Tiếp kiến với Đức Đạt Lai Lạt Ma
Phật lịch 2543 - 1999
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
Tại Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
Thích Như Điển
---o0o---
Lời Vào Sách
Hôm nay là ngày 26
tháng 4 năm Kỷ Mão, nhằm ngày 9 tháng 6 năm 1999, đúng vào ngày thứ ba
trong tuần. Nếu kể trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay có 90 ngày, thì sau 9
ngày vào hạ tôi đã bắt đầu viết tác phẩm thứ 27 nầy.
Phật Đản năm nay
1999 (2543) quá đông Phật Tử về chùa tham dự; ít ra cũng 8.000 người đi
lễ với 2.000 chiếc xe hơi, đến từ khắp nơi trên nước Đức và Âu Châu.
Đây là một con số kỷ lục, từ 20 năm nay chưa từng có. Có thể là dấu hiệu
đáng mừng mà đồng thời cũng đáng lo. Vì số người càng ngày càng đông thì
bao nhiêu vấn đề khác bên cạnh cũng được đặt ra. Ví dụ như trật tự, vệ
sinh, phục vụ cho sự ăn uống v.v... Nhưng lạy Phật rồi bao nhiêu chuyện
cũng qua đi, nhường lại cho sân chùa vào chiều ngày 30 tháng 5 năm 1999
một núi rác. Đó là kết quả của những ngày Đại Lễ. Dĩ nhiên về mặt tinh
thần có nhiều điều đáng nói hơn; nhưng kết quả của một lần như thế không
nhứt thiết chỉ thuần về mặt tích cực của nó, mà mặt tiêu cực bao giờ
cũng phải có. Điều quan trọng là Ban Tổ Chức phải tìm cách khắc phục mà
thôi.
Năm nay cũng là
năm cuối của thế kỷ 20. Sang năm 2000 chúng ta sẽ đón mừng Phật Đản của
một thế kỷ mới. Thế kỷ thứ 21 nầy có lẽ cũng còn nhiều mối bận tâm cho
các nhà Tôn Giáo, Chính Trị, Xã Hội học hơn. Vì xã hội càng phát triển
thì bao nhiêu nhu cầu khác cũng tiếp tục tăng theo, kể cả 2 mặt tốt lẫn
xấu. Đầu thế kỷ thứ 20 nầy, trên 5 châu lục, cũng chừng ấy đất đai canh
tác, chừng ấy thiên nhiên, mà chỉ có hơn 2 tỷ người cư ngụ. Bước sang
thế kỷ thứ 21, đất đai canh tác vẫn không tăng thêm. Nhiên liệu thiên
nhiên người ta mỗi ngày mỗi xài phí đi rất nhiều, mà nhân khẩu trên thế
giới cho đến đầu thế kỷ thứ 21 đã lên hơn 6 tỷ người. Chỉ mới 100 năm
thôi mà con số ấy tăng hơn gấp đôi. Quả là khủng khiếp. Rồi đây nhân
loại sẽ đắm chìm vào khổ đau vật chất cũng như sự dằng dặc của tinh
thần. Nếu mỗi người trong chúng ta không tự cứu lấy mình bằng con đường
ý thức trọn vẹn của sự sống nầy, thì quả thật là khổ.
Sau khi uống xong
3 tuần trà như thường lệ, tôi trở lại bàn viết, bắt đầu viết sau khi vị
đắng, ngọt của trà càng thấm từ cuống họng xuống đến tâm cang của mình,
tôi càng thấm thía hơn cho cuộc đời và sự vật. Vì tất cả chẳng có cái gì
tồn tại cả. Sau khi đã sinh ra, lớn lên, biến đổi rồi diệt vong. Tất cả
đều do nhân duyên sanh và tất cả cũng đều do nhân duyên mà mất đi. Cũng
như thế ấy, xác trà cũng mất đi, hương trà cũng không còn nữa. Chỉ có ý
niệm của sự uống trà là còn lại đâu đây thôi. Cuộc sống của chúng ta rồi
cũng thế đấy. Bây giờ còn trẻ; nhưng mai sau sẽ già, bịnh và chết. Cuối
cùng chỉ có nghiệp lực là theo đuổi chúng ta, cũng giống như xác trà
không còn nữa, chỉ còn cảm nhận được hương vị của trà thôi.
Tôi vẫn thường hay
viết và hay nói cho mọi người nghe là trong cuộc đời còn lại của tôi chỉ
còn 3 điều tôi lưu ý. Điều thứ nhất là đọc sách. Điều thứ 2 là uống trà
và điều thứ 3 là sống thong dong nơi hương đồng cỏ nội. Tôi không biết
rằng mình có thể thực hiện được trọn vẹn những điều nầy không; nhưng
ngay bây giờ tôi cũng đã cố gắng vạch ra cho mình một chương trình làm
việc vậy. Ngày xưa tôi hay đọc đủ loại sách, ngoại trừ những sách không
đứng đắn; nhưng đọc mãi những sách nầy cũng không thấy một lối ra. Vì
tất cả chỉ lẩn quẩn trong những cái tầm thường của nhân thế. Bây giờ và
mai hậu tôi sẽ cố gắng chỉ đọc sách và kinh Phật. Vì nơi đây, triết lý
của kinh tuy khó; nhưng nó vượt lên trên tất cả mọi sự đối đãi của cuộc
đời như có không, còn mất, hơn thua, đẹp xấu v.v... Tại chùa Phước Hậu ở
Trà-Ôn, nơi ở của cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Viện Trưởng Viện Hóa
Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, có hai câu đối rất hay. Đối
rằng:
"Độc binh thư cụ
chiến, độc luật thơ cụ hình, độc Phật thơ chiến hình vô cụ.
Canh võ điền ưu
thủy, canh thang điền ưu hạn, canh tâm điền thủy hạn hà ưu"
Nghĩa là:
"Đọc sách nhà binh
hay lo chiến tranh, đọc sách về luật pháp lo lắng về hình phạt, chỉ có
đọc kinh sách Phật không lo lắng chiến tranh mà cũng chẳng sợ hình phạt.
Cày ruộng sâu lo
cho có nước, cày ruộng cao lo sợ bị hạn hán, chỉ có cày ruộng tâm của
mình thì chẳng lo nước mà cũng chẳng lo khô gì cả"
Đây quả là một
chân lý. Mỗi chúng ta nên cố mà tìm về.
Tại sao phải uống
trà?
Trà là một loại
cây thiên nhiên, có lá xanh, vị đậm, uống vào sảng khoái tinh thần, đầu
óc minh mẫn, không bị hôn trầm. Trà do các Thiền sư Trung Hoa phát hiện
ra, có lẽ nhờ quý Ngài sống trên núi; sau đó người Nhật, người Đại Hàn,
người Việt Nam mới tổ chức thành qui củ khi uống trà, nên gọi là Trà Đạo
hoặc Thiền Trà v.v... Tất cả đều là những cung cách sống rất thực với
nội tâm của mình. Người ta thường hay vui với thơ và trăng cùng rượu;
nhưng tôi thì không say những loại ấy. Vì lẽ không hợp với người tu.
Uống trà có cái hay của nó. Có thể là 2 người cùng uống một ly trà ngon
để thưởng thức hương vị của trà và cũng có thể nói chuyện tương giao với
nhau; nhưng với tôi, thường thường chỉ uống một mình. Sau mỗi thời công
phu khuya buổi sáng, lúc vào phòng tập thể dục 15 phút, đoạn lo nấu nước
pha trà. Lúc nầy thì không cần có thị giả giúp việc, mà tự một mình làm
lấy thì có ý nghĩa hơn. Ở mỗi chung trà tôi có thể thấy được độ sâu của
sự việc. Ở mỗi chung trà tôi có thể thấy tâm hồn mình thanh thản lạ
thường. Ở mỗi chung trà, tôi thấy mình không cần có đối tượng để thị
phi, nhơn ngã, bỉ thử v.v...
Điều thứ 3 là sống
cảnh an nhàn ở nơi thôn dã.Có lẽ vì tôi sinh trưởng nơi quê hương đồng
ruộng, nên tư tưởng của mình lúc về già lại trở về nguồn chăng? Cũng có
thể lắm! Vì lẽ thiên nhiên không giận hờn, thiên nhiên không khó chịu,
không não phiền, mà thiên nhiên chỉ cung ứng cho con người những gì tươi
đẹp nhất, như hoa rừng, suối mát, trái ngọt v.v... nơi đó người ta sẽ
sống an nhàn hơn và không có đối tượng để tranh nhau như trong cuộc sống
hiện tại. Tôi là một con người ít thích cạnh tranh với ai; nên chỉ muốn
an nhiên sống đạo mà thôi. Vì tất cả cái gì có hình tướng ở thế gian
nầy, đâu có cái gì là thật đâu. Tất cả đều do nhân duyên hòa hợp, rồi
tất cả đều do nhân duyên thay đổi, mất mát đi thôi. Do vậy mà phải siêng
năng tu tập theo chánh pháp mới là điều quan trọng hơn.
Mỗi năm có được 3
tháng yên tĩnh tu hành như thế tôi rất tâm đắc và mãn nguyện. Vì đây là
phần thưởng cao quý nhất để tôi và mọi người xuất gia cũng như tại gia
sống nơi chùa có thì giờ trở về cuộc sống nội tâm của mình. Mỗi ngày có
3 đến 4 thời kinh và thiền tọa.
Sáng sớm từ 5 giờ
45 phút, đại chúng vân tập nơi chánh điện để hô canh tọa thiền trong
vòng 15 phút. Sau đó là trì tụng thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Đây là một
thần chú quan trọng, nếu người tu nào lơ là chểnh mảng không tinh tấn
hành trì, quả là một điều thiếu sót rất to lớn. Đến 7 giờ sáng là xong.
Năm nay có thêm phần lạy danh hiệu Phật vào sau lúc đi kinh hành.
Từ 7 giờ đến 8 giờ
sáng là giờ tập thể dục, uống trà và viết sách của tôi.
8 giờ điểm tâm.
8 giờ 30 đến 11
giờ cũng là giờ viết sách. Vì trong những giờ yên lặng của buổi mai, nơi
thư phòng sáng sủa nầy, tôi có thể ngồi hàng giờ mà không sợ ai quấy rầy
mình như gọi điện thoại, phải chạy tới chạy lui v.v...
11 giờ trưa tôi
cùng Đại chúng vào quá đường để dùng cơm và đi kinh hành nhiễu Phật.
12 giờ đến 14 giờ
là giờ nghỉ trưa. Sau đó là giờ đọc thư từ quý Phật Tử gởi đến chùa,
hoặc đi ra ngoài xem nhân viên làm việc cũng như chia công việc cho họ.
15 giờ đến 16 giờ
30 là giờ dạy học cho Tăng chúng tại chùa. Năm nay tôi dạy 2 lần trong 1
tuần. Một lần dạy về Đại Trí Độ Luận. Đây là một bộ luận rất cao và có
giá trị tuyệt vời về triết học tánh không. Luận nầy gồm 100 quyển đóng
thành 10 tập lớn. Mỗi tập độ 300 đến 500 trang, do Hòa Thượng Thích
Trung Quán dịch, phải học ít nhất là 3 đến 5 năm ròng rã mới xong. Ngoài
ra tôi phụ trách một lần dạy oai nghi bằng chữ Hán cho quý Cô, quý Chú
mới xuất gia. Ngoài giờ tôi hướng dẫn ra, quý Thầy Giáo Thọ khác còn
hướng dẫn cho Tăng chúng như Thiện Ác Nhơn Quả Kinh, Luận Đại Thừa Khởi
Tín, Lễ Nhạc Phật Giáo v.v...
17 giờ chiều quý
Cô, quý Chú vân tập nơi chánh điện để đi công phu chiều, quý Thầy không
nhứt thiết phải tham gia vào khóa lễ nầy.
18 giờ 30 mọi
người đều dùng cháo nhẹ.
20 giờ mọi người
vân tập lên chánh điện để lễ bái kinh Đại Bát Niết Bàn, mỗi chữ mỗi lạy.
