Một cuộc đời, một ngôi sao
(Truyện Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Ðức Triều Tâm Ảnh
Huế 1996
---o0o---
[10]
Với
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
Cái
tin
vua
A-Xà-Thế
(Ajàtasattu)
bị
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
xúi
giục,
âm
mưu
sát
hại
vua
cha
là
Bình
Sa
Vương
để
chiếm
ngôi
làm
mọi
người
bàng
hoàng,
chua
xót.
Công
việc
bại
lộ,
A-Xà-Thế
bị
bắt
quả
tang,
và
người
cha
đầy
lòng
nhân
ái,
bi
mẫn
ấy
vốn
là
một
Thánh
đệ
tử
không
đành
lòng
xử
phạt
con
trai
mà
lại
còn
nhường
ngôi,
vì
biết
hoàng
tử
thèm
muốn
làm
vua.
Thế
nhưng,
để
trả
ơn,
người
con
bèn
hạ
ngục,
bỏ
đói
cha
và
vua
Bình
Sa
đã
chết
một
cách
thê
thảm.
Cả
Vương-Xá
thành
đều
đau
về
nỗi
đau
này.
Và
Giáo
Hội
của
Ðức
Tôn
Sư
từ
đây
lại
phát
sanh
lên
một
mụt
nhọt,
do
bởi
một
con
người
bị
lợi
danh
mù
quáng,
biến
đổi
nhân
tâm,
tham
vọng
ngông
cuồng:
đấy
là
Ðề-Bà-Ðạt-Ða!
Ðược
vua
A-Xà-Thế
hậu
thuẫn,
xây
cất
cho
một
tu
viện
nguy
nga
đồ
sộ,
lại
hằng
ngày
cung
cấp
tứ
sự
dư
dã,
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
khởi
tâm
muốn
lãnh
đạo
Giáo
Hội.
Quy
tụ
xung
quanh
ông
là
mấy
trăm
tỳ-khưu
ham
muốn
lợi
dưỡng,
khỏi
phải
đi
khất
thực,
nhàn
hạ
thảnh
thơi,
nên
lôi
cuốn
môn
đồ
ngày
càng
đông!
Số
tỳ-khưu
này
suốt
ngày
nịnh
bợ,
tâng
bốc
ông.
Quần
chúng
không
phân
định
được
trắng
đen
nên
họ
hết
lòng
sùng
bái.
Vậy
là
danh
tiếng
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
có
lúc
lại
vượt
trội
hơn
cả
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất.
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
thấy
cơ
hội
đã
đến,
hôm
kia,
ông
cùng
với
đông
đảo
tùy
tùng
môn
đệ,
đến
hầu
Ðức
Thế
Tôn,
cất
giọng
có
vẻ
cao
ngạo:
-
Bạch
Ðức
Ðạo
Sư!
Lúc
này
Ðức
Ðạo
Sư
niên
trưởng
đã
cao,
sức
đã
yếu,
đệ
tử
thấy
Ðức
Ðạo
Sư
nên
nghỉ
ngơi,
tịnh
dưỡng
là
phải
lẽ.
Còn
công
việc
của
Giáo
Hội,
Ðức
Ðạo
Sư
hãy
để
con
làm
chưởng
quản,
chăm
sóc
và
lãnh
đạo
Chư
Tăng.
Ðức
Phật
đã
thẳng
thừng
từ
chối:
-
Này
Ðề-Bà-Ðạt-Ða!
Ông
là
gì
mà
đòi
chưởng
quản
Giáo
Hội?
Ông
tưởng
rằng
Giáo
Hội
Thánh
hạnh
này
để
cho
một
kẻ
liệt
tuệ,
thiếu
tư
cách,
thiếu
phẩm
chất
như
ông
lãnh
đạo
hay
sao?
Ngay
chính
Xá-Lợi-Phất
và
Mục-Kiền-Liên,
Như
Lai
thường
coi
như
ngang
hàng
với
Như
Lai
thế
mà
Như
Lai
vẫn
chưa
giao
phó
Giáo
Hội
cho
hai
ông
ấy.
Ông
hãy
đi
đi!
Từ
rày
trong
Giáo
Pháp
này
không
có
chỗ
cho
ông
-
một
kẻ
cuồng
vọng!
Xin
làm
lãnh
đạo
không
được,
lại
bị
bẽ
mặt,
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
tức
giận,
nguyện
trả
thù.
Khi
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
đi
rồi,
Ðức
Thế
Tôn
cho
gọi
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất:
-
Ông,
Mục-Kiền-Liên
cùng
với
đệ
tử,
hãy
đi
khắp
thành
Vương-Xá
công
bố
về
tất
cả
những
hành
động
xấu
xa
của
Ðề-Bà-Ðạt-Ða.
Và
xác
định
cho
mọi
người
hay
rằng,
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
đã
ở
ngoài
Giáo
Hội;
việc
làm
của
ông
ta
sau
này
là
trách
nhiệm
của
chính
ông
ta,
chứ
không
còn
liên
hệ
gì
đến
Tam
Bảo!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ngại
ngần:
-
Trước
đây,
cũng
tại
Vương-Xá
thành
này,
đệ
tử
đã
từng
đi
công
bố
cho
mọi
người
hay
về
phẩm
hạnh
trang
nghiêm,
trong
sạch
của
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
rồi.
Lẽ
nào,
hôm
nay
đệ
tử
lại
tuyên
bố
ngược
lại?
-
Trước
đây,
ông
công
bố
như
thế
có
đúng
sự
thật
không?
-
Thưa,
đúng
sự
thật.
-
Vậy
bây
giờ
ông
đi
công
bố
những
điều
Như
Lai
vừa
nói,
có
đúng
sự
thật
không?
-
Thưa,
đúng
sự
thật.
Ðức
Thế
Tôn
liền
phán:
-
Vậy
thì
các
ông
hãy
đi!
Ðệ
tử
của
Như
Lai
bao
giờ
cũng
nói
đúng
sự
thật
cả!
Khi
nghe
tin
Ðức
Phật
cho
Xá-Lợi-Phất,
Mục-Kiền-Liên
đi
công
bố
trong
thành
Vương-Xá
về
những
việc
làm
xấu
quấy
của
mình,
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
tức
giận
điên
cuồng.
Lập
tức,
ông
ta
bỏ
vàng
bạc
ra
mua
một
số
tay
cung
thiện
xạ,
rình
để
ám
sát
Ðức
Phật.
Chuyện
bất
thành,
những
tên
cung
thủ
kia
đến
sám
tội
với
Ðức
Phật
rồi
xin
quy
y
Tam
Bảo.
Lần
thứ
hai,
khi
Ðức
Thế
Tôn
đi
trên
sườn
núi
Gijjakùta,
chính
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
lên
đỉnh
cao
xô
một
tảng
đá
to
lăn
xuống
để
giết
Ngài.
Chuyện
cũng
không
thành,
các
tảng
đá
va
đập
vào
nhau,
chỉ
có
một
mảnh
nhỏ
gây
thương
tích
nhẹ
cho
Ðức
Phật
và
có
máu
chảy.
Lần
thứ
ba,
ông
ta
cho
voi
Nàlàgiri
uống
rượu
mạnh
đến
say,
rồi
thả
ra
ngay
chỗ
Ðức
Phật
đang
đi.
Voi
hung
tợn,
điên
cuồng
lao
đến
Ðức
Phật.
Tôn
giả
Ànanda
định
hy
sinh
tính
mạng
nên
lật
đật
đứng
chận
trước.
Nhưng
Ðức
Thế
Tôn
đã
cảm
hóa
voi
say
bằng
tâm
từ
của
Ngài.
Những
hành
động
tệ
hại
kia
làm
ông
dần
dần
mất
hết
uy
tín
và
dư
luận
cực
kỳ
chống
đối
lại
ông.
Chính
vua
A-Xà-Thế
cũng
chán
nản
ông,
bỏ
rơi
ông,
không
nâng
đỡ
ông
nữa.
Mọi
ân
huệ
của
vua
thế
là
mất
hết.
Khi
lòng
sân
độc
muốn
hại
Phật
và
lòng
tham
vọng
đẩy
ông
đến
chỗ
xấu
xa
như
thế
thì
mọi
khả
năng
thần
thông
phép
lạ
của
ông
cũng
tiêu
tan
luôn!
