| ...... ... |
. |
Đường Tam Tạng Thỉnh Kinh
Võ Đình Cường
Sàigòn 2002
---o0o---
[Phần
5]
-oOo-
XIV. TRÊN
ÐƯỜNG VỀ TRUNG QUỐC
T rên đường về của
Ngài Huyền Trang, mặc dù có quân lính của vua Giới Nhật đi
hộ tống, nhưng biên giới phía Bắc Ấn Ðộ là nơi đầy dẫy
bọn cướp núi, nên nhiều người vẫn lo ngại sẽ có nhiều
sự bất trắc xảy đến cho Ngài. Nhưng pháp sư vẫn tỏ ra bình
tĩnh và tự tin. Ngài sai một vị tăng mở đường đi trước
đến nói với bọn cướp:
–Chúng tôi là những tu sĩ ở từ phương xa đến
Ấn Ðộ để nghiên tầm kinh điển Phật pháp. Hành lý chúng
tôi chỉ gồm có kinh sách, di bảo Phật tích và tượng Phật.
chúng tôi tin tưởng ở sự rộng lượng của các người, nên
đến để xin các người bảo bọc và giúp đỡ chúng
tôi".
Pháp sư đi sau với các đệ tử và những người
hộ tống. Ði đến đâu, bọn giặc cướp đều để cho Ngài
tự do đi qua.
Khi qua sông Tín độ (Indus), là một trong hai con
sông lớn nhất của Ấn Ðộ, Ngài cưởi con voi lội qua, còn
kinh sách, hành lý và đoàn hộ tống thì đi bằng thuyền lớn.
Ðến giữa dòng sông, đột nhiên sóng gió nổi lên dữ dội,
thuyền bị lay động mạnh sắp đắm, kinh sách trong thuyền bị
rơi mất hết 50 bộ, và những hạt giống, hoa quả lạ ở
Ấn Ðộ cũng rơi theo. Người phụ trách việc chuyên chở hốt
hoảng nhảy xuống dòng sông, nhưng may các bạn đồng hành vớt
lên được.
Tai nạn này là biến cố đã làm Ngài Huyền
Trang buồn rầu nhất trong chuyến Tây du của Ngài. Nhưng cũng
may là khi ấy, vua nước Già-thấp-di-la (Kapica) nghe tin Ngài sắp
đến, đã đem quân ra đón Ngài ở trên bờ sông, và trước
tai nạn ấy, đã an ủi Ngài bằng cách cho người đi chép lại
những bộ kinh đã mất.
Vị vua này lại còn hộ tống Ngài đi qua những
nước chư hầu của mình, và đến đâu cũng truyền tổ chức
những cuộc đón rước Ngài rất trọng thể, và mở những hội
bố thí khắp nơi. Sau khi từ giã vua Già-thấp-di-la, Ngài đi
đến phía Tây chân núi Ðại Tuyết (Indu-Kush), vua cho người
hộ tống Ngài và chuẩn bị chu đáo để Ngài vượt qua ngọn
Tuyết Sơn đầy nguy hiểm này. Một vị sĩ quan và độ 100
binh sĩ đi theo mang hành lý, lương thực cho Ngài, tuy thế cuộc
vượt núi này cũng vẫn vô cùng gian khổ.
Sau 7 ngày đường, họ trèo lên được một quả
núi lớn đầy dẫy những chóp nhọn toàn đá, hình thù quái
dị. Ðến đây, không còn có thể đi ngựa được nữa; Ngài
Huyền Trang phải xuống ngựa, chống gậy đi trước mở đường.
Sau 7 ngày nữa, họ mới đến được một làng
nhỏ gồm độ 100 gia đình sống về nghề nuôi cừu. Ngài Huyền
Trang nghỉ lại đấy một ngày, rồi khuya hôm ấy lại tiếp
tục leo núi lại. Ðường đi bây giờ lại càng hiểm trở hơn
lúc đầu. Ðây đó, nhan nhản những suối và sông đóng băng,
nếu không có người bản xứ dẫn đi từng bước thì rất dễ
bị rơi xuống vực thẳm. Ðoàn lữ hành bây giờ chỉ còn lại
bảy nhà sư, 20 người hầu, một con voi, 10 con lừa và 4 con
ngựa.
