Thập Ðại Ðệ Tử Phật
Thích Minh Tuệ
Sàigòn 1991-Pl 2535
---o0o---
06
TÔN GIẢ A
NA LUẬT
ANIRUDHA THIÊN NHÃN ÐỆ NHẤT
Sau khi
thành đạo Ðức Phật xuống núi, đi giáo hóa khắp nơi, Ðức Phật cũng không
quên trở về thành Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp cho hàng vương tôn công tử, và
đã khuyến hóa được nhiều thân thuộc xuất gia. Trong số 7 vương tử đi xuất
gia có A Na Luật là bậc Thiên Nhãn Ðệ Nhất.
Dòng Họ A Na Luật.
A Na Luật
(Anirudha), là em ruột của Ma Ha Nam (Ma Ha Bạt Ðề), con thứ của Cam Lộ
Phạn Vương dòng Sát Ðế Lợi. Ma Ha Nam đã được Phật Thích Ca đưa lên ngôi
vua nước Ca Tỳ La Vệ, sau ngày vua Tịnh Phạn băng hà. Cam Lộ Vương là em
thứ hai của Tịnh Phạn Vương, do đó A Na Luật là đường đệ của Phật Thích
Ca. Lúc tuổi thơ, A Na Luật là một cậu bé được nhiều người thương mến.
Ngài rất thông minh, hoạt bát, có tài âm nhạc hay ca hát, làm điệu bộ
trước đám đông khiến ai cũng yêu quý. A Na Luật dược nuông chiều nuôi
dưỡng trong hoàng cung, và bạn cùng chơi với Bạt Ðề và Kiếp Tân Na một
cách ngây thơ, hồn nhiên. Khi đến tuổi trưởng thành A Na Luật có vóc dáng
anh dũng, diện mạo khôi ngô tuấn tú, nên được nhiều thiếu nữ mơ tưởng đeo
đuổi, nhưng với bản tính đoan chính, A Na Luật chẳng hề bị sắc dục làm xao
động. Lúc Ðức Phật về Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp, thấm nhuần mưa pháp xem nhẹ
lạc thú trần gian, A Na Luật cùng với anh là Ma Ha Bạt Ðề và A Nan, Ðề Bà,
Kiếp Tân Na, Bà Sa Nam Ðề và La Hầu La quyết tâm theo Phật xuất gia học
đạo. Cả 7 vương tử kéo theo Ưu Ba Ly, một thợ cạo râu tóc thuộc giai cấp
Thủ Ðà La đi theo. Ðược Phật chấp nhận, Ưu Ba Ly cạo bỏ râu tóc cho 7
vương tử. Khi về đến Tinh Xá, để thử xem các vương tử đã thật sự loại được
tâm đắm say lạc thú hay chưa, Ðức Phật bảo cả 7 vị vào tịnh thất tĩnh tọa
1 tuần lễ rồi mới cho nhập giáo đoàn.
Ðạo Nghiệp của A Na Luật
Cự tuyệt thiếu nữ cầu hôn
Sau khi xuất
gia và đã thông hiểu đạo lý giải thoát, A Na Luật được Phật phân công du
hóa phương xa. Một hôm trên đường đến núi Kiều Tát La thuyết pháp, giữa
đường gặp trời mưa, đêm tối, nhưng không có một cảnh già lam nào dành cho
các Tỳ kheo tạm trú, A Na Luật đành đến nhà thường dân gõ cửa xin tạm tá
túc một đêm. Ra mở cửa, thấy A Na Luật có hình tướng khôi ngô tuấn tú, trẻ
đẹp, thiếu nữ rất vui mừng niềm nở mời vào. Trong nhà không có ai cả chỉ
một mình thiếu nữ giữ nhà. Tấn thối lưỡng nan, cửa ngoài đã đóng kỹ, thế
chẳng đặng đừng A Na Luật đành ở lại. Nhưng để giữ phẩm hạnh A Na Luật
không nằm nghỉ mà ngồi kiết già nhất tâm tĩnh tọa. Ðến nửa đêm, dưới ánh
sáng mông lung của ngọn đèn, thiếu nữ đến gạ gẫm chuyện với lời lẽ cợt
nhã. A Na Luật một mực nín lặng không dám hé môi, mở mắt. Thiếu nữ kể lễ
có nhiều trưởng giả đến cầu hôn nhưng nàng từ chối. Theo thiếu nữ, chuyện
duyên nợ ba sinh nay mới đến thời điểm, nàng hết lời ca ngợi A Na Luật,