Năm nay là năm thứ 4 lạy kinh nầy. Đến hôm nay đã được 250 trang của
quyển một. Mỗi đêm chúng tôi lạy từ 300 lạy trở lên. Kể trung bình trong
3 tháng chỉ lạy 2 tháng. Vì cuối tuần và lễ lộc không lạy, như thế mỗi
mùa An Cư Kiết Hạ sẽ lạy được từ 18 đến 20.000 lạy. Cứ đà nầy thì chừng
10 năm nữa mới lạy xong bộ kinh Đại Bát Niết Bàn, 2 quyển. Nếu có công
tu tập sẽ có ngày thành tựu. Không nên thấy khó mà chùn bước. Ngày xưa
có nhiều vị Thiền sư Trung Hoa mỗi ngày các Ngài làm 108 công việc lớn
nhỏ khác nhau và lạy 1.000 lạy. Như vậy quả là phi phàm. Còn chúng ta
bây giờ quá dãi đãi như vậy, tu biết bao giờ mới đến đích?
21 giờ 30 thì lễ
kinh xong, mọi người ai nấy về phòng để lo công việc riêng của mình, như
thiền tọa hay chuẩn bị bài vở cho ngày mai v.v...
Đó là phần của
tôi, chứ còn phần của quý Chú, quý Cô trong chùa lại bận rộn hơn như thế
nữa. Mỗi tuần phải có một ngày nấu ăn cho Đại chúng. Phải biết cúng Ngọ,
cúng xuất sanh, rửa chén bát, lau dọn nhà cửa v.v... tất cả đều có chia
đều cho nhau, mỗi người một việc. Đó là chưa nói chuyện văn phòng, vì đã
có nhiều người thiện nguyện làm giúp hết các việc rồi. Đời sống của một
người tu sĩ cũng bận rộn không kém gì ở ngoài đời mấy. Ngoài đời phải
vất vả tìm kế sanh nhai, trong khi đó ở nơi đạo phải dốc tâm tu niệm và
dùi mài kinh sử để thăng hoa cuộc sống tâm linh của mình.
Đề tài mà tôi chọn
viết cho năm nay là: "Tiếp Kiến với Đức Đạt Lai Lạt Ma". Sách nầy sẽ
viết bằng 2 thứ tiếng. Phần tiếng Đức sẽ nhờ Đức Thụ chuyển ngữ và phần
tài trợ in ấn cũng do cơ quan Beauftragter der Bundesregierung für
Angelegenheiten der Kultur und der Medien hỗ trợ. Cơ quan nầy có cái tên
hơi dài, nếu dịch ra tiếng Việt phải được viết như sau: Cơ quan của
Chính phủ Liên Bang về công việc Văn Hóa cũng như các phương diện truyền
thông. Dầu sao đi nữa đây cũng là cơ hội để mỗi năm tôi được phép xuất
bản một tác phẩm. Xin cảm ơn Chính quyền Liên Bang về hảo ý nầy.
Viết về Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã có rất nhiều sách vở viết về Ngài, ca tụng Ngài, tán dương
Ngài bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.; nhưng ở Ngài một hóa thân Bồ Tát
Quan Thế Âm, có lẽ Ngài lo cái an nguy cho chúng sanh nhiều hơn là sự an
nguy nơi chính Ngài; nên có lúc Ngài cũng đã nói rằng: "Người nào mà
càng tu lâu bao nhiêu, thì càng thấy mình không là gì cả". Đó mới chính
là tu. Câu nói ấy đả phá mọi lối chấp có, chấp không lâu nay và vượt lên
trên tất cả. Đây là câu nói thể hiện về tánh không một cách hùng hồn
nhất. Sở dĩ tôi chọn đề tài nầy, vì lẽ tôi đã có cơ hội được trực tiếp
tiếp Ngài trong 2 lần. Lần đầu vào ngày 18 tháng 6 năm 1995 tại chùa
Viên Giác Hannover nơi tôi đang trụ trì và lần 2 đúng ra là tôi đi học
với Ngài từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 01 tháng 11 năm 1998 tại
Schneverdingen nằm về phía Bắc nước Đức, cách Hannover độ chừng 80 cây
số. Trong 2 lần nầy tôi đã có nhiều dịp diện kiến và tiếp kiến Ngài; nên
đây là một cuốn sách ghi lại những cảm nghĩ cũng như những tư tưởng của
tôi về một bậc hóa thân và về Phật Giáo Tây Tạng, mà vốn ở trong nước
hay ngay cả ở Nhật vẫn còn xa lạ với mọi người.
Mỗi năm tôi có
được một tác phẩm như thế, nếu không có sự giúp đỡ đánh máy, lay out, in
ấn của Chú Sanh, anh Như Thân và các Phật Tử Thiện Hậu, Thiện Hội, Thiện
Chí v.v... thì chắc chắn tác phẩm cũng sẽ không thành hình. Do vậy xin
cảm ơn hết tất cả mọi người đã vì tôi và vì sự bảo tồn cũng như phát huy
văn hóa của Phật Giáo Việt Nam mà cộng tác và hỗ trợ. Ngoài ra cũng phải
cảm ơn những người đọc nữa. Nếu sách viết ra mà không có người đọc, kể
cũng như thừa. Sách của tôi viết có lẽ không đạt được nhiều tiêu chuẩn
lắm. Tuy nhiên đã là tằm thì phải nhả tơ và tơ ấy được dùng may áo cho
ai thì tùy theo nhân duyên mà con người chọn lựa, chứ thân tằm không có
quyền chọn lựa mà chỉ có bổn phận nhả tơ thôi.
Những sách của tôi
viết nhằm ghi lại những sự kiện có thật đã xảy ra vào thời điểm năm đó,
tháng đó, ngày đó v.v... và bây giờ có thể chưa cần thiết lắm; nhưng
những năm tháng sau nầy 50 năm, 100 năm hay lâu hơn thế nữa, đây là
những tài liệu mà những ai cần tham cứu đến sự phát triển của Phật Giáo
Việt Nam tại xứ Đức nầy như thế nào, quả là không thể không cần đến
được.
Năm nay tôi ở cái
tuổi 51 nầy đã bắt đầu đeo kính lão rồi; như vậy cái già cái chết sẽ gần
kề. Có thể 10 hay 20 năm nữa; nhưng mấy ai biết được ngày mai! mới đó mà
răng đã rụng, tóc đã bạc, mắt đã kém thì rõ ràng không là "vô thường" là
gì nữa. Nếu ai đó cứ hẹn để già mới tu, quả là điều trễ lắm rồi đó.
Mọi việc đều đổi
thay. Chung quanh ngôi chùa Viên Giác mới ngày nào còn đất trống, nhà
cũ; nhưng năm nay thì khách sạn, văn phòng và siêu thị, cây xăng đã mọc
lên khắp nơi rồi. Cho hay người xưa nói "bãi biển biến thành ruộng dâu"
là vậy.
Năm 2000 trước sau
gì cũng sẽ đến. Sẽ có nhiều triệu người đến và cũng sẽ có nhiều triệu
người đi. Thành phố Hannover trở thành Thành phố của Thế giới. Rồi sau
năm 2000 chuyện gì sẽ đến với thành phố nầy, rồi ra cũng chẳng ai biết.
Chỉ có biết chắc một điều là sự kiện ấy sẽ được diễn ra từ 01 tháng 6
đến 30 tháng 10 năm 2000 mà thôi. Có người vui, có kẻ buồn, có người lo,
có kẻ nản chí; có người sung sướng; nhưng đồng thời cũng có không biết
bao nhiêu người chống đối cho việc triển lãm thế giới nầy.
Thế giới ngày nay
đã thu hẹp lại. Mọi chuyện xảy ra trên quả địa cầu ngày nay, qua
Internet, mọi người có thể hiểu ngay ra trong nháy mắt, không chờ đợi
nhiều giờ như ngày xưa nữa. Ở xa như vậy mà ai cũng biết rõ. Nhưng hỏi
có tự biết mình là ai không? thì mọi người ấm ớ, không trả lời dứt
khoát, rõ ràng. Quả là một điều tai hại. Đúng là: hiểu người dễ, chứ
hiểu mình chẳng dễ chút nào cả.
Tôi viết quyển
sách thứ 27 nầy cũng xin hướng về thiên niên kỷ thứ 3 của loài người
trên mặt đất nầy mà cầu nguyện cho mọi người và mọi loài có được một sự
chung sống với nhau thật sự, không hận thù và không chém giết với nhau.
Có như thế mọi người mới sống yên tâm trong hòa bình của kiếp sống nhân
sinh ngắn ngủi nầy được.
Kính nguyện
Viết tại thư phòng
chùa Viên Giác Hannover ào ngày 9 tháng 6 năm 1999.
Tác giả cẩn
chí
Thích Như
Điển
Chương I
Người ngoại quốc biết như thế nào về Phật
Giáo Tây Tạng ?
Tôi sinh ra và lớn
lên tại Việt Nam. Nước nầy cũng nằm trong Châu Á. Lúc nhỏ có học về địa
lý và biết rằng Tây Tạng cũng nằm tại Châu Á; nhưng ở tận mãi trên những
đỉnh núi cao nhất của dãy Hy Mã Lạp Sơn kia.
Khi còn nhỏ, tôi
mơ ước có được một ngày nào đó, làm sao có cơ hội để đi ra nước ngoài.
Do vậy từ Trung Học tôi đã chuyên cần học ngoại ngữ về Anh cũng như Pháp
ngữ. Đây là hai ngôn ngữ chính tại các trường Trung Học Việt Nam lúc bấy
giờ có dạy. Tuy có học; nhưng gặp người ngoại quốc là không mở miệng để
nói thành lời được. Vì cái học ngoại ngữ ở trường lúc bây giờ là cốt học
văn phạm nhiều hơn là luyện giọng nói và cách nói. Mãi cho đến năm 1972
khi ra được Nhật Bản, tôi mới có cơ hội luyện tập những ngôn ngữ nầy.
Càng ngày càng sống lâu tại ngoại quốc, càng giao tiếp với mọi người thì
mới thấy đúng là phải cần đến ngoại ngữ. Tục ngữ Pháp có câu: "Con mắt
là cửa sổ của tâm hồn"; nhưng tôi xin đổi lại là: "Ngôn ngữ là cửa sổ
của tâm hồn". Vì nếu không thông ngôn ngữ thì mọi việc sẽ khó phát
triển. Đây cũng là lý do tôi phải học nhiều để được hoặc bị đi nhiều như
ngày nay thì phải?
Khi ở Việt Nam tôi
có học về Phật Giáo; nhưng đối với Phật Giáo Tây Tạng còn quá sơ sài,
không có ảnh hưởng mấy đối với quốc gia có 85% Phật Giáo theo Đại Thừa
nầy. Mãi đến khi ra ngoại quốc và đặc biệt chừng 10 năm trở lại đây tôi
mới tìm hiểu về Phật Giáo Tây Tạng. Vì lẽ nhiều người Việt Nam hay ngay
cả Nhật Bản cũng thế, các nước nầy đều tự hào về truyền thống Phật Giáo
của mình, có đủ 10 Tông phái như ở Trung Hoa, đặc biệt là Thiền, Tịnh và
Mật Giáo là 3 Tông phái được nhiều người theo nhất. Cả 3 Tông nầy cũng
do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra. Sau nầy các vị Tổ Sư mới lập
Tông và chia ra nhiều Phái khác nhau để chúng sanh dễ hành trì. Trong
mỗi thời kinh sáng, trưa, chiều, tối tại các chùa ở Việt Nam đều có tụng
hoặc trì các thần chú như Lăng Nghiêm, Vãng Sanh, Đại Bi, Án Ma Ni Bát
Di Hồng v.v... Phật Giáo Việt Nam cũng có tụng kinh A Di Đà, kinh Quán
Vô Lượng Thọ. Phật Giáo Việt Nam cũng có các bậc Thiền Sư hữu danh đã
mang thiền đến dạy cho những người Tây Phương v.v... Do vậy ít có người
lưu tâm đến Phật Giáo Tây Tạng, trong ấy có tôi; nhưng gần đây chừng 10
năm hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người lãnh đạo tinh thần của Phật
Giáo Tây Tạng có mặt khắp nơi trên thế giới để diễn thuyết và thăm viếng
thân hữu các quốc gia Tây Phương và nhất là sau khi Ngài lãnh giải
thưởng Nobel Hòa Bình tại Oslo - Na-Uy vào ngày 10 tháng 12 năm 1989
thì thế giới đặc biệt quan tâm đến Tây Tạng hơn. Ngoài ra thuyết tái
sanh của Phật Giáo được Tây Tạng ứng dụng một cách tài tình vào sự đi
tìm hóa thân của các vị Rimpoche hoặc sự tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14 nầy; nên mọi người Âu Mỹ và kể cả các nước Phật Giáo Á Châu ngày
nay cũng đều lưu tâm đến.
