, đã từng thấm nhuần trong tư tưởng Lão Trang, mà vẫn không thể tách ra ngoài những tình tiết của cuộc sống thường ngày.

Điềm đạm, hào sảng, chơn chất phần nào và còn bình thản, mẫn tiệp và còn quân bình đúng mức nữa. Đó là những Đức tánh cần phải có để đưa thiền tông đến hiện trạng. Nghĩa là: Nếu Phật giáo Đại thừa theo kiểu Long Thọ và Mã Minh, và các bộ kinh Duy Ma Cật, Bát nhã, ... nhất là kinh Lăng Già, nếu không được các thiên tài Trung Hoa luyện chế lại, chắc chắn Thiền tông không bao giờ xuất hiện. 

Truyền Đăng Thập Lục có chép: 

Sau ba năm vượt biển, Ngài đến Nam Hải (Trung Hoa) vào triều nhà Lương . Lương Võ Đế hay tin, liền sai sứ phụng chiếu, triệu ngài về Kim Lăng, để nhà vua đón tiếp. Sau vài ba câu chuyện qua lại, Bồ Đề Đạt Ma đã để lộ cá tính ngang nhiên của một con người siêu thoát. 

6.- Tiếp xúc Lương Võ Đế: Vua Lương Võ Đế là người ngoan đạo thuần thành, nhưng, vẫn chưa thoát ra được những trí óc tầm thường của kẻ tục. Truyền Đăng Lục có chép như sau: 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Từ ngày tức vị đến nay, Trẫm đã từng xây cất 300 ngôi chùa, biên chép kinh điển không biết bao nhiêu mà kể; vậy, có công đức gì không? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Tất cả đều không có công đức. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Tại sao lại không có công đức? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Đó chỉ là: “Nhơn hữu lậu”. Chỉ được những quả vị nhỏ trong cõi trời người, như bóng với hình. Tuy có, nhưng không được. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Vậy công đức chơn thực là gì? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Trí, phải thanh tịnh. Thể, phải lắng không. Đó là chơn thực công đức. Công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu được. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Chơn lý cùng tột của đạo Thánh là gì?

(Như hà thị Thánh đế đệ nhất nghĩa?) 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Trống rỗng, hồn nhiên, không gì là Thánh

(Quách nhiên vô Thánh). 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Trước mặt Trẫm là ai? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Không biết. 

7.- Quách nhiên vô Thánh: Bích Nham Lục quyển Một có giải thích như sau: 

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn có chỉ rõ rằng: Chỉ trong mấy chữ Quách Nhiên Vô Thánh ấy, thì ai cũng thấu suốt được. Ngồi nhà ngủ yên. Đó là chỗ kỳ đặc của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma. Một mặt đánh vào khối Cát đằng (Văn tự, Ngôn ngữ, Kiến thức) chẳng ngại về người đập nát thùng sơn. 

Vì vậy, phải nhận thấy rằng: Khi đã tham suốt một câu, thì ngàn vạn câu đều thông suốt. Ngồi đâu yên đó. Nắm gì vững nấy. 

Cổ thi có câu: 

“Thịt nát, xương tan chữa đèn xong,

Một câu siêu thoát ngàn ức kiếp”.

 

Lời Tụng Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma  

Sau cuộc tiếp xúc và thuyết pháp cho Lương Võ Đế nghe về các vấn đề: Phật tánh, Pháp thân, Đạt Ma tổ sư có lời kệ: 

Nhất tiễn tầm thường, lạc nhất tiêu,

Cánh gia nhất tiễn, dĩ tương thiêu,

Trực quy thiếu thất, phong tiền tọa,

Lương chúa, hưu ngôn, cánh khứ chiêu. 

dịch nghĩa: 

Mỗi mũi tầm thường, lạc chim điêu,

Mũi tiếp dồn thêm, đốt cháy tiêu,

Trực chỉ Thiếu thất, ngồi vách đá,

Vua Lương thôi chớ: thỉnh cùng kêu.

 

Bia Văn Tưởng Niệm Bồ Đề Đạt Ma 

Bích Nham Lục chép rằng: 

Đế chẳng khế hợp, sư thầm lặng qua sông, sang nước Ngụy, chẳng lộ mặt, đi thẳng lên thiếu Lâm. Chín năm diện bích. Tiếp độ đưọc Huệ Khả (tức Thần Quang), sau đó độ đến người thứ sáu.

