Một cuộc đời, một ngôi sao
(Truyện Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Ðức Triều Tâm Ảnh
Huế 1996
---o0o---
[03]
Ánh
nắng siêu thoát
Vua Bình Sa Vương (Bimbisàra
- Tần-Ba-Sa) trị vì quốc độ Ma-Kiệt-Ðà (Magadha) - một đế
quốc hùng mạnh, đóng đô tại kinh thành Vương-Xá (Ràjagaha)
- là vị thí chủ đầu tiên của Ðức Phật trong hàng vua chúa.
Khi thái tử Sĩ-Ðạt-Ta
thoát ly đời sống vương giả, trên đường lang thang tìm đạo,
có ghé qua Vương-Xá thành. Và một hôm, nhà vua trông thấy Ngài,
một đạo sĩ khiêm tốn đang đi khất thực trên đường
phố. Vua lấy làm kính cảm khi thấy tướng mạo uy nghi, tư cách
trang nghiêm, thanh tịnh của Ngài nên sai người đi dò thăm.
Khi được biết rằng, thường bữa, sau khi độ ngọ thì vị
đạo sĩ cao quý ấy ngụ tại Pandavapabbata, vua cùng đám tùy
tùng đến viếng Ngài và trao đổi chuyện.
- Thưa Ðạo Sĩ! Vua Bình
Sa chấp tay cung kỉnh hỏi - Trẫm thấy Ðạo Sĩ có cốt cách
và dung mạo khác thường, chắc hẳn không phải là hạng dân
dã mà xuất thân phải thuộc dòng tộc cao quý nhất, hùng
mạnh nhất. Trẫm tò mò muốn biết, có khi không phải, mong
Ðạo Sĩ hỷ xả bỏ qua cho. Rằng, lý do làm sao, Ðạo Sĩ
tuổi đang còn thanh xuân, tóc đang còn đen nhánh, lại chấp
nhận đời sống nghèo hèn của hạnh khước từ? Hiện tại
đời sống ấy ra sao? Và tương lai, cứu cánh ấy như thế nào?
Ðạo Sĩ Cồ-Ðàm trả
lời:
- Chẳng có gì, tâu Ðại
vương! Phía trước đây, không xa lắm, dưới chân Hy mã lạp
sơn, trong châu thành Kosala của những gia tộc cổ kính, một
bộ tộc cường thịnh và phú túc: tôi xuất thân ở đấy,
triều đại Thái Dương, dòng dõi Thích Ca (Sàkya).
Vì nhận thức được
mối hiểm nguy, tệ hại của thú vui vật chất nên tôi đã rũ
bỏ vương bào, khoác mảnh y hoại sắc của người khất sĩ.
Hiện tại tôi không còn muốn bám víu vào ngũ dục, tôi
xuất ly chúng và cần cầu cái gì cao thượng hơn. Giờ đây
tôi cảm thấy được thoải mái trong đời sống xuất gia. Tôi
được an lạc, cảm ơn Ðại Vương đã quan tâm!
Vua Bình Sa nghe vậy rất
hoan hỷ, kính thỉnh Ðạo Sĩ Cồ-Ðàm, sau khi chứng ngộ đạo
quả, hãy trở về viếng thăm vương quốc Ma-Kiệt-Ðà. Ðạo
Sĩ Cồ-Ðàm cũng hứa khả với đức vua như vậy.
Mấy năm sau, đắc đạo
quả Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ðức Phật từ giã cội Bồ Ðề
bên sông Ni Liên, lên đường chuyển bánh xe Pháp, gióng lên
tiếng trống Bất Tử.
Ðầu tiên, Ngài đến vườn
Lộc Giả, độ cho năm anh em Kiều Trần Như - là những kẻ cùng
tu khổ hạnh năm nào. Tại Ba-la-nại, Ðức Phật độ cho Yasa
và bằng hữu của ông, cả thảy năm lăm người. Cùng với
nhóm Kiều Trần Như là sáu mươi vị A-La-Hán, từ đó, Ngài
thành lập Giáo Hội Tăng Già đầu tiên, gồm những người
thuộc giai cấp lãnh đạo, có học thức, cao sang nhất trong xã
hội thời bấy giờ.
Ðức Phật quyết định
gởi sáu mươi vị A-La-Hán di khắp các nơi truyền bá Giáo Pháp
mới mẻ này. Ngài nói với các đệ tử:
- Nầy các thầy tỳ-khưu!
Như Lai đã thoát ra khỏi mọi sự trói buộc, dầu ở cảnh
người hay ở cảnh trời. Các con cũng vậy, hỡi các thầy
tỳ-khưu! Các con cũng đã thoát khỏi mọi sự trói buộc,
dầu ở cảnh người hay ở cảnh trời.
Hãy ra đi! Nầy các
thầy tỳ-khưu! Ðem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem
lại sự hạnh phúc cho nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem
lại lợi ích, an lạc cho chư thiên và loài người. Mỗi người
hãy đi mỗi ngã. Hãy hoằng dương Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn
đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối; toàn
hảo trong cả hai: tinh thần và ngôn ngữ. Hãy công bố đời
sống thiêng liêng và cao thượng, vừa toàn thiện, vừa trong
sạch. Có chúng sanh vướng ít bụi cát ở trong mắt sẽ am
hiểu Giáo Pháp, hiện quán Giáo Pháp và thân chứng Giáo Pháp.
Có chúng sanh dẫu ít bụi cát ở trong mắt, nhưng nếu không
nghe được Giáo Pháp, liễu tri Giáo Pháp, chúng sẽ sa đọa.
Các thầy hãy ra đi vì lòng
bi mẫn, vì lòng thương tưởng đối với chúng sanh đang khổ
nạn; đang bị bít bùng, đoanh vây bởi phiền não chướng,
sở tri chướng. Chính Như Lai cũng phải ra đi. Như Lai sẽ đi
về hướng Uruvela ở Sanànigàma. Như Lai sẽ đi qua vùng Chư-Thiên-Ðọa-Xứ
(Isipatana), đến Vương-Xá thành hoằng dương Giáo Pháp, cứu
độ cho nhiều người hữu duyên.
Hãy phất lên ngọn cờ
của bậc thiện trí. Hãy gióng lên tiếng trống của Chân Phúc
và Bất Tử. Hãy truyền dạy Giáo Pháp giản dị, thiết
thực và cao siêu chưa từng được nghe. Hãy mang lại niềm hy
vọng an bình cho nhân thế. Ðược vậy là các thầy đã làm
xong việc phải làm trên đời này!
Sau khi Ðức Phật tuyên
bố như vậy, sáu mươi vị thánh A-La-Hán chia nhau đi các phương.
Ðức Phật ghé vùng Chư-Thiên-Ðọa-Xứ,
độ cho ba mươi người xuất gia theo phạm hạnh. Ngài đến vùng
Uruvela độ cho anh em ông Ca-Diếp cùng một ngàn đệ tử của
họ. Trong một bài thuyết pháp về lửa ở Gàya Ngài đã độ
cho không biết bao nhiêu người đắc quả, trong đó ba anh em
ông Ca-Diếp đắc quả A-La-Hán.
Khi Ngài đến Vương-Xá
thành, ở trong rừng kè thì chung quanh đã có hơn một ngàn
thầy tỳ-khưu. Ðức Phật trở lại đây, kinh đô nước
Ma-Kiệt-Ðà là thể theo lời thỉnh cầu trước đây của Bình
Sa Vương.
Tin lành đến tai vua, vì
danh tiếng của vị giáo chủ vô song này đã bay khắp vương
quốc, chấn động cả kinh đô tín ngưỡng, rung động những
con tim tôn giáo. Ðức vua bèn hối hả cùng tùy tùng và thân
quyến đến đảnh lễ và thăm viếng Ðạo Sĩ năm xưa.
Một vùng hào quang xán
lạn và yên tĩnh từ kim thân Ðức Phật tỏa ra, vua Bình Sa cúi
đầu rồi thành kính chiêm ngưỡng, và biết chắc, đây là
một bậc Ðại Giác Ngộ đích thực đã ra đời. Sau thời pháp,
ánh sáng chân lý đến với mọi người. Bình Sa Vương đắc
quả Tu-Ðà-Hườn, xin quy y Tam Bảo; sau đó, Ðức vua xin
thỉnh Ðức Phật và Tăng Chúng về cung điện thọ trai ngày
hôm sau.
Trong dịp này, Bình Sa Vương
xin làm bổn phận của một đệ tử cư sĩ, ngõ ý cúng dường
khu Trúc Lâm của mình - là nơi không xa cũng không gần thành
phố - để cho Chư Tăng dễ dàng hành đạo; và để cho
những ai, có thể đến thính pháp rất tiện lợi. Ðây là
khu rừng tre mát mẻ, ban ngày không ồn ào, ban đêm yên tĩnh,
kín đáo mà khoảng khoát, trong lành.
Trúc Lâm còn được
gọi là nơi trú ẩn của loài sóc, tại đây, Ðức Phật đợi
chờ cho nhân duyên chín muồi để độ cho hai nhân cách siêu
việt, hai vị đại đệ tử, hai ngôi sao của Giáo Hội. Ấy
là Upatissa (Xá-Lợi-Phất ) và Kolita (Mục-Kiền-Liên) vậy.
* * *
Khi Ðức Thê Tôn đang
ở Trúc Lâm thì Ðại Ðức Assaji, một trong năm vị đệ tử
A-La-Hán đầu tiên thuộc nhóm Kiều Trần Như, theo lời dạy
của Ðức Phật, lên đường chuyển bánh xe Pháp, cùng đi
về một phương với Ðức Phật, theo hướng Vương-Xá thành.
Nhân duyên của Upatissa
đã đến.
Hôm đó, chàng cũng ở
tại Vương-Xá thành, đang trên đường đi thăm đạo sĩ
Sanjaya, thì chợt nhiên nhìn thấy một tu sĩ y bát trang nghiêm,
dung nghi từ tốn; mắt nhìn xuống, tĩnh lặng, khiêm hòa; gương
mặt trầm tĩnh, buông xả và tự tại. Tất cả đấy biểu
lộ một sự vắng lặng, an tịnh, ổn định sâu xa ở bên
trong; nó còn nói lên một sự dừng lặng, ngưng nghỉ, tĩnh
tại - cái không còn xôn xao, lăng xăng tìm kiếm! Vị Ðại Ðức
khả kính nọ khoan thai, chừng mực đi từ nhà này sang nhà khác,
nhận lãnh ít vật thực khiêm tốn từ tấm lòng của mọi người.
