Thập Ðại Ðệ Tử Phật
Thích Minh Tuệ
Sàigòn 1991-Pl 2535
---o0o---
10
Tôn Giả Ưu Ba
Ly
Upali Trì Giới Ðệ Nhất
Trong cuộc sống, từ quốc gia xã hội, đến đoàn
thể, luật pháp, nội quy, điều lệ là những điều kiện giúp cho tổ chức được
kiện toàn, vững mạnh, trường tồn. Ngược lại trong một tổ chức có nhiều
người không giữ nội quy, điều luật sẽ trở thành ô hợp dễ tan rã, cụ thể
như trong quân đội nếu không có kỷ luật sắt, khi ra trận sẽ bị thất bại.
Với tôn giáo cũng thế, tín đồ không tuân giữ điều răn cấm, đạo giáo sẽ bị
suy tàn. Khi Ðức Phật sắp Niết Bàn, Ngài A Nan hỏi Phật nhiều vấn đề trong
đó có câu hỏi:
·
Sau khi Thế Tôn Niết Bàn chúng
con nhận ai làm thầy?
Ðức Phật trả lời:
·
Hãy lấy giới luật làm thầy, giới
luật còn đạo ta còn.
Như vậy người Phật tử không luận tăng hay tục
đều phải tuân giữ giới luật. Trong số các vị đại đệ tử của Phật có Ưu Ba
Ly là người tu hành, hành trì giới luật rất đầy đủ. Do đó Ngài được suy
tôn là bậc Trì Giới Ðệ Nhất.
Dòng Họ và Nghề nghiệp của Tôn
Giả Ưu Ba Ly
Ngày xưa ở Ấn Ðộ luật Ma Nu chia thành phần xã
hội ra làm 4 giai cấp:
·
Bà La Môn, Sát Ðế Lợi, Phệ Xá,
Thủ Ðà La.
Người sinh vào giai cấp nào phải giữ truyền
thống của giai cấp đó. Người sinh vào dòng Bà La Môn được làm đạo sĩ học
thánh điển Vệ Ðà, lo việc tế tự. Người sanh vào dòng Sát Ðế Lợi được làm
vua chúa quan quyền, cai trị Ấn Ðộ. Người sinh vào dòng Phệ Xá mãi mãi là
công thương. Người sinh vào dòng Thủ Ðà La suốt đời làm nô lệ, bị bạc đãi
nhất trong xã hội, khi ra đường Thủ Ðà La gặp đạo sĩ hoặc vua quan, phải
tìm bờ bụi ẩn nấp, nếu lén nhìn sẽ bị móc mắt. Nếu nói tên Bà La Môn bị
cắt lưỡi, không tuân pháp luật vua quan bị đổ dầu sôi vào lỗ tai. Ưu Ba Ly
sanh vào dòng Thủ Ðà La, bởi thế ngay từ thuở nhỏ đã không được hưởng
quyền lợi về học vấn. Lúc lớn khôn cha mẹ định chọn cho Ưu Ba Ly một nghề
sinh nhai, nhưng trong các nghề mà người nô lệ được phép làm như lao động
tay chân, cày cuốc, đánh xe, giữ ngựa, gánh phân, Ưu Ba Ly không đủ sức vì
ốm yếu mảnh mai. Cuối cùng Ưu Ba Ly được chọn đi học nghề thợ cạo râu tóc,
nghề nhẹ nhàng nhất, học chẳng bao lâu Ưu Ba Ly thành thạo nghề nghiệp một
cách tài tình.