Sau 2 ngày đường, họ mới trèo lên được một
chóp núi cao, toàn đá trắng mà nhìn từ xa, người ta cứ tưởng
là tuyết. Chóp núi này cao đến nỗi tuyết và mây không thể
bao phủ được ngọn. Thảo mộc cũng không thể mọc được.
Gió thổi mạnh và lạnh buốt đến nỗi không một người nào
đứng thẳng được. Chim cũng không thể vượt ngang chóp
núi, mà phải bay vòng quanh ven sườn.
Ðoàn lữ hành đi dần xuống phía dưới và hạ
trại ven sườn nằm nghỉ một đêm. Sáng hôm sau họ lại tiếp
tục cuộc hành trình trong gió tuyết.
Sau khi vượt qua được núi Ðại Tuyết, Ngài
Huyền Trang ở trọ một tháng tại Diệp Hộ Nha, trong doanh trại
của một vị Tiểu vương ở vùng ấy, để lấy lại sức và
chuẩn bị cuộc vượt qua núi Thống Lĩnh (Pamir).
Thống Lĩnh là một dãy núi cao độ chừng 4 –5
ngàn thước, quanh năm có tuyết phủ, cây cỏ mọc sơ sài,
ngoại trừ một loại cây hành thì lại mọc rất nhiều và tốt,
vì thế nên người Trung Hoa mới đặt nên miền núi ấy là
"Thống Lĩnh". Miền này quá lạnh lẽo nên dân cư
thưa thớt, và phải ở trong hang đá, lẫn lộn với súc vật
cho đỡ lạnh. Qua khỏi dãy núi này thì đến một thung lũng
nằm giữa hai trái núi cao đồ sộ, quanh năm có tuyết, và
gió gào thét một cách ghê rợn. Ðoàn lữ hành của Ngài Huyền
Trang lội suối trèo đèo, đi quanh co, trong những dãy núi Tuyết
ấy hết ngày này sang ngày khác, nếm đủ những lao khổ cùng
cực. Vượt qua Kiệt Bàn Ðà (Tack-kousghan), Ô Sắt mới đến
được nước Khư Sa (Kasha thuộc xứ Tân Cương). Từ Khư Sa,
Ngài đi qua nước Tích Cư Già và cuối cùng đến nước Vu
Ðiền (Khotan). Vu Ðiền là một nước phồn thịnh có văn hóa
cao, dân cư sinh sống về nghề nuôi tằm dệt lụa, làm len dạ
và khai thác cẩm thạch. Tín đồ Phật giáo ở đây rất đông,
tu sĩ có đến năm ngàn người, hầu hết đều theo Ðại thừa.
Chùa chiền có đến 100 cảnh.
Vua Vu Ðiền là một Phật tử rất hâm mộ Ngài
Huyền Trang, nên mời Ngài lưu lại Vu Ðiền trong 7 tháng.
Trong thời gian này Ngài vừa giảng dạy Phật pháp cho dân
chúng ở đây, vừa phái người đi đến các nước Khuất
Chi, Khư Sa để dò tìm và sao lại các bản kinh bị thất lạc
khi qua sông Tín Ðộ.
Nhưng công việc chính của Ngài trong lúc ở lại
Vu Ðiền là viết một tờ biểu sai người theo bọn lái buôn
mang về Trang An dâng lên vua Ðường Thái Tông. Sở dĩ có tờ
biểu ấy là vì, khi ra đi, Ngài Huyền Trang đã trái lệnh cấm
của triều đình, Ngài sợ bây giờ trở về, vua Thái Tông sẽ
truy trách cái lỗi trước, nên viết biểu về vừa tạ tội,
vừa có ý báo tin sự thành công của mình trong cuộc Tây du.