Ngày nay tại Âu Mỹ
nầy người ta tìm những sách về Phật Giáo Tây Tạng dễ dàng hơn những thế
kỷ trước. Vì sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và rất nhiều
loại sách đáng để đọc. Cũng có nhiều người Việt Nam biết về Tây Tạng và
việc tái sanh; nhưng ở đây tôi xin giới thiệu sơ qua một phần về những
đặc điểm quan trọng nầy.
Theo sách sử ghi
lại thì Đạo Phật được truyền vào Tây Tạng vào năm 407 niên hiệu Nghĩa Hy
3 đời vua An Đế nhà Đông Tấn. Kinh Bách Bái Sám Hối và kinh Tam Bảo là 2
bộ kinh đầu tiên được vua Đặc Lặc Đức Tề Long Tán đời thứ 8 của Tây Tạng
thỉnh về cho phiên dịch ra tiếng Tây Tạng và đây là lần đầu tiên Phật
Giáo có ảnh hưởng tại xứ nầy. Theo người Tây Tạng thì Phật Giáo của họ
được truyền trực tiếp từ Ấn Độ bởi các vị Sư người Ấn Độ đến Tây Tạng
vào thế kỷ thứ 6 Tây lịch. Điều ấy có nghĩa là 1.000 năm sau, sau khi
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tịch diệt. Có lẽ đường bộ giao thông lúc bấy
giờ hiểm trở. Với núi non rừng rậm, thú dữ cọp beo; nên ít có nhà thám
hiểm nào có cơ hội đi xa khỏi nước của mình để đi làm công việc truyền
giáo ấy. Trong khi đó giao thông bằng đường thủy lại tiện lợi hơn. Thuở
bấy giờ người Trung Hoa và người Ấn Độ có những thương thuyền lớn qua
lại trên biển cả để buôn bán với nhau; nên Đạo Phật qua những chuyến
thương buôn nầy mà được truyền vào Trung Hoa vào năm 48 sau Tây lịch và
cũng đã được truyền vào Việt Nam năm 198 Tây lịch. Như vậy kể cả Trung
Hoa và Việt Nam, đây là những nước Á Châu đầu tiên Phật Giáo được truyền
vào sớm nhất, ngoại trừ Tích Lan là nước Nam Tông Phật Giáo được truyền
vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch do Ngài Mahinda, là Thái Tử con vua A
Dục, cùng với Công Chúa chị của mình đã mang cây Bồ Đề từ đất Phật đến
trồng tại xứ nầy và cho đến ngày nay cây Bồ Đề ấy đã rợp bóng nhân gian,
khắp nơi trên thế giới. Đi đâu và ở đâu, đến đâu và làm cái gì ở đâu,
người ta cũng nghe đến Phật Giáo và nhắc đến triết lý của Phật Giáo về
nhân sinh quan, vũ trụ quan; về vô thường, khổ, không và vô ngã.
Phật Giáo chưa bao
giờ có một đội quân thiện nguyện để đi truyền giáo cả; nhưng tinh thần
từ bi, trí tuệ và bình đẳng của Đạo Phật đã làm cho nhiều con người,
nhiều xã hội, nhiều quốc gia thâm nhập, cảm hóa; nên họ đã chấp nhận Đạo
Phật một cách rất dễ dàng. Bằng nhiều ngôn ngữ ngày nay khác nhau, Đạo
Phật đã đến với mọi dân tộc trên hoàn vũ nầy một cách cởi mở và văn minh
tiến bộ. Đành rằng cũng có một thiểu số, dùng Đạo Phật với hình thức mê
tín dị đoan; nhưng số nầy tự động do thời gian, năm tháng mà lùi dần vào
dĩ vãng. Vì khi con người hiểu biết, thì họ tự động xa lánh những cái gì
không phải là chân lý; nhất là những điều ấy không phải do chính Đức
Phật nói ra. Trước khi Đạo Phật đến các xứ sở nầy trên hoàn vũ, tại mỗi
địa phương đều có những đạo của quốc gia đó. Ví dụ như Lão Giáo và Khổng
Giáo với người Trung Hoa; Thần Đạo với người Nhật; Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên
Ông Bà của người Việt Nam. Hoặc giả Đạo Bon của người Tây Tạng v.v...
Phật Giáo không bác bỏ những tín ngưỡng ấy, mà trái lại còn dung hóa tất
cả những phong tục tập quán cũng như truyền thống lâu đời của những
phong tục sẵn có để đưa quốc gia đó tiến đến một chỗ đứng độc lập tự chủ
cho quê hương đất nước của mình. Ví dụ như Phật Giáo vào đời nhà Lương ở
Trung Hoa vào thế kỷ thứ 5, thứ 6. Phật Giáo ở vào thời Sotokutaishi của
Nhật Bản vào thế kỷ thứ 7, hay Phật Giáo đã dấn thân vào các giai đoạn
lịch sử của hai triều đại vẻ vang nhất của lịch sử Việt Nam. Đó là triều
Lý bắt đầu từ 1.010 đến 1.222 và triều Trần từ 1.222 đến 1.400.
Tây Tạng cũng thế,
khi Đạo Phật đã đến Tây Tạng, mặc dầu ở đây đã có Đạo Bon truyền thống;
nhưng vì cách dung hóa của Đạo Phật, hay nói đúng hơn là cách thẩm thấu
của Đạo Phật ngấm dần vào mỗi con người như nước thấm sâu vào lòng đất.
Do vậy mà cuối cùng dân tộc Tây Tạng đã chiếm vị trí ưu thế từ thế kỷ
thứ 10 đến nay, hay nói đúng hơn là từ cách thể nhập vào đời qua sự hóa
thân của các vị Đạt Lai Lạt Ma, mang tâm nguyện Bồ Tát, Đại biểu cho Đức
Quán Thế Âm, để làm sao cho đời được vơi đi nỗi khổ và từ đó con người
chấp nhận Đạo Phật một cách dễ dàng hơn.
Nhiều người ngoại
quốc trong chúng ta, ít ai hiểu thấu đáo về những truyền thuyết tái sanh
theo quan niệm của Phật Giáo Tây Tạng. Do vậy, nơi đây xin lược qua quan
niệm nầy về sự tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 để chúng ta có một
cái nhìn sâu sắc hơn về truyền thống Phật Giáo nầy.
Đứng về phương
diện giáo lý Đại Thừa, chư Phật và chư Bồ Tát có 3 thân. Đó là: Báo
Thân, Pháp Thân, Hóa Thân hay Ứng Thân. Báo Thân là thân thể do nghiệp
nhân của đời trước mà có; nhưng sau nầy tu hành thành đạo quả, thân ấy
gọi là Pháp Thân, không đến, không đi, không còn, không mất, không được,
không thua v.v... Pháp Thân nầy vốn thanh tịnh. Còn Hóa Thân hay Ứng
Thân có nghĩa là các vị Bồ Tát không chịu vào Vô Dư Niết Bàn, mà vì hạnh
nguyện nên ở lại thế giới nầy hay thế giới khác để độ sanh. Ví dụ như
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho Từ Bi. Ngài có tất cả 32 Hóa Thân
như trong phẩm Phổ Môn thứ 25 trongkinh Diệu Pháp Liên Hoa mà Đức Phật
đã mô tả. Đức Đại Hạnh Phổ Hiền có 10 Đại Nguyện. Đức Địa Tạng ở cõi tối
tăm cũng có 10 Đại Nguyện. Đức Dược Sư Lưu Ly Như Lai ở Đông Phương thế
giới cũng có 12 Đại Nguyện. Một một lời Đại Nguyện là một Hóa Thân hay
một Ứng Thân, tùy căn cơ của chúng sanh mà hóa độ.
Đạo Phật du nhập
vào Tây Tạng, có lẽ Phật Giáo Bắc Tông nầy lãnh hội được tinh thần Bát
Nhã và tánh không của Đức Phật cũng như Ngài Vô Trước, Thế Thân. Mã
Minh, Long Thọ; nên chư vị Bồ Tát ứng thân dưới hình dạng của các Đức
Đạt Lai Lạt Ma để cứu nhân độ thế cũng là điều dễ hiểu mà thôi. Tuy màu
sắc và hình thức có khác với những nước theo Phật Giáo Đại Thừa tại Á
Châu; nhưng nội dung chỉ có một chứ không khác. Đó là sự giác ngộ và
giải thoát.
Việc đi tìm kiếm
hóa thân của các vị Lạt Ma phải do những bậc cao Tăng có danh tiếng đảm
trách. Điều ấy có nghĩa là những vị nầy phải biết qua Đức Đạt Lai Lạt Ma
trước cũng như có sức thiền định cao. Xem xét đứng đắn mọi hiện tượng
xảy ra sau khi một Đức Đạt Lai Lạt Ma nhập diệt. Các vị nầy sẽ dựa vào
những hiện tượng thiên nhiên và các dấu hiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma mất
đi để lại mà từ đó đi tìm hóa thân. Khi đã phỏng đoán được nơi tái sanh
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thì phái đoàn mới lên đường. Những đứa trẻ được
tìm ra phải qua những cuộc trắc nghiệm gay go, mới đi đến được kết luận.
Đó là hóa thân của Ngài Đạt Lai Lạt Ma trước. Điều ấy có nghĩa là Đức
Đạt Lai Lạt Ma trước đã dùng những vật gì cũng như bộc lộ những cử chỉ
giống như một người lớn thì phái đoàn mới chọn đem về và phải qua nhiều
cuộc trắc nghiệm nữa. Về đến Potala là cung điện của Bồ Tát, nơi đây đứa
bé sẽ được nhiều vị Đại Sư danh tiếng dạy cho học cả việc thế trị lẫn
việc Thống lĩnh Tăng Đoàn theo tinh thần giới luật của Phật chế.
"Vào một buổi sáng
mùa Đông ngày 18 tháng 12 năm 1933 tại thành phố Lhasa, thủ đô của nước
Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã viên tịch. Dân chúng khi nghe tin
ấy rất là buồn khổ. Khi tẩn liệm, nhục thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
13 được để vào tư thế ngồi, và cũng là cơ hội để cho các Phật Tử đến
chiêm bái, trước khi đem nhập vào Đại Tháp ở Norbulingka, nơi đây Ngài
thường hay cư ngụ vào mùa hè. Đầu và mặt của Ngài quay về hướng Nam. Đây
là hướng mà người Tây Tạng quan niệm rằng luôn luôn sẽ gặp nhiều may
mắn. Nhưng đến sáng ngày hôm sau, chư Tăng trong chùa phát hiện ra rằng
đầu Ngài tự động xoay về hướng Đông Bắc. Trên vách tường của cột nhà
Đông Bắc bỗng dưng đêm qua có một cây nấm hình dạng của một ngôi sao
nhiều cánh mọc lên. Trên trời cao những đám mây tạo thành hình thể một
con rồng và nơi khác lại giống hình một con bạch tượng. Điều khác lạ là
cầu vồng to lớn mọc lên phía Đông Bắc của thành phố. Theo các bậc Tiên
Tri trong hàng ngũ Tăng Lữ lúc bấy giờ, đây là điềm lành để chứng minh
cho sự tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma và khiến cho phái đoàn tìm kiếm
có nhiều chứng liệu để thực hiện hơn.