Hóa độ xong. Truyền pháp đã có người. Sư không tự cứu nữa. Ngồi mà hóa êm. Nhục thân tán tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.  

Bia Văn Của Lương Võ Đế: 

“Thấy như chẳng thấy,

Gặp như chẳng gặp,

Đối mặt như chẳng đối mặt,

Xưa đâu? Nay đâu?

Oán bấy! Hận bấy!  

Bài Tán Của Lương Võ Đế: 

“Tâm có chăng?

Khoáng kiếp uổng trệ phàm phu,

Tâm không chăng?

Sát na sớm lên diệu giác”. 

Ghi chú: Bích Nham Lục: Tác giả là Phật Quả Viên Ngộ (1063 – 1135). Nội dung gồm có: 100 bài thơ thiền. Sau mỗi bài thơ, có lời bình (bằng thơ) của ngài Tuyết Đậu và lời giảng của ngài Viên Ngộ. Tác phẩm nầy du nhập vào Nhật Bản ở thời kỳ Kamakura (Khiêm Thương). Từ đó, Bích Nham Lục được xem là một trong những bộ sách quan trọng nhất, nhất là người thuộc giòng thiền Lâm Tế (tài liệu của D. T. Suzuki).

 

* * *

 

Lý Giải Của Bồ Đề Đạt Ma

 

Trong cuốn Thiền học Giảng thoại (Đài Bắc Kiến Khang Thư Cuộc ấn hành 1960) có nêu lý giải về Quách Nhiên Vô Thánh như sau: 

“Sở dĩ Bồ Đề Đạt Ma đáp lại bốn chữ Quách Nhiên Vô Thánh để chỉ vào cảnh giới tự chứng ngộ”, là vì: 

 -- Lương Võ Đế hỏi:

Đệ nhất nghĩa đế. 

 -- Tổ Đạt Ma đáp:

Đệ nhất nghĩa. 

Người hỏi, là hỏi đệ nhất nghĩa của Chơn đế hay Tục đế. 

Còn người đáp (Tổ Đạt Ma) là đáp đệ nhất nghĩa của Thánh Trí Tự Giác của Phật Đà.

Cảnh giới tự giác vốn đã siêu thoát cả Chơn đế lẫn Tục đế. Tức là cảnh giới Niết bàn vi diệu tuyệt đối.

Vì vậy, Lương Võ Đế ngẫn ngơ, không tài nào có thể lãnh hội nổi cái thậm thâm vi diệu ấy được. Quách nhiên vô thánh thán có thể xem như minh thị xác đáng nhất về căn bản pháp của thiền tông (Tài liệu của Léon Wieger). 

 

* * *

 

Phép Bích Quán Của Bồ Đề Đạt Ma 

 

Cao Tăng truyện có chép: 

Sau 19 ngày, Bồ Đề Đạt Ma bỏ Lương Võ Đế lén qua sông, đến vùng Giang Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy, đi lần về Lạc Dương, nhằm vào đời Hậu Ngụy. Vua Hiếu Minh Đế, niên hiệu Chánh Quang nguyên niên (520), ngày 23 tháng 11 năm Canh tý. Ngài dừng chân và trú tại chùa Thiếu Lâm ở Trung Sơn. Trọn ngày ngồi xiay mặt vào vách đá, im lặng. Người đời gọi là Bích Quán Bà La Môn (Thầy Bà La Môn ngồi nhìn vách). 

Phép Bích Quán: 

Truyền Đăng Lục chép: 

Thời ấy (tại Đông Độ) có hai nhân vật Đạo Dục và Huệ Khả; tuy thuộc về hàng hậu sanh, tuổi nhỏ, song tuấn tú, chí khí cao, duyên may gặp được Tổ sư (tức Bồ Đề Đạt Ma).

Họ bèn ở đó, phụng sự nhiều năm, hết lòng tu học. Họ chỉ mong pháp sư chỉ bảo. Pháp sư cũng thương họ cho là chí thành, liền chỉ dạy cho chơn đạo. 

 -- Đây là Tâm,

 -- Đây là phép phát hạnh,

 -- Đây là phép thuận vật,

 -- Đây là phép phương tiện. 

Đó là phép An tâm của Đại thừa giáo, cẩn thận. Chớ hiểu lầm. 

 -- An tâm, đó là Bích Quán,

 -- Phát hạnh, đó là Tứ Hạnh,

 -- Thuận vật, đó là phòng ngừa sự chê hiềm,

 -- Phương tiện, đó là khiến mình đừng chấp trước.