nào là diện mạo khôi ngô tuấn tú, nào là da dẻ hồng hào, thân hình cân
đối... So với nàng thật là xứng đôi vừa lứa mong được kết tóc xe tơ. Thiếu
nữ yêu cầu A Na Luật ở luôn tại nhà này, cha mẹ nàng sẽ mừng rỡ vô cùng,
thiếu nữ càng van xin khẩn khoản, A Na Luật càng nhắm kỹ đôi mắt, cố giữ
tâm bất động. Thấy A Na Luật một mực kiên trì không lay động, thiếu nữ
choàng tay qua thân Ngài. Thấy tình thế nguy ngập đến nơi A Na Luật mở mắt
nhìn thẳng vào thiếu nữ và nói lời phản đối dữ dội. Thiếu nữ vô cùng thẹn
thùng, xấu hổ và thất vọng, nằm vật xuống đất khóc than, gần như một người
mắc bệnh tâm thần. Biết thiếu nữ có thể đã rối loạn thần kinh, A Na Luật
đổi giọng ngọt ngào khuyên bảo và giảng giải cho thiếu nữ biết tham ái là
gốc của sanh tử, người tu hành cần đem lưỡi gươm trí tuệ chặt đứt ái dục,
thoát khỏi vòng luẩn quẩn sinh tử luân hồi. Nghe Ngài giảng giải thiếu nữ
từ từ tỉnh ngộ, và vô cùng cảm mến đạo hạnh của Ngài. Trước khi trời sáng
A Na Luật sửa soạn hành trình, thiếu nữ quỳ lạy sám hối và xin được quy y
làm đệ tử.
Chứng Thiên Nhãn
Nhờ nghiêm
trì phạm hạnh không bị nữ sắc cám dỗ, A Na Luật rất được mọi giới kính
ngưỡng, nhưng A Na Luật chưa loại trừ được ma mê ngủ. Mỗi khi vào giảng
đường nghe Phật thuyết pháp dù đã hết sức cố gắng, A Na Luật vẫn thường
ngủ gục. Vài ba lần A Na Luật đã bị Phật quở trách. Một hôm Phật gọi A Na
Luật đến bảo rằng:
·
Này A Na Luật! Ông xuất gia học đạo
vì sợ phép nước hay sợ trộm cướp.
·
Bạch Thế Tôn! Không phải như vậy.
·
Thế vì lý do gì mà ông xuất gia?
·
Bạch Thế Tôn vì con chán cảnh sinh,
lão, bệnh, tử và muốn giác ngộ, giải thoát hết các khổ não.
·
Này A Na Luật! Ông là con người
đoan chính, phạm hạnh không sa ngã bở nữ sắc, cho nên được giáo đoàn kính
trọng. Tính háo sắc, người đời khó trừ được còn ông là người không mù
quáng, thế tại sao tính ham ngủ ông lại không dẹp bỏ được? Trong lúc nghe
pháp mà ngủ thì bao giờ mới chứng đạo giải thoát?
Nghe Phật
quở, A Na Luật quỳ lạy sám hối và phát lời thề rằng:
·
Bạch Thế Tôn con xin sám hối tội
hay ngủ gục trong lúc nghe phá, cúi xin Ðức Thế Tôn lượng thứ. Từ nay về
sau con sẵn sàng chịu mọi cực hình miễn sao diệt trừ được tật xấu ngủ gục.
Từ đó Tôn
giả quyết tâm không ngủ. Lúc nào cũng mở to đôi mắt nhìn vào khoảng không,
từ đầu hôm đến sáng, từ sáng đến chiều không chớp mắt. Sức người có hạn,
sau những giờ làm việc mệt nhọc, con người cần có giấc ngủ để lấy lại sức
lực. Sự vận hành của thiên nhiên giữ cho con người đuợc thăng bằng. Mặt
trời xuất hiện soi sáng mọi vật, giúp con người hoạt động. Mặt trời đi ngủ
khiến không khí mát mẻ, bóng đêm tràn ngập, giúp con người ngủ nghĩ để tâm
hồn bình thản, trái với thiên nhiên, con người mất hết sức lực. Mất ngủ là
một bệnh, cơ thể dã dượi, hai mắt sưng húp. A Na Luật đã cải thiên nhiên,
ngồi chong mắt hết ngày nọ đến ngày kia, khiến hai mắt sưng vù.