Vào thời điểm năm
1935 có một Hội Đồng Tăng Lữ được thành lập, có nhiệm vụ đi tìm kiếm hóa
thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Có nghĩa là sau 2 năm vị Lạt Ma thứ
13 đã viên tịch. Ngài Reting Rimpoche được chính quyền Tây Tạng và Hội
Đồng Tăng Sĩ đề cử làm Trưởng Phái Đoàn. Cùng đi với Ngài có nhiều vị
Cao Tăng của xứ Tây Tạng huyền bí nầy. Phái đoàn phải dùng ngựa và leo
lên núi cao 5.000 mét; nơi ấy có một hồ nước linh thiêng thật lớn tên là
Lhamo Latso. Nơi đây người ta quan niệm rằng, qua sức Thiền Định của các
vị Đại Sư, người ta có thể xem các hiện tượng nổi lên trên mặt nước và
từ đó, họ tiếp tục đi tìm hóa thân.
Sau khi nghỉ ngơi
một tuần lễ để dưỡng sức tại chùa Chokhorgyal, Phái đoàn đã đến bên hồ
và bắt đầu thực hiện nghi thức cầu nguyện, gồm thiền định, lắng tâm cũng
như nhìn xem các hiện tượng nổi trên mặt hồ. Thời tiết lúc bấy giờ là
mùa Đông, nên lúc nắng, lúc mưa; có khi mưa đá và giông bão rất lớn và
mây mù che kín cả bầu trời; nhưng chư Tăng vẫn nỗ lực thiền định và cặp
mắt vẫn đăm chiêu nhìn về phía trước mặt hồ. Bỗng dưng Ngài Reting
Rimpoche phát giác ra các chữ cái của Tây Tạng A, Ka và Ma hiện lên trên
mặt nước. Ngài chưa rời vị trí thiền định, vẫn tiếp tục tư duy, Ngài
thấy có một ngôi chùa nóc lợp bằng vàng và cẩm thạch. Phía bên trái của
chùa có một con đường nhỏ dẫn đến một ngôi nhà đơn sơ nóc lợp bằng những
viên gạch ngói màu thạch bích. Nhà nầy có một vườn cây cảnh khá lớn và
trong vườn có một chú bé đang đùa giỡn với một con chó màu trắng nâu.
Cậu bé nầy có vẻ đang chờ đợi một cái gì đó. Cặp mắt luôn luôn buồn;
nhưng miệng của cậu thì luôn mỉm cười.
Phái đoàn rất mừng
rỡ và sau khi ghi chép mọi hiện tượng đã xảy ra trên mặt hồ, phái đoàn
đã trở về lại Lhasa để trình lên chính quyền và Hội Đồng Tăng Sĩ. Từ đó
phái đoàn Tăng Sĩ đã gởi 3 Phái đoàn đi 3 hướng khác nhau để tìm hóa
thân. Một Phái đoàn đi hướng Kham - Đông Nam. Một Phái đoàn khác đi
hướng Đông - Amdo và một Phái đoàn khác nữa đi hướng Qinghai - Đông Bắc
Tây Tạng để tìm. Đây là vào thời điểm mùa Thu năm 1936. Hai Phái đoàn đi
về hướng Đông Nam và Đông Bắc thì không tìm ra được dấu hiệu tái sanh gì
cả. Chỉ có Phái đoàn đi về hướng Đông dưới sự hướng dẫn của Ngài
Kyitsang Rimpoche đã tìm đến tỉnh Taktser / Amdo và Phái đoàn cũng nhận
ra được ngôi chùa nóc lợp bằng vàng cùng một ngôi nhà nhỏ bên cạnh lợp
ngói màu thạch bích như những gì Ngài Reting Rimpoche đã nhìn thấy trên
mặt hồ nước thiêng Lhamo Latso.
Trước khi đến ngôi
nhà nầy, nhiều vị trong Phái đoàn hóa trang làm những người dân giả để
thử thách ký ức của đứa trẻ. Khi Phái đoàn vừa bước vào nhà thì một đứa
trẻ mới 2 tuổi đang chơi sau bếp vội chạy ra phía trước và la lớn rằng:
"Lạt Ma, Lạt Ma". Lúc ấy đứa bé thấy Ngài Kyitsang Rimpoche đang đeo nơi
cổ mình một tràng hạt, đứa bé nói rằng: "Cái tràng hạt nầy của con. Cho
con xin lại được không?". Ngài trả lời rằng: Được; nhưng trước tiên con
phải nói ta là ai? Không một chút ngừng nghỉ, đứa bé thưa rằng: "Ngài là
Lạt Ma Sera". Sau đó đứa bé được tiếp tục trắc nghiệm về những vật dụng
mà Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã dùng đến. Sau việc trắc nghiệm nầy mọi
người trong Phái đoàn là không ai còn nghi ngờ về cậu bé Pabo Dondup nữa
và đây chính là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Họ đã đón chú bé
nầy về Lhasa; nhưng Phái đoàn phải đổi một giá rất đắt cho chính quyền
địa phương dưới sự quản lý của người Trung Quốc lúc bấy giờ. Đến 2 năm
sau Phái đoàn mới cùng đứa bé trở về đến cung điện Potala ở thủ đô
Lhasa. Vào ngày 24 tháng 11 năm 1939, đứa bé trai đã được xuống tóc và
đổi tên là Tenzin Gyatso. Vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 Ngài chính thức
được công nhận là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng cũng như nối
ngôi pháp tại xứ sở cao nhất quả địa cầu nầy". (Dựa theo tài liệu của
Đức Thụ đã đăng trên Sen Trắng).
Nhiều người lầm
tưởng rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma là đại diện cho toàn thể Phật Giáo thế
giới như Đức Giáo Hoàng; nhưng ở đây không phải thế. Phật Giáo mỗi nước
đều có một vị Tăng Thống, như Vua Sãi của Thái Lan, Tăng Thống của Việt
Nam v.v... Phật Giáo Tây Tạng có một truyền thống đặc biệt như thế;
nhưng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Tích Lan lại không. Mặc dầu cũng
là Phật Giáo. Đây là điều kiện thể nhập giáo lý Đại Thừa vào cuộc sống
của người Phật Tử tại xứ đó mà thôi.
Sau đây xin gởi
đến quý độc giả một vài nét đặc thù về tiểu sử của Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14 của Tây Tạng. Ngài tên là Tenzin Gyatso. Ngài được mọi người xưng
tụng là Đức Phật sống, là hiện thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, là tượng
trưng cho biển trí tuệ; nhưng thông thường người Tây Tạng gọi Ngài là
Kundun. Nếu dịch đúng nghĩa bằng tiếng Việt, điều ấy có nghĩa là: Hiện
thân. Ngài sinh vào ngày 6 tháng 6 năm 1935 tại làng Taktser, tỉnh Amdo,
Tây Tạng. Sinh ra trong một gia đình đông con; nhưng tương đối sung túc
vào thời bấy giờ. Cha mẹ của Ngài đặt tên cho Ngài là Pabo Dondup. Lúc
Ngài mới 2 tuổi thì Phái đoàn của các bậc Trưởng Lão đã khám phá ra rằng
Ngài là tái thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, nên sau đó đã được cung
thỉnh về cung điện Potala tại thủ đô Lhasa. Kể từ ngày 22 tháng 2 năm
1940 trở đi, Ngài là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của xứ sở Tây Tạng.
Những ngày tháng
ấu thơ của Ngài trong cung điện Potala theo như Ngài đã diễn tả trong
quyển "Nước Tôi và Dân Tôi" cũng như quyển "Tự Do Trong Lưu Đày". Hai
quyển nầy do chính Ngài viết và Ngài đã mô tả rằng tuổi thơ Ngài thích
có những người bạn thân để nô đùa, hồn nhiên; nhưng ít được phép. Vì các
bậc trưởng thượng lúc nào cũng muốn cho Ngài học cũng như tu để sau nầy
hướng dẫn tinh thần cho người Tây Tạng.
Các vị Thầy danh
tiếng đã dạy 7 bộ môn chính cho Ngài và Ngài phải học thuộc lòng nhiều
kinh điển cũng như giới luật khác. Ngài cũng phải bắt đầu học những chữ
cái, tập viết, đọc và tụng niệm hằng giờ bằng tiếng Tây Tạng cũng như
học tiếng Sanskri và nghệ thuật thơ ca.
Năm Ngài 12 tuổi
đã đi sâu vào các môn biện chứng và luận lý học Phật Giáo. Những luận
văn cao siêu như Bát Nhã, Ngài cũng phải học thuộc làu để đàm luận với
những bậc cao Tăng.
Năm 13 tuổi Ngài
nghiên cứu về những môn siêu hình học và triết lý Phật Giáo. Lúc học
Ngài chẳng hiểu được gì nhiều; nhưng cứ học chồng sách nọ, tiếp theo
chồng sách kia và do sự tinh tấn cũng như hành trì thiền định, nên Ngài
đã thông suốt về triết lý của Phật Giáo. Một trong những môn học khó
nhất, đó là môn Triết Học của Tây Tạng. Phần nầy được ghi chép lại trong
108 bộ luật của Kanjur và 225 bộ luận của Tanjur. Các bộ luật của Kanjur
gồm tổng kết toàn bộ giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, Đại Thừa và Kim
Cang Thừa. Các bộ luận của Tanjur tổng kết các lời dạy của các bậc Thầy
người Ấn Độ, những lời chú thích và bình luận về kinh điển cũng như các
tác phẩm nghiên cứu về khoa học.
Năm 14 tuổi Ngài
được nhập học tại tu viện Drepung và Sera và tham gia vào các buổi luận
pháp với hàng trăm vị Tăng Sĩ khác. Những buổi luận pháp như thế thường
xảy ra rất sôi nổi. Cứ mỗi một câu hỏi được đặt ra thì người hỏi lại vỗ
mạnh vào 2 bàn tay của mình để thúc giục người kia phải trả lời. Đức Đạt
Lai Lạt Ma thường hay bị các bậc tôn túc và các huynh đệ đồng tu thử
thách: nhưng Ngài rất nhanh lẹ cũng như trả lời rất chính xác về các câu
hỏi được đặt ra. Điều mà Ngài thích thú nhất là tìm hiểu về ngành kỹ
thuật máy móc, như máy bay, đầu máy xe lửa, vi tính v.v... dĩ nhiên là
ngoài những chương trình tu học cũng như thiền định hằng ngày tại tu
viện. Ngài hay say mê tháo gỡ những đồng hồ cũ, các hộp đồ chơi v.v...
trong những giờ rảnh rỗi và sau đó tự lắp ráp lại. Ngài có quen với một
người Anh tên là Henrich Harrer nên Ngài cũng đã học được từ ông ta
tiếng Anh cũng như lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của người Âu Mỹ.
Tiếng Anh của Ngài nói bây giờ rất đơn giản; nhưng nội dung rất sâu sắc,
khiến cho nhiều người nghe Ngài đã lộ vẻ biểu đồng tình và hiểu Đạo Phật
qua cái nhìn từ bi của Ngài. Những lúc thuyết pháp có người Âu Mỹ đa
phần Ngài dùng tiếng Tây Tạng, có người thông dịch; nhưng nếu có yêu
cầu, thỉnh thoảng Ngài vẫn nói tiếng Anh một cách lưu loát.
Vào ngày 7 tháng
10 năm 1950 bỗng dưng nước Tây Tạng bị xáo trộn bởi đoàn quân viễn chinh
của Trung Quốc. Và cũng chính từ ngày nầy trở đi nước Tây Tạng bị Trung
Hoa Cộng Sản chiếm đóng một cách bất hợp pháp cho đến ngày nay. Các chùa
chiền, tượng Phật bị đập phá, các Tu sĩ bị giết chóc, tù đày và nhiều
người tu bị bắt phải hoàn tục.
Vào ngày 17 tháng
11 năm 1951 lúc Ngài mới 16 tuổi, đã phải đảm nhận công việc lãnh đạo
tinh thần cũng như thế tục cho nhân dân Tây Tạng.
Năm 1954 Ngài được
vị Thầy Trí Tuệ Tsongkhapa cho thọ giới Tỳ Kheo. Lúc nầy Ngài gần 20
tuổi. Suốt cả thời gian nghiên cứu, học tập giáo lý cũng như thiền định,
Ngài đạt được danh hiệu Geshe Lhampara, có nghĩa là Tiến Sĩ về giới luật
cũng như các môn học về tánh không của Phật Giáo. Đó là năm 1959 lúc
Ngài 24 tuổi.