Nhờ có người giới thiệu, Ưu Ba Ly được nhận vào
vương cung Ca Tỳ La Vệ để hớt cạo râu tóc cho các vương tôn công tử. Nhờ
đức tính thuần lương nhu mì, trung hậu, Ưu Ba Ly được các vương tôn công
tử tín nhiệm và cho ở lại trong cung đình. Ma Ha Bạt Ðề, A Na Luật, Kiếp
Tân Na rất thích Ưu Ba Ly, qua sự khéo léo tay nghề. Khi Ðức Phật trở vào
thành Ca Tỳ La Vệ, Ưu Ba Ly được đưa đến cạo tóc cho Phật. Tương truyền,
vì lo ngại thất lễ, lúc cạo tóc Ưu Ba Ly khom lưng, cúi đầu. Mẹ của Ưu Ba
Ly hỏi Phật về kỹ thuật của con, Phật bảo: "Thân thể rất cong". Nghe thế
Ưu Ba Ly ngẩng đầu lên và tập trung tâm ý trong việc hớt tóc, tâm Ưu Ba Ly
thể nhập sơ thiền. Mẹ Ưu Ba Ly lại thưa Phật về kỹ thuật, Phật bảo: "Lúc
này thân thể ngay thẳng". Nghe Phật phát biểu ý kiến, Ưu Ba Ly càng nhất
tâm hơn, không dám suy nghĩ vọng tưởng gì ngoài việc cạo tóc, tâm Ưu Ba Ly
thể nhập nhị thiền. Vì quá chú tâm hơi thở dồn dập nên khi bà mẹ lại hỏi
Phật về cách cạo có nhẹ nhàng không? Phật nói:"Hơi thở vào quá thô". Nghe
nói Ưu Ba Ly lại tập trung tâm ý vào hơi thở, thể nhập tam thiền. Lúc cạo
gần xong râu tóc, bà mẹ lại hỏi Phật xem Ưu Ba Ly đã thiện nghệ hay chưa,
Phật nói: "Hơi thở quá thô". Vì quá chú tâm đến công tác, Ưu Ba Ly không
còn tưởng niệm gì cả, Ðức Phật biết Ưu Ba Ly đang ở trong trạng thái tứ
thiền. Hớt cạo râu tóc cho Phật xong Ưu Ba Ly thấy lòng thơ thới, sung
sướng vô cùng, vì đã có dịp tiếp cận với Phật. Qua sự chú tâm lưu ý đến
việc hớt tóc, nhất là mỗi khi nghe Phật phê phán, Ưu Ba Ly cố sức sửa đổi
tâm tư động tác, những cử chỉ đó đã mở đầu cho thấy Ưu Ba Ly sẽ là một con
người rất nghiêm túc trong từng tác phong cử chỉ. Bởi thế, sau khi xuất
gia Ưu Ba Ly trở thành vị trì giới đệ nhất.
Ðạo Nghiệp của Ưu Ba Ly
Ưu Ba Ly Ðược Vào Giáo Ðoàn
Trong thời gian lưu lại thành Ca Tỳ La Vệ Ðức
Phật đem giáo pháp đã chứng ngộ truyền giảng, tất cả các vị hoàng thân,
vương tôn, công tử và bá quan đều vô cùng hoan hỷ và tán thán Ðức Phật.