Cốt cách siêu phàm và bình dị của bậc chân tu khiến
Upatissa tò mò để ý. Chưa bao giờ chàng được gặp một Bà
la môn, Sa môn, một đạo sĩ, một tu sĩ, một nhân cách, một
con người bình thường và vĩ đại như vậy. Chắc chắn Ngài
là một trong những vị đã đắc quả A-La-Hán (lý tưởng
phổ thông thời bấy giờ) hay ít ra là một trong những vị
đang đi trên con đường dẫn đến đạo quả A-La-Hán.
Upatissa tự nhủ: "-
Ta hãy đến gần và hỏi Ngài: Vì sao Ngài thoát ly thế tục?
Thầy của Ngài là ai? Ngài truyền bá giáo lý gì?"
Tuy nhiên, thấy Ðại Ðức
Assaji đang yên lặng đi trì bình, Upatissa không dám làm rộn
Ngài.
Khi Ðại Ðức Assaji đi
bát xong, hướng mắt đến một khu rừng xa cất bước,
Upatissa cung kính đi theo sau, tự nghĩ:
"- Chắc chắn Ngài
đang tìm đến một nơi an tịnh phải lẽ để độ thực. Ta
sẽ đi theo Ngài, tìm cách hầu hạ Ngài như một người đệ
tử. Rồi ta sẽ hỏi đạo từ nơi Ngài."
Ðại Ðức Assaji biết có
người đi theo sau, nghĩ rằng:
"- Mấy ông du sĩ
ngoại đạo này thường cống cao, ngã mạn. Chúng không biết
rằng, khi Ðức Thế Tôn xuất hiện ở trên đời thì tất
cả các giáo phái chủ, giáo phái sư của chúng chỉ còn là
những ngọn đèn le lói, những con đom đóm lập lòe! Thế mà
chúng cứ muốn đem so ánh sáng của mình với ánh sáng của
mặt trời, mặt trăng! Tuy thế, ta cứ để cho chúng muốn làm
gì thì làm với cái lập lòe, le lói ấy! Không ai có thể phá
rối được sự an tĩnh của những đệ tử Ðức Tôn Sư -
dẫu là uy lực của Chư Thiên, Phạm Thiên, ma quân hay loài người!"
Ðến một lùm cây cao, có
bóng mát, Ðại Ðức Assaji đưa mắt nhìn bao quát một vòng
rồi dừng chân lại.
Upatissa hiểu ý Ngài đã
tìm ra được chỗ nghỉ, nên nhanh nhẹn lấy chiếc tọa cụ
của mình mang theo, trải ra trên đám cỏ bằng phẳng, sạch
sẽ rồi thưa rằng:
- Bạch Ngài, xin Ngài hãy
an tọa trên tấm tọa cụ này. Xin Ngài hoan hỷ tiếp thọ
tấm lòng thành kính của con.
Ðại Ðức Assaji gật đầu
đáp trả, mỉm cười bình lặng, ngồi xuống rồi mang bình bát
ra, để bên chân rồi thong thả độ thực. Ngài dùng chậm rãi,
từ tốn, an trú chánh niệm trước mặt, rốt ráo hiện quán,
rốt ráo tỉnh thức.
Upatissa đứng một bên,
vòng tay cung kính, nét mặt trang nghiêm, bình lặng.
Một ý nghĩ khởi sanh
trong tâm Ngài Assaji:
"- Người này, vị
du sĩ trẻ tuổi này; tuấn mỹ, trang nghiêm và rất mực cung
kỉnh này - biểu lộ một sự chân thực hiếm có! Ta chưa
từng thấy ai, biết ai trong hàng ngoại đạo lại toát ra cái
vẻ tri thức đích thực, đạo hạnh và khiêm tốn hy hữu như
vậy. Phải chăng, đây sẽ là một đóa kỳ hoa khi được ánh
nắng siêu thoát của Ðức Tôn Sư dọi đến?"
Ðại Ðức Assaji vừa
rời tay khỏi bình bát sau khi thọ thực xong, Upatissa đã nhanh
nhẹn và cẩn trọng dâng đến Ngài nước rửa, nước uống,
tăm xỉa răng mà những du sĩ hành cước luôn luôn mang sẵn bên
mình.
Ðại Ðức Assaji im
lặng thọ nhận, tự nghĩ:
"- Không phải không
duyên cớ mà y đến bên ta, cung kính và hầu hạ ta với tư cách
một người đệ tử thuần hậu, ngoan ngoãn. Ta hãy tìm một
chỗ phải lẽ để nghỉ ngơi, sau đó, thì giờ ta sẽ dành
cho thiền định, an trú tâm giải thoát rồi ta sẽ xem thái độ
của y ra sao."
Ðại Ðức Assaji đứng
đậy. Upatissa nhanh chóng thu dọn, cất đặt mọi thứ rồi thưa
rằng:
- Bạch Ngài! Chẳng hay
Ngài có ý định tìm một gốc cây khác, một khu rừng khác
để tỉnh chỉ vào buổi trưa? Ðệ tử xin được đi theo
hầu hạ, có việc gì xin Ngài cứ tùy nghi sai bảo.
Ðại Ðức Assaji đáp:
- Bần đạo đã hoan hỷ
thọ nhận tất cả mỹ ý của ngài rồi, vị du sĩ trẻ
tuổi ạ! Nay đến thời tỉnh chỉ của bần đạo, khỏi
phiền đến ngài nữa. Không rõ bần đạo có thể giúp ích
được gì cho ngài đây?
Upatissa thỉnh Ðại Ðức
Assaji ngồi xuống trở lại trên tấm tọa cụ của mình, cung
kỉnh đảnh lễ sát đất, ôm chân bụi của Ngài rồi bạch:
- Ðệ tử lang thang tìm
Ðạo đã nhiều. Ðệ tử đã lê gót ta bà khổ hạnh khắp
mọi quốc độ, nghe nơi nào có vị đạo sư lỗi lạc đệ
tử đều tìm đến chiêm ngưỡng, cúng dường, học hỏi giáo
pháp. Ðệ tử ở trong truyền thống Bà la môn đã học hết
kinh điển Bà la môn, tu tập hết mọi con đường dẫn đến
Phạm Thể, nhưng cuối cùng vẫn bế tắc và khổ đau. Bao năm
nay đệ tử khẳng khái phất tay từ bỏ chúng, bước ra ngoài
chúng; đã học hỏi với rất nhiều giáo phái, rất nhiều chân
sư hiện đại nhưng Chân Phúc và Bất Tử vẫn không tìm
thấy!
Bạch Ngài, vị Sa môn
khả kính! Ðệ tử chưa từng thấy ai có được ngũ quan
trong sáng, bình thản và an tịnh như Ngài. Phong thái của Ngài
mới tươi mát, tịch tịnh và siêu thoát làm sao! Bạch Ngài!
Con chiêm ngưỡng Ngài như thế rồi tự nghĩ: "Ðây đúng
là nhân cách của bậc vĩ nhân A-La-Hán hay ít ra là cũng đang
trên đường đi đến đạo quả A-La-Hán".
Vậy xin Ngài hãy dạy
cho con biết, vì mục đích nào mà Ngài thoát ly thế tục? Có
ai làm Tôn Sư của Ngài trên đời này không? Ngài thọ giáo
với ai? Và Giáo Pháp Ngài thọ giáo ấy nó như thế nào?
Vị A-La-Hán chăm chú lắng nghe, tự nghĩ:
"- Ðúng là y đã nói
tận đáy lòng. Ðúng là một du sĩ có học thức, có lễ độ,
có hạnh kiểm. Ðúng là y đã từng nỗ lực cần cầu sự an
ổn, vượt thoát mọi khổ ách ở trên đời."
Ngài bèn khiêm tốn trả
lời - thái độ khiêm tốn, chừng mực là đặc điểm của
bậc Thánh nhân.
- Này vị du sĩ trẻ
tuổi chân thật! Bần đạo chỉ là một tu sĩ sơ cơ. Bần đạo
chỉ mới tập tành bước chân vào Giáo Pháp này. Bần đạo
ít học, ít ngôn ngữ, ít khả năng nên thật không đủ sức
giảng giải Giáo Pháp một cách rành rẽ được.
Upatissa thành kính nói:
- Kính bạch Ngài! Con là
Upatissa, xin Ngài cứ chỉ giáo cho con ít nhiều. Dẫu chỉ
một ít nhưng con sẽ cố gắng tự tìm hiểu Giáo Pháp bằng
trăm ngàn cách.
Và chàng lại đảnh lễ
một lần nữa:
- Con là người khao khát
Giáo Pháp như hạn hán trông mưa, nhất là thứ Giáo Pháp mà
Ngài đã uống vào lòng rồi tỏa sáng, chói ngời nơi tứ oai
nghi, nơi cung cách và nơi tác phong của Ngài. Xin Ngài hãy ban
cho con một ít về Giáo Pháp ấy. Ngài chỉ cần một vài
lời tóm tắt. Dẫu một vài lời nhưng là cái căn bản, cốt
lõi và thiết yếu nhất.
Biết lòng khẩn, thiết
tha của chàng thanh niên, Ðại Ðức Assaji nói:
- Vậy này hỡi người
du sĩ đáng mến! Bần đạo sẽ tóm tắt gọn ghẽ triết lý
cao siêu của Ðấng Tôn Sư. Hãy lắng tai để nghe, hãy lấy
trí để thấy:
"Các Pháp phát
sanh do bởi một nhân,
Nhân ấy, Ðức Như Lai đã chỉ rõ.
Và Ngài cũng dạy phương pháp để,
diệt tắt nhân ấy.
Chính đó là giáo huấn của vị Ðại Sa môn!"
Bốn câu kệ tóm tắt toàn
bộ Giáo Pháp thật giản dị mà cũng vô cùng cao siêu. Trí
tuệ của Upatissa lúc bấy giờ có lẽ đã thuần thục để
thấu triệt chân lý ấy. Như một ánh nắng, một tia sáng...