Đối với người Tăng
Sĩ Phật Giáo, bằng cấp không là điều quan trọng; nhưng sở học và sở tu
ngày nay phải dựa vào sự tu, học để công nhận. Ngày xưa Đức Phật thì dựa
vào tu chứng cũng như nỗ lực công phu thiền định để ấn chứng cho các vị
đạt đạo giác ngộ. Tuy nhiên bằng cấp cũng chỉ do sự tu học mà có, chứ
không phải bằng cấp tự nhiên mà hình thành. Do vậy, nếu ai nỗ lực, người
ấy sẽ thành tựu viên mãn. Sự tu chứng cũng thế, nếu người nào dốc tâm,
kẻ ấy sẽ bứt nát vòng luân hồi sanh tử vậy.
Sống chung 10 năm
với chính quyền Cộng Sản Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã biết rõ mưu
toan của chính quyền nầy nhằm hủy diệt nền Phật Giáo của Tây Tạng; nên
vào đêm 17 tháng 3 năm 1959 Ngài đã giả mạo thành thường dân cùng với 30
người thân cận khác trốn ra khỏi cung điện Potala. Ngài phải chịu đựng
gần như ngạt thở trước những trạm kiểm soát của quân đội Trung Cộng trên
đường đi qua biên giới Ấn Độ.
Vào ngày 31 tháng
3 năm 1959, nghĩa là sau 14 ngày vượt biên gian khổ và nguy hiểm, Phái
đoàn đã được chính quyền địa phương bên kia biên giới Ấn Độ tiếp đón ân
cần, nồng nhiệt và cho phép Ngài cùng với bao nhiêu người Tây Tạng khác
tỵ nạn cho đến ngày hôm nay.
Vào ngày 17 tháng
3 năm 1959 Ngài được biết là quân đội Trung Cộng đã dội bom cung điện
Potala, cung điện bị hư hại rất nhiều. Một số Tu sĩ cũng như thường dân
bị thiệt mạng và số khác thì bị bắt dẫn đi. Kể từ khi Ngài bỏ nước ra
đi, đã có thêm 5.000 Tăng sĩ và 60.000 người dân Tây Tạng theo gót Ngài
băng qua núi rừng hiểm trở để đến Ấn Độ, Nepal hoặc Bhutan để xin tỵ nạn
chính trị. Trên đường đi gian khổ nầy đã có không biết bao nhiêu người
bị tử nạn, vì thiên nhiên khắc nghiệt, vì hùm beo sói dữ và điều chính
là sự canh phòng cẩn mật của bộ đội Trung Cộng.
Đến tháng 5 năm
1960 Ngài và đoàn tùy tùng đã di chuyển về Dharamsala nơi miền Bắc xứ Ấn
Độ và lập chính phủ lưu vong ở đó cho đến ngày nay. Suốt trong thời gian
ở Ấn Độ gần 40 năm dài, Ngài đã vân du hóa độ khắp nơi trên thế giới để
vận động cho quyền tự chủ và tự do tôn giáo cho dân tộc Tây Tạng. Cũng
kể từ khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 ở ngoài xứ Tây Tạng, thế giới lại có
cơ hội để tìm hiểu về dân tộc nầy hơn, nhất là Bộ phái Kim Cang Thừa của
Phật Giáo Tây Tạng hay nói đúng hơn là Mật Giáo, một danh từ bình thường
có rất nhiều người Việt Nam biết đến.
Vào ngày 10 tháng
12 năm 1989 nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền, Ngài đã đến Oslo, thủ đô nước
Na-Uy, để lãnh giải Nobel Hòa Bình thế giới, do kết quả của việc tranh
đấu bất bạo động trong suốt thời gian dài mà Ngài đã hy sinh cho dân tộc
Tây Tạng. Các báo chí lúc bấy giờ hỏi Ngài rằng: Cảm tưởng của Ngài như
thế nào sau khi nhận lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình thế giới? Ngài mỉm
cười và từ tốn trả lời rằng: "Trước khi tôi lãnh giải thưởng cao quý
nầy, tôi đã là một Tu sĩ Phật Giáo và bây giờ đây, đơn thuần tôi cũng
chỉ là một Tu sĩ Phật Giáo mà thôi". Quả là một câu trả lời đầy đủ ý
nghĩa. Ngài rất khiêm tốn, giản dị và hài hòa, thông thái, lịch lãm, cho
nên những nhà trí thức Âu Mỹ như anh ruột của Tổng Thống Đức Weizảcke,
là một nhà vật lý học nổi tiếng của Đức đã ca ngợi Ngài không hết lời,
các tài tử điện ảnh nổi tiếng của Hollywood như Richard Gere và các ca
sĩ Tina Turner hay các cầu thủ đá banh lừng danh thế giới v.v... cũng
đều có cảm tình đặc biệt với Ngài và quy y với Ngài. (Dựa theo tài liệu
của Đức Thụ đã đăng trên Sen Trắng).
Cũng nhân duyên
ấy, nên ngày 18 tháng 5 năm 1995 chùa Viên Giác tại Hannover của chúng
ta đã được cung đón Ngài về đây trong vòng 4 tiếng đồng hồ. Phật Tử từ
khắp muôn nơi lại có cơ hội quy tụ về đây để diện kiến Ngài và nghe
những pháp âm vi diệu của một bậc Đại Sĩ, hóa thân của Đức Quan Thế Âm
Bồ Tát. Hình ảnh ấy vẫn còn ghi đậm nét nơi tâm khảm của mình, nên năm
1999 nầy tôi cố gắng ghi lại một vài nét chính trong lần diện kiến nầy
để mai sau còn một chút tư liệu cho hậu thế cũng như suốt một tuần lễ từ
ngày 25 tháng 10 đến ngày 1 tháng 11 năm 1998 vừa qua tôi đã đến và ở
lại Schneverdingen, một địa phương nhỏ ở miền Bắc Đức để học phép tiệm
tu Lamrim với hơn 10.000 người khác, đến từ khắp nơi trên thế giới và
đây cũng là cơ hội để diện kiến Ngài.
Đạo Phật đến với Á
Châu từ cơ sở hạ tầng, sau đó mới đến quan lại của triều đình và vua
chúa; nhưng Đạo Phật đến Âu Châu thì ngược lại. Đa phần là giới trí thức
theo trước, sau đó mới tới những người dân dã. Tại sao vậy? Có lẽ ngày
nay qua phương diện truyền thông, báo chí, người trí thức dễ hội nhập
hơn. Vả lại những vấn đề nóng bỏng của xã hội cũng như của Tôn giáo đã
được đặt ra nhưng ít có người và ít có Tôn giáo Tây Phương nào làm thỏa
mãn những đòi hỏi ấy, nhất là vấn đề nhân sinh quan, vũ trụ quan v.v...
đặc biệt là con người và sự hiện hữu của thế giới nầy. Do vậy mà Phật
Giáo đã đóng góp một vai trò tích cực đối với những người Phật Tử trí
thức Tây Phương. Ví dụ như Tolstoi của Nga, Schopenhauer, Nietzsche của
Đức v.v... họ là những người trí thức; nhưng thời điểm của họ cách đây
200 năm trở lại; những vị nầy đến với Phật Giáo và hiểu Phật Giáo qua
con đường Nam truyền nên có vẻ tiêu cực; nhưng ở đầu và cuối thế kỷ thứ
20 nầy các nhà Bác Học như Albert Einstein chẳng hạn, mặc dầu ông ta
không phải là một Phật Tử; nhưng đã chấp nhận Phật Giáo là một tôn giáo
hợp với khoa học; không những thế mà còn vượt lên trên khoa học nữa.
Điều nầy chứng tỏ rằng con đường của Đại Thừa giáo về tánh không, bát
nhã, nhân duyên sanh v.v... đã hội nhập khá nhiều vào xã hội Âu Mỹ ngày
nay.
Rồi Đức Đạt Lai
Lạt Ma đến cùng với các bậc Đại Sư của Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn,
Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan v.v... đã góp mặt với sự hình thành của
Phật Giáo trên khắp hoàn vũ ngày nay một Phật Giáo sinh động, vị tha, từ
ái và bao dung; nên đã được mọi người chấp nhận Phật Giáo một cách dễ
dàng.
Đạo Phật không đi
truyền giáo, vì bản tánh của Đạo Phật là tự giác. Tự mỗi người phải hiểu
biết điều mình làm và từ đó nhận chân ra giá trị của nó, để rồi hướng
đến, tiến vào và chấp nhận. Giả sử nếu không còn thích hợp nữa, thì cứ
việc đương nhiên ly khai v.v... Việc ấy không thành vấn đề với Đạo Phật.
Đây là một sự thẩm thấu có lý tưởng. Biết đâu một mai đây hay gần đây,
nhất là thiên niên kỷ thứ ba nầy, Đạo Phật sẽ là đạo của nhân loại,
chung cho tất cả những giống dân trên hoàn vũ nầy; cho người trí thức
cũng như người bình dân, để từ đó Đạo Phật là một chất liệu dưỡng sinh,
nhằn dung hóa mọi trăn trở của cuộc sống và hướng dẫn mọi người đi vào
con đường giác ngộ giải thoát cho kiếp nhân sinh.
Giáo lý Phật Giáo
Tây Tạng đã bao thế kỷ qua đã bị đóng khung nơi núi đồi của Hy Mã Lạp
Sơn. Có nhiều nhà thám hiểm đến đó; nhưng họ cũng đã không mang được gì
nhiều về cho nhân loại. May thay từ năm 1959 trở lại đây, giáo lý ấy đã
được dàn trải khắp năm châu bốn biển bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau và
hầu như nước nào cũng có những bậc Đại Sư của Tây Tạng đến đây để hướng
dẫn tinh thần. Chỉ tiếc một điều là các bậc trưởng lão nầy không nói
được nhiều ngoại ngữ, do đó có giới hạn trong việc tiếp xúc. Hy vọng ở
thế hệ kế tiếp, những vị Tăng sĩ sinh ra và lớn lên tại Ấn Độ, Nepal,
Bhutan v.v... sẽ có khả năng nói rành rẽ ngoại ngữ để người ngoại quốc
đến với Phật Giáo Tây Tạng một cách dễ dàng hơn.
Sự có mặt của Phật
Giáo ngày nay tại ngoại quốc không phải chỉ riêng có Phật Giáo Tây Tạng,
mà trước đây gần 2 thế kỷ Phật Giáo Nam Tông đã đóng góp một cách tích
cực cho sự lớn mạnh của Phật Giáo sau nầy. Ví dụ như ở Đức có Bác sĩ
Paul Dahlke từ Berlin đã đến Tích Lan để học đạo, sau đó về lại Đức và
hiến cơ sở tư nhân của mình cho Phật Giáo để làm chùa vào đầu thế kỷ thứ
20 nầy và chùa nầy cũng như Hội Phật Giáo Nam Tông nầy vẫn còn tồn tại
tại Berlin cho đến ngày hôm nay. Sau đó là Ngài Lama Govinda, cũng người
Đức, sau khi tham cứu với Phật Giáo Nam Tông, Ngài đã sang học hỏi nơi
Kim Cang Thừa của Tây Tạng và cũng đã thành công một cách tuyệt vời.
Phật Giáo Nhật
Bản, Phật Giáo Đại Hàn, Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo Việt Nam cũng
đã đóng góp phần mình không nhỏ vào sự phát triển của Phật Giáo tại Âu
Mỹ ngày nay. Qua sự chuyên tu, hành trì các pháp môn Thiền, Tịnh Độ,
Mật, Trì Giới v.v... đã làm cho sức sống nội tâm của các bậc tôn túc
càng ngày càng cao và từ đó, mang sở tu sở học của mình đi vào cuộc đời
để chuyển hóa nhân sinh một cách dễ dàng hơn.
Chương II
Sự nhập thế theo tinh thần Đại Thừa Giáo
Đức Phật vẫn
thường dạy rằng: "Phật Pháp bất ly thế gian pháp". Nghĩa là: Sự giác ngộ
chơn lý không thể có ở ngoài thế gian nầy mà được. Cuộc đời vốn khổ đau
tục lụy và chính từ chỗ khổ đau nầy mà con người tự vươn lên và từ đó
chứng nhập vào con đường Bồ Tát đạo. Con đường Bồ Tát là con đường cứu
khổ độ mê. Con đường quên mình vì người. Nếu người còn đau khổ thì mình
không nỡ an vui nơi cảnh giới Niết Bàn. Điều ấy có nghĩa là các vị Bồ
Tát sẽ không nhập Niết Bàn khi chúng sanh chưa thành tựu sự giác ngộ.