Nhờ thấm nhuần mưa pháp một số vương tôn từ bỏ cuộc sống giàu sang nơi
cung vàng để xin theo Phật xuất gia. Ngoài các vị đã xuất gia từ trước như
Ma Ha Nam, Ma Ha Bạt Ðề, kỳ này có các vị như Ðề Bà Ðạt Ða và A Nan con
vua Bạch Phạn. A Na Luật con Cam Lộ Vương. Ma Ha Bà Sa con Hộc Phạn Vương
và La Hầu La cháu nội vua Tịnh Phạn. Khi được Phật nhận A Na Luật hăng hái
gọi Ưu Ba Ly đến nhờ cạo tóc. Ưu Ba Ly vốn là người đã hầu hạ Bạt Ðề ngày
trước. Rồi tuần tự Ưu Ba Ly cạo tóc cho các vương tôn công tử khác. Vốn đã
được gặp Phật trong khi cạo tóc cho Phật từ trước, nay thấy cảnh xuất gia
nồng nhiệt, vui vẻ của các vương tôn tại hoàng cung, Ưu Ba Ly thấy tủi hổ
cho thân phận kẻ nô lệ, khôn có cách nào để xuất gia thoát tục. Ngài Xá
Lợi Phất thấy vậy an ủi:
·
Này Ưu Ba ly! Vì chưa thấu hiểu
được giáo thuyết bình đẳng của Phật ông mới buồn tủi và khóc than. Ông nên
biết rằng trên đường giáo hóa, Ðức Phật không có tâm phân biệt, người này
giàu sang, kẻ kia ngu si nghèo đói, ai muốn xuất gia cầu giải thoát sinh
tử luân hồi Phật đều nhận tất cả. Vì từ tâm của Phật là hơi thở của vạn
vật, là mạng mạch của nhân sinh, là trái tim của chánh pháp, lòng từ bi đó
không khác biển cả hay hư không. Biển cả dung chứa mọi sinh vật, làm sạch
tất cả dơ bẩn do sông rạch chảy vào, hư không trùm khắp cả muôn loài,
không loại trừ bất cứ một vật nào, có bao nhiêu loài hữu tình hay vô tình
đều được dung chứa. Còn chúng sanh muốn được giải thoát, muốn được Ðức
Phật cho gia nhập giáo đoàn, cần yếu phải nghiêm trì giới luật. Với bản
tính thật thà, khiêm cung, cần mẫn, chu đáo... sẳn có, được xuất gia ông
sẽ giữ tròn giới pháp của Phật, ông hãy tin tưởng chớ chán nản, tôi sẽ
hướng dẫn đến bái yết Phật, chắc chắn Phật sẽ hoan hỷ đón nhận.
Ðúng như ý của Xá Lợi Phất, khi gặp Ưu Ba Ly
Phật rất niềm nở đón nhận và dạy rằng:
·
Này Ưu Ba Ly! trước đây khi cạo
tóc cho ta, ông đã biểu thị đức tánh của người xuất gia, rất khiêm cung lễ
độ, chăm chú vào việc làm, tâm không dấy động. Thâm tâm của ông lúc đó đã
chuyển từ trạng thái sơ thiền sang trạng thái tứ thiền, giờ này ông xin
xuất gia rất là hợp thời điểm. Trước đây ta đi xuất gia một phần là vì
muốn công bằng xã hội, do đó giáo pháp của ta mang tính bình đẳng trước
mọi người oán cũng như thân, giai cấp cao cũng như giai cấp thấp. Bất cứ
ai nếu tinh tấn giữ gìn giới luật tất sẽ được giải thoát, ta sẽ thế phát
cho ông bây giờ. Còn lễ thế phát cho các vương tôn công tử sẽ cử hành sau
bảy ngày nữa, vì đó là tuần huấn nhục, giúp họ tập quen khó nhọc, lãng
quên tâm lý hưởng thụ giàu sang.
Trong các vương tôn đều xuất gia cùng một ngày,
nhưng Phật cho Ưu Ba Ly thế phát trước, các vương tôn thế phát sau, với
dụng ý như nêu trên. Ngày Bạt Ðề xuất gia, Ðức Phật bảo Bạt Ðề hãy đảnh lễ
Ưu Ba Ly, lý do là vì Ưu Ba Ly lớn tuổi hơn. Những việc làm này, ngoài một
phần như lý do đã nêu trên, còn có mục đích để phá tan tâm kiêu mạn của
các vương tôn và cho thấy tinh thần bình đẳng của giáo pháp, nhằm xóa bỏ
mọi giai cấp trong xã hội. trên đường giáo hóa, Ưu Ba Ly là người đầu tiên
thuộc dòng họ nô lệ Thủ Ðà La được Phật thu nhận vào hàng đệ tử. Ðó cũng
là một bước tiến bộ đầu tiên đã ghi vào lịch sử văn minh Ấn Ðộ.
Ưu Ba Ly Hỏi giới
Trong giáo đoàn, Tôn giả Ưu Ba Ly rất được
trọng nể nhờ nghiêm trì giới luật. Với tính thận trọng sợ lỗi lầm, Tôn giả
thường hỏi Phật về giới luật, những giới mà Ưu Ba Ly thưa hỏi Phật rất
nhiều tất cả có ghi trong luật tạng. Tuy nhiên để thấy sự chú ý của Ưu Ba
Ly về giới luật, cần nêu ra một vài trường hợp.