Chỉ cần một gợi ý, một mở phơi... là Upatissa thấy hé
lộ một con đường đi đến Chân Phúc và Bất tử! Còn kỳ
diệu hơn thế nữa, là không đợi đến lúc Ðại Ðức
Assaji đọc xong bốn câu, mà chỉ mới hai câu đầu tiên thôi
- Upatissa đã chứng quả Tu-Ðà-Huờn (Sotapati), đã đi vào dòng
Thánh.
Upatissa đứng lặng hồi
lâu, toàn thân chàng chấn động mạnh: một trạng thái siêu
thoát đã đến với tâm trí chàng!
Xúc động, cảm kích,
tri ân bàng hoàng lẫn lộn - Upatissa quỳ xuống ôm chân Ðại
Ðức Assaji, nghĩ rằng:
" Ý nghĩa của sự
giải thoát, Chân Phúc và Bất Tử ta đã tìm thấy ở đây
rồi."
Bèn nói:
- Bạch Ngài! Ðệ tử đã
tìm thấy rồi. Thật là siêu thoát và vĩ đại là Giáo Pháp
vô thượng này. Xin Ngài đừng giải rộng thêm nữa. Ðối
với đệ tử, vậy là quá đủ rồi, quá đủ cho mục đích
của một thiện gia nam tử xuất ly cần cầu an ổn mọi ách
phược trên trần thế.
Ðại Ðức Assaji biết
vị du sĩ trẻ tuổi đã đắc pháp nhãn, đã thấy ánh-sáng-của-con-đường,
bèn tiếp:
- Hãy đi đến bên chân
Ðức Tôn Sư, Bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác - Ngài còn
có cả một kho tàng Pháp Bảo, chỉ để dành cho những ai có
trí.
- Bạch Ngài! Hiện Ðấng
Vô Thượng Giác giờ ở đâu?
- Này kẻ tầm Ðạo! Cũng
gần đây thôi. Ðức Tôn Sư hiện đang ở rừng Tre, chỗ trú
ẩn của loài sóc.
- Bạch Ngài! Rồi đệ
tử sẽ đến đó. Hiện giờ, đệ tử có một người bạn
thân, cũng cần cầu Giáo Pháp như đệ tử vậy, trước khi
chia tay, có lời hẹn ước như sau: "Nếu ai tìm được Ðạo
Bất Tử trước tiên, phải chỉ lại cho người kia." Nay
đệ tử phải thông báo cho bạn niềm vui bất tử này. ất hôm
nữa thôi, chúng đệ tử sẽ đến quỳ bên chân Ðức Giáo
Chủ vô song.
Upatissa cung kính quỳ
mọp đảnh lễ Ngài Assaji, từ giã, sau đó, đi tìm Kolita.
Thấy bạn với dáng đi,
với nét mặt tỏa sáng rạng rỡ kỳ lạ chưa từng được
thấy, Kolita ngạc nhiên hỏi:
- Này hiền huynh! Phải
chăng hôm nay hiền huynh đã tìm ra Ðạo Bất Tử?
-Phải, hiền đệ ạ!
Thật là hạnh phúc thay cho chúng ta, cho tất cả chúng sanh, vì
Ðạo Bất Tử đã thật sự có mặt trên đời này. Một Ðức
Thế Tôn, một nhân cách vô song, một bậc A-La-Hán vĩ đại -
đã tuyên bố một Giáo Pháp vô song và vĩ đại chưa từng
được nghe! Huynh đã nếm được hương vị đầu tiên của
Giáo Pháp ấy qua đệ tử của Ðức Vô Thượng ấy. Bây
giờ, hiền đệ hãy lắng tai để nghe, lấy trí để thấy...
đây là bốn câu kệ tóm tắt Giáo Pháp bất diệt ấy...
Nói thế xong, Upatissa đọc
lên. Khi bốn câu kệ ngôn vừa chấm dứt, cũng như Upatissa,
Kolita chấn động cả châu thân, ánh sáng Bất Tử lóe hiện:
Kolita nhập vào giòng Thánh, đắc quả Tu-Ðà-Huờn.
Cũng im lặng giây lâu, cũng
bàng hoàng xúc động như Upatissa, Kolita chấp tay cung kính:
- Quả thật là Giáo Pháp
tối thượng, vĩ đại đã xuất hiện ở trên đời do một
Ðấng Ðại Giác - vì lợi ích cho chúng sanh. Con xin cung kính
đảnh lễ Giáo Pháp ấy. Con xin cung kính tri ân Giáo Pháp, đã
cho con thấy bến, thấy bờ, thấy được ánh sáng vinh quang và
bất tử.
Kolita run run nắm tay
bạn:
- Này hiền huynh! Vậy Ðức
Thế Tôn giờ ở đâu?
- Thầy của huynh cho
biết rằng, Ðấng Ðại Giác hiện ở Trúc Lâm, tức là
rừng Tre của vua Bình Sa.
- Chúng ta hãy mau mau đến
chiêm bái Ngài.
Upatissa suy nghĩ một lát:
- Vâng, rồi chúng ta sẽ
đến chiêm ngưỡng Ngài, sẽ quy y với Ðấng Ðại Giác ấy.
Nhưng hiền đệ nghĩ như thế nào, có nên thông báo sự
kiện hy hữu này cho thầy cũ của chúng ta, đạo sĩ Sanjaya
hay biết chăng? Có nên thức tỉnh thầy của chúng ta từ bỏ
mớ giáo lý hời hợt, nông cạn, ởm ờ đánh lận con đen
bằng cái triết học "bất khả tri", với cái cõi
"bình an hằng cửu" giả tạo ấy hay không? Khi mặt
trời chân lý đã có mặt - thì tất cả ngọn đèn của các
triết thuyết trên thế gian sẽ không còn rọi sáng cho ai được
nữa!
Kolita gật đầu:
- Phải lắm! Tất cả các
con suối, con sông cuối cùng phải đổ vào con sông Ðại
Hằng, cùng thế ấy, hãy thuyết phục thầy cũ của chúng ta
đi theo ánh đạo Quang Vinh Bất Tử.
Người
thầy cũ
Trên đường đến tu
viện của đạo sĩ Sanjaya, đôi bạn thấy thấp thoáng khá
nhiều tu sĩ áo vàng. Ngạc nhiên làm sao, họ mới chú tâm để
ý. Cũng là áo vàng, cũng là màu hoại sắc, nhưng trông
những tu sĩ này hoàn toàn khác xa với những tu sĩ khác nhan
nhãn khắp nhiều quốc độ. Trông họ có vẻ gọn gàng,
sạch sẽ và tươm tất làm sao! Những vị này đều đồng
loạt cạo bỏ râu tóc; và cách đi đứng, phong thái, nét
mặt của họ đều toát ra vẻ an nhiên, tĩnh lặng - thật khác
xa với những tu sĩ ngoại đạo, lúc nào cũng nhuốm vẻ âu
sầu, vàng võ, hốc hác, đăm chiêu, lơ đễnh, hời hợt,
hấp tấp, kỳ bí, tóc tai rối bù, kỳ hình dị dạng, diêm dúa,
dơ bẩn v.v...
Chỉ chừng ấy thôi, đôi
bạn đã xác tín được đâu là thiện mỹ! Giáo Pháp ấy có
một uy lực, một năng lực cảm hóa con người và cuộc đời.
Giáo Pháp ấy không ru ngủ, huyễn hoặc con người trong lời
kinh tiếng kệ trầm buồn chỉ có tác dụng của liều thuốc
an thần và hứa hẹn những thiên đường cực lạc xa xăm. Giáo
Pháp ấy đã lôi dục vọng con người từ bỏ lý tưởng đại
ngã, chân ngã rỗng tuếch, phù phiếm trở về trực diện
với hiện tại bằng sự tỉnh thức, chánh niệm nơi mỗi bước
đi, hơi thở. Họ đấy, những đệ tử của Ðức Vô Thượng,
có lẽ là bạn của thầy ta, đang chậm rãi, thong dong, hiện
quán trong từng cử chỉ, từng tâm niệm. Và rõ ràng, an
lạc, hạnh phúc như tỏa sáng dịu dàng trên từng khuôn
mặt, phơi phới, tươi đẹp làm sao! Ôi! Giáo Pháp và Giáo
Hội của Ðức Tôn Sư, quả thật, đã thổi một luồng sinh
khí, mới mẻ, trẻ trung, trang nghiêm và trong lành - xua tan hương
khói âm u của đền miếu, hang động, bùa chú, phù phép... đã
tù đọng ngầy ngật mấy ngàn năm trong sinh hoạt tâm linh, tín
ngưỡng của đất nước này. Và còn hơn thế nữa, đã lôi
được tinh thần con người ra khỏi những triết lý một
chiều, phiến diện; đám sương mù chia chẻ của lý luận;
những học thuyết xa rời thực tế cuộc sống; những cầu
nguyện cuồng tín về những thế giới "bất khả
tri"!
- Vậy thì chúng ta phải
cương quyết lôi kéo thầy của chúng ta từ bỏ nơi mê lộ mà
tìm về với chánh đạo.
- Ðúng thế! Upatissa đáp
lời Kolita - một tín ngưỡng trong sáng và lành mạnh, một Giáo
Pháp trong sáng và lành mạnh, một Giáo hội trong sáng và lành
mạnh của những tu sĩ trong sáng và lành mạnh đang có mặt
ở thế gian này - dĩ nhiên là phải để dành cho những căn cơ
thượng trí!
Thầy của chúng ta lẽ nào
không có tai để nghe, không có mắt để thấy, không có trí
để tìm hiểu?
Gặp lại hai người
học trò ưu tú, đạo sĩ Sanjaya rất mừng vui. Sau một hồi
đưa đẩy xã giao, Sanjaya hối thúc đôi bạn kể cho nghe
những việc xảy ra trên bước đường lang thang tìm đạo
bấy nay. Ông hy vọng là họ đã trở về lại với ông nên
tỏ ra thông cảm sâu sắc:
- Ta hiểu lắm! Cuộc
lang thang tầm đạo dĩ nhiên là nhiêu khê, vất vả lắm! Ði
một ngày đàng, học một sàng khôn - thế gian còn bảo thế,
huống chi đây là tháng ngày đi tìm chân lý. Vậy trí khôn
của các người giờ như thế nào? Có vị chân sư, giáo chủ
nào bước qua được thế giới "bất khả tri" của
ta chăng?