Như vậy có thể còn
lâu hơn nữa, cũng có thể là 1 triệu năm sau hay nhiều triệu năm sau nữa
các vị Bồ Tát ấy vẫn còn ở lại đây để an ủi, vỗ về cũng như thay thế cái
khổ của nhân sinh và khi nào con người hết khổ đau tục lụy thì Bồ Tát
mới vào cảnh giới an nhàn tự tại ấy.
Đọc những sách về
Tây Tạng, được biết rằng ngôi vị Đạt Lai Lạt Ma là ngôi vị tôn quý nhất,
trong đời không gì bằng. Đây là một pháp bảo trong hàng các pháp bảo. Vì
thế người dân Tây Tạng đã tôn trọng ngôi vị cao cả nầy theo truyền thống
tái sanh. Vị Đạt Lai Lạt Ma là một người lo cho hơn 6 triệu dân Tây Tạng
ngày nay. Ngài là một vị Thánh Tăng mà cũng vừa là một vị Quốc Vương của
quốc gia Tây Tạng. Tại Tây Tạng ngày xưa cũng như cách tổ chức ngày nay
tại Dharamsara ở Ấn Độ cũng giống nhau. Nghĩa là có 2 cơ quan đại diện
cho Giáo Hội và cho dân chúng. Có Quốc Hội của cả hai và tại mỗi tỉnh,
mỗi huyện, mỗi quận, mỗi xã đều có đại diện của Phật Giáo và đại diện
của người dân. Đây là một thể chế dân chủ mà ít có nước nào trên thế
giới có được như vậy. Cầm đầu của cơ sở Pháp quyền là các vị Tăng Sĩ và
cầm đầu các cơ sở Thế quyền là những Cư sĩ tại gia. Tất cả đều đặt dưới
sự chăm sóc trực tiếp của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
So với Giáo Hội La
Mã thì cách tổ chức nầy cũng khác. Vì cương vị của Giáo Hoàng do các vị
Hồng Y bỏ phiếu kín tín nhiệm và chức vụ Giáo Hoàng có tính cách vĩnh
viễn cho đến khi chết thì mới bầu Giáo Hoàng trở lại. Nhưng Đức Giáo
Hoàng chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đối với con chiên của Ngài, chứ không
chi phối tình hình chính trị của Chính phủ Ý hay thế giới. Ở Tây Tạng
thì ngược lại. Vị Đạt Lai Lạt Ma có khả năng vừa an bang tế thế vừa mang
giáo lý giác ngộ giải thoát đến cho mọi người và mọi loài.
Ở Việt Nam cũng có
đôi chút khác biệt khi thi hành tinh thần Đại Thừa vào nếp sống của nhân
sinh như Phật Giáo Tây Tạng đã và đương làm. Đối với Việt Nam có 80% là
Phật Tử. Trong quá khứ nhiều lần Phật Giáo đã là quốc giáo. Ví dụ như
dưới thời triều Lý từ năm 1.010 đến 1.222. Triều Trần từ năm 1.222 đến
năm 1.400. Trong 2 thời kỳ lịch sử nầy Vua là Thiền Sư mà Thiền Sư cũng
là Vua. Ví dụ Vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng
để đi tu, Ngài đã trở thành Thiền Sư Huệ Quang. Triều Trần có Vua Trần
Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để đi tu và được xưng là
Điều Ngự Giác Hoàng nơi Trúc Lâm Yên Tử. Tất cả các vị Vua và cũng là
những Thiền Sư nầy đều áp dụng tinh thần Đại Thừa Bồ Tát đạo vào việc an
dân trị nước, cho nên Việt Nam mới có hơn 400 năm độc lập, thái bình và
tự chủ. Sau nầy khi Nho Giáo phát triển, Phật Giáo trở về con đường
hoằng pháp lợi sanh của mình. Có nghĩa là Phật Giáo vẫn nằm trong lòng
dân tộc; nhưng rời xa thế quyền. Bằng chứng là vào đầu cũng như giữa thế
kỷ thứ 20 nầy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã tổ chức thành một hệ thống
khác. Đó là Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo.
Viện Tăng Thống
đứng đầu là Đức Tăng Thống, do Hội Đồng Viện Tăng Thống suy tôn lên và
ngôi vị nầy không thay đổi cho đến khi vị đó viên tịch; nhưng ngược lại
vị Tăng Thống chỉ có tính cách đại diện tinh thần cho Tăng Ni cũng như
Phật Tử trong cả nước, chứ không có quyền hạn trực tiếp như Đức Đạt Lai
Lạt Ma hay Đức Giáo Hoàng. Ngôi vị Tăng Thống của Phật Giáo Việt Nam có
thể so sánh với chỗ đứng của Thiên Hoàng Nhật Bản trong cơ chế dân chủ
hiện tại.
Riêng Viện Hóa Đạo
thì vị Viện Trưởng phải là một Tăng Sĩ do Đại diện các Miền và Tỉnh bầu
lên. Ngôi vị nầy chấm dứt theo nhiệm kỳ chứ không có tính cách vĩnh
viễn. Cách tổ chức nầy giống như Thủ Tướng chế của Đức Quốc ngày nay.
Tuy vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đối với quần
chúng Phật Tử, chứ không có ảnh hưởng với chính quyền; nhưng nếu chính
quyền không đi đúng nguyện vọng của dân thì dân chúng sẽ theo sự kêu gọi
của vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo nhiều hơn là với chính quyền hiện tại.
Có nhiều người
thấy tôn giáo quá phức tạp. Vì chính tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đường
lối chính trị và ngoại giao của mỗi nước; nên đã có nhiều người nói
rằng: "Không có Tôn Giáo vẫn tốt hơn". Điều nầy có thể chứng minh trong
quá khứ, vì các Giáo Hội Thiên Chúa hiện hữu trong các guồng máy chính
quyền; nên đã gây ra không biết bao nhiêu vấn đề. Sau nầy Giáo Hội và
Chính quyền tách rời nhau, hoạt động độc lập; nên tôn giáo không còn ảnh
hưởng mạnh nơi thế quyền mấy. Còn các xứ Cộng Sản cũ của Đông Âu, họ đã
gạt phăng Tôn Giáo ra ngoài xã hội; những Tôn Giáo ấy tự tìm cách để tồn
tại như tại Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc chẳng hạn và gần đây nhất là Việt
Nam. Tại Việt Nam ngày nay vẫn còn Giáo Hội; nhưng đó chỉ là công cụ của
chính quyền Cộng Sản mà thôi. Khi nào chính quyền còn cần, thì những vị
lãnh đạo Tôn Giáo tại đây chỉ có bổn phận làm cánh tay nối dài cho Đảng
và Nhà nước. Khi nào không cần nữa, họ sẽ xếp Giáo Hội nầy vào Viện Bảo
Tàng.
So ra mỗi một tổ
chức ở mỗi quốc gia có khác nhau; nhưng tựu chung đó là tinh thần phân
thân của chư vị Bồ Tát. Vì chúng sanh đa dạng; nên Bồ Tát đa hạnh. Dùng
những hạnh nguyện nầy để cứu đời và giúp đời. Đức Đạt Lai Lạt Ma đi đâu
và làm cái gì, nhiều khi được ca tụng hết lời; nhưng Ngài vẫn mỉm cười
bảo rằng: Tôi chỉ đơn thuần là một Tăng sĩ chứ không có gì khác. Nhiều
người cho rằng Ngài là Phật, là Bồ Tát tái sanh; nhưng Ngài cũng công
nhận là những gì liên quan đến tiền kiếp, Ngài chỉ nhớ khi còn nhỏ; chứ
bây giờ thì Ngài không còn nhớ gì nhiều về tiền kiếp nữa. Có nhiều ký
giả Âu Mỹ hỏi Ngài rằng: Sau Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nầy, truyền thống
tái sanh của Tây Tạng không còn nữa phải không? Ngài cũng chỉ mỉm cười
và trả lời rằng: "Bây giờ tôi đang sống, chưa chết, làm sao mà biết
được".
Tuy nhiên có một
điều cũng cần lưu ý thêm là: Sau khi tìm cách chinh phục thế giới để đi
đến việc thương thuyết với Trung Cộng, để quốc gia Tây Tạng được hưởng
quy chế là một quốc gia tự trị. Về quân sự, ngoại giao, Trung Quốc vẫn
đóng vai trò chính. Còn Ngài nếu có thể dân tộc Tây Tạng cứ bầu cử tự
do; nếu xét thấy cần cho ngôi vị Đạt Lai Lạt Ma thì Ngài ở lại. Nếu
không cần thì thôi. Dĩ nhiên việc ấy thời gian sẽ trả lời trong mai hậu;
nhưng chắc chắn một điều nhân dân Tây Tạng vẫn còn ủng hộ Ngài. Bằng
chứng là đúng 40 năm ở ngoại quốc; nhưng tiếng nói của Ngài vẫn còn vọng
lại nơi quê hương và mặc dầu người dân Tây Tạng bị Trung Cộng đàn áp một
cách tàn nhẫn; nhưng lúc nào hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn là hình
ảnh tối thượng nhất của dân tộc Tây Tạng vậy.
Người chăn dân trị
nước phải biết đặt quyền lợi của quốc gia lên trên hết như người xưa đã
nói: Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Điều ấy có nghĩa là: Dân
là quý. Đất nước đứng hạng thứ nhì và điều thứ ba Vua là nhẹ. Nếu vị
lãnh đạo tinh thần của một dân tộc, hay các chính khách thủ lãnh các
quốc gia trên thế giới ngày nay, ai cũng ứng dụng vào cách xử thế như
thế nầy, chắc chắn rằng thế giới sẽ hòa bình và nhân sinh sẽ an lạc.
Chiến tranh và hận thù không còn có cơ hội để tồn tại trên thế gian nầy
nữa.
Đối với Phật Giáo
có 2 con đường. Đó là con đường nhập thế và con đường thứ 2 là con đường
xuất thế. Mỗi con đường như thế đều phải trải qua nhiều sự tu học và
hành trì khác nhau. Con đường nhập thế là con đường thỏng tay vào chợ
đời để cứu vớt chúng sanh còn đau khổ trầm luân trong sanh tử nầy. Con
đường nầy Phật Giáo Tây Tạng đã chọn, qua sự hóa thân của Đức Đạt Lai
Lạt Ma hay các vị Rimpoche. Phật Giáo Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và
Đại Hàn có một ít khác biệt với Tây Tạng; nhưng tựu chung vẫn là cứu
nhân độ thế mà thôi. Sau đây là một câu chuyện thật 100% được sử sách
Việt Nam ghi lại để chứng minh rằng có sự tái sanh và nhà Sư cũng có thể
trở thành vua, mà vua cũng có thể là nhà Sư.
Câu chuyện nầy các
thư tịch cổ của Việt Nam như Lĩnh Nam Chích Quái, Công Dư Tiệp Ký, Đại
Nam Nhất Thống Chí đều có ghi chép lại. Chuyện kể về chùa Quang Minh
cũng còn gọi là Chùa Bóng được xây cất vào đời nhà Trần, cuối thế kỷ thứ
14. Đến năm 1578 triều đình nhà Hậu Lê là vua Lê Thế Tông (1573-1599) và
phủ chúa Trịnh Tùng (1570-1623) đã cấp kinh phí để xây cất lại Chùa Bóng
gần như mới hoàn toàn. Mãi cho đến cuối thế kỷ thứ 19 Chùa Bóng vẫn là
một chùa đẹp nhất nhì tại miền Bắc Việt Nam. Chùa đẹp không phải chỉ vì
cảnh như Đại Nam Thống Nhất Chí chép rằng: "Chùa Quang Minh ở xã Hậu
Bổng, huyện Gia Lộc, có ngàn cây xanh biếc, bốn mặt nước trong, xa xa
phía trước có đường cái chạy qua và có dòng sông bao bọc, thật xứng đáng
là thắng cảnh của Thiền Lâm", mà chùa đẹp là do câu chuyện liên quan đến
vị Sư trụ trì của chùa nầy là Thiền Sư Huyền Chân (tức Ma Ha Sa Môn).