Thế
nhưng
ông
chưa
chịu
ngừng
lại.
Với
trí
thông
minh
sẵn
có,
ông
quay
qua
chiêu
bài
khác.
Ông
giả
vờ
đến
sám
hối
Ðức
Phật
và
xin
Ðức
Phật
ban
hành
thêm
năm
điều
cho
hàng
xuất
gia:
-
Thầy
tỳ-khưu
phải
sống
trọn
đời
trong
rừng
-
Thầy
tỳ-khưu
phải
trọn
đời
khất
thực.
-
Thầy
tỳ-khưu
phải
mặc
y
bằng
vải
lượm
nơi
nghĩa
địa
(vải
bó
xác
tử
thi).
-
Thầy
tỳ-khưu
trọn
đời
phải
sống
chỗ
không
có
mái
che.
-
Thầy
tỳ-khưu
trọn
đời
phải
ăn
ngũ
cốc,
rau
trái,
không
được
dùng
các
loại
thịt!
Ðức
Phật
thấy
rõ
dã
tâm
của
ông,
nhưng
Ngài
chỉ
nói
lên
điều
đáng
nói:
-
Hôm
nay
mà
ông
còn
đến
đây
để
giả
vờ
xin
những
điều
như
vậy.
Ông
biết
Như
Lai
sẽ
từ
chối,
và
rồi
ông
sẽ
đi
rêu
rao
đây
đó
rằng,
những
điều
ông
xin
là
cao
thượng
hơn.
Thế
là
một
số
tỳ-khưu
nhẹ
dạ,
quần
chúng
nhẹ
dạ
lại
bị
ông
mê
hoặc
nữa.
Còn
đệ
tử
của
Như
Lai
thì
năm
điều
kia
có
người
thực
hành
là
tốt
mà
không
thực
hành
năm
điều
ấy
cũng
được.
Ông
nên
nhớ
rằng
với
ăn,
mặc,
ngủ...
bao
giờ
Như
Lai
cũng
hằng
khuyên
là:
"thiểu
dục
tri
túc".
án,
mặc,
ngủ
một
cách
thiểu
dục
tri
túc
và
phải
tu
tập
một
Giáo
Pháp
như
thế
nào
con
người
mới
trở
nên
cao
thượng!
Chiêu
bài
của
ông
chỉ
có
thể
lừa
dối
được
người
ngu,
không
bao
giờ
qua
mắt
được
kẻ
có
trí
đâu!
Thôi,
ông
hãy
đi
đi.
Hôm
nay
Như
Lai
đã
nói
quá
nhiều.
Quả
địa
ngục
đang
chờ
đón
ông
đấy.
Hãy
ghi
nhớ
lời
ấy,
và
chỉ
cần
ghi
nhớ
một
lời
ấy
mà
thôi!
Ðức
Phật
đã
cảnh
tỉnh
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
như
vậy.
Nhưng
có
chừng
năm
trăm
tỳ-khưu
bị
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
dụ
dỗ
bởi
chiêu
bài
cao
thượng
đã
theo
chân
ông
ta
đến
núi
Xú
điểu
(kên
kên
ăn
thịt)
để
hình
thành
một
giáo
đoàn
riêng.
Sự
chia
rẽ
Tăng
già
đã
đến
hồi
trầm
trọng.
Tuy
nhiên,
Ðức
Thế
Tôn
lại
bảo
Xá-Lợi-Phất:
-
Bây
giờ
là
đến
phiên
ông
và
Mục-Kiền-Liên.
Cả
hai
ông
hãy
đi
mau,
theo
chân
Ðề-Bà-Ðạt-Ða,
đến
núi
kên
kên,
thuyết
pháp
cho
năm
trăm
tỳ-khưu
nhẹ
dạ.
Như
Lai
biết
rằng,
khi
trở
về,
năm
trăm
tỳ-khưu
kia
sẽ
tháp
tùng
theo
hai
ông.
Và
từ
đây
cho
đến
cuối
đời,
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
không
còn
làm
gì
được
nữa.
Ông
ấy
sẽ
chết
trong
cô
quạnh,
đầy
ăn
năn,
hối
hận,
sầu
muộn.
Tuy
nhiên,
khi
nhắm
mắt,
ông
ta
rất
thành
thật,
muốn
yết
kiến
Như
Lai
và
sám
hối
với
Như
Lai.
"Con
xin
thành
kính
quy
y
Ðức
Phật"
là
câu
nói
cuối
cùng
của
ông
ta!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
khởi
tâm
từ
ái:
-
Bạch
Ðức
Thế
Tôn!
Sau
này
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
có
khá
hơn
được
không?
-
Ông
ấy
bị
đất
rút,
chịu
quả
báu
ở
địa
ngục
rất
lâu,
nhưng
nhờ
một
thời
gian
tu
hành
trong
sạch,
nghiêm
túc,
ông
ấy
sẽ
trở
thành
một
vị
Phật
Ðộc
Giác
tên
là
Atthissara!
-
Thật
kỳ
diệu
thay,
bạch
Ðức
Thế
Tôn!
Và
còn
kỳ
diệu
hơn
nữa,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
và
Mục-Kiền-Liên
đến
núi
Xú
điểu
khi
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
đang
nghỉ
ngơi,
hai
vị
đã
thuyết
pháp
đến
cho
năm
trăm
thầy
tỳ-khưu,
sau
thời
Pháp,
cả
năm
trăm
thầy
tỳ-khưu
đều
đắc
quả
Tu-Ðà-Huờn!
Và
họ
đồng
theo
chân
hai
vị
Trưởng
lão
về
Trúc
Lâm
tịnh
xá
yết
kiến
Ðức
Thế
Tôn.
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
biết
ra
thì
đã
muộn,
nhìn
khung
cảnh
quạnh
quẽ
xung
quanh,
ông
ta
gục
xuống,
thổ
ra
một
bụng
máu
tươi!
Không
ai
phản
ông
cả
mà
bởi
chính
tâm
cuồng
vọng
của
ông
đã
đẩy
ông
đến
tuyệt
lộ!
Họ
lần
lượt
ra
đi
Hôm
ấy,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Càng
sống
ta
càng
hiểu
tất
cả
là
do
nhân
duyên
có
sẵn
từ
trước.
Quả
thật,
đôi
khi
không
thể
miễn
cưỡng
nếu
không
đủ
nhân
duyên.
Như
trường
hợp
tỳ-khưu
Kolàlika
đã
một
thời
vu
cáo,
mạt
sát
ta
với
Mục-Kiền-Liên
là
"những
kẻ
sống
theo
dục
vọng
thấp
hèn".
Chính
Ðức
Phật
giáo
giới
cũng
không
được
huống
hồ
gì
ta?
Sau
này,
Kolàlika
kết
bè
với
Ðề-Bà-Ðạt-Ða
để
quậy
phá
Giáo
Hội,
một
lần
nữa
Ðức
Phật
giáo
giới
cũng
không
xong.
Như
vậy,
rõ
ràng
có
những
kẻ
không
bao
giờ
cảm
hóa
được!
Tuy
nhiên,
bây
giờ
tỳ-khưu
Kolàlika
đang
bệnh
nặng,
ta
cần
phải
đến
thăm
viếng
y."
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
đến
tìm
gặp
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đưa
tin:
-
Hiền
huynh!
Tôn
giả
Kiều
Trần
Như
đã
xin
phép
Ðức
Thế
Tôn,
nhập
diệt
rồi!
-
Thế
ư?
Tôn
giả
ấy
nhập
diệt
ở
đâu?
-
Thưa,
ở
hồ
Chaddanta
trên
Hy
mã
lạp
sơn.
Cả
hai
ngồi
đăm
chiêu.
-
Rồi
đến
lúc
chúng
ta
cũng
an
nghỉ
thôi.
Nhưng
bây
giờ
chúng
ta
hãy
đi
thăm
tỳ-khưu
Kolàlika.
-
Thưa
vâng,
chúng
ta
nên
như
thế
lắm.
Ông
ấy
đi
đâu
cũng
bị
Chư
Tăng
và
cận
sự
nam
nữ
xua
đuổi,
hiện
giờ
đang
ở
trong
một
cái
chòi
hoang
sát
bìa
rừng,
ngoại
ô
thành
phố,
về
hướng
Tây.