Từ trên pháp
tòa, nhìn thấy A Na Luật đã sưng vù hai mắt, Phật rất lo lắng gọi đến và
dạy rằng:
·
Này A Na Luật! Người tu hành hãy
tránh hai thái cực: Bất cập hoặc thái quá đều chẳng đạt đạo. Dây đàn căng
quá hoặc chùng quá khiến đàn không kêu, dây đàn vừa phải, tiếng đàn mới
thánh thót. Sự tu hành phải đi theo con đường trung đạo. Ông không nên
hành đạo theo con đường thề độc của ông, nguy hiểm lắm đạo chưa đạt mà mắt
đã mù, sẽ chịu thiệt hại nhiều thứ.
·
Bạch Thế Tôn! Con không thể trái
nguyện, xin Thế Tôn cho con được giữ tròn.
·
Này A Na Luật! Sống trong đời con
mắt rất cần yếu, mắt bị mù sẽ không thấy biết gì hết. Con người sống được
nhờ ăn, có ngủ nghĩ con mắt mới tinh sáng. Giấc ngủ là thức ăn của con
mắt, ông không ngủ tức là bắt mắt nhịn đói, đói ngủ nó sẽ mù sức khỏe của
ông cũng sẽ kiệt, sức kiệt thì làm thế nào tiến đến Niết Bàn, ông nên biết
Niết Bàn cũng cần thức ăn.
·
Bạch Thế Tôn! Thế thức ăn của Niết
Bàn là gì?
·
Thức ăn của Niết Bàn là không buông
lung (bất phóng dật), người không buông lung mới đạt Niết Bàn.
Mặc dù Phật
từ mẫn khuyên bảo, Tôn giả vẫn không nghe cứ tiếp tục cố mở mắt, một thời
gian ngắn, đôi mắt bị mù. Một hôm Tôn giả mặc một tấm áo, biết có chỗ rách
bèn ngồi vá áo, nhưng không biết mượn ai xâu chỉ vào kim, Phật đến trước A
Na Luật và nói:
·
Ðể ta xâu giúp cho.
Tình thương
của Phật thật bao la, A Na Luật rất cảm động. Xâu chỉ xong, Phật trao kim
lại nhưng A Na Luật cũng chẳng thấy để may, tay cứ mân mê cái áo. Thấy thế
Ðức Phật lại bảo:
·
Ðể ta giúp cho.
Suốt ngày
Phật nắm tay A Na Luật hướng dẫn để mũi kim lên xuống đều đặn, mãi đến
chiều ba y đã vá xong. Ðể giúp cho A Na Luật không cần mắt thịt vẫn thấy
xuyên suốt ba ngàn thế giới, Phật dạy A Na Luật phương pháp nhập định,
luyện phép thiên nhiên. Bản chất vốn hay cương quyết, lại tuyệt đối tin
Phật, A Na Luật chứng được Thiên Nhãn Thông. Ðược giáo đoàn suy tôn là bậc
Thiên Nhãn Ðệ Nhất trong hàng Thánh chúng.
Tám Ðiều Giác Ngộ Của Bậc Ðại
Nhân
Sau khi
chứng Thiên nhãn thông Tôn giả đến trước Phật tỏ lòng biết ơn rồi thưa
rằng:
·
Bạch Thế Tôn! Bước đầu của người
xuất gia là loại trừ tham sân, ngã mạn, tật đố, để bản thân có phẩm hạnh
vô ngã, vị tha, và đem lại cho mọi người được nhiều phước lạc. Nhưng để
tiến xa hơn đến chân trời giác ngộ, giải thoát và niết bàn, người xuất gia
còn phải thực hành những gì xin Thế Tôn chỉ giáo.
·
Ðức Phật hoan hỷ dạy rằng:
·
Hay thay! Hay thay! Người xuất gia
cần phải hạ hóa thượng cầu. Ngoài việc làm lợi ích cho con người, cho xã
hội, để giải thoát hàng Tỳ kheo cần phải thực hành "Tám điều giác ngộ của
bậc đại nhân". Ðó là:
·
Thứ nhất: Giác ngộ thế gian vô
thường, đất nước nguy khốn, bốn đại khổ không, năm ấm không ngã, thảy đều
sinh diệt, hư dối không thật, tâm là gốc tội, thân thể biến hoại. Quán sát
như vậy dần lìa sinh tử.
·
Thứ hai: Giác ngộ tham dục gốc khổ
dẫn vào sanh tử, thiểu dục vô vi thân tâm tự tại.