Không trả lời câu hỏi
của đạo sĩ Sanjaya vội, Upatissa chậm rãi thuật lại một cách
tóm tắt công việc tầm đạo của hai chàng cho đạo sĩ
Sanjaya nghe. Upatissa thừa khôn khéo để nói rằng, quả thật
đi khắp mọi phương trời cũng không tìm đâu ra một chân lý
siêu việt, cuối cùng, mệt mỏi, bất lực - hai chàng trở
lại Vương-Xá thành...
Mới nghe nói đến đây, Sanjaya cười ha hả, cướp
lời:
- Ðấy! Ta nói có sai đâu!
Tất cả triết gia, giáo phái chủ, giáo phái sư trên đời này...
đều là những con đom đóm, sao sánh được ngọn đèn minh
triết của ta?
Upatissa đoán biết là
sẽ có câu nói ấy từ cửa miệng của đạo sĩ Sanjaya, nên
chàng gật đầu:
- Bạch thầy! Thầy đã
nói đúng! Quả thật tất cả giáo phái chủ, giáo phái sư trên
đời này chỉ là ánh sáng đom đóm và giáo pháp của thầy là
ngọn đèn...
Ðạo sĩ Sanjaya gật đầu
hoan hỷ:
- Các ngươi biết thế là
hay! Biết thế là hay!
Kolita nhẹ nhàng nói:
- Nhưng mà thầy ạ! Chúng
đệ tử vừa gặp một Giáo Pháp, mà Giáo Pháp ấy lại sáng
rỡ như mặt trời mặt trăng kia!
- Cái gì? Cái gì? Các ngươi
vừa nói cái gì?
Sanjaya nhổm dậy, đã
mất hẳn bình tĩnh.
Upatissa bèn kể lại,
rằng, ngày hôm qua, tại đây, tại Vương-Xá thành này, chàng
đã gặp được đệ tử của Ðức Thế Tôn ra sao, cả hai chàng
đều thấy rõ ràng Giáo Pháp ấy tỏa sáng tự trời cao, soi
rọi mọi ngõ ngách tối tăm của phiền não và sở tri, đã
thật sự đem đến an lạc tối thượng cho con người như
thế nào...
Rồi Upatissa thỉnh
nguyện:
- Bạch Thầy! Vì trọng
thầy, mến thầy, và để đáp đền ơn nghĩa cũ - chúng đệ
tử tha thiết mong thầy từ bỏ giáo pháp này, cùng đi với
chúng đệ tử đến quy y với Ðức Tôn Sư Vô Thượng.
Nghe xong, đạo sĩ Sanjaya
ngạc nhiên la lên:
- Cái gì? Các ngươi nói
cái gì vậy? Ðến làm đệ tử ông Thế Tôn ấy; người có
Giáo Pháp vĩ đại như mặt trời, mặt trăng? Xem nào, các ngươi
có lầm lẫn không đấy! Ta đây đã là tôn sư của nhiều người
- bây giờ theo ý các ngươi là phải từ bỏ tất cả, đừng
làm tôn sư nữa, mà hãy đi làm đệ tử? Có xuẩn ngốc không
chứ?
Sanjaya giận dữ, phất y đứng dậy, cất giọng
rổn rảng:
- Ðừng có thuyết phục
ta những việc vô lý như thế! Danh dự và địa vị của ta
không thể trong một lúc mà đem thả trôi sông. Ta đã nhất tâm
khổ hạnh tu chứng, đạt được thiền định bậc cao. Ta
lại cố công giáo huấn môn đồ, gầy dựng cơ sở vật
chất, tổ chức đời sống tu học cho người xuất gia và
tại gia. Tất cả đều thịnh mãn, trù phú và tốt đẹp. Thành
quả này không dễ gì một sớm một chiều mà có được, không
dễ gì ai cũng làm được. Phải đầy đủ trí tuệ, dõng
lực, bản lãnh, nghị lực, phước báu cùng từ bi tâm. Ðáng
lý ra, các ngươi là hai đệ tử ưu tú của ta, phải ở bên
ta, tiếp sức với ta, làm cho danh dự, tiếng tăm và địa
vị của ta mỗi ngày mỗi to lớn, lan rộng, lan xa ra mới
phải. Danh dự, tiếng tăm và địa vị của ta cũng là của các
ngươi. Ở bên ta, ta có cái gì là các ngươi có cái ấy...
thử hỏi các ngươi còn đòi hỏi cái gì nữa mới được
chứ?
Upatissa và Kolita thất
vọng vô cùng. Trước đây, Sanjaya bao giờ cũng có vẻ trầm
tĩnh, độ lượng, nghị luận sắc bén; thường chứng tỏ
một nội lực, một sức học thâm sâu. Bây giờ, ông đã
lộ trần truồng bản chất một con người nóng nảy, cạn
cợt, ham danh, ham lợi một cách quá thô thiển.
Sanjaya vẫn không dừng lại ở đó:
- Hả? Tại sao các ngươi
lại im lặng? Trên đời này, có ai dại khờ đánh đổi một
thành quả to lớn như vậy để chỉ lấy cái bát xin ăn, làm
một đệ tử với hai bàn tay trắng, không tiếng tăm, không
danh vọng?
Upatissa và Kolita vẫn im
lặng.
Bất đồ, Sanjaya nắm bình
hoa trên bàn ném xuống đất vỡ toang: những mảnh sành nhỏ
va nhau loảng xoảng. Ông chậm rãi cúi xuống, lựa chọn,
rồi cầm lên tay một mảnh nhỏ, nhìn hai người, cất
tiếng:
- Nói đi, nói đi! Theo ý
các ngươi thì mảnh sành này hứng được bao nhiêu giọt nước?
Vì nể thầy Kolita đáp:
- Ít thôi, chỉ vài
giọt là cùng.
- So với chiếc bình to
chưa vỡ kia?
- Bạch thầy, chẳng thể đo lường được!
Ðắc ý, Sanjaya cười to
lên:
- Thấy chưa! Tự các ngươi
nói đấy! Các ngươi muốn ta tự đập vỡ cái bình to của mình
ra, để nhận lại cái mảnh sành chút xíu mà đựng nước!
Chỉ có kẻ ngu mới làm vậy phải không?
Trí tuệ Upatissa chợt máy
động. Dùng lý luận của đối phương để đập vỡ lý
luận của đối phương là chuyện mà chàng thường làm. Nếu
muốn, chàng chưa bao giờ hạ phong trước một ai cả. Ở đây,
tuy nhiên, không phải là vậy, chàng chỉ muốn sử dụng sự
sắc sảo của lý luận để thức tỉnh đạo sĩ Sanjaya mà thôi.
Cho nên, để từ từ đưa Sanjaya vào lưới bủa của chính ông
ta, chàng hỏi:
- Bạch thầy! Có thể nào,
cùng một câu chuyện cái bình và mảnh sành mà đệ tử lại
hiểu một cách khác không?
- Làm sao lại khác được!
- Ví như đệ tử hiểu
ngược lại rằng: cái bình kia nếu thầy khẳng khái đánh
vỡ thì tốt đẹp cho thầy biết bao!
- Làm gì có chuyện đó!
Cái chuyện bình vỡ mà tốt đẹp là điều lạ thật đấy,
đáng phục thật đấy!
Kolita chăm chú lắng
nghe, không hiểu được trí tuệ của vị sư huynh mình sẽ
dẫn câu chuyện đến đâu! Một trực giác xẹt đến. Ồ! Chàng
đã hiểu. Bất giác chàng mỉm cười.
Upatissa thấy Sanjaya đã
rơi vào tròng; nghiêm trang và cứng rắn, chàng cất giọng
trầm hùng, đanh thép, không khoan nhượng:
- Bạch thầy! Theo giáo lý
truyền thống Bà la môn thì mỗi chúng sanh là một tiểu ngã.
Gọi là tiểu ngã nhưng trải qua bao kiếp luân hồi, từ vô
thủy đến nay, nó tích lũy không biết bao nhiêu là ác
nghiệp, hận thù, oan trái; nó thu góp không biết bao nhiêu là
tham muốn xấu xa, độc ác. Thế mà đã đủ đâu, cái tiểu
ngã ấy chất chứa vô lượng dục vọng rồi mà nó vẫn
cảm thấy chưa đủ, chưa thỏa mãn - nó còn muốn phồng cho
to lên bằng đại ngã kia!
Thưa thầy! Dục vọng
trong mỗi chúng sanh chính là những cái bình chứa ấy. Cái bình
chứa ấy ở nơi thầy, hiện giờ nó đựng được nhiều
thứ lắm. Nó đựng đầy trong lòng nó nào là kiêu căng, ngã
mạn, tối tăm, tham vọng cùng sân si giận dữ!
Ngoài ra, cái bình tiểu
ngã rất to của thầy còn có công năng diệu dụng khác; có
thể cắm lên đấy những cành hoa lộng lẫy, diêm dúa như trương
lên những bảng hiệu quảng cáo mạ bạc thếp vàng lóng la lóng
lánh: hoa này là vì giáo phái, hoa này là vì đệ tử, hoa này
là vì lợi lạc cho quần sanh, hoa này là vì chân lý tối thượng,
hoa này là vì xả kỷ vị tha v.v...
Ôi! May mắn làm sao! Ðáng
mừng làm sao! Cái bình to ấy, hôm nay, thầy của chúng ta đã
đập vỡ đi rồi!
Sanjaya nín lặng, nghẹn
họng, tự nghĩ:
"- Chúng đã dùng lý
luận khôn khéo để bẻ gãy lý luận của ta dễ dàng như thò
tay lấy đồ vật ở trong túi. Chúng đã dùng chính cái gậy
của ta để đập lên cái sọ của ta, thế nhưng, ta đã không
đở nổi. Chúng đã dùng chính cái lưới của ta để bủa vây
ta, thế nhưng ta đã không thoát ra khỏi."
Upatissa bắn tiếp mũi tên
thứ hai:
- Bạch thầy! Chúng đệ
tử không nghĩ rằng, danh vọng, tiếng tăm, địa vị,... cho
chí lâu đài, vương tước, bảy báu, gia sản vật chất đầy
dẫy Châu Diêm Phù Ðề... lại quý trọng đến vậy. Khi đã
đập vỡ cái bình rồi, thầy sẽ thấy như thế. Chỉ có
một vương quốc thật sự đáng quý trọng, đó là những
lời Pháp chơn chánh. Chỉ có một vương quốc thật sự đáng
ngưỡng mộ, hướng về - đó là ánh sáng của Ðạo Bất
Tử!