·
Theo luật của Sát Ðế Lợi, người
dòng họ Thích không được kết hôn với người ngoài dòng họ Thích. Có một cô
gái thuộc dòng họ Thích tên là Hắc Ly Xa, lúc đang độ thanh xuân chẳng may
chồng cô chết sớm, sau một thời gian cô muốn kết nghĩa với người ngoài
dòng họ Thích, nhưng người em chồng không ưng thuận lại muốn Hắc Ly Xa làm
vợ mình. Ðể trả thù vì bị Hắc Ly Xa cự tuyệt, trong một bữa ăn tên em
chồng bỏ thuốc mê vào thực phẩm. Khi ăn xong Hắc Ly Xa bất tỉnh, tên này
dùng roi đánh đập nàng tàn nhẫn và dẫn đến trình quan với lời mạo nhận
rằng:
·
Cô này là vợ của tôi, cô thường
tư thông với người ngoài dòng họ, xin quan xét xử và nghiêm trị đích đáng.
Vua xử Hắc Ly Xa phải chịu tử hình, khi bị giam
giữ thừa dịp người gác tù lơ đễnh, Hắc Ly Xa bỏ trốn và đến một ni viện ở
Xá Vệ xin xuất gia. Tại Ca Tỳ La Vệ sau khi truy nã tù nhân không có kết
quả, nhà vua nghe Hắc Ly Xa đã trốn sang Xá Vệ, nhà vua viết biểu yêu cầu
vua Xá Vệ truy nã Hắc Ly Xa và bắt giải về Ca Tỳ La Vệ gấp. Truy nã không
ra nhà vua mới biết nữ tù nhân đã vào tu trong ni viện, nơi bất khả xâm
phạm. Vua Ba Tư Nặc lại viết biểu trả lời vua Ca Tỳ La Vệ và cho biết sự
cố. Tin nữ tù nhân vượt ngục vào trong ni viện được lan truyền khắp nơi,
khiến dư luận xôn xao và hai nước trở nên hiềm khích. Nghe sự tình khó
giải quyết, Ưu Ba Ly đến trình Phật:
·
Bạch Thế Tôn! Người đã phạm quốc
pháp, chúng ta có thể thu nhận cho xuất gia không?
·
Này Ưu Ba Ly! Quốc pháp hợp lý
hay không hợp lý đó là việc của chính phủ và dân chúng, còn đối với người
phạm tội khi chưa được tuyên bố ân xá, tăng đoàn không được làm phép cho
xuất gia.
Sau khi trả lời cho Ưu Ba Ly, Phật gọi Ni chúng
cho Hắc Ly Xa xuất gia đến quở trách, lúc bấy giờ có nhiều người phàn nàn
cho Phật là thiếu từ bi không che chở cho tội nhân. Biết tin đó Phật họp
đại chúng lại cho hay:
·
Tăng đoàn cần thanh tịnh, phạm
giới luật còn bị tẩn xuất thì phạm pháp nước phải chịu luật nước xử trị.
Phật pháp không thể che chở cho tội nhân vì tăng đoàn cần phải được mọi
người trọng nể.
Một lần khác có người nhờ Tỳ kheo mai mối giữa
nam và nữ, không biết xử lý cách nào Ưu Ba Ly đến hỏi Phật.
·
Bạch Thế Tôn! Tỳ kheo và Tỳ kheo
ni có thể làm mai mối cho nam nữ được không?
Phật trả lời:
·
Nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đem tâm
tình người nam ngõ với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam cho đến
giới thiệu giáo hội một lần, sẽ phạm Tăng già bà thi sa, cần phải hối quá
vì căn bản sinh tử dục là tội thứ nhất.