Dưới đây là tờ biểu ấy:
"Sa môn Huyền Trang tâu gởi: Trang nghe rằng:
Mã Dung là người bác nhã, nên Trịnh Huyền mới đến Phù
Phong để tìm thấy; Phục Sinh là bực cao minh, nên Triều Thố
mới tới Tế Nam để cầu học. Xem đó thì biết rằng Nho,
Ðạo thuật vốn ở gần, mà cổ nhân cũng còn phải đi xa để
khảo xét. Huống chí cái đạo huyền của chư Phật làm lợi
ích cho muôn loài, cái diệu thuyết của Tam Tạng khó giải đến
muôn phần, lẽ nào dám nản đường xa mà không hướng mộ
đi tìm tòi vậy. Huyền Trang nghĩ rằng đức Phật khởi phát
ở Tây vức, di giáo mới truyền sang Ðông phương. Thế thì
thắng điển tuy đã đem lại rồi, nhưng mà viên tông vẫn
còn chưa đủ. Bởi vậy, phải phóng cầu, không dám tiếc
thân mạng. Tôi đã lấy ngày tháng Tư năm Trinh Quán thứ Ba,
mạo phạm hiến chương, lẻn đi Tuyết Lĩnh chon von; nào là cửa
Thiết Môn hiểm hóc, đường Nhiệt Hải ba đào. Khởi hành từ
Tràng An thần ấp, đi cho đến Vương xá tân thành, trung gian
kinh qua hơn năm vạn dặm. Tuy rằng phong tục mỗi nơi một khác,
gian nguy khó đến vạn trùng. Song nhờ cậy thiên uy, đến đâu
cũng không ai dám ngăn trở; lại nhờ giúp cho hậu lễ, thân
mình không đế khổ tân. Nên mới được thỏa nguyện tùng
tâm được đến xem núi Kỳ Ðồ Quật Sơn, lễ bái cây Bồ
đề; thấy những tích chưa từng trông thấy, nghe những kinh
chưa từng được nghe. Xét hết sự kinh kỳ của vũ trụ, đạo
hóa dục của âm dương. Tuyên bá nguồn đức hạnh của nhà
Vua, khởi phát lòng kính nhường ở các nơi thù túc. Châu du
lịch lãm đến mười bảy năm; nay đã từ nước Bát-la-ra-gia
qua cõi Già Tất Thí, vượt núi Thống Lĩnh, qua sông Ba Mê,
đi về nước Vu Ðiền. Vì con voi lớn đem theo đã chết đuối
mất, mà kinh bản đem về rất nhiều, chưa mướn được xe
chở, vậy phải tạm đình ở lại, chưa kịp ruổi về để
sớm vào yết kiết chốn hiên bệ. Khôn xiết ngóng trông, cẩn
sai người tục nước Cao Xương tên là Mã Huyền Trí theo bọn
thương lữ đi về trước dâng biểu tâu lên Vua rõ".
Sau khi sai người đem tờ biểu đi rồi, Ngài Huyền
trang trở lại Vu Ðiền, đêm ngày trông ngóng tin tức.
Thế rồi một buổi sáng kia, sứ giả trở về,
mang theo tờ sắc chiếu của vua Ðường Thái Tông. Tờ chiếu
như sau:
"Nghe tin nhà Sư đi phỏng đạo cõi xa, nay mới
trở về, hoan hỷ vô chừng! Mong kịp về đến nơi cùng Trẫm
tương kiến. Những thầy Tăng nước ấy mà có biết chữ Phạn,
hiểu nghĩa kinh, thì cũng cho đem về.
"Trẫm đã sắc cho các đạo Vu Ðiền sai
các nước đem quân tiễn tống, cùng là sức người, xe cộ
phải cung ứng cho đủ. Lại sai các quan ty Ðôn Hoàng đóng tiếp
ở bãi Lưu Sa; người nước Nghiệp Thiện đón tiếp ở bến
Thư Mạt" [Ngày nay là huyện Nặc Khương, xứ Tân Cương].
*
* *
XV. NGÀY
KHẢI HOÀN
T ừ đây, con đường
về của Ngài Huyền Trang như có trải nhung lụa. Mỗi đoạn
đường là có người đón tiếp hoan nghênh, phục dịch. Qua rồi
những cảnh tượng hãi hùng của biển cát mênh mông, của đèo
cao hố hiểm, của mưa tuyết gió băng, của sông sâu sóng cả!