Bạch thầy! Giáo Pháp
của Ðức Tôn Sư, Bậc Ðại Giác đã thuyết có công năng đập
vỡ những chiếc bình bản ngã to lớn, đoạn hoặc vô minh và
phiền não cho chúng sanh, bẻ gãy bánh xe sinh tử và trầm luân
vạn kiếp. Sau rốt, nó lại có công năng đem lại chân phúc,
trí tuệ siêu đẳng và đức từ ái phi phàm. Giáo Pháp chỉ
để dành cho những ai có tai để nghe, có mắt để thấy, có
trí để tự mình giác hiểu. Giáo Pháp như nụ đàm hoa,
hằng vạn năm mới nở một lần; nó có mùi hương vi diệu
tỏa ngát trên trần thế, đem lại sự mát mẻ, trong lành cho
chúng sanh giữa cõi nhiễm ô, tục khí.
Vậy thì bạch thầy!
Những gia tài sinh diệt, những hoạch đắc thống khổ mê
lầm của bản ngã kia làm sao lại dám đem so sánh với ánh sáng
Giáo Pháp của Ðạo Bất Tử? Nếu thầy biết nghe theo lời
của chúng đệ tử - thì nên bỏ cái nhỏ mà tìm về cái
lớn, phất tay cái hữu hạn mà nắm lấy cái vô cùng, xa lìa
cái hạnh phúc phù du để chụp bắt cái an lạc như chân như
thật, tung hê cái buộc ràng sinh tử để di vào chân trời
giải thoát và tự do.
Bạch thầy! Ðấy là điều
đáng làm. Và thầy nên làm như vậy, bởi thầy là bậc trí
trên đời này. Ðạo sĩ Sanjaya bị thuyết phục một hồi, đâm
ra lúng túng, tự nghĩ:
"- Họ hiểu biết
nhiều quá. Họ rào trước, đón sau chằng chịt, ta không có
một kẽ hở nào để đặt chân vào đấy mà tranh luận. Tuy
nhiên, ta không thể đứng vào vị thế bị bao vây, nhu nhược,
yếu hèn, phải cất lên tiếng rống của con mãnh sư."
Bèn hét:
- Thật là lý luận
rỡm, khua môi múa mép! Thôi! Ta tha thứ cho đó! Các ngươi hãy
đi đi! Ði đâu thì đi! Hãy đi cho khuất mắt ta!
Upatissa hiểu tâm sự
lẫn bản ngã của thầy, nên cố nhẫn nại:
- Thầy cùng đi với chúng
đệ tử chứ?
Ðạo sĩ Sanjaya la gắt lên:
- Sao nói gì kỳ lạ
vậy? Làm sao ta lại phải đi!
- Sao lại không đi được
hở thầy? Upatissa cương quyết không bỏ cuộc - nếu thầy
thấy quan điểm của đệ tử là đúng, thầy phải chấp
nhận nó, và đi theo đệ tử; nếu thầy thấy quan điểm
của đệ tử là sai, thầy hãy bác bỏ nó, và đệ tử sẽ
ở lại bên thầy. Dứt khoát là vậy. Chẳng hay, quan điểm
của đệ tử đúng hay sai?
Ðạo sĩ Sanjaya như bị
đẩy đến đường cùng, im lặng một lát rồi thở dài nói:
- Các ngươi không sai điểm
nào cả.
Ðến lượt Kolita ngạc
nhiên:
- Không sai, nhưng thầy vẫn không theo? Nó đúng,
nhưng thầy vẫn không chấp nhận?
- Phải!
- Tại sao? Kolita vặn
hỏi - Một việc phải mà thầy vẫn không theo? Thế ra, thầy
vẫn khư khư sống với cái sai của mình?
Ðạo sĩ Sanjaya nghe nản
quá, tự nghĩ:
"- Ðối với những
kẻ trí tuệ, chân thực và đầy nhiệt huyết này, nếu như
không được trả lời một cách rõ ràng, dứt khoát, chúng
sẽ căn vặn cho đến tận cùng, ta sẽ không còn chỗ nào mà
lách, mà trốn được nữa. Ta đã mệt quá rồi, thôi, thà
rằng cứ nói thật một lần cho xong."
Bèn nói:
"- Ðất đã không
chịu trời thì trời xin chịu đất vậy!" Các ngươi hãy
nghe đây! Các ngươi đều là kẻ có trí tuệ, có thể hơn
cả ta, lại là người chân thật nữa. Ðiều mà các ngươi
bảo rằng đúng, Giáo Pháp mà các ngươi cho là Vô Thượng,
Chân Phúc và Bất Tử - thì hẳn nhiên ta không một mảy may dám
nghi ngờ. Nhưng đây mới là sự thật ta muốn nói - giọng
Sanjaya đến đây như chùng hẳn xuống - ta thật sự đã già
rồi, không thể thay đổi những thói quen đã ăn sâu quá lâu;
ta thật sự chỉ quen làm đạo sư thiên hạ, không thể thay
đổi thành đời sống của một đệ tử được nữa!
Rồi ông nói to lên:
- Các ngươi nghe rõ rồi
đấy chứ! Thôi, hãy đi đi! Hãy để cho ta được yên!
Nghe lời thành thật,
Upatissa cảm thấy thương xót cho vị thầy già, biết là không
có cách chi thuyết phục được nữa, vẫn vớt một câu
cuối cùng:
- Khi Ðức Thế Tôn
xuất hiện ở trên đời, thì đấy là phúc duyên ngàn vạn năm
ít có, thầy mà không theo về, thầy sẽ hối hận .
Ðạo sĩ Sanjaya nói
nhỏ, như chỉ vừa đủ cho tự mình nghe:
- Phải rồi! Ðúng là
vậy thật. Ðúng là phúc duyên, là đại duyên thật. Ðấng
Ðại Giác kia là Tôn Sư mà ta đây cũng là Tôn Sư. Nhưng bao
giờ, trên trời nầy, kẻ ngu muội cũng nhiều hơn, mà kẻ có
trí thì ít lắm.
- Ý thầy nói gì, chúng
đệ tử chưa nghe rõ?
Sanjaya lại la lên:
- Ta đã nói quá rõ rồi
đấy chứ! Ta đã nói rằng, xin cho tất cả những kẻ khôn
ngoan, có trí thì hãy đến với Ðức Thế Tôn, Ðấng Ðại
Giác của các ngươi! Còn những kẻ ngu si, dốt nát, ngu muội
thì hãy đến với ta! Ha ha ha! Xem thử ai nhiều hơn! Hà hà!
Xem thử đệ tử Ðức Tôn Sư của các ngươi và đệ tử
của ta, ai đông hơn! Hà hà!
Nói vậy là hết sách
vở. Upatissa và Kolita bèn xá lễ, cáo từ.
- Vậy chúng đệ tử xin
bái biệt. Rồi thầy sẽ hối hận.
- Ta, Sanjaya, đầu đội trời, chân đạp đất,
không bao giờ hối hận!
Mặc dầu nói cứng
vậy, nhưng khi Upatissa và Kolita đi rồi, ông thẩn thờ dạo
quanh tu viện, thấy tất cả đều vắng tanh, trống trải, ông
vô cùng cáu giận. Bây giờ ông mới hiểu sự thật: ảnh hưởng
tinh thần của Upatissa và Kolita quá lớn trong đám môn đồ
của ông; và khi hai người ra đi, không những mang theo hai trăm
năm mươi đồ chúng của họ trước đây mà còn lôi cuốn
tất cả đồ chúng của ông nữa.
Càng nghĩ, Sanjaya càng
buồn nản, tức bực; ông uất đến hộc máu tươi. Tuy nhiên,
điều mà chẳng ai ngờ đến là ông không mảy may oán hận
Upatissa và Kolita, không mảy may oán hận đám môn đồ bất
nghĩa, mà ông hận chính ông vậy. Ôi! cao cả thay mà cũng bi
đát thay!
Xế chiều, hai trăm rưỡi
đệ tử của Sanjaya không đành lòng bỏ thầy tuổi già cô
độc một mình, họ bèn trở lại.
Upatissa và Kolita cũng cám
cảnh, khuyến khích họ trở về, rồi cùng với môn đệ
nhắm hướng Trúc Lâm lên đường.
Hai
vị đại đệ tử
Sau khi Ðức Phật nhận
lời khu rừng Tre của vua Bình Sa dâng cúng; Ngài cùng với môn
đệ bộ hành đến tận nơi chiêm quan thắng cảnh Trúc Lâm
nổi tiếng. Ðức Phật đứng trên đồi cao nhìn lướt qua
một vòng. Kia là những dãy núi xanh xanh bao quanh, nọ là
những con suối trắng xóa vắt ngang, vắt dọc như giải
lụa. Từng đám cây xanh đậm nhạt ẩn trong nhau, xen kẽ
nhau; điểm giữa là những vùng lá vàng, lá đỏ đậm sắc,
nổi bật như bức tranh vẽ của con người.
Ðến gần hơn, đi
luồng vào trong rừng, thì trúc không phải là loài cây duy
nhất. Cả một rừng nhiệt đới phô bày dáng cây, dáng lá,
màu vỏ cây, màu hoa phong phú trông thật ngoạn mục. Những
con đường không biết tự bao đời ẩn hiện thấp thoáng, bò
men bờ suối, chìm khuất đâu đó lại tiếp nối dưới chân
đồi xa... Suối chảy róc rách, uốn lượn đó đây, tạo thành
vũng, thành hồ rồi bình yên lặng lẽ đi qua đám cỏ lục
xanh rì... Chim đua hót vang rân. Nai hồn nhiên gặm cỏ. Thỏ
sợ hãi nhảy vút qua nấp trong bụi rậm ... Và ô kìa! Thiên
hô vạn hát là sóc! Sóc tía, sóc đen, sóc vàng, sóc nâu, sóc
rằn ri, sóc ngũ sắc... với những cái đuôi phồng lên, với
những đôi mắt tho lỏ, rụt rè... nhìn Ðức Phật và Tăng
chúng đi qua.