Thế
rồi,
cả
hai
vị
đã
tìm
thấy.
Tỳ-khưu
Kolàlika
đang
nằm
trên
một
chõng
tre,
tấm
chăn
rách
nát,
mụt
nhọt
lở
loét
hôi
hám.
Có
một
sa-di
đi
ngang
thương
tình
ở
lại
chăm
sóc
chút
cháo,
chút
hồ.
Cả
hai
Tôn
giả
đi
hái
lá
thơm,
kiếm
nồi
nấu
nước
sôi,
pha
nguội,
giặt
khăn
rửa
ráy
cho
bệnh
nhân.
Ðôi
mắt
tỳ-khưu
Kolàlika
ứa
ra
hai
giọt
lệ,
định
nói
gì
nhưng
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
xua
tay:
-
Hiền
giả
không
cần
phải
nói
gì
cả.
Cũng
không
cần
thiết
mở
lời
cám
ơn.
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
đến
bên,
vỗ
về:
-
Tôi
biết
rõ
hiền
giả
muốn
sám
hối
những
lỗi
lầm
trước
đây
của
hiền
giả
với
Ðức
Thế
Tôn,
với
cả
hai
chúng
tôi.
Ðiều
ấy
là
tốt,
nhưng
cứ
sám
hối
trong
tâm
thôi.
Chúng
tôi
đã
tha
thứ
lỗi
lầm
ấy
cho
hiền
giả
rồi!
Tỳ-khưu
Kolàlika
quá
yếu,
thoi
thóp
thở,
lát
sau,
vật
vả,
đau
đớn
rồi
từ
trần,
hai
con
mắt
lòi
ra
không
nhắm
lại
được!
Chú
sa-di
vô
danh
thở
dài:
-
Ai
cũng
mạt
sát,
phỉ
nhổ
vị
tỳ-khưu
này
cả,
nhưng
thấy
ông
ta
bị
trả
quả
hiện
tiền
thật
là
kinh
khủng,
cũng
tội!
Buổi
chiều,
dân
làng
hay
tin,
họ
chất
củi
đầy
cả
chòi
hoang
rồi
thiêu
xác,
họ
bảo
với
nhau
là
ông
Sa
môn
ấy
bị
quỷ
ma
bắt!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói
như
nói
một
mình:
-
Ông
ta
còn
biết
sám
hối
đấy,
nhưng
quả
thật
là
đã
quá
muộn
màng!
Ngày
hôm
sau,
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
bận
việc
đi
giáo
giới
một
người
đệ
tử
ở
rừng
sâu
đang
gặp
chướng
ngại
trong
thiền
định,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lại
phải
rủ
Tôn
giả
Mahà-Cunda
đi
thăm
Trưởng
lão
Sa-Nặc
(Channa)
cũng
đang
trầm
trọng
trên
giường
bệnh.
Tôn
giả
tự
nghĩ:
"-
Vị
tỳ-khưu
này
đã
từng
kết
oan
trái
với
ta,
nhưng
dẫu
sao
cũng
có
duyên
lành
hơn
tỳ-khưu
Kolàlika!"
Trưởng
lão
Sa-Nặc
đang
bị
cơn
bệnh
dày
vò,
quằn
quại.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
quan
tâm
nhắc
nhở:
-
Hãy
để
tâm
rỗng
không,
hiền
giả!
Tâm
rỗng
không
nếu
được
an
trú
thuần
thục
sẽ
chống
đỡ
được
tất
cả
mọi
đau
đớn!
Trưởng
lão
Sa-Nặc
phập
phều:
-
Tôi
hiểu,
tôi
hiểu,
cảm
ơn
Tôn
giả!
Tôn
giả
có
tha
thứ
cho
những
lỗi
lầm
của
tôi
không?
-
Nhất
định
như
vậy
rồi!
Tôi
đã
tha
thứ
lỗi
lầm
cho
hiền
giả
cách
đây
mấy
chục
năm
kia
đấy!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lại
ân
cần
nói:
-
Chúng
tôi
sẽ
tìm
thuốc
men
và
chút
cháo
phù
hợp
cho
hiền
giả
dùng.
Ráng
thiền
quán
xem
"cảm
thọ
chỉ
là
cảm
thọ
thôi!"
-
Thưa
vâng!
Thế
rồi,
Tôn
giả
Mahà-Cunda
đến
nhà
đại
thí
chủ
Visàkhà
kiếm
thuốc,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đến
nhà
trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc
tìm
cháo.
Khi
hai
vị
ra
đi
không
bao
lâu;
Trưởng
lão
Sa-Nặc
phát
triển
thiền
quán,
thấy
rõ
Vô
Sanh;
sau
đó,
Trưởng
lão
đi
sâu
vào
định,
chấm
dứt
hơi
thở
và
chấm
dứt
luôn
thọ
mạng.
Khi
hai
vị
trở
về
thì
Ðức
Thế
Tôn
đã
có
mặt
bên
cạnh,
Ngài
nói
với
tất
cả
chúng
tỳ-khưu
vây
quanh:
-
Này
các
thầy!
Các
thầy
đừng
nghi
ngờ
gì
nữa
cả.
Sa-Nặc
rất
an
lành.
Sa-Nặc
có
trạng
thái
tâm
hối
quá
rất
tốt.
Trước
giờ
lâm
tử,
Sa-Nặc
đã
phát
triển
thiền
quán,
tức
khắc
đắc
quả
A-La-Hán
nhờ
lời
nhắc
nhở
của
Xá-Lợi-Phất.
Ông
ta,
sau
đó
đã
trú
định
và
ra
đi,
ý
rằng
không
còn
muốn
phiền
ai
săn
sóc
cho
mình
nữa!
*
*
*
Khi
hỏa
thiêu
thi
hài
Trưởng
lão
Sa-Nặc
trở
về,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
gặp
Tôn
giả
La-Hầu-La,
Ngài
dừng
chân
lại.
-
Ðã
khá
lâu
không
gặp
con,
lúc
này
dáng
dấp
và
thần
sắc
của
con
uy
nghi,
đỉnh
đạt
như
Ðức
Thế
Tôn.
Tôn
giả
La-Hầu-La
mỉm
cười:
-
Thầy
cũng
vậy,
con
chưa
bao
giờ
tìm
ra
được
một
nét
nào
là
mệt
mỏi
ở
nơi
thầy.
-
Thân
xác
này
thì
có
mệt
mỏi
đấy
con
ạ!
Tôn
giả
La-Hầu-La
nói:
-
Con
muốn
thưa
với
thầy
một
chuyện.
-
Con
hãy
nói
đi?
-
Con
muốn
ở
trong
phòng.
Khi
đến
tịnh
thất,
Tôn
giả
La-Hầu-La
quỳ
sát
đất,
đảnh
lễ
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ba
lần
rồi
nói:
-
Con
còn
trẻ,
thưa
thầy!
Thế
mà
cái
thân
của
con
đã
mệt
mỏi,
tuổi
thọ
của
con
đã
sắp
hết
rồi.
Xin
phép
thầy
cho
con
được
nhập
diệt.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
im
lặng
một
hồi.
-
Con
lại
muốn
ra
đi
trước
ta?
-
Thưa,
con
tự
biết
sự
đổi
khác,
biến
hoại
ở
trong
con.
Con
đã
xin
phép
Ðức
Thế
Tôn.
Im
lặng.
-
Con
muốn
nhập
diệt
ở
đâu?
-
Thưa,
vì
có
duyên
với
cõi
trời,
nên
con
sẽ
an
nghỉ
vĩnh
hằng
ở
cõi
trời
Ba
Mươi
Ba.
Lại
im
lặng.
-
Ðức
Thế
Tôn
có
dạy
bảo
điều
gì
không?
-
Ðức
Ðạo
Sư
nhìn
con
một
hồi
rồi
Ngài
nói:
"Các
ngươi
hãy
đi
trước
hết
đi,
Như
Lai
đi
sau
cũng
được".
-
Thế
là
Giáo
Hội
càng
ngày
càng
trống
rỗng!
Tôn
giả
La-Hầu-La
đảnh
lễ
rồi
chấp
tay:
-
Từ
ngày
bước
vô
Giáo
Hội
cho
đến
khi
thấy
được
đạo
Bất
Tử
và
cả
sau
này,
con
có
lỗi
lầm
nào
dầu
vô
tình
hay
cố
ý,
xin
thầy
hoan
hỷ
xá
tội
lỗi
ấy
cho
con!