Người ta tìm được sách viết về chùa Quang Minh trong ấy có ghi rõ như
sau: Thiền Sư Huyền Chân người làng Hàm Nghi, xã Danh Hương (nay thuộc
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), thế danh là Đức. Sinh và mất năm nào
không ghi rõ. Sách Công Dư Tiệp Ký của Tiến sĩ Vũ Phương Đề (1698 - ? )
còn cho biết thêm rằng: Thiền Sư Huyền Chân còn có pháp hiệu khác gọi là
Thiền Sư Bật Sô.
Sau thời gian tu
hành nghiêm túc cả hành thiền lẫn tu theo pháp môn Tịnh Độ, một hôm Ngài
Huyền Chân nằm mơ thấy Đức Phật A Di Đà đến báo cho Ngài biết rằng:
"Ngươi dầy công với Phật sự đã lâu, lòng từ bi của ngươi đã được Phật Tổ
thấu hiểu. Vì thế, đến kiếp sau, ngươi sẽ được làm đại đế ở phương Bắc".
Sau đó Thiền Sư tỉnh dậy, kể lại những điều mình đã thấy cho các đệ tử
xuất gia và tại gia nghe và căn dặn đệ tử rằng: "Nếu sau nầy Thầy viên
tịch, các con hãy lấy son viết lên vai Thầy mấy chữ: An Nam quốc, Quang
Minh tự, Sa Việt tỳ khưu trước khi đem nhục thân của Thầy đi hỏa thiêu".
Các vị đệ tử hiện diện lúc đó chăm chú lắng nghe và sau khi Thầy viên
tịch đã thực hiện đúng như di chúc của Thầy dặn lúc còn sanh tiền.
Năm Hoằng Định thứ
6 (tức năm 1604) triều đình vua Lê Kỉnh Tông (1599-1629) và chúa Trịnh
Tùng (1570-1623) có mở khoa thi Hội, lấy đỗ bảy vị Tiến Sĩ. Trong số năm
Tiến Sĩ nầy có Nguyễn Tự Cường, người làng Tiền Liệt, huyện Vĩnh Lại;
nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông sinh năm 1570, khi
đỗ Tiến Sĩ ông mới 34 tuổi. Sau đó ra làm quan đến chức Lễ Bộ Hữu Thị
Lang, tước Xuân Quận Công. Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh ở Trung
Quốc và chuyện tái sanh của Thiền Sư Huyền Chân liên hệ đến chuyện đi sứ
của ông. Khi ông sang Trung Quốc, lúc bấy giờ nhằm đời vua Minh Thần
Tông (tức Chu Hủ Quân, sinh năm 1563, lên ngôi năm 1572, mất năm 1620,
hưởng dương 57 tuổi) nhà Vua đã nói với vị Tiến sĩ Việt Nam rằng:
- Ngươi ở nước
Nam. Vậy nhà ngươi có biết chùa Quang Minh ở đâu không ?
Nguyễn Tự Cường
đáp là không biết. Minh Thần Tông nhân đó mới nói với Nguyễn Tự Cường
rằng:
Lúc mới sinh ra,
trên vai ta đã có hàng chữ son, nói rõ kiếp trước của ta chính là vị
Thiền Sư ở chùa Quang Minh. Nay ta muốn xóa dòng chữ ấy đi mà chưa biết
phải làm thế nào.
Nguyễn Tự Cường
thưa:
- Thần nghe nói
nhà Phật có nước công đức để tẩy trần. Nếu bệ hạ là tái sanh của Thiền
Sư trụ trì chùa Quang Minh thì phải lấy nước giếng của chùa Quang Minh
rửa vết son ấy đi, mới có thể được.
Sau khi về nước,
Tiến sĩ Nguyễn Tự Cường đã đem việc nầy tâu với triều đình. Triều đình
đã lấy nước giếng của chùa Quang Minh tiến dâng cho vua Minh Thần Tông.
Nhà vua dùng nước giếng ấy rửa, quả nhiên vết son ấy mất đi. Do vậy nhà
vua đã tặng cho Nguyễn Tự Cường 300 lạng vàng, sau đó ông mang hết số
vàng nầy về cúng để trùng tu chùa Quang Minh.
Điều nầy chứng tỏ
rằng Thiền Sư Huyền Chân trụ trì chùa Quang Minh ở Hải Dương chính là
tái sanh hay nói đúng hơn đầu thai sang Trung Quốc để làm vua đời nhà
Minh, gọi là Minh Thần Tông.
Đứng về phương
diện lịch sử điều nầy có thể tin được. Vì một vị đại khoa như Tiến sĩ
Nguyễn Tự Cường không đơn thuần để phao vu một câu chuyện như thế. Có lẽ
sau khi Nguyễn Tự Cường về lại nước Nam, ông ta tìm đến chùa Quang Minh
để lấy nước giếng, chắc chắn rằng các đệ tử tại gia cũng như xuất gia đã
nhắc lại lời di chúc của Thầy mình và chính nhà vua cũng đã biết rằng
mình kiếp trước là người nước An Nam. Do 3 nguồn tin nầy sát nhập lại,
chúng ta có thể nói rằng: Chuyện nầy không phải là chuyện giả tưởng, mà
là một chuyện thật lịch sử đã chứng minh.
Đứng về phương
diện sử học của Trung Quốc họ đã ghi lại việc nầy như thế nào thì chúng
ta chưa rõ; nhưng nếu có ghi, họ cũng chỉ ghi sơ lược mà thôi. Vì lẽ
người Trung Quốc luôn luôn muốn chứng tỏ rằng họ là một dân tộc trên các
dân tộc khác, có nền văn hóa lâu dài hơn, chưa chắc gì họ đã đưa câu
chuyện nầy vào sử của họ; nhưng ở Việt Nam ngày nay, quyển Quang Minh Tự
Sự Tích và các sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Lĩnh Nam Chích Quái và Công
Dư Tiệp Ký đã có ghi lại rõ ràng. Chắc rằng không phải là việc mơ hồ
vậy.
Đứng về phương
diện luân hồi tái sanh trong giáo lý nhập thế của Đại Thừa, điều nầy
chúng ta có thể tin tưởng được. Vì do sự thọ ký và sự bổ xứ của Phật như
trong phẩm Thọ Ký của kinh Pháp Hoa, ở vào đời vị lai, ai sẽ thành Phật
ở đâu, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni cũng đã cho biết một cách rõ ràng qua
trí huệ thiên nhãn của Ngài. Con người ở trong vũ trụ nầy chỉ là một
tinh thể rất nhỏ, không có gì đáng kể; nhưng chính tinh thể đó đã tạo
nên tam thiên đại thiên thế giới nầy và chính trong một hạt bụi có vô số
thế giới đó, đã là đề tài tái sinh trong kinh Hoa Nghiêm hay đi chốn nầy
chốn khác của Thiện Tài Đồng Tử khi tham vấn đạo. Thế giới nầy đối với
chư vị Phật hay chư vị Bồ Tát cũng giống như một tế bào trong sợi tóc.
Do vậy Đức Phật lúc nào cũng hay dùng đến số cát của sông Hằng để ví dụ
là vậy.
Sau khi đọc câu
chuyện tái sanh của Việt Nam phía trên chúng ta thấy cũng không khác
những sự tái sinh khác ở các nước theo Phật Giáo Đại Thừa mấy, đặc biệt
là Phật Giáo Tây Tạng. Con đường tái sinh của các Đức Đạt Lai Lạt Ma
cũng nằm trong ý nghĩa tinh thần của Bồ Tát Đạo mà thôi. Tinh thần ấy là
tinh thần vì chúng sanh chứ không vì tự ngã. Vì tha nhân, chứ không vì
mục đích riêng tư của cá thể. Đây có thể nói là con đường nhập thế của
Đạo Phật.
Còn con đường thứ
2 là con đường xuất thế. Con đường ấy như thế nào? Con đường ấy đã trải
dài trong các kinh tạng Pali, thiết tưởng ở đây không cần lập lại nhiều.
Tuy nhiên để hiểu rõ về tinh thần nầy, xin triển khai ở một vài phương
diện. Các vị A La Hán thường thường sau khi chứng được quả vô sanh,
không còn sợ hiểm nguy với luân hồi sanh tử nữa; nhưng các vị nầy nhìn
thấy cuộc đời quá khổ đau tục lụy, các vị không muốn tiếp tục con đường
gian nan ấy; nên đã an vui thị tịch với cảnh giới Niết Bàn; nên con
đường nầy chúng ta có thể gọi là con đường xuất thế của Đạo Phật. Con
đường nầy mới nhìn như ích kỷ; nhưng tựu chung sự tu học, mỗi người phải
tự nỗ lực để thành tựu. Không thể có ai đó tu thế cho mình và chứng thế
cho mình được. Chỉ có một điều là các vị A La Hán cũng đã dùng tâm từ bi
mà nhiếp hóa nhân sinh; nhưng vì nguyện lực cứu độ không quan trọng
bằng, thể nhập tự tánh chơn như để chứng thành Phật quả, nên chúng sanh
vẫn còn lặn hụp trong biển khổ của sanh tử luân hồi. Do vì chưa tự giác
ngộ được chính căn cơ của mình.
Như vậy đến với
Đạo Phật, người Phật Tử có thể chọn một trong 2 con đường để hành trì
hay ngay cả đến việc tái sanh. Bình thường nếu tâm thức chúng ta còn mờ
mịt với vô minh, thì chúng ta chẳng biết sanh vào đâu và từ nơi nào đến.
Nhưng khi tâm đã tĩnh, trí huệ đã triển khai, thì sự đến đi, tới lui chỉ
là phương tiện của một kiếp nhân sinh để hóa độ, chứ không còn là những
chướng duyên, nghịch cảnh trong cuộc sống tu hành của mình nữa.
Đức Đạt Lai Lạt Ma
ngày nay Ngài đã hiện diện khắp năm châu bốn bể. Trên đài truyền hình,
nơi Radio, nơi báo chí, hay nơi cung điện, dinh thự Tổng Thống, Thủ
Tướng v.v... nhưng đến đâu Ngài cũng chỉ tỏ vẻ từ bi và đơn thuần của
một người Tăng sĩ. Ngài quan niệm rằng cuộc sống của mỗi chúng sanh của
chúng ta đều giống như một ly nước nghiệp đầy vẩn đục. Có người có màu
đậm, có người có màu nhạt. Tu học theo giáo lý của Phật Giáo, dù cho là
Nam Tông, Bắc Tông hay Mật Giáo đi chăng nữa, nó chỉ có một giá trị duy
nhất là gạn lọc tâm của mình để cho ly nước ấy càng ngày càng trong ra.
Mỗi một buổi tọa thiền, mỗi một lạy sám hối, mỗi một lời sám hối, mỗi
một cành hoa cúng Phật v.v... là một công đức để gội nhuần tâm thức của
mỗi chúng sanh. Điều ấy chúng ta có thể làm trong đời nầy hay đời kế
tiếp. Miễn sao ly nước nghiệp ấy chỉ toàn một màu trắng trong, không còn
một chút bợn nhơ, dầu cho đó là một vi tế nghiệp đi nữa cũng không còn.
Lúc ấy chân như Phật tánh lại hiển hiện và trở lại Ta Bà để hóa độ chúng
sanh. Lúc ấy ở Ta Bà dầu cho có bao nhiêu chướng duyên triền phược đi
chăng nữa, chính nơi đây là Tịnh Độ của chư Phật và Bồ Tát. Vì đối với
các bậc đã giác ngộ rồi thì cảnh nào cũng là cảnh giải thoát hết. Chỉ có
chúng sanh còn mang tâm chấp trước, phân biệt bỉ thử v.v... nên chúng ta
vẫn mãi mãi bị trôi lăn trong 6 nẻo luân hồi mà thôi.
Cuộc sống nào rồi
cũng phải kết thúc, chỉ có tâm niệm cứu độ của Bồ Tát là luôn luôn còn
mãi với thời gian thôi. Mong rằng tinh thần nhập thế cứu đời nầy của
Phật Giáo vẫn luôn còn tồn tại với thế gian.