·
Bạch Thế Tôn! Ðối với việc hôn lễ
của các tín đồ tại gia, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nên có thái độ lưu tâm như
thế nào?
·
Không nên lưu tâm lắm, nếu việc
hợp pháp có thể đối trước tam bảo làm lễ chứng minh cho họ.
Phép Thăm Nuôi Bệnh Nhân
Một hôm, Ưu Ba Ly đi sau Phật thấy một bịnh
nhân nằm rên la ở chỗ dơ uế. Một hôm khác trên đường hóa đạo, các Tỳ kheo
gặp một bệnh nhân nằm bên vệ đường. Vì chưa nghe Phật giảng về phép thăm
nuôi bệnh nhân, các Tỳ Kheo đi nhiễu một vòng rồi tiếp tục lên đường. Lại
một lần khác, trong đại chúng có một Tỳ kheo bệnh mà không ai chăm sóc. Vì
buồn tình Tỳ kheo bệnh nghĩ đang lúc bệnh hoạn có thể không cần giữ giới,
tự ý buông lung. Ðộng lòng trắc ẩn, Ưu Ba Ly đến thưa hỏi Phật:
·
Bạch Thế Tôn! Nếu có đại đức, tỳ
kheo bệnh, chúng con nên chăm sóc như thế nào?
·
Này Ưu Ba Ly! Khi có tỳ kheo
bệnh, chúng tăng nên đem bệnh nhân đến ở phòng chính nơi thoáng khí, cắt
cử người thay phiên chăm sóc, ăn uống thuốc thang. Các đệ tử cũng thay
phiên nhau túc trực hầu hạ, quét dọn sạch sẽ, cắm hoa, đốt hương, theo dõi
bệnh tình, hơi thở... Khi có người đến thăm cần tiếp đón nồng hậu, khách
hỏi bệnh nhân điều gì hãy thay bệnh nhân trả lời đầy đủ. Nếu có Phật tử
đến thăm, hãy mời họ ngồi đằng sau, hoặc phía từ nửa mình bệnh nhân trở
xuống. Nếu họ phát tâm cúng dường những gì, hãy niệm Phật chú nguyện, rồi
tiếp thọ nói pháp cho họ nghe. Khi người bệnh cần đại tiểu tiện, hãy mời
khách ra ngoài rồi lo cho bệnh nhân. Ở ngoài cửa cũng cần có người trực để
hướng dẫn khách thăm bệnh. Ðó là đối với các Tỳ kheo đại đức, còn các tỳ
kheo nhỏ cũng hãy chăm sóc như thế, có điều là không nên đem bệnh nhân đến
ở phòng chính. Nếu bệnh nhân không có sư trưởng hoặc đệ tử, các Tỳ kheo
đồng trú xứ nên phân công chăm sóc bệnh nhân. Nếu trong chúng không đủ
điều kiện thuốc thang cho bệnh nhân, có thể lấy vật dụng của họ đem bán
lấy tiền lo thuốc cho bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không ưng thuận, hãy mời vị
trưởng thượng đến thuyết phục, nếu không có vật đổi chác, khi đi khất
thực, tỳ kheo mang hai bát, một cho mình và một cho bệnh nhân. Khất thực
về hãy chọn các thức ăn bổ dưỡng dành cho người bệnh. Nếu họ viên tịch hãy
xử lý vật dụng còn lại một cách hợp lý, như cúng dường tam bảo hoặc quan
phân cho đại chúng.
Với tâm từ bi, Tôn giả Ưu Ba Ly rất quan tâm
đến người bệnh, nhất là người xuất gia vì họ đã cắt ái từ thân, cho nên
lúc lâm bệnh họ rất cô độc và cần có người chăm sóc. Ðức Phật dạy, trong
các phước điền, chăm sóc bệnh nhân là phước điền đệ nhất.