-
Dĩ
nhiên
thế
rồi!
Có
lỗi
hay
không
có
lỗi
đều
như
gió
thoảng
mây
bay,
con
biết
thế
mà!
-
Thưa
vâng!
-
Còn
gì
nữa
không
con?
-
Thưa,
còn
hai
việc
nữa?
-
Vậy
thì
hãy
ngồi
lên
đây
mà
nói
chuyện
-
Tôn
giả
đứng
lên,
sửa
soạn
chỗ
-
con
hãy
qua
đây,
bên
cạnh
ta
đây!
Sau
khi
yên
vị,
Tôn
giả
La-Hầu-La
nói:
-
Tỳ-khưu
Losaka
-
cậu
bé
khốn
khổ,
nghe
lời
thầy,
con
vẫn
săn
sóc
luôn,
nhưng
không
bao
giờ
vị
ấy
được
đầy
đủ
vật
thực.
-
Ta
biết!
-
Kể
từ
khi
đắc
quả
A-La-Hán
đến
nay
cũng
vậy!
-
Ta
biết!
-
Dường
như,
"thọ
hành"
(tuổi
thọ)
của
vị
ấy
cũng
không
còn
được
bao
lăm!
-
Ðược
rồi!
Ta
sẽ
đi
thăm
tỳ-khưu
Losaka!
Còn
việc
thứ
hai
là
gì?
-
Con
muốn
đọc
cho
thầy
nghe
một
bài
thơ
được
cảm
hứng
sau
giây
phút
chứng
ngộ.
Tôn
giả
cười:
-
Hay
lắm!
Thú
vị
lắm!
Con
hãy
bắt
đầu
đi.
Thế
rồi,
Tôn
giả
La-Hầu-La
đứng
dậy,
bước
tới
bước
lui
và
đọc
lên
bài
thơ
tâm
đắc
của
mình:
"-
Ôi!
Giữa
thế
giới
ba
ngàn
này
có
ai
hai
lần
được
diễm
phúc
như
ta?
là
con
của
Ðức
Vô
Thượng!
và
là
kẻ
đã
chiến
thắng
vinh
quang,
chiến
thắng
Khổ
Ðau
và
Sự
Chết!
là
bậc
A-La-Hán
Vô
Sanh
ta
xứng
đáng
được
mọi
người
mến
yêu,
tán
dương
và
tôn
trọng.
đáng
thương
thay
chúng
sanh
bị
bít
bùng
trong
màng
lưới
của
tham
ái,
si
mê
và
khát
vọng!
như
cá
nằm
trên
thớt!
như
thỏ
nằm
trong
rọ!
ta
đã
xây
lưng
lại
rồi
không
còn
nghe
tiếng
gọi
của
trần
gian
vô
minh
kia
nữa!
ta
đã
cắt
đứt
mọi
sợi
dây
trói
buộc
chẳng
còn
cái
chồi
nào
cho
các
sợi
dây
leo
và
tua
uốn
gốc
rễ
Tử
Sanh
đã
được
bứng
tận
bao
nhiêu
lửa
nóng
đã
bị
vùi
tro
giữa
bầu
trời
mùa
xuân
mát
mẻ
ta
ca
lên
bài
ca
tự
do!"
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tán
thán:
-
Ðúng
là
một
kiệt
tác,
đúng
là
một
tuyên
ngôn
Bất
Tử!
Bài
thơ
này
rồi
sẽ
còn
được
truyền
tụng
nhiều
ngàn
năm
sau
đấy,
con
biết
không?
Tôn
giả
La-Hầu-La
nhìn
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
rất
lâu.
-
Giờ
đã
đến
thời.
Chúc
thầy
ở
lại
mạnh
giỏi,
con
đi
đây!
Tôn
giả
La-Hầu-La
lại
quỳ
xuống
đảnh
lễ.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ân
cần
nắm
tay.
Khi
bốn
bàn
tay
vừa
rời
ra
thì
Tôn
giả
La-Hầu-La
đồng
thời
cũng
biến
mất,
vô
hình
vô
ảnh.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
bước
ra
khỏi
tịnh
thất,
đăm
đăm
nhìn
lên
trời
cao.
Tiếng
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
nói
sau
lưng:
-
Ðệ
sẽ
lên
đó
ngay
lập
tức.
Bảo
với
Thiên
Chủ
Ðế
Thích
chuẩn
bị
một
bảo
tháp
tôn
nghiêm,
quý
trọng
để
tôn
trí
xá-lợi
của
La-Hầu-La!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
quay
lại.
-
Các
người
ai
cũng
muốn
du
hí
thần
thông
trước
mặt
ta.
Nhưng
mà
này,
hiền
đệ!
Lên
trên
đó
nhớ
nhắc
nhở
Ðế
Thích
đừng
quá
phóng
dật.
-
Thưa
vâng!
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
vừa
nói
xong
thì
cũng
không
còn
thấy
bóng
dáng
ở
đâu
nữa.
Ngài
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Không
trách
gì
người
đời
ai
cũng
ham
muốn
thần
thông
phép
lạ."
*
*
*
Từ
khi
đứa
bé
được
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nhặt
lên
từ
đống
rác,
đem
về
Kỳ
Viên
cho
xuất
gia
sa-di,
đến
tuổi
thọ
đại
giới,
có
tên
là
tỳ-khưu
Losaka.
Losaka
vì
nghiệp
quá
khứ
nên
không
có
công
đức,
ít
nhận
được
đồ
ăn
cúng
dường.
Dầu
cho
có
cuộc
bố
thí
lớn
cách
mấy,
không
có
gì
sánh
nổi,
bụng
của
Ngài
cũng
không
được
no,
chỉ
vừa
đủ
để
duy
trì
mạng
sống.
Một
muổng
cháo
thôi
thì
hình
như
đã
đầy
tràn
miệng
bát
của
Ngài.
Người
ta
luôn
cảm
thấy
bát
của
vị
tỳ-khưu
Losaka
đã
đầy
dầu
bên
trong
không
có
gì
nên
lại
đem
dâng
cúng
cho
vị
đi
sau.
Tuy
vậy,
tỳ-khưu
Losaka
tu
hành
rất
tinh
tấn,
thiền
quán
tăng
trưởng,
sau
một
thời
gian,
Ngài
chứng
quả
A-La-Hán.
Song,
Ngài
vẫn
được
cúng
dường
ít
ỏi.
Vì
thiếu
thốn
vật
thực
nên
"thọ
hành"
giảm
thiểu
và
ngày
nhập
Niết
Bàn
đã
đến!
Sau
khi
nghe
Tôn
giả
La-Hầu-La
mách
bảo,
Ngài
Xá-Lợi-Phất
tìm
thăm,
hướng
tâm
đến,
biết
được
thọ
mạng
của
người
đệ
tử
sắp
chấm
dứt,
bèn
nghĩ
rằng:
"-
Tỳ-khưu
A-La-Hán
Losaka
hôm
nay
sẽ
nhập
Niết
Bàn.
Ta
sẽ
làm
thế
nào
cho
vị
ấy
được
một
bữa
ăn
no
bụng
lần
cuối
cùng."
Thế
rồi
Tôn
giả
dẫn
Ngài
Losaka
vào
thành
Xá-Vệ
để
khất
thực.
Dẫu
cả
thành
phố
ai
cũng
biết
Tôn
giả,
kính
trọng
Ngài,
nhưng
hôm
đó
cả
hai
đều
không
nhận
được
một
lời
chào
huống
nữa
là
cúng
dường.
Thấy
chuyện
lặp
lại
đúng
như
trước
dây,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
liền
bảo
Ngài
Losaka
về
trước,
ngồi
tại
giảng
đường
rồi
Ngài
sẽ
gởi
vật
thực
về
sau.
Ðúng
như
Ngài
nghĩ,
khi
Tôn
giả
Losaka
vừa
rời
khỏi,
Ngài
liền
đầy
một
bát,
đầy
hai
bát.
Tôn
giả
sớt
ra
nhiều
phần,
gặp
vị
tỳ-khưu
nào,
Ngài
cũng
bảo
mang
về
cho
Tôn
giả
Losaka
đang
ngồi
đợi
tại
giảng
đường.