Chương III
Diện kiến với Đức Đạt Lai Lạt Ma
Ngài đã đến và đã
đi như bao nhiêu sự đến và đi khác trong nẻo tử sinh của luân hồi; nhưng
khi Ngài đến đã mang đến cho mọi người một nụ cười hoan hỷ và khi Ngài
đi, Ngài đã để lại trong tâm khảm của tất cả những người tham dự một cảm
tưởng thanh thoát nhẹ nhàng.
Ngày xưa khi Đức
Phật còn tại thế, đi đến đâu Ngài cũng lấy tâm từ bi, lợi tha và trí huệ
để cảm hóa nhân sinh. Vì vậy, khi gặp được Ngài, ai ai cũng cảm thấy
được gội nhuần ơn pháp vũ ấy. Từ vua chúa cho đến bần dân, nơi đâu có
hình ảnh của Đức Phật là nơi đó có hòa bình, chiến tranh lại hết, nỗi
khổ của nhân sinh lại vơi đi. Những người nghi kỵ, ngờ vực nhau lại có
cơ hội để gần nhau và thông cảm nhau trong tình huynh đệ đại đồng.
Sau 25 thế kỷ lời
Đức Phật dạy vẫn còn đó, các vị Tổ Sư truyền thừa cũng đều thể hiện hạnh
nguyện độ sanh nầy bằng con đường Từ Bi và Trí Tuệ ấy; nên ngày nay Phật
Giáo đã lớn mạnh khắp năm châu bốn bể. Đặc biệt là Đức Đạt Lai Lạt Ma
hiện thân của từ bi, bất bạo động đã chinh phục thế giới. Do vậy mà năm
1989 Ngài đã được lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình và cho đến bây giờ, đi
đâu và thuyết giảng điều gì, Ngài cũng luôn luôn hướng các chính trị
gia, các văn sĩ, các nhà tôn giáo soi rọi lại tâm của mình, gạn lọc tâm
thức của mình bằng con đường giới, định, huệ và để từ đó lòng tin cũng
như lòng từ bi được tăng trưởng.
Vào ngày 18 tháng
6 năm 1995 chùa Viên Giác tại Hannover - Đức Quốc, có nhân duyên đã cung
đón được Ngài và số báo Viên Giác 88 xuất bản vào tháng 8 năm 1995 tôi
cũng đã có viết một bài tường thuật rất chi tiết về việc nầy. Thiết
tưởng đăng tải lại vào chương nầy cũng không phải là việc dư thừa. Do
vậy tôi cho đăng lại nguyên văn bài viết đến hết Chương nầy. Mong rằng
quý độc giả sẽ còn nhận ra được rằng sự hiện hữu của Ngài và chính mình
lúc đó là một.
Ngài đã
đến,
mang lại
nụ cười
đó là Đức
Đạt Lai Lạt Ma
Viết về Ngài đã có
nhiều sách vở đã viết, bằng đủ mọi thứ tiếng, kể cả ngôn ngữ tiếngViệt.
Trong đó nhà văn Nguyên Phong ở Hoa Kỳ chuyển ngữ hai quyển bằng tiếng
Anh "my land and my People", Nước Tôi và Dân Tôi. Cũng như quyển
"Freedom in Exil", Tự Do trong Lưu Đày. Nguyên Phong đã dịch xuất thần
và mọi người đọc những quyển sách nầy, ai cũng muốn tìm hiểu sâu hơn nữa
về bậc Thánh Tăng ấy.
Cách đây khoảng 7
năm, Ngài đã đến Hamburg, một thành phố lớn thuộc miền Bắc xứ Đức, có
hơn 2 triệu dân cư ngụ. Nơi đó người Việt Nam mình sinh sống cũng đông
và nơi đó có một Trung Tâm Phật Giáo Tây Tạng, do vị Đại Sư Geshe
Thubten Ngawang hướng dẫn tinh thần. Đa số là những người Đức theo học
Phật và cũng đã có nhiều người xuất gia mặc áo hoại sắc theo Tây Tạng.
Cũng vì nơi đây có
Trung Tâm Phật Giáo Tây Tạng nên họ đã tổ chức một buổi giảng công cộng
cho Ngài, và chúng tôi Tăng Ni Việt Nam tại Đức đã được mời đến dự. Lúc
ấy Ngài giảng ở một Hội Trường lớn của Đại Học Hamburg. Hội Trường chứa
chừng 4 đến 5 ngàn người. Đầu tiên Ngài làm lễ theo truyền thống Tây
Tạng, sau đó thuyết pháp. Sau 2 giờ, nghỉ giải lao để dùng trưa. Buổi
chiều tiếp tục thuyết giảng. Trong suốt 5 giờ đồng hồ nghe giảng, cả Hội
Trường 4 - 5 ngàn người đã chú tâm thành kính, không có một tiếng động,
làm cho tôi có một suy nghĩ, một ấn tượng sâu đậm về bậc giác ngộ nầy.
Hôm ấy, vào lúc
nghỉ trưa chúng tôi chỉ được phép chào Ngài và Ngài đưa tay cho bắt thế
thôi. Khi xong buổi thuyết pháp, về lại chùa, tôi đã kể lại chuyện nầy
cho bao nhiêu Phật Tử nghe và có người bảo tại sao Thầy không mời Ngài
về chùa mình giảng.
Lúc ấy nghe để mà
nghe vậy thôi, chứ làm sao trả lời được câu hỏi ấy. Vì lẽ chùa Viên Giác
còn bé nhỏ quá, và vị trí của tôi lúc bấy giờ chưa xứng đáng để cung
thỉnh Ngài về Hannover, nên tôi đã nói rằng: "Chắc chắn một ngày nào đó
Ngài sẽ đến Hannover, nhất là lúc mà chùa mới của mình đã được xây
xong". Mà quả thật như thế, Chùa Viên Giác thật sự hoàn thành vào cuối
năm 1994, thì năm nay 1995 chúng ta, Phật Tử Việt Nam tại Đức lại có
duyên may để cung đón Ngài. Đây là câu chuyện:
Vào giữa tháng 3
năm 1995, ông Helmut Hanefeld, người Phật Tử Đức ở chùa Viên Giác hơn 2
năm, có thưa với tôi rằng:
- "Bà Iris Heiß,
đại diện tổ chức thân hữu Đức - Tây Tạng muốn gặp tôi để bàn về việc Đức
Đạt Lai Lạt Ma nhân chuyến công du tại Köln vào ngày 8 tháng 5 năm 1995
sắp tới, có ý tới thăm chùa Việt Nam tại Hannover và Thầy nên cố gắng
dàn xếp một cuộc họp nhỏ với ông Galtay, đại diện ngoại giao của Tây
Tạng tại Thụy Sĩ, cũng sẽ đến Hannover để bàn về việc ấy".
Đó là khởi đầu của
công việc nầy.
Sau khi đi
Indonésia về vào ngày 31 tháng 3 năm 1995 (xin đọc thêm bài "Một Chuyến
Đi Vội" đăng trong Viên Giác số 87 xuất bản tháng 6 năm 1995 để hiểu
thêm). Ngay trưa hôm đó tôi đã tiếp ông Galtag, bà Iris Heiß và có cả
ông Helmut Hanefeld tại phòng họp của Chùa Viên Giác. Trên nguyên tắc,
chúng tôi đã đồng ý việc cung đón Ngài đến Chùa Viên Giác tại Hannover,
sau những nguyên tắc nghi lễ và ngoại giao đã được thông qua.
Trong dãy nhà Tây
của chùa Viên Giác, tôi có cho một Hội Phật Giáo Đức theo Tây Tạng có
tên là "Chöling" một phòng lớn để làm chỗ lễ bái và tọa thiền. Hội
"Chöling" cũng nhân cơ hội đó có ngỏ ý rằng sẽ hợp tác chung trong việc
tổ chức đón rước ấy. Thế là chúng tôi đã đi đến một điểm chung là phải
họp nhau lại để bàn bạc các chi tiết.
Một ngày giữa
tháng 4 năm 1995, ba tổ chức đã họp lại để bàn bạc việc đón tiếp Ngài.
Đó là Chùa Viên Giác, Hội Phật Giáo Tây Tạng "Chöling" và Hội thân hữu
Đức - Tây Tạng.
Chúng tôi ban đầu
bàn và đã thống nhất với nhau là Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ tiếp các chính
trị gia và đại diện 2 Tôn Giáo lớn Tin Lành và Thiên Chúa tại Chùa Viên
Giác. Sau đó Ngài sẽ giảng pháp cho các Phật Tử nghe và về lại Köln.
Hội Phật Giáo thân
hữu Đức - Tây Tạng sẽ lo liên lạc với các chính trị gia của Đức. Phần
mời đại diện các Tôn Giáo do Chi Bộ Phật Giáo Việt Nam tại Đức và Hội
"Chöling" đảm nhận. Về vấn đề hình thức tiếp đón như thế nào, sẽ họp
thêm một phiên họp chi tiết nữa.
Sau khi đi họp tại
Chùa Viên Giác về, bà Iris Heiß vui mừng quá nên loan báo liền với các
báo chí tại Hannover về tin tức trên. Do đó vào sáng ngày hôm sau
17.4.1995 đã thấy báo Hannoversche Allgemeine Zeitung loan tin ở trang
đầu là: "Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đến Chùa Viên Giác vào ngày 7 tháng 5 năm
1995". Sau đó có không biết bao nhiêu cú điện thoại hỏi về việc đến của
Ngài. Chúng tôi lo lắng và phải tiên liệu cho những vấn đề khác nữa, nên
cũng chưa giải thích được gì.
Đùng một cái, được
điện thoại từ Thụy Sĩ của ông Galtag gọi sang là máy bay của Ngài đã đổi
lộ trình, nên không còn đến Hannover được nữa. Tôi nghe như sét đánh vào
đầu mình và có một cảm tưởng chán chường lại đến trong một trạng thái
chẳng vui vẻ tí nào cả. Tất cả đều buông xả ...
Xem như việc đã
định vào ngày 7 tháng 5 năm 1995 Ngài không đến được nữa thì phải nhờ
báo chí loan tin là Ngài không đến! Chuyện ấy cũng không sao; nhưng thấy
như có cái gì không ổn. Chúng tôi yên chí làm việc ấy. Cách đó một ngày
sau, chúng tôi lại nhận được điện thoại của ông Galtag báo tin rằng Ngài
có thể đến như dự định vào ngày 7.5.95. Tôi lại càng uể oải hơn nữa để
phải trả lời cho ông rằng: "Tại sao nói đến rồi không đến, không đến rồi
đến? Chúng tôi chẳng biết phải làm sao cả".
Sau đó tôi có hỏi
ý kiến của 2 tổ chức kia, họ đều đồng ý rằng: "Thôi để lúc khác tiếp đón
cũng không sao".
Sau khi Ngài ở
Köln về Ấn Độ, chúng tôi được biết là Quốc Hội Đức đã đồng ý tiếp kiến
Ngài tại Bonn vào ngày 19.6.1995 để Ngài điều trần về vấn đề vi phạm
nhân quyền của Trung Cộng tại Tây Tạng và lần nầy chắc chắn Ngài sẽ đến
Hannover.
Khi nghe tin ấy
tôi vẫn vui; nhưng cũng phải họp hết lại 3 tổ chức một lần nữa vào ngày
20.5.1995 để quyết định có nên tổ chức hay không? Tất cả đều lệ thuộc
vào tôi. Riêng ông Helmut Hanefeld thì từ chối không thể tiếp tục làm
việc nầy trong trạng thái căng thẳng nữa. Nghĩa là giờ giấc quy định quá
cận, ông ta không thể làm tiếp được. Và sau nầy việc ấy giao lại cho bà
Iris Heiß và Frank Sanzenbacker lo liệu.
Sau đó tôi liên
lạc với ông Galtag xác nhận là chúng tôi sẽ tổ chức cho Ngài thăm viếng
Hannover và nói chuyện tại đây vào ngày 18 tháng 6 năm 1995.
Mọi hình thức
giống như trước, không có gì thay đổ