Qua rồi những ngày dài đói khát, những đêm đen lạnh lùng,
những thú dữ rừng thiêng, những cướp rừng cướp biển!
Ðến Ðôn Hoàng, Ngài dừng lại nghỉ ngơi một
thời gian và dâng thêm một tờ biểu nữa để báo tin mình sắp
về Tràng An. Bấy giờ vua Ðường Thái Tông (không có mặt
ở Tràng An, mà là ở thành Lạc Dương) tiếp tờ biểu, biết
Ngài Huyền Trang sắp về tới, liền sai quan Hữu Bộc Xạ là
Phòng Huyền Linh, Hữu Vệ Hầu, Ðại tướng quân là Hầu Thực,
quan Tư mã Ung châu là Lý Thúc Thận và Huyện lệnh Tràng An
là Lý Kiều Hựu sửa soạn nghênh tiếp Ngài.
Tin Ngài Huyền Trang ở Ấn Ðộ trở về lan khắp
Trung Quốc một cách mau chóng. Khi Ngài ra đi, tin tức được
giữ kín bao nhiêu, thì ngày nay, khi Ngài về, tin tức lại
loan truyền rộng rãi bấy nhiêu. Dân chúng vừa ngạc nhiên, vừa
khâm phục, vừa hiếu kỳ trước một cuộc đi vô cùng mạo
hiểm mà họ chưa bao giờ tưởng tượng được, nên đã tề
tựu về Trang An, đổ xô ra các ngõ đường để được chiêm
ngưỡng dung nhan của một bậc vĩ nhân đã làm vẻ vang cho nước
nhà và cho nền Ðạo Pháp. Tràng An hôm ấy được trang hoàng
như một ngày đại hội hiếm có. Dân chúng đứng đông đặc
ở các đường phố, làm nghẹn tất cả lối đi, đến nỗi
khi Ngài Huyền Trang xuống thuyền sang sông rồi, không làm thể
nào để lên bờ vào thành được. Ðêm ấy, Ngài nghỉ lại
ở trên sông. Sáng hôm sau, rút kinh nghiệm ở hôm trước, cuộc
tiếp rước Ngài đã được tổ chức một cách vô cùng rực
rỡ và chu đáo.
Tất cả các vị Tăng, Ni các chùa ở Tràng An đều
tề tựu đông đảo tại đường phố Chu Tước để rước
Ngài về chùa Hồng Phúc. Mọi người đều nô nức mang theo
nào hương án, tàng lọng, tràng phan, bảo cái, hương hoa.
Ðám rước diễn hành từ đầu đường Chu Tước cho đến chùa
Hồng Phúc, kéo dài trên mấy dặm đường. Các vị Tăng, Ni
đều mặc lễ phục, vừa đi vừa tán tụng, theo điệu nhạc
thiền. Những kinh điển, Phật tượng, xe dù, hoa phan và các
sản vật đem từ Ấn Ðộ về được sắp đặt rải rác
trong đám rước để dân chúng được chiêm ngưỡng tận mắt.
Hai bên đường, các nhân sĩ, quan khách và dân
chúng đứng chật ních, nhìn đám rước đi qua với một dáng
điệu vô cùng cảm phục. Người và xe ngựa nhiều quá đến
nỗi các người có nhiệm vụ giữ gìn trật tự, để tránh
những tai nạn xảy ra, bắt buộc ai đứng chỗ nào thì ở
yên chỗ ấy mà đốt hương trầm hay tung hoa, chứ không được
đi theo, đám rước chỉ dành riêng cho giới Tăng ni.
Có lẽ đây là lần đầu tiên, Tràng An được
thấy một cuộc đón tiếp trang nghiêm và đồ sộ như thế.