Tuy
nhiên,
vì
nghiệp
báo
xui
khiến,
tất
cả
những
người
mang
về
đều
quên,
không
đem
những
phần
vật
thực
đến
cho
Ngài
Losaka,
hoặc
họ
ăn
hết
hoặc
họ
đem
cho
người
khác.
Ðến
trưa,
khi
về
tịnh
xá,
Tôn
giả
Losaka
đến
gặp
Ngài
để
đảnh
lễ.
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp
nói:
-
Này
con!
Con
có
nhận
được
đồ
ăn
ta
gửi
về
không?
Vì
là
bậc
Thánh,
Tôn
giả
Losaka
trả
lời:
-
Thưa
Tôn
giả,
thưa
thầy!
Rồi
con
sẽ
nhận
được!
"Rồi
con
sẽ
nhận
được,
nghĩa
là
hiện
giờ
chưa
nhận
được!"
-
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ngẩng
đầu
nhìn
trời:
đã
quá
ngọ!
-
Hãy
ngồi
xuống
đây,
con!
Hãy
ngồi
xuống
đây!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói
nhanh,
chỉ
đợi
ta
trong
giây
lát
thôi!
Xong,
như
cánh
chim
ưng
vàng,
Tôn
giả
quăng
bát
qua
hư
không,
vận
thần
thông
lực
(Ngài
cũng
có
đại
thần
thông
nhưng
ít
khi
sử
dụng)
bay
sang
trú
xứ
của
vua
Kosala.
Ở
đây,
sau
khi
nhận
đủ
bốn
loại
bánh
ngọt
-
những
thức
ăn
phi
thời
-
Tôn
giả
mau
chóng
trở
về
với
thời
gian
như
viên
lực
sĩ
duỗi
cánh
tay!
Tôn
giả
cầm
bát,
đứng
và
nói
với
Ngài
Losaka:
-
Này
con!
Hãy
ăn
đi!
Ðây
là
những
vật
thực
được
phép
dùng
lúc
phi
thời.
Ta
cho
phép
con
hãy
lấy
tay
bốc
và
ăn.
Ngài
Losaka
vì
lòng
kính
trọng
thầy,
không
thể
để
thầy
đứng
cầm
bát
cho
mình
ăn,
nên
ngần
ngại.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
phải
giải
thích:
-
Này
con!
Hạnh
cung
kỉnh
ấy
rất
quý
báu,
nhưng
đây
là
do
ta
cho
phép
chứ
không
phải
tự
ý
của
con.
Ta
cầm
bát
và
đứng.
Con
cứ
thò
tay
bốc
và
ăn.
Ta
biết
rõ
rằng,
khi
hai
bàn
tay
ta
vừa
rời
khỏi
bình
bát
thì
sẽ
không
còn
một
tí
vật
thực
nào
ở
trong
ấy
nữa.
Do
thần
thông
lực
của
Bậc
Tối
Thượng
Thủ
duy
trì,
nên
bánh
không
thể
biến
mất.
Và
nhờ
vậy,
Tôn
giả
Losaka
được
ăn
một
bữa
như
ý
muốn,
đầy
đủ,
no
bụng.
Tôn
giả
Losaka
quỳ
xuống
bên
chân
Ngài
Xá-Lợi-Phất,
nói
rằng:
-
Con
đã
thấy
nghiệp
của
con
rồi,
và
hôm
nay
con
đã
trả
hết
nghiệp.
Con
cũng
chẳng
còn
luyến
gì
cái
thân
này
nữa,
thầy
hãy
cho
con
nhập
diệt!
-
À!
Chỉ
con
biết
lúc
nào
là
phải
thời!
Vậy
con
muốn
nhập
diệt
ở
đâu?
-
Thưa,
ở
đây,
tại
chỗ
này!
Tại
chỗ
mà
nhờ
ân
đức
của
thầy,
con
được
ăn
một
bữa
no
bụng,
trong
suốt
cuộc
đời!
Thế
rồi,
ngay
chiều
hôm
ấy,
Tôn
giả
Losaka
nhập
Niết
Bàn
không
có
Dư
Y.
Bậc
Chánh
Ðẳng
Chánh
Giác
đứng
một
bên
chứng
kiến
thi
hài
được
hỏa
táng.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Có
mặt
Ðức
Thế
Tôn
thì
quả
là
đại
hạnh
cuối
cùng
cho
hiền
giả
Losaka
vậy."
Ðã
tiễn
rất
nhiều
người
rồi,
thế
mà
Tôn
giả
còn
phải
tiễn
một
nhân
vật
quan
trọng
khác.
Con
trai
của
trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc
đến
đảnh
lễ
Ðức
Thế
Tôn,
vấn
an
sức
khỏe
của
Ðức
Thế
Tôn,
và
báo
rằng
bệnh
tình
của
trưởng
giả
đã
đến
hồi
trầm
trọng,
xin
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
hãy
mở
lòng
bi
mẫn
đến
thăm
viếng
trước
khi
ông
nhắm
mắt.
Nghe
tin
vậy,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đã
cùng
Tôn
giả
Ànanda
không
chút
chậm
trễ,
lên
đường
tức
khắc.
-
Ông
có
đau
đớn
lắm
không?
Có
chịu
đựng
được
không?
Có
triệu
chứng
tăng
trưởng
cơn
đau
hay
là
đang
thuyên
giảm?
-
Thưa,
có
cái
gì
đó
trong
con
đang
băng
hoại,
đang
rữa
nát
hay
là
đang
bị
vỡ
vụn
ra
từng
khúc!
Cái
thân
con
dường
như
không
còn
chịu
đựng
được
nữa
rồi!
-
Dĩ
nhiên
là
vậy!
Tôn
giả
nắm
tay
ông
-
cái
thân
nào
rồi
cũng
đến
lúc
bị
hủy
hoại,
nhưng
mà
ông
còn
tỉnh
trí
không,
còn
sáng
suốt
không,
hở
người
hiền
trí?
-
Thưa,
con
minh
mẫn
lắm!
sự
sáng
suốt
ở
trong
con
không
bị
mây
che!
-
Vậy
là
rất
tốt.
này
ông
trưởng
giả!
Hãy
chú
tâm
nhé,
ta
sẽ
thuyết
cho
ông
nghe
một
thời
Pháp!
-
Thưa
vâng,
con
mong
muốn
lắm.
Con
sẽ
rất
chú
tâm!
Rồi
Tôn
giả
thuyết
thời
Pháp
sau
đây:
-
Này
trưởng
giả
kính
mến!
Hãy
ghi
nhận
theo
lời
ta
mà
quán
tưởng
như
thế
này:
"Này
Người
Thợ
Sinh
Diệt!
Ta
không
còn
dính
mắc
với
đôi
mắt,
với
lỗ
tai,
với
cái
lưỡi,
lỗ
mũi
và
làn
da
xúc
cảm
nữa!
Ngươi
cứ
không
ngưng
nghỉ
tạo
ra
những
cảm
thọ
trống
không
vô
vị;
như
bọt
nước,
như
hoa
đốm,
như
hoa
trong
gương,
như
trăng
đáy
nước...
như
con
chó
gặm
khúc
xương
khô!
Ngươi
không
còn
lừa
bịp
ta
được
nữa
đâu!
Ngươi
không
còn
làm
gì
được
ta
nữa
đâu!
Này
hỡi
Người
Thợ
Sinh
Diệt!
Những
ảo
ảnh
do
ngươi
ngụy
tạo
ra,
ta
đã
nhìn
thấy
rồi!
Những
cái
gọi
là
vừa
lòng,
êm
ái,
khoái
lạc,
ngon
ngọt,
thỏa
thích,
khả
hỷ,
khả
ái
từ
lâu
đã
quyến
dụ
ta,
mê
hoặc
ta
như
cá
dính
câu,
như
chim
sa
lưới,
nay
thì
ta
không
còn
mắc
mưu
ngươi
nữa!
Ôi!
Tất
cả
rồi
sẽ
bị
phân
ly,
biến
hoại,
rã
tan.
Dẫu
thân
này
hay
thân
khác,
dẫu
thế
gian
này
hay
thế
gian
khác,
không
bao
giờ
có
việc
thường
còn,
cực
lạc,
hay
trường
sanh
bất
lão
đâu.