Ngồi lại trên một
phiến thạch bàn, Ðức Thế Tôn nói với môn đệ:
- Này các thầy tỳ-khưu!
Giáo Pháp của Như Lai vừa xuất hiện ở trên đời như một
luồng gió mới, như tiếng sấm gióng lên trong trời mưa, nhưng
đã từ lâu lắm rồi, giáo lý truyền thống Bà la môn đã bưng
tai, bịt mắt mọi người trong phúng tụng, đàn tế và cầu
nguyện nên không dễ gì ai cũng nghe được Pháp Mầu Bất
Tử. Những tu sĩ Bà la môn đã kết hợp với nhau thành một
giai cấp đầy thế lực, nắm giữ độc quyền liên hệ với
thần linh; nắm giữ độc quyền đám ma, nghi lễ, cúng tế;
thao túng mọi sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng; đã dìm con người
trong mọi thứ buộc ràng, nô lệ nên thật khó xiển dương
một Giáo Pháp tôn trọng tự do, giải thoát cho con người.
Này các thầy tỳ-khưu!
Những cây cối, chim chóc, nai, thỏ, sóc, trong khu rừng Trúc Lâm
này quả thật là trù phú và thạnh mậu. Ðất, nước, không
khí trong lành này đã nuôi dưỡng nó, đã làm cho nó được
tự do phát triển và lớn mạnh. Cũng vậy, muốn đem đến an
vui và hạnh phúc cho chúng sanh thì Giáo Pháp phải có nơi làm
cơ sở! Giáo Pháp ấy phải có đất, nước, không khí trong lành
làm nhân, làm duyên hỗ trợ để nuôi nó lớn lên, nuôi nó
trưởng thành vậy.
Này các thầy tỳ-khưu!
Như Lai tuyên bố rằng: mảnh đất nầy là cơ sở đầu tiên
ấy. Tại đây, Như Lai sẽ đợi chờ nhân duyên cho Giáo Pháp
được trọn vẹn, toàn hảo. Một Giáo Pháp được gọi là
trọn vẹn, toàn hảo không phải chỉ có một mình Như Lai và
hơn một ngàn thầy tỳ-khưu như vậy.
Lời tuyên bố của Ðức
Phật, hôm ấy, Chư Tăng không hiểu hết ý nghĩa. Qua ngày hôm
sau, vua Bình Sa, thân quyến và tùy tùng tìm đến vấn an, đảnh
lễ dưới chân Ðức Phật rồi ngõ ý thỉnh Ðức Thế Tôn và
Tăng chúng an cư mùa mưa ở đây. Ðức Phật im lặng nhận
lời.
Vua Bình Sa hoan hỷ phát
tâm làm công đức, như bổn phận của vị Thánh đệ tử,
xin được kiến thiết, xây dựng toàn bộ Trúc Lâm để Ðức
Phật và Tăng chúng có chỗ để an cư.
Một vị quan đại thần
lão niên, bên cạnh vua Bình Sa kính cẩn thốt lên:
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Ðệ tử là quan coi về thiên văn, địa lý, phong thủy. Từ lâu,
đệ tử biết rằng, đây là mảnh đất có khí tượng siêu
phàm, phi Ðức Thế Tôn và Tăng chúng - không ai ở được.
Ở đây, núi long, núi hổ, thiên tinh, đế tinh, kim tinh...
tất cả đều chầu về, qui phục. Giáo Pháp của Ðức Tôn Sư,
lấy đây làm căn cứ địa, thì Phạm Thiên, Chư Thiên, Ma vương,
Dạ-Xoa, La-Sát, Vua loài người, giáo phái chủ, giáo phái sư,
khắp nơi trong toàn cõi Châu Diêm Phù Ðề... phải qui chầu
hết thảy! Lành thay! Ðệ tử cung kỉnh chúc mừng Giáo Pháp
Vô Thượng.
Chư Tăng có vị mỉm cười,
có vị gật đầu lặng lẽ. Vua Bình Sa hỷ lạc dâng lên
bừng bừng, quát yêu người bề tôi trung tín:
- Thôi vừa rồi, thôi đủ
rồi! Ðức Thế Tôn và Tăng chúng bác học, đa văn còn biết
nhiều hơn - hơn cả vô lượng cái đầu óc nhỏ nhoi , bé tí
của tất cả ông thầy địa lý như ngươi cọng lại! Ðừng
có bép xép, múa môi cái tài phong thủy không đáng nửa đồng
xu! Mau mau cùng với đám thuộc hạ đi đo đạc, thiết kế...
chọn chỗ thích đáng để xây dựng tịnh xá cho Ðức Thế Tôn!
Rồi nơi nào là nhà giảng, nhà hội, trai phòng, tịnh phòng,
liêu thất, nhà tắm, nhà vệ sinh, rừng hoa, rừng cảnh, đường
kinh hành, rừng cây thiền duyệt... mỗi mỗi phải hoàn bị,
đầy đủ, tươm tất, tiện nghi, khang trang, thoáng mát, ấm cúng,
trang nhã! Nhưng hãy lưu ý đây: có nghệ thuật nhưng nghệ
thuật ấy phải giản dị, có công phu nhưng công phu ấy không
được rườm rà, quá tỉ mỉ. Tinh thần chỉ đạo của toàn
bộ nghệ thuật kiến trúc ở đây là: phải mới mẻ, không
được lặp lại, bắt chước từ nghệ thuật truyền thống,
cũng không được lai căng! Cao hơn nữa, đây là tài sáng
tạo của các ngươi: tinh thần nghệ thuật ấy phải toát ra
được sự êm đềm, tĩnh lặng, thanh thoát, giải thoát và
cao nhã... như chính Giáo Pháp, như là đời sống Thánh hạnh
của Ðức Thế Tôn và Tăng chúng vậy.
Và hãy nghe cho kỹ đây:
tất cả công trình xây dựng ấy phải hoàn thành trong vòng
hai tháng, trước mùa mưa! Nếu không xong, Trẫm sẽ lột mũ,
gõ đầu, đuổi về quê mà làm nghề kiến trúc và địa lý!
Quả thật là kiến
thức của một ông vua tài trí và hùng mạnh, lại là một
bậc Thánh đệ tử có bụng dạ nhân từ; nên lệnh ban ra,
vị kiến trúc sư kiêm nhà thiên văn, địa lý kia hoàn toàn vâng
phục chấp y, chẳng dám đưa ra được nửa lời góp ý.
* * *
Trúc Lâm tịnh xá đúng
là căn cứ địa đầu tiên của Phật Giáo, là nơi tiền
trạm, để từ đó, phát triển Giáo Pháp khắp các quốc độ.
Ðức Phật nhận lời an cư ba mùa mưa ở đây, ngoài ra còn
cố ý chờ đợi... hai người! Có hai người này như cánh tay
phải, cánh tay trái của Ngài, bánh xe Pháp mới được
chuyển luân xa rộng và viên mãn.
Hôm ấy Ðức Thế Tôn
đang ngồi trên bảo tọa, tam chúng (*) đoanh vây, thời Pháp
chấm dứt, Ngài nói với mọi người:
- Này các thầy tỳ-khưu!
Này hai hàng cận sự nam nữ! Như Lai đến Ma-Kiệt-Ðà không
những chỉ có nhân duyên với vua Bình Sa, là một hộ pháp đắc
lực khuông phò Giáo Hội, mà còn có ý chờ đợi một nhân
duyên khác nữa. Vậy thì hôm nay, ở đây, Như Lai sẽ tiếp
nhận thêm hai đóa hoa kỳ tuyệt, hai ngôi sao sáng, hai nhân cách
ưu tú nhất của Giáo Pháp. Nhân duyên ấy đã chín muồi, đã
tròn đủ. Các ngươi hãy nhìn xem! Hai thanh niên đạo sĩ
Upatissa và Kolita cùng hai trăm năm mươi đồ chúng đang đến
trước cửa của khu rừng.
[Ghi chú: (*) tam chúng: lúc
ấy chưa có tỳ-khưu ni]
Quả nhiên, khi Ðức
Thế Tôn vừa nói xong, Upatissa và Kolita đã vào đến tịnh xá
Trúc Lâm, theo sau là môn đệ bước đi thứ tự, trang nghiêm,
lặng lẽ.
Cả hai cung kính đến đảnh
lễ dưới chân Ðức Ðạo Sư rồi ngồi xuống một bên. Các
đệ tử đi sau cũng làm như thế, và ngồi rải rác khắp đó
đây.
Upatissa và Kolita đồng
thưa:
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Chúng đệ tử lang thang đã lâu nay mới về được quê nhà.
Xin Ðức Thế Tôn cho chúng đệ tử thụ giáo, quy y Tam Bảo,
ở trong hàng Tăng chúng để cùng được hạnh phúc đi trên
con đường Chánh Giáo.
Ðức Phật đáp:
- Nầy các thầy tỳ-khưu!
Etha Bhikkhave! ( Hãy lại đây, tỳ-khưu!). Như Lai cũng đang đợi
chờ các ngươi. Khi Pháp Bảo đã thấy rồi, thì đời sống
còn lại của một Sa môn Thánh đệ tử là những tháng ngày
thiêng liêng và đạo hạnh trong sạch để lợi ích cho mình,
cho Chư Thiên và loài người.
Khi Ðức Thế Tôn vừa
gọi: "Etha Bhikkhave!" thì Upatissa và Kolita đã đầy đủ
y bát, tướng hảo quang minh, đúng phong độ là hai bậc thượng
thủ của Giáo Hội, và sau khi Ðức Thế Tôn nói vài lời tóm
tắt, ngắn gọn về Con Ðường, cả hai liền nắm vững căn
bản Pháp Bảo, tâm trí thông suốt.
Lại một lần nữa, cả
hai quỳ bên chân Ðức Ðạo sư với vô vàn sự tri ân cao
cả. Từ đây Upatissa được gọi tên là Xá-Lợi-Phất (Sàriputta)
và Kolita được gọi tên là Ðại Mục-Kiền-Liên (Mahà
Moggallàna).