Hôm ấy là ngày 24 tháng Giêng năm 645 (Năm Trinh
Quán thứ 19 đời Ðường). Sau 17 năm xa cách, dưới quyền thống
trị của vị vua anh dũng và sáng suốt Ðường Thái Tông,
Tràng An đối với Ngài chắc có nhiều sự thay đổi; nhưng
Ngài, đối với Tràng An sau một cuộc viễn du vĩ đại, lại
còn có nhiều sự thay đổi hơn: về thể chất Ngài đã là một
ông già 50 tuổi, nhưng về tinh thần, Ngài đã thu nhập được
bao nhiêu kinh nghiệm về đủ mọi địa hạt, bao nhiêu tinh ba
của nhân loại, bao nhiêu suối sáng của Aùnh Ðạo Vàng.
Về Tràng An được mấy hôm, nghe tin Ðường Thái
Tông sắp đi đánh Liêu Ðông, Ngài Huyền Trang lật đật lên
đường đến Lạc Dương, kinh đô thứ hai của vua Ðường,
để kịp yết kiến Ðường Thái Tông.
Ðây là lần thứ nhất, Ngài Huyền Trang được
yết kiến Ðường Thái Tông. Mặc dù mới gặp nhau lần đầu,
câu chuyện giữa một vị cao tăng đại đức với một vị
anh hùng cái thế, xem chừng đã tương đắc. Sau khi đón tiếp
và ủy lạo rất hậu Ngài Huyền Trang, Ðường Thái Tông mới
gợi đến chuyện xưa:
–Khi Pháp sư ra đi, sao không báo cho Trẫm biết?
Ngài kính cẩn trả lời:
–Trước khi Huyền Trang ra đi, đã hai ba lần
tâu xin, chỉ vì lòng thành nhỏ mọn không đạt tới, nên
không được chuẩn y. song với lòng mộ đạo khôn xiết, mới
tự lẻn đi, cái tội tự chuyện ấy, bần tăng rất lấy làm
sợ hãi".
–Không, Trẫm đâu có trách. Nhà sư đã bỏ tục
mà xuất gia, thế mà còn liều mình đi cầu Pháp để mong làm
lợi dân sinh, thì thật đáng khen. Trẫm rất lấy làm ngạc
nhiên là non sông cách trở, xa xôi như thế kia, mỗi phương
phong tục mỗi khác, thế mà sao nhà sư lại đạt tới được
cả?"
Trước lời ngợi khen ấy, Ngài Huyền Trang đã
đáp lễ bằng một câu rất khéo:
–Từ ngày Bệ hạ lên ngôi cửu ngũ, bốn
phương được phẳng lặng, oai đức của Bệ hạ lan xa đến
bên kia Thống Lĩnh. Vua tôi các rợ chư hầu mỗi khi thấy một
con hồng nhạn cưỡi mây bay từ phương Ðông lại, cũng thành
kính đón chào. Huyền Trang được đi về vô sự, cũng nhờ
ở cả thiên uy". [Ý nói: uy danh của vua Thái Tông]
Vua đáp một cách khiêm tốn:
–Lời bậc trưởng thượng nói như vậy, Trẫm
đâu dám nhận.
Vua lại hỏi tình hình ở ngoài cõi Tây vức , từ
Tuyết Lĩnh trở về phía Tây cho đến các xứ Ấn Ðộ.
Ngài Huyền Trang tâu gởi một cách thông suốt,
rõ ràng, như vẽ ra trước mắt vị vua thông minh và hiếu học
ấy. Ðường Thái Tông rất lấy làm vừa ý đẹp lòng trước
sự uyên bác, lịch thiệp của Pháp sư nên khuyên Ngài hoàn tục
để ra tham chính giúp vua. Ngài Huyền Trang một mực từ tạ
với những lý lẽ rất xác đáng.
–Huyền Trang này, từ nhỏ đã theo dòng Chi
Môn, học về Phật đạo, chuyên tập Huyền Môn, chưa từng
nghe Khổng giáo. Nay Bệ hạ bắt hoàn tục thì chẳng khác gì
con thuyền đang thuận dòng, mà bắt phải bỏ nước lên cạn,
chẳng những là vô ích mà còn thêm hủ bại mà thôi. Xin Bệ
hạ cho Huyền Trang này được toại nguyện suốt đời hành
đạo để báo quốc ân.