Tất
cả
đều
là
đau
khổ
và
phiền
não!
Này
hỡi
Người
Thợ
Sinh
Diệt!
Ta
đã
tu
tập
như
vậy,
ta
đang
tu
tập
như
vậy,
ta
đã
an
trú
như
vậy
thì
ta
nhất
định
sẽ
chiến
thắng
ngươi.
Từ
nay,
ngươi
không
còn
làm
gì
nỗi
ta
đâu!"
Nghe
xong
thời
Pháp,
trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc
ràng
rụa
nước
mắt.
Thấy
vậy
Tôn
giả
Ànanda
hỏi:
-
Này
trưởng
giả
kính
mến!
Ông
lo
sợ
về
điều
gì?
Ông
buồn
khổ
về
điều
gì?
Hay
tinh
thần
ông
đã
trở
nên
quá
suy
nhược?
-
Thưa
không,
bạch
nhị
vị
Tôn
giả!
Lo
sợ
hoặc
buồn
khổ
hoàn
toàn
không
có
ở
trong
con.
Và
tinh
thần
của
con
không
chút
giảm
suy,
trái
lại,
đang
phấn
chấn,
đang
thịnh
mãn,
đang
phỉ
lạc.
Ấy
chỉ
vì
mặc
dầu
đã
dự
thính
rất
nhiều
bài
Pháp
do
Ðức
Tôn
Sư
giảng,
con
chưa
hề
được
nghe
một
bài
Pháp
cao
siêu
như
thế
nầy!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói:
-
Cũng
đúng
thôi,
trưởng
giả!
Ðấy
là
những
bài
Pháp
cao
siêu
chỉ
để
giảng
cho
những
vị
tỳ-khưu
có
trình
độ
tâm
linh
tiến
hóa.
Trong
Tăng
chúng
rất
nhiều
vị
chưa
hề
được
nghe,
huống
hồ
là
cư
sĩ,
ngại
rằng
họ
sẽ
không
thấu
hiểu!
Trưởng
giả
kính
mến!
Ông
cũng
là
cư
sĩ,
nhưng
ông
nghe
được,
tại
sao?
Vì
ông
có
tâm
của
bậc
đại
nhân!
Ông
đã
chi
dùng
một
gia
sản
năm
trăm
bốn
chục
triệu
đồng
tiền
vàng
cho
Giáo
Pháp
của
Ðức
Tôn
Sư
mà
không
một
chút
chau
mày.
Chí
đến
lúc
chỉ
còn
cháo
tấm
và
bột
chua
mà
ông
vẫn
không
chau
mày,
vẫn
giữ
đức
tin
tuyệt
đối,
bất
động
với
Tam
Bảo!
Tâm
ông
quảng
đại,
đầy
vị
tha
và
nhân
ái
nữa.
Những
người
nghèo
khổ,
cơ
bần,
cô
độc
cả
thành
Xá-Vệ
coi
ông
như
một
người
mẹ
vĩ
đại.
Mái
nhà
của
ông
là
bóng
mát
thân
yêu
cho
hàng
ngàn
tỳ-khưu.
Này
trưởng
giả
kính
mến!
Như
vậy
tâm
linh
ông
tiến
hóa,
tinh
thần
ông
vượt
trội
-
lại
là
Bậc
Thánh
Thất
Lai
nữa
-
quả
thật
ông
xứng
đáng
được
nghe
bài
Pháp
cao
siêu
ấy!
Trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc
muốn
ngồi
dậy
đảnh
lễ
nhưng
Tôn
giả
Ànanda
ngăn
lại
-
ông
mỉm
cười
mà
nước
mắt
lưng
tròng,
nghẹn
ngào:
-
Tri
ân
Trưởng
lão,
tri
ân
nhị
vị
Tôn
giả!
Hiện
giờ
con
rất
sung
sướng,
nội
tâm
con
bình
an
mặc
dầu
thể
xác
đau
đớn
kịch
liệt.
Con
hoàn
toàn
mãn
nguyện.
Con
chỉ
có
một
lời
thỉnh
cầu.
-
Ông
cứ
nói!
-
Con
chỉ
mong
Trưởng
lão
thỉnh
thoảng
giảng
những
bài
Pháp
cao
siêu
này
đến
cho
những
cư
sĩ
tiến
bộ.
Con
lãnh
hội
được
thì
chắc
cũng
có
một
số
cư
sĩ
sẽ
lãnh
hội
được.
-
Ðúng
vậy!
Ta
sẽ
xin
với
Ðức
Tôn
Sư
từ
lời
thỉnh
nguyện
của
ông!
Khi
hai
vị
Tôn
giả
trở
về
không
được
bao
lâu
thì
trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc
trút
hơi
thở
cuối
cùng,
tức
khắc
tái
sanh
vào
cung
trời
Ðâu-Suất.
Sáng
ngày,
Ðức
Phật
gọi
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
rồi
hỏi
rằng:
-
Hôm
qua
ông
đã
làm
gì
mà
ông
Cấp
Cô
Ðộc
tán
dương
ông
dữ
vậy?
-
Thưa,
đệ
tử...
-
Hồi
hôm
vị
trời
Cấp
Cô
Ðộc
từ
cung
trời
Ðâu-Suất
xuống
đây
đảnh
lễ
Như
Lai
và
nói
rằng
phẩm
hạnh
và
tài
đức
của
ông
còn
sáng
muôn
vạn
lần
so
với
hào
quang
của
tất
cả
vị
trời
cọng
lại.
Vị
trời
ấy
ví
von
vậy
cũng
không
sai
lắm
đâu!
-
Bạch
Ðức
Thế
Tôn,
đệ
tử
đã
tự
ý...
-
Như
Lai
đã
hiểu.
Và
ông
làm
vậy
là
đúng.
Từ
rày
Như
Lai
cho
phép
Chư
Thánh
Tăng
Trưởng
lão
giảng
những
bài
Pháp
cao
siêu
đến
cho
những
cư
sĩ
có
trí.
-
Thưa
vâng!
-
Thôi
ông
hãy
về
đi!
Ông
cứ
tiễn
người
này
lên
đường
rồi
người
khác
lên
đường
-
cái
thân
quá
mệt
mỏi
thì
cũng
nên
cho
nó
nghỉ
ngơi
một
tí!
-
Vâng,
bạch
Ðức
Thế
Tôn!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cúi
đầu,
tự
nghĩ:
"-
Ðấng
Ðạo
Sư
đã
biết
rõ
cái
thân
ta
bắt
đầu
biến
hoại.
Mọi
người
lần
lượt
ra
đi,
mình
cũng
không
còn
lâu
nữa."
Cuộc
từ
giã
vĩ
đại
Sau
khi
an
cư
mùa
mưa
ở
làng
Beluva,
Ðức
Thế
Tôn
và
Tăng
chúng
bộ
hành
qua
nhiều
chặn
đường
xa
về
Kỳ
Viên
tịnh
xá.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cảm
thấy
cơ
thể
rã
rời,
dường
như
không
còn
chút
hơi
sức
nào.
Ngài
biết
rằng,
tấm
thân
này
đã
như
một
cỗ
xe
quá
cũ,
các
trục
đã
mòn,
các
căm
đã
lỏng
lẻo
hoặc
hư
mục.
Rõ
ràng
đây
là
lúc
phải
tính
chuyện
ra
đi!
Thế
rồi,
Tôn
giả
trở
về
tịnh
thất,
cất
đặt
y
bát,
quét
dọn
phòng,
trải
tọa
cụ
rồi
đi
vào
định
diệt
thọ
tưởng.
Khi
xả
thiền
thì
trời
đã
vào
khuya,
lúc
đứng
dậy,
Ngài
nghe
các
khớp
xương
đau
nhức
và
trong
đầu
như
có
cái
gì
bén
nhọn
đâm
vào
rồi
lại
kéo
ra.
Tuy
thế,
đi
kinh
hành
một
lát,
Ngài
lại
trở
về
chỗ
tọa
cụ,
ngồi
xuống,
nghĩ
rằng:
"-
Ta
sẽ
nhập
diệt
trước
Ðức
Thế
Tôn
hay
là
sau
Ngài?"
Tôn
giả
hướng
tâm
đến,
biết
rằng,
bao
giờ
vị
Ðại
Ðệ
Tử
cũng
nhập
diệt
trước
vị
Phật.