Phá Tăng và Hòa Tăng
Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả luôn luôn quan
tâm đến các vấn đề pháp chế, nhưng quan trọng nhất vẫn là vấn đề phá tăng
và hòa tăng. Chư Tăng sống theo hạnh lục hòa, cho nên nếu bất hòa là mối
tai họa lớn lao. Với tập thể, có hòa hợp mới dễ dàng thành tựu các hoạt
vụ, nhỏ như một gia đình có thuận vợ thuận chồng mới tát cạn bể đông. Bởi
thế khi họp tăng làm phép yết ma, vị thủ tọa hỏi tăng đã họp xong chưa rồi
lại hỏi: Tăng có hòa hợp không? Nếu Tăng không hòa hợp là Yết ma không
thành. Một hôm tại thành Xá Vệ, Ưu Ba Ly hỏi Phật rằng:
·
Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Phá
hòa hợp Tăng?
·
Này Ưu Ba Ly! Nếu trong Tăng
đoàn, có người hay chỉ trích, chê bai, đâm thọc để các Tỳ kheo phải tyï
hiềm nhau, hoặc gây sự bất ổn, đó là phá sự hòa hợp Tăng. Nếu đối với chư
Tăng, có Phật tử tại gia tạo sự bất hòa phân chia nhân ngã, khiêu khích
làm chia rẽ tăng đoàn, làm rối loạn mất hòa khí, gọi đó là phá hòa hợp
tăng. Ngoài đời, nếu chính quyền chen vào nội bộ tăng đoàn, tự viện, chỉ
trích này nọ, hoặc yêu cầu trục xuất tăng ni ra khỏi tự viện, tăng đoàn
gọi đó là phá hòa hợp tăng. Người phá hòa hợp tăng mang tội rất nặng, chết
đọa vào địa ngục chịu các cực hình trong thời gian một kiếp.
·
Bạch Thế Tôn! Còn thế nào gọi là
hòa hợp tăng?
·
Này Ưu Ba Ly! Người lễ bái cúng
dường, hỗ trợ tùy thuận ngợi khen các tỳ kheo đúng phép, đúng luật gọi đó
là hòa hợp tăng.
·
Người đem lại hòa hợp tăng được
những công đức gì?
·
Công đức người tạo hòa hợp tăng
được sinh vào thế giới có nhiều phước báu, hưởng các lạc thú trọn kiếp.
Vốn là một con người có tác phong khiêm tốn,
hiểu rõ nghĩa lý của giới luật, giữ giới nghiêm minh, Tôn giả không phải
không biết thế nào là Phá Tăng và Hòa tăng, nhưng vì muốn tăng đoàn lưu
tâm đến sự ổn định nội bộ tránh các tranh chấp, nên Tôn giả đem vấn đề ra
hỏi Phật để nhắc nhở.
Kiết Tập Luật Tạng
Ở trong tăng đoàn không những lo giữ giới luật,
bàn với Phật nhiều điều về giới luật, Tôn giả còn xử lý các Tỳ kheo phạm
tội, làm phép Yết ma sám hối, giảng giải giới luật cho các Tỳ kheo, Về
phía nữ với tính rụt rè, các tỳ kheo ni không dám đem vấn đề ra hỏi Phật,
các vị thường đem những gì không biết hoặc còn nghi ngờ về luật học thưa
hỏi Tôn giả. Ngoài Ðức Phật ra Tôn giả gần như là người có đủ thẩm quyền
quyết định về mọi vấn đề liên quan đến giới luật.
Sau khi Phật Niết Bàn trong cuộc kiết tập Kinh,
Luật, Luận tại động Kỳ Xà Quật gồm 1.250 vị A La Hán do Ðại Ca Diếp làm
chủ tọa, Ngài A Nan tuyên trì tạng kinh, Ngài Ca Chiên Diên tuyên trì tạng
luận, Ngài Ưu Ba Ly tuyên đọc 80 lần các giới luật do Phật chế. Từ cuộc
kiết tập nầy bộ Bát Thập Tụng Luật được hình thành và đó là bộ luật căn
bản đầu tiên của văn học Phật giáo. Theo Nam truyền sử, Tôn giả Ưu Ba Ly
không những là vị kiết tập Luật tạng, mà còn là vị kế thừa Ðức Phật lãnh
đạo giáo đoàn và trở thành Sơ tổ. Ðây cũng là điểm mà Phật giáo Bắc tông
khác với Phật giáo Nam tông. Theo truyền thống Bắc tông: Ðại Ca Diếp là vị
Sơ tổ thừa kế Phật lãnh đạo giáo đoàn, nguyên nhân sự khác biệt này xét ra
cũng dễ thấy.