* * *
Ngay vào buổi chiều hôm
đó, Ðức Phật cho gọi Xá-Lợi-Phất và Ðại Mục-Kiền-Liên
đến bên rồi bảo:
- Trúc Lâm tịnh xá cho
đến hôm nay đã rất đông tỳ-khưu và cũng đã rất nhiều
người đắc được quả cao nhất, như vậy, Giáo Hội tạm
thời vững mạnh. Nói tạm thời vững mạnh vì Như Lai vẫn
chưa có được người trợ thủ khả dĩ thay mặt Như Lai để
lo Phật sự, Tăng sự cùng thuyết pháp, giáo giới đến chư
tỳ-khưu cùng các hàng cận sự nam nữ!
Hiểu ý Ðức Phật, cả
hai cùng quỳ xuống. Ðại Mục-Kiền-Liên thưa:
- Xin Ðức Thế Tôn cho
đệ tử đến ngụ cư nơi một ngôi làng vắng vẻ, tịch
mịch, cũng gần đây thôi. Ðệ tử biết là phải làm gì cho
tròn bổn phận.
Ðức Phật im lặng
nhận lời rồi nói với Xá-Lợi-Phất :
- Còn ông, hãy cùng đi
với Như Lai đến một chỗ khuất tịch nhất. Cũng như Ðại
Mục-Kiền-Liên vậy, ông cũng còn một phận sự phải làm và
phải hoàn thành. Cả hai ông phải đặt bàn chân cuối cùng lên
mảnh đất Bất Tử. Ðấy cũng là ước nguyện của Như Lai!
Ðức Phật lại nói
với Ðại Mục-Kiền-Liên :
- Ông cương quyết hành
trì cho đắc đạo quả A-La-Hán, điều ấy là phải lẽ, là
xứng đáng , là việc đầu tiên cần phải làm. Tuy nhiên,
sẽ có những trở ngại trên lộ trình ấy. Khi nào khó khăn
nhất, cơ hồ không vượt qua nổi, lúc ấy Như Lai sẽ có
mặt ở một bên.
Dặn dò thế xong, Ðức
Phật dẫn Ngài Xá-Lợi-Phất ra đi. Ngài bộ hành đến một
hang động tịch liêu tên là Sakarakhatalena - tức là Ðộng
Heo, và thường ngày cùng với Ðức Xá-Lợi-Phất vào Vương-Xá
thành để khất thực. Có phải Ðức Phật muốn chỉ dạy riêng
về những điểm thâm sâu, tế nhị cho Bậc Tướng Quân Chánh
Pháp trong tương lai chăng?
Ðại Mục-Kiền-Liên sau
khi từ giã Ðức Ðạo Sư và Xá-Lợi-Phất, Ngài đến ngụ
tại ngôi làng Kallavàta, cách Vương-Xá thành không bao xa. Ngày
ngày ngoài việc khất thực, hầu hết thì giờ Ngài để dành
cho thiền định, tuệ quán, là phận sự duy nhất còn lại.
Ðúng một tuần sau, lười
biếng, hôn trầm và dễ duôi đồng loạt kéo đến, Ngài
phải ra sức kiên trì để chống chỏi. Ðức Phật biết rõ
tình trạng nầy, đã xuất hiện kịp thời để dẫn giải
cho Ðại Mục-Kiền-Liên các tầng bậc của thiền định,
những pháp che lấp cần phải vượt qua, phải chiến thắng.
Tuy nhiên, thế vẫn chưa đủ, còn có những cảm thọ vi tế
của hỷ và lạc, của xả, của thuần tĩnh nhất tâm, của
không, của thức, của tưởng... Tất cả đấy lại phải dùng
đến tuệ quán để thấy rõ. Tuyệt đối không được an trú
một pháp nào và cũng không được bỏ quên một pháp nào.
Tất cả đều phải được nhìn ngắm trong suốt, trọn vẹn,
trạm nhiên và hư tĩnh.
Do nhờ trí tuệ và tinh
tấn, không bao lâu sau, chỉ vào buổi chiều ấy thôi, Ngài đã
dễ dàng chứng quả cao nhất: A-La-Hán quả. Ðồng thời
chứng đạt luôn năm thắng trí, năm thần thông, là pháp
của bậc thượng nhân.
Từ đây, Ðại
Mục-Kiền-Liên đã đủ điều kiện để làm một vị Ðại
Ðệ Tử.
Còn Ngài Xá-Lợi-Phất
thì thường ngày hầu cận Ðức Tôn Sư mà chẳng được Ðức
Tôn Sư nhắc nhở, khuyến khích gì về đạo quả tối thượng
ấy. Trên đường đi khất thực, hoặc những khi ở trong hang
động, Ðức Ðạo Sư thường lặng lẽ, tỉnh giác, chánh
niệm, bao giờ cũng tự tại, định tĩnh như Tu-Di sơn. Thỉnh
thoảng, Ðức Phật nhập đại định rất sâu, khí an tĩnh và
hào quang tỏa sáng, dịu một vùng. Thế đấy, Ngài dường như
đang thuyết pháp vô ngôn, hiện tiền, giản dị và sống động
nhất. Năm bảy lần gì đó, Ðức Phật có nói chuyện, nhưng
nói về những điều không cao siêu gì lắm!
- Nầy Xá-Lợi-Phất! Giáo
Pháp mà Như Lai thuyết, Giáo Pháp ấy gốc nó ở đâu?
- Bạch Ðức Thế Tôn! Nó
ở Tâm!
- Nói gần hơn một chút.
- Nơi hơi thở!
- Gần hơn nữa!
- Sát-na Tâm!
Ðức Phật chẳng nói
những kiến giải đó đúng hay sai, Ngài chỉ im lặng và dường
như Ngài có mỉm cười rất nhẹ, thế thôi.
Một lần khác, trên đường
khất thực trở về, Ðức Phật nghỉ chân dưới cội cây,
nhìn ra xa với cây cảnh, đồi núi, suối khe... trước mặt,
Ngài nói:
- Này Xá-Lợi-Phất! Hãy
hướng tầm mắt ra ngoài xa kia, nơi vạn vật đang dàn trải
ra đó - ở đấy có Giáo Pháp không?
- Vâng, có bạch Ðức
Thế Tôn.
- Nó là gốc hay là
ngọn?
- Chưa thấy thì nó là
ngọn, thấy rồi nó cũng không khác gốc!
- Thấy rồi, gốc ngọn
ấy nó giống nhau ư? Nó hòa làm một ư?
- Cái nào ra cái ấy, cái
nào tính chất ấy!
Cũng như lần trước, Ðức
Phật lại im lặng, bước đi. Chốc sau, Ngài lại hỏi:
- Này Xá-Lợi-Phất! Bước
chân của Như Lai đi có Giáo Pháp, vậy bước nhảy của con
chim trên tảng đá kia có Giáo Pháp không?
- Bạch, có ạ!
- Có vì con chim tự
biết ư?
- Không! Bạch Ðức Thế
Tôn! Có, khi chính đệ tử nhìn bước nhảy ấy.
- Vậy Giáo Pháp của ngươi
thấy ấy với Giáo Pháp của Như Lai thuyết - cũng là một ư?
- Bạch, nó không hai!
Bây giờ Ðức Phật
mới quay lại nhìn Xá-Lợi-Phất, mỉm cười nhẹ:
- Ông có biết không?
Trong nhiều kiếp quá khứ, Như Lai đã từng chất vấn ông, và
ông cũng đã từng chất vấn Như Lai. Nhưng nay thì Như Lai
chỉ chất vấn ông, mà ông lại không chất vấn Như Lai!
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Ðệ tử còn tối tăm, ngu muội; quá khứ đã bị che lấp, đệ
tử không hiểu gì. Mong Ðức Thế Tôn đại bi giáo hóa!
Im lặng giây lát, Ðức
Phật nói:
- Hãy kham nhẫn, này Xá-Lợi-Phất!
Ông là người có trí, chỉ cần vài nét đại cương là ông
sẽ hiểu ra toàn bộ. Nhưng nay chưa phải thời. Hãy kham
nhẫn!
Vậy là đúng một tuần
sau khi Ðại Mục-Kiền-Liên chứng ngộ, chợt nhiên Ðức
Phật nói với Xá-Lợi-Phất:
- Hôm nay, ông có một người
cháu, đã lớn tuổi, vượt đường xa đến thăm ông - y là
một du sĩ ngoại đạo!
- Bạch Ðức Thế Tôn! Có
lẽ đấy là đạo sĩ Dìghanakha chăng?
- Nghe nói y học vấn uyên
thâm, luận bác, tranh biện vào hàng trứ danh trong ngoại đạo?
- Bạch, quả đệ tử có
nghe như vậy! Nhưng trước đây, lúc tranh luận với y, may
mắn là đệ tử chưa từng thua cuộc!
Nói đến đây, Xá-Lợi-Phất
quỳ xuống ôm chân Ðức Ðạo Sư:
- Bạch Ðức Thế Tôn! Y
cũng là người có trí, chỉ còn rất ít bụi cát trong mắt
thôi. Xin Ðức Thế Tôn vì bi mẫn, thuyết cho y nghe một
thời Pháp về Ðạo Bất Tử!
Ðức Phật im lặng
nhận lời.
Quả nhiên, không lâu
sau, một đạo sĩ du phưong tìm đến, ân cần thăm hỏi Ðức
Xá-Lợi-Phất một cách chân tình, lễ độ.
Thấy tướng hảo quang
minh, cùng nét mặt bình an, thanh thoát của Ðức Xá-Lợi-Phất,
đạo sĩ Dìghanakha đâm ra tò mò:
-Thưa chú! Trước đây
chú khác mà bây giờ chú khác. Trước đây mỗi lần chú cháu
ta tranh luận với nhau, nơi vầng trán cao của chú dường như
cau lại, nơi đôi mắt sắc bén, đầy khí lực của chú dường
như có gợn một thoáng mờ như hơi sương! Bây giờ thì không
vậy, nó sáng rỡ, mênh mông, và tỏa hào quang nữa!
Ðức Xá-Lợi-Phất mỉm
cười, nhìn người cháu lớn tuổi, học thức cao rộng mà tính
khí hồn nhiên, cởi mở và chân thực, lòng Ngài tràn đầy
thương mến.
Ðạo sĩ Dìghanakha đi
lui đi tới, hít thở, lắng nghe rồi nói:
- Thật là kỳ lạ! Không
phải chỉ ở nơi chú, mà xung quanh đây cũng vậy, dường như
toát ra sự bình an, mát mẽ và thanh khiết. Cái ấy không
chỉ cảm nhận mà còn sờ được, ngửi được, nghe được!