"-
Còn
Mục-Kiền-Liên
thì
sao?"
Tôn
giả
lại
biết
Mục-Kiền-Liên
sẽ
nhập
diệt
sau
Ngài
nửa
tháng.
Và
thọ
hành
của
Ngài
chỉ
còn
duy
trì
được
bảy
ngày.
Vậy
thì
trong
thời
gian
này,
Ngài
còn
bổn
phận
gì
trên
đời
cần
phải
thực
hiện?
Dĩ
nhiên
Ngài
lại
nghĩ
đến
mẹ.
Mẹ
Ngài
là
cái
gì
vẫn
mãi
canh
cánh
bên
lòng.
Mặc
dầu
cả
thảy
bảy
người
con
trong
gia
đình
đều
đắc
quả
A-La-Hán
nhưng
bà
Sàrì
không
tin
Tam
Bảo,
vẫn
xem
thường
Ðức
Phật
và
Tăng
chúng,
vẫn
đặt
niềm
tin
mù
quáng
theo
ngoại
đạo.
Tại
sao
Ngài
lại
không
thể
cứu
độ
mẹ
được?
Cả
hàng
ngàn
Chư
Thiên,
Ngài
đã
từng
an
trú
cho
họ
vào
các
tầng
Thánh
quả.
Cả
hàng
ngàn
gia
đình
cư
sĩ,
Ngài
đã
mở
những
cánh
cửa
trời
cho
họ
bước
lên?
Cũng
đã
hàng
ngàn
tỳ-khưu
và
sa-di
nhờ
Ngài
mà
họ
bước
vào
dòng
Thánh?
Kể
cả
các
giáo
phái
chủ,
giáo
phái
sư,
Bà
la
môn
trưởng
giáo,
Bà
la
môn
hữu
danh,
vua
chúa,
đại
thần,
tướng
quân,
thương
gia...
dẫu
kiêu
căng,
cứng
đầu,
trịch
thượng
-
nhưng
sau
khi
nghe
pháp
họ
đã
trở
nên
nhu
thuận,
dễ
dạy!
Thế
thì
tại
sao
Ngài
lại
bất
lực
trước
mẹ
Ngài?
Có
lẽ
vì
thiếu
trí
tuệ
hoặc
vì
nhân
duyên
của
bà
chưa
chín
muồi?
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lại
trở
nên
trầm
ngâm
-
Ngài
đang
hướng
tâm
quan
sát
căn
duyên
của
mẹ.
Chợt
Ngài
thốt
lên:
"-
Hay
thay!
Tuyệt
diệu
thay!
Mẹ
ta
sẵn
đủ
căn
duyên
bước
vào
Thánh
Ðạo!"
Rồi
Ngài
lại
nghĩ
tiếp:
"Vậy
ai
là
người
có
duyên
để
cứu
độ
mẹ
ta?"
Sau
khi
biết
kẻ
đó
chính
là
mình,
Ngài
quyết
định:
"-
Vậy
thì
ta
sẽ
nhập
diệt
ở
chốn
cố
hương,
nơi
chỗ
mà
ta
chào
đời
để
cứu
độ
mẹ
ta!"
Sáng
hôm
sau,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
trình
bày
quyết
định
của
mình
cho
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
hay.
Cả
hai
ngồi
yên
lặng
một
hồi
lâu.
-
Ðại
huynh
tính
như
vậy
thì
tình,
lý,
thời
đều
trọn
vẹn.
Thôi,
đại
huynh
đi
trước,
đệ
sẽ
đi
sau
nhé!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đứng
lên,
nắm
tay
Mục-Kiền-Liên:
-
Chúng
ta
sẽ
không
gặp
nhau
nữa.
-
Cũng
vừa
đủ,
đại
huynh!
Ðã
kinh
qua
suốt
cuộc
đời,
chúng
ta
đã
không
làm
một
con
người
vô
ích,
đã
làm
việc
hết
sức
mình,
cơ
thể
chúng
ta
đã
không
còn
chịu
đựng
được
nữa
rồi!
-
Ðúng
là
vậy,
hiền
đệ!
Chúng
ta
làm
bạn
với
nhau
suốt
trong
tuổi
thơ
ấu,
thanh
niên,
và
hơn
bốn
mươi
năm
trong
Giáo
Pháp
của
Ðức
Tôn
Sư.
Chúng
ta
đã
hợp
tác
chặt
chẽ
với
nhau
trong
mọi
công
việc
được
Ðức
Thế
Tôn
giao
phó,
chưa
lần
nào
chúng
ta
tranh
cãi
một
lời,
luôn
luôn
thuận
thảo,
tương
kính,
luôn
luôn
tự
hòa,
hoan
hỷ.
Thật
là
tốt
đẹp
thay
một
cuộc
đời
biết
sống!
Tôn
giả
Mục-Kiền-Liên
nắm
tay
xiết
chặt,
mỉm
cười:
-
Không
biết
mấy
triệu
năm
mới
có
một
cuộc
tương
ngộ
và
một
cuộc
vĩnh
biệt
như
thế
này?
Hãy
cho
đệ
đảnh
lễ
lần
cuối
cùng,
một
người
anh
duy
nhất,
cao
cả
và
siêu
việt!
Ðại
Mục-Kiền-Liên
quỳ
xuống
đảnh
lễ.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cũng
quỳ
xuống
đảnh
lễ
theo.
Cả
hai
đều
rất
trân
trọng
và
thành
kính.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói:
-
Từ
khi
thấy
được
Giáo
Pháp
Bất
Tử,
huynh
không
tìm
thấy
chỗ
nào
là
huynh,
chỗ
nào
là
đệ
ở
trong
hai
chúng
ta
cả.
Ðây
chỉ
là
sự
tương
kính
Pháp.
Huynh
cũng
đã
đảnh
lễ
một
người
em
duy
nhất,
cao
cả
và
siêu
việt!
Cả
hai
vị
Tôn
giả
tối
thượng
từ
giã
nhau
như
vậy,
vĩnh
biệt
nhau
như
vậy,
thân
thiết
mà
xa
xôi,
đậm
đà
mà
lạnh
lẽo,
chẳng
vướng
bận
gì,
chẳng
níu
kéo
gì.
Như
mây
bay,
như
gió
thoảng.
Rỗng
không
như
hư
không.
Sau
đó,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đi
khất
thực.
Ngài
muốn
đi
một
vòng
quanh
thành
Xá-Vệ
thăm
viếng
một
lần
cuối
cùng
nơi
mà
Ngài
đã
từng
sống
với
Chư
Tăng
và
mọi
người
trong
bao
nhiêu
năm,
nơi
mà
Ngài
có
đủ
vật
thực
để
hành
đạo.
Ngài
phải
biết
tri
ân
điều
đó.
Về
lại
tịnh
xá
Kỳ
Viên,
Ngài
cũng
đi
thăm
một
vòng
như
thế.
Ðộ
ngo
xongï,
Ngài
cho
gọi
Trưởng
lão
Cunda
-
là
em
của
Ngài
-
đến
rồi
nói:
-
Này
Cunda!
Hãy
chuẩn
bị
về
quê
thăm
mẹ,
cùng
với
ta!
-
Thưa
vâng!
-
Hãy
bảo
rằng
là
ý
của
ta,
cho
tụ
họp
năm
trăm
tỳ-khưu
môn
đệ,
cùng
bộ
hành
với
ta
về
Nàlakà
luôn
thể!
-
Thưa
vâng!
Khi
Cunda
quay
lưng
bước
đi,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
chợt
kêu
lại:
-
Này
Cunda!
Trong
bao
năm
sống
với
đại
huynh,
đại
huynh
có
làm
phiền
gì
đến
em
không?
-
Dạ
thưa
không!
Ðại
huynh
trắng
bạch
như
vỏ
ốc.
Bảo
làm
phiền
thì
chẳng
khác
nào
là
em
không
có
tai,
không
có
mắt,
không
có
tim,
không
có
óc!
Tôn
giả
lại
ân
cần:
-
Em
đã
là
một
Trưởng
lão
cao
hạ
rồi.
Ta
hỏi
thế
thôi
chứ
ta
biết
em
an
vui,
tinh
tấn,
sống
rất
hài
hòa
với
mọi
người,
lại
được
hạnh
phúc
trong
Pháp
nữa.