·
Thứ ba: Giác ngộ lòng tham không
đáy, càng có càng cầu, càng thêm tội ác. Bồ tát ngược lại, ít muốn biết
đủ, vui đạo quên nghèo, bồi đắp trí tuệ.
·
Thứ tư: Giác ngộ, lười biếng trụy
lạc điều đáng tủi hổ, luôn luôn tinh tấn phá trừ phiền não, hàng phục tứ
ma chống khỏi địa ngục giam hãm.
·
Thứ năm: Giác ngộ, ngu si là đầu
mối của sanh tử, Bồ tát chăm lo học rộng nghe nhiều, tăng trưởng trí huệ
sớm đuợc biện tài, giáo hóa chúng sinh là niềm vui lớn.
·
Thứ sáu:Giác ngộ, nghèo khổ sinh
hận tạo thêm duyên dữ, Bồ tát không oán không ghét người ác, oán thân bình
đẳng.
·
Thứ bảy: Giác ngộ, dục là nguồn
họa, còn ở thế gian, tâm không đắm dục, tâm chí hướng về chí hạnh xuất gia
giữ hạnh thanh bạch, cầu hạnh thanh tịnh thương khắp mọi loài.
·
Thứ tám: Giác ngộ, lửa sinh lửa tử,
ngày đêm thiêu đốt, biển khổ không bờ, phát tâm độ sinh, thay hết chúng
sinh, chịu vô lượng khổ khiến đều an vui.
Này A Na
Luật! Chư Phật thường khai thị tám điều trên đây. Muốn được giác ngộ cần
vận dụng tâm từ bi rộng lớn làm nền tảng cho vấn đề tu phướcvà huệ. Người
đuợc như thế tất sẽ thành đạt cứu cánh Niết Bàn, thường lạc ngã tịnh.
Nhận Thức và Kết Luận
Trong nhân
loại, giữa nam và nữ, nam mang tính lý trí và năng động, còn nữ thiên về
tình cảm nên nặng tính thụ động và đặc biệt là tôn giáo tính. Bởi thế
trong các cuộc lễ tôn giáo phái nữ chiếm nhiều hơn, ngưòi đi tu cũng chiếm
đa số. Còn nếu xét về giai cấp thì từ xưa đến nay chỉ có Phật Thích Ca là
vị xuất thân từ dòng dõi vua chúa, trong số đệ tử của Phật đa phần là giai
cấp thấp hoặc từ đạo sĩ Bà La Môn chuyển hướng. Còn giai cấp Sát Ðế Lợi
ngoài Ðức Phật chỉ có 8 vương tôn công tử,trong đó có A Na Luật người dám
bỏ lạc thú trần gian để theo Phật xuất gia. Việt Nam có vua Trần Nhân
Tông. A Na Luật là con người đoan chính lại rất ý chí, nên đã không bị nữ
sắc lung lạc, lại giữ ý chí đến như cực đoan, trong vấn đề ma ngủ đến mù
cả hai mắt. Lại cũng nhờ quyết chí A Na Luật đã chứng thánh, đạt được
thiên nhãn thông. Ðược thế nhưng không dừng lại ở đó, Tôn giả lại thỉnh
vấn Phật phương pháp giác ngộ và giải thoát cao hơn. Do đó Ðức Phật đã vì
A Na Luật mà nói kinh Tám Ðiều Giác Ngộ của Bậc Ðại Nhân. Với kinh
nàykhông chỉ là phương pháp giúp sự tu hành cho A Na Luật xưa kia mà ngày
nay chúng ta cũng cần học để tiến tu. Sinh vào thời điểm mạt pháp, đạo
nghiệp chúng ta rất yếu, trong lòng còn nhiềư tham ái, tật đố, ngu si,
lười biếng, ích kỷ... Chúng ta nên noi gương Tôn giả A Na Luật, tâm niệm
tư tưởng 8 điều giác ngộ, giữ tâm đoan chính, lập chí vững chắc để đừng bị
tình đời lôi cuốn, hầu nâng cao phẩm hạnh đạo đức giúp ích cho đạo, lợi
lạc cho đời và làm tư lương cho con đường tiến lên chân trời giác ngộ và
giải thoát.
--- o0o ---
Mục Lục
| 01
| 02
| 03
| 04
| 05
| 06
| 07|
08|
09|
10
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Tủ sách Phật Học
|
--- o0o ---
Vi tính: Nguyên Khai
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-01-2003