Tại sao kỳ lạ vậy chứ!
Ðức Xá-Lợi-Phất tự
nghĩ: "Cái ấy có được - có lẽ nhờ năng lực của Ðức
Tôn Sư!"
Chợt nhiên đạo sĩ Dìghanakha
quay lại:
- Thưa chú! Chẳng hay chú
đang sống trong một Giáo Pháp như thế nào mà sớm được thành
tựu pháp mầu như vậy?
Ðức Xá-Lợi-Phất ân
cần nắm tay đạo sĩ :
- Này cháu! Khi Ðức Tôn
Sư đã có mặt trên đời, nhất là khi Ðấng Vô Thượng
lại đang ở đây; thì cho dầu ít lời, ít chữ, ít câu của
Ngài thôi cũng sẽ đem đến cho cháu Niềm Vui Bất Tử! Ta là
gì mà dám nói Pháp Bảo trước Ðức Tôn Sư!
Ðức Phật xuất hiện
từ cửa động phía sau bước lại. Dìghanakha nhìn sững.
Tất cả từ nơi Ngài toát ra, cho dù vua của đỉnh Hy mã
lạp sơn kia cũng phải cúi đầu xuống thấp. Dìghanakha cung
kỉnh đảnh lễ dưới chân Ðức Thế Tôn. Sau đó Ðức
Phật thuyết kinh Vedanà Parigaha - tức là bài kinh nói về các
trạng thái của Tâm cho đạo sĩ Dìghanakha nghe. Xong thời Pháp,
đạo sĩ đắc quả Tu-Ðà-Hườn.
Ðức Xá-Lợi-Phất hầu
sau lưng Ðức Phật, nhờ để tâm chuyên chú vào thời Pháp nên
đắc quả A-La-Hán với bốn Tuệ Phân Tích.
Như vậy, với sự thành
tựu tri thức tối thượng, tuệ tối thượng, Ðức Xá-Lợi-Phất
từ đây cũng đã đầy đủ điều kiện để làm một Ðại
Ðệ Tử nữa.
Biết người đệ tử
của mình đã làm xong xuôi bổn phận cuối cùng - cũng như Ðại
Mục-Kiền-Liên đã xong xuôi quả vị cách đây một tuần
lễ, Ðức Phật, ngay lúc
ấy, chợt đứng lên:
- Này Xá-Lợi-Phất! Bây
giờ hãy cùng Như Lai lên đường trở về Trúc Lâm tịnh xá.
Chúng ta còn nhiều việc phải làm!
Ðến đây thì Ðức Xá-Lợi-Phất
chợt hiểu: "Ðúng là cái thấy biết vi diệu của Bậc
Toàn Tri Diệu Giác. Là phàm nhân, cho dầu một vị Thánh
A-La-Hán cao nhất cũng khó hiểu được những diễn biến,
những ý nghĩ, những tri kiến, những dự định trong tâm
của một vị Phật.
Té ra, Ðức Thế Tôn đột
ngột rời Trúc Lâm tịnh xá đến hang động này cũng chỉ để
thành tựu cho mình quả vị cuối cùng. Té ra, Ðức Thế Tôn
chỉ nói vắn gọn vài lời gợi ý cho Ðại Mục-Kiền-Liên cũng
là để thành tựu cho Ðại Mục-Kiền-Liên quả vị A-La-Hán
nơi ngôi làng tịch mịch , thanh vắng nọ. Quả thật, các
vị Phật xuất hiện ở đời, một biểu hiện nhỏ của các
Ngài, qua thân, qua khẩu, qua ý, bao giờ cũng toàn thiện, toàn
chân, toàn mỹ; lúc nào cũng lợi lạc cho quần sanh."
Ngay chiều hôm đó, tại
Trúc Lâm tịnh xá, Ðức Thế Tôn bố cáo một cuộc họp
rộng rãi, đầy đủ hơn một ngàn thầy tỳ-khưu cùng những
cư sĩ tại gia, rồi Ngài nói rằng:
- Trước đầy đủ Chư
Tăng, đầy đủ hai hàng cư sĩ áo trắng, Như Lai muốn tuyên
bố một tin quan trọng cho Giáo Pháp, để từ đó Giáo Pháp
mới có thể phát triển vững mạnh, lan xa nhiều quốc độ:
là từ đây, Như Lai đã có hai vị Ðại Ðệ Tử, là Trưởng
tử của Như Lai , là con được sinh ra từ miệng của Như Lai
- đó là Xá-Lợi-Phất và Ðại Mục-Kiền-Liên. Xá-Lợi-Phất
là Ðệ Nhất Ðại Ðệ Tử, Mục-Kiền-Liên là Ðệ Nhị Ðại
Ðệ Tử. Họ sẽ là hai cánh tay trợ thủ đắc lực cho Như
Lai , được quyền thay mặt Như Lai giải quyết tất cả mọi
lĩnh vực thuộc về Phật sự hay Tăng sự. Xá-Lợi-Phất và
Ðại Mục-Kiền-Liên quả thật xứng đáng là Thượng Thủ
của Giáo Hội. Như Lai trân trọng tuyên bố như vậy.
Ðức Phật vừa nói
xong, đại chúng xôn xao bàn tán. Có nhiều tranh luận nho nhỏ
đã xảy ra. Người ta không hiểu tại sao Ðức Thế Tôn không
dành danh dự tối cao này cho các vị tỳ-khưu Trưởng lão,
cao hạ như nhóm năm Ngài Kiều Trần Như, như nhóm Ngài Yasa?
Hoặc như nhóm ba mươi vị tỳ-khưu ở Chư-Thiên-Ðọa-Xứ?
Thảng hoặc là nhóm ba anh em Ngài Ca-Diếp, có cả ngàn đồ
chúng, tuổi cao, đức trọng - có thể là xứng đáng nhất bước
vào hàng thượng thủ của Giáo Hội?
Còn Ðức Xá-Lợi-Phất
và Ðại Mục-Kiền-Liên - mặc dầu được Ðức Thế Tôn tuyên
bố là "con của Như Lai", tức là đã chứng quả
A-La-Hán - nhưng họ đều là người trẻ tuổi, lại chỉ gia
nhập Giáo Hội vừa đúng nửa tháng!
Vậy có thể nào, Ðức
Thế Tôn, bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác lại có tâm
thiên vị?
Ðức Phật hướng tâm
đến, biết tâm của đại chúng, Ngài nói rằng:
- Này các thầy tỳ-khưu!
Như Lai không hề thiên vị. Như Lai làm như vậy là hoàn toàn
do sự thấy, sự biết của Như Lai .
Hãy nghe đây, các thầy
tỳ-khưu! Quả thật năm ông Kiều Trần Như tuổi tác cao
trọng, là những bậc trí thức, trí tuệ, hạ lạp cao nhất,
rất xứng đáng vào hàng thượng thủ. Tuy nhiên, ở một
kiếp trước, khi họ bố thí vật thực chín lần trong mùa
gặt, họ không có nguyện vọng trở thành đại đệ tử.
Họ chỉ phát nguyện bước vào Giáo Pháp của Như Lai đầu
tiên và chứng được phẩm hạnh cao nhất. Giờ đây họ đã
mãn nguyện. Ðiều đó có đúng sự thật không, hỡi nhóm ông
Kiều Trần Như?
Nhóm các Ngài Kiều
Trần Như đồng bước ra, quỳ xuống đảnh lễ dưới chân
Ðức Phật, bạch rằng:
- Quả đúng như vậy,
Bạch Ðức Tôn Sư! Phẩm hạnh cao nhất và đầu tiên chính là
phát nguyện của chúng đệ tử.
Ðức Phật im lặng một
lát rồi tiếp:
- Còn rất nhiều vị
A-La-Hán khác xứng đáng vào hàng thượng thủ nữa, như nhóm
ông Yasa, nhóm các ông ở Chư-Thiên-Ðọa-Xứ, nhóm các ông
Ca-Diếp. Nhưng họ cũng vậy, trong họ, không ai đã từng phát
nguyện làm đại đệ tử cả, có phải thế không?
Dường như có một số
vị Thánh im lặng nhắm mắt, hướng tâm về quá khứ, sau đó,
Ngài Ca-Diếp, thay mặt mọi người, bạch:
- Quả đúng như vậy! Thưa
Ðức Tôn Sư!
Khi việc quá khứ không
còn bị che lấp bởi sự tiết lộ của chư Thánh Tăng, nhất
là sự xác nhận của Ngài Ca-Diếp, bậc đạo cao đức
trọng, đại chúng đều hoan hỷ.
Ðức Phật lại tiếp:
- Còn hai ông Xá-Lợi-Phất
và Ðại Mục-Kiền-Liên, trong vô lượng quá khứ, vào thời
Ðức Phật Anomadassi, họ sinh ra làm một người Bà la môn có
tên là Sàrada, và một người làm điền chủ có tên là
Sirivaddhaka - nguyện vọng của họ là trở thành đại đệ
tử khi gặp Ðức Phật trong kiếp cuối cùng.
Vậy này các thầy
tỳ-khưu! Như Lai không hề thiên vị! Như Lai vì thấy, vì
biết, nguyện vọng của mỗi người - nên bây giờ, chỉ
trả lại phẩm vị cho họ, đúng với nguyện vọng của họ
mà thôi!
Ðại chúng thở phào,
nhẹ nhõm.
Một Ðức Thế Tôn,
một Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác khi tuyên bố một lời nào là
đều có nhân, có quả, đều vì lý do chánh đáng, đều vì
lợi ích lâu dài, hạnh phúc cho nhiều người.
Từ đây, Ðức Xá-Lợi-Phất
và Ðức Ðại Mục-Kiền-Liên nhận lãnh vai trò và trách
nhiệm mới trong việc phục vụ Giáo Hội, làm Ðại Ðệ Tử
đã được Ðức Tôn Sư tấn phong với tất cả uy tín và
danh dự cao trọng trước đại chúng môn đồ.
--- o0o ---
Mục
lục - [01] - [02]
- [03] - [04]
- [05]
[06]
- [07]
- [08] - [09]
- [10] - [11]
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Tủ sách Phật Học
|
Chân thành
cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng tập sách này
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-04-2002