Trưởng
lão
ngần
ngừ
một
lúc:
-
Lần
này
có
thể
dắt
mẹ
qua
bờ
được
không?
-
Báo
tin
vui
cho
em
hay
là
chắc
chắn
được!
Trưởng
lão
Cunda
cảm
thấy
hoan
hỷ
trong
lòng,
chào
Tôn
giả
rồi
đi
ngay.
Ngài
Xá-Lợi-Phất
lấy
chổi
quét
dọn
tịnh
thất,
cất
đặt
mọi
thứ
đâu
đó
cho
ngăn
nắp.
Dọn
dẹp
bên
trong
rồi
Ngài
ra
dọn
dẹp
xung
quanh
hành
lang.
Xong
xuôi,
đắp
y,
mang
bát
-
Ngài
bước
ra
bên
ngoài,
khép
cửa
lại.
Ngài
đi
quanh
ba
vòng
rồi
bước
ra
xa,
nhìn
ngắm
lại
tịnh
thất.
Ngài
nói
thầm
trong
tâm
rằng:
"-
Cảm
ơn
ngươi
đã
che
mưa
đỡ
nắng
cho
ta
bao
ngày.
Ðây
là
cái
nhìn
cuối
cùngcủa
ta
ngươi
biết
không?
Nhưng
khi
ta
đi
rồi,
thì
hy
vọng
rằng,
sau
ta,
nhiều
vị
A-La-Hán
khác
nữa
sẽ
ở
trong
vòng
tay
ấm
cúng
của
ngươi."
Lát
sau,
Trưởng
lão
Cunda
cùng
năm
trăm
tỳ-khưu
đi
đến.
Họ
đều
đảnh
lễ
Tôn
giả
và
chờ
lệnh.
Tôn
giả
nói:
-
Các
thầy
sẽ
vất
vả
bộ
hành
đường
xa,
nhưng
rồi
sẽ
thâu
hái
được
nhiều
điều
bổ
ích.
Bây
giờ
hãy
cùng
ta
đến
đảnh
lễ
Ðức
Tôn
Sư!
Ðức
Thế
Tôn
đã
biết,
lúc
ấy,
Ngài
đang
chờ
họ
ở
Ðại
Giảng
Ðường.
Sau
khi
đảnh
lễ,
Tôn
giả
quỳ
xuống
bên
chân
Ðức
Ðạo
Sư:
-
Hôm
nay,
đệ
tử
đến
đây
để
chào
Ðức
Tôn
Sư
lần
cuối
cùng.
Ðệ
tử
sắp
từ
bỏ
huyễn
thân
và
từ
bỏ
cõi
đời
trần
tục
này.
Thọ
hành
của
đệ
tử
như
ngọn
đèn
leo
lét.
Xin
Ðức
Tôn
Sư
cho
đệ
tử
được
nhập
diệt.
Ðức
Thế
Tôn
im
lặng.
Tôn
giả
lại
cất
giọng
khẩn
thiết:
-
Ôi!
Ðệ
tử
biết
nói
lời
gì
khi
vĩnh
biệt
một
bậc
vĩ
nhân
siêu
quần
bạt
tụy?
Chính
nhờ
Ngài
mà
đệ
tử
bước
ra
khỏi
bể
khổ
trầm
luân
để
đi
theo
dấu
chân
giải
thoát
của
Ngài.
Từ
đây,
đệ
tử
sẽ
không
còn
lang
thang
vô
định,
tới
lui
giữa
sáu
cõi
khổ
vui
sinh
diệt
nữa.
Ðây
là
lời
phụng
bái
thứ
nhất
của
đệ
tử!
Tôn
giả
cung
kỉnh
đảnh
lễ.
-
Giờ
đây,
thân
xác
tứ
đại
của
đệ
tử
bắt
đầu
rã
tan,
trả
về
cho
tứ
đại.
Chỉ
bảy
hôm
nữa,
thọ
hành
của
đệ
tử
sẽ
chấm
dứt
vĩnh
viễn,
kể
cả
ngũ
uẩn
này
cũng
không
còn
tiếp
tục
chồng
chất,
rối
loạn,
lòe
bịp
ai
được
nữa.
Thế
là
gánh
nặng
muôn
đời
đã
được
buông
bỏ
xuống.
Ðệ
tử
sẽ
hoàn
toàn
giải
thoát,
không
còn
bất
kỳ
một
hạt
bụi
phiền
não
nào
còn
tồn
tại.
ạn
đức
ấy
thuộc
về
Ðức
Tôn
Sư,
triệu
triệu
năm
không
đền
đáp
được.
Hãy
cho
đệ
tử
thêm
một
phụng
bái
nầy!
Tôn
giả
cung
kính
đảnh
lễ.
-Ôi!
Hồng
ân
của
Ðức
Tôn
Sư
là
đời
đời
bất
diệt.
Từ
khi
bước
chân
vào
Giáo
Pháp
Bất
Tử,
đệ
tử
đã
biết
sống
một
đời
có
ích,
biết
phục
vụ
và
biết
phát
huy,
tăng
trưởng
sung
mãn
những
phẩm
chất
cao
đẹp
của
con
người.
Thế
nên
biết
bao
chúng
sinh
đã
được
lìa
xa
khổ
não?
Biết
bao
Chư
Thiên
và
nhân
loại
đã
được
nếm
hương
vị
của
Pháp
mầu?
Giờ
đây,
đệ
tử
đi
vào
Niết
Bàn
với
tâm
tư
hoàn
toàn
thanh
thản
và
mãn
nguyện.
Xin
Ðức
Thế
Tôn
cho
phép
đệ
tử
được
nghỉ
ngơi
vì
cái
cỗ
xe
thân
xác
này
đã
đến
lúc
rã
mục.
Cho
đệ
tử
được
phụng
bái
một
lần
nữa,
thay
mặt
chúng
sinh,
tri
ân
Bậc
Vô
Thượng
Giác!
Cả
hội
trường
im
lặng
như
tờ.
Ðâu
đó
dường
như
có
tiếng
khóc
nho
nhỏ.
Rất
nhiều
Chư
Tăng
không
ngăn
được
giọt
lệ.
Ðức
Thế
Tôn
cất
giọng
bình
thản:
-
Này
Xá-Lợi-Phất!
Ông
sẽ
nhập
diệt
ở
đâu?
-
Tại
quê
hương
của
đệ
tử,
làng
Nàlakà,
tại
chỗ
mà
đệ
tử
được
chào
đời!
Ðức
Phật
hỏi
tiếp:
-
Thời
gian
từ
đây
đến
đó
có
kịp
không?
-
Thưa,
dư
dã.
-
Vậy
thì
đây
là
việc
cần
thiết,
sau
lần
từ
giã
này,
Chư
Tăng
và
huynh
đệ
sẽ
không
còn
cơ
hội
được
gặp
mặt
ông
nữa,
ông
hãy
ưu
ái
đến
hội
chúng
thuyết
cho
họ
nghe
thời
Pháp
cuối
cùng.
Vâng
lời,
Tôn
giả
bước
lên
một
bảo
tọa
thấp
hơn,
ngồi
ngay
ngắn,
đoan
nghiêm,
nhiếp
tâm
thanh
tịnh
rồi
ban
một
thời
Pháp
chưa
từng
được
nghe.
Thời
Pháp
như
tiếng
gió
rì
rào
bất
tận,
như
hải
triều
âm
xa
mù
đại
dương,
từng
đợt
sóng
cuộn
va
đập
vào
ghềnh
đá.
Liên
miên.
Bất
tuyệt.
Gió
lại
lặng,
sóng
lại
tan...
Cử
tọa
thính
chúng
chợt
như
thấy
trước
mắt
mình
một
bình
minh
tươi
sáng,
một
mùa
xuân
mát
mẻ
an
lành
hiện
ra
sau
đêm
đông
lạnh
lẽo.
Tuyết
tan,
tiếng
chim
reo
vui,
muôn
hoa
đua
nở,
hương
trời
bàng
bạc,
dịu
dàng
như
xoa
dịu
tất
cả
những
tâm
hồn
khổ
đau...
Ngài
nói
về
đời
Ngài
bị
bít
bùng
bởi
truyền
thống,
bởi
tâm
thức
ngoại
giáo,