·
Nam tông thiên về tư tưởng giải
thoát, muốn giải thoát phải trì luật. Tôn giả Ưu Ba Ly là vị trì luật đệ
nhất nên được suy ton là Sơ tổ. Còn Bắc tông thiên về tư tưởng giác ngộ,
lấy tâm ấn tâm không cần văn tự, ấn truyền ngoài kinh điển. Tôn giả Ðại Ca
Diếp là vị đã lãnh hội được ý chí đó nơi Ðức Phật trước nhất, qua cành hoa
sen của Phật đưa ra tại hội Linh Sơn. Sau khi Ðức Phật Niết Bàn Tôn giả là
vị chủ tọa, lãnh đạo cuộc kiết tập kinh điển, nên Phật giáo Bắc tông suy
tôn Ngài là Sơ tổ.
Nhận Thức và Kết Luận
Trong các sử truyện không ghi rõ giai đoạn cuối
của cuộc đời Tôn giả, do đó chúng ta không rõ Ngài nhập Niết Bàn vào lúc
nào. Nhưng sau cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất, sử truyện không ghi
chép một sự xuất hiện nào của Ngài. Bởi thế chúng ta có thể suy đoán sự
nhập Niến Bàn của Tôn giả trong khoảng trước hoặc sau Tôn giả Ðại Ca Diếp
mà thôi. Về sự tương truyền Ưu Ba Ly trong lúc cạo tóc cho Phật đã thể
nhập từ sơ thiền đến tứ thiền nghe qua có viễn vông, nhưng xét kỹ đó không
phải là một vấn đề không tưởng, vì đó chỉ là một vấn đề hiện tượng tâm lý
thông thường, mọi người có thể trải qua. trên lý thuyết thiền chia có 4
bậc là để định mức trạng thái tâm lý của một hành giả qua 4 bậc, từ thấp
đến cao. Khi chưa tọa thiền tâm lý con người rất loạn động, hết nghĩ đến
vấn đề này liền dấy động đến vấn đề khác. Phật cho tâm lý con người như
một con ngựa không cương, như vượn khỉ chuyền cây. Khi tọa thiền, hành giả
khởi đầu loại trừ các triền cái, nhiếp tâm vào một vấn đề nào đó, càng
nhất tâm nhiếp niệm thì định lực càng cao, đi từ bâc sơ thiền đến tứ
thiền. Lúc cạo tóc cho Phật, Tôn giả đã chú tâm vào động tác nghề nghiệp,
quên hết những vấn đề khác, tâm chuyển từ trạng thái sơ thiền đến tứ
thiền. Noi gương Tôn giả, dùng giới chế ngự hết các phóng dật, chúng ta sẽ
trở nên con người tốt có phẩm hạnh cao, có tư cách để từ đó không làm gì
hại đến gia đình, đoàn thể, quốc gia, xã hội. Chỉ trong phạm vi giữ giới
như thế chúng ta đã là người có ích cho đời rồi, còn nói gì khi chúng ta
bước vào guồng máy của hoạt động tích cực của xã hội. Sự cường thịnh của
quốc gia và xã hội căn bản là con người hoạt động với tinh thần đạo đức,
cần kiệm liêm chính. mạng mạch của chính pháp được nuôi dưỡng từ các tăng
sĩ có giới hạnh.
- Hết -
--- o0o ---
Mục Lục
| 01
| 02
| 03
| 04
| 05
| 06
| 07|
08|
09|
10
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Tủ sách Phật Học
|
--- o0o ---
Vi tính: Nguyên Khai
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-01-2003