Biết không thể lay chuyển được một người
đã có dư can đảm và nghị lực để làm theo ý nguyện tìm
đạo của mình, vua không nài ép Ngài hoàn tục nữa, nhưng lại
đề nghị một chuyện khác: Ðường Thái Tông sắp đi chinh
phạt Liêu Ðông, muốn mời Ngài Huyền Trang đi theo để sớm
hôm trò chuyện.
Trước lời mời này, Ngài cũng đã từ chối một
cách khéo léo, mà còn ngụ ý không tán thành sự chinh chiến
của nhà vua:
–Bệ hạ đi Ðông chinh đã có đại quân hộ vệ,
đánh dẹp loạn quân trừ kẻ tặc thần, thế nào cũng có
cái công chiến thắng như trận Mục Dã, cái tin báo tiếp như
trận Côn Dương. Huyền Trang tự lượng thực không thể hỗ
trợ cho công việc trận mạc được, chỉ thêm thẹn là làm
tổn thêm tiền lộ phí mà thôi. Vả lại việc binh nhung, chiến
đấu, luật nhà chùa cấm không được dự, không được xem.
Ðức Phật tổ đã có lời dạy cấm sát. Vậy cúi xin thánh
thượng mở lòng thương xót miễn cho".
Một lần nữa, Ðường Thái Tông, một vị đế
vương uy quyền lẫm liệt, chưa từng bị ai làm trái ý, đã
hoan hỷ nhượng bộ Ngài Huyền Trang, và để Ngài trở về
Tràng An lo việc phiên dịch 657 bộ kinh điển mới đem từ
Ấn Ðộ về.
*
* *
XVI.
PHIÊN DỊCH KINH ÐIỂN
N gài Huyền Trang
sau khi yết kiến Ðường Thái Tông, trở về Tràng An vào
ngày mồng 1 tháng 3 năm 645, ở chùa Hồng Phúc. Công tác
chính của Ngài bấy giờ là lo tổ chức đại quy mô việc
phiên dịch những kinh điển mà Ngài đã mang từ Ấn Ðộ về.
Ngài triệu tập một số rất đông cao tăng, học
rộng nghe nhiều để cộng tác với Ngài, vì công tác sẽ rất
phức tạp. Về các việc như chứng nghĩa, xuyết văn, bút thụ,
thủ thư ... thì có trên 50 người Sa môn đảm nhiệm, còn việc
dịch cho chỉnh nghĩa thì có đến 23 vị học thức trác tuyệt
như các ông Linh Khoát, Văn Bi đảm nhiệm.
Ngài đã tổ chức một hệ thống phiên dịch rất
hoàn bị gồm có:
– Vị dịch chủ là người chỉ huy, tinh thông
Hán, Phạn, nghĩa lý phán đoán xác thực. Chức vụ này do
Ngài Huyền Trang đảm nhiệm.
– Vị bút thụ dịch nghĩa Phạn văn ra Hoa văn;
– Vị Ðộ ngữ thạo tiếng Phạn, đọc lên để
nghe âm vận, nếu không ổn thì phiên âm lại.
– Vị Chứng Phạn để đem so lại với Phạn
văn có đúng không.
– Vị Nhuận văn làm công việc nhuận văn cho hợp
với văn pháp Trung Hoa.
– Vị Chứng nghĩa đem bản dịch so lại nghĩa
lý nguyên bản, nếu sai thì chữa lại;
– Vị Tổng khám xét chung lại một lần cuối
cùng trước khi hoàn thành bản dịch.
Công tác phiên dịch bắt đầu trung tuần tháng
5 năm 645 đến cuối năm ấy đã hoàn tất được bốn loại
sau đây: Ðại Bồ tát tạng kinh (12 quyển); Phật địa kinh
(1 quyển), Lục Môn đà-la-ni kinh (1 quyển), Hiển dương thánh
giáo luận (20 quyển).
Mùa thu năm sau, phụng mệnh vua Thái Tông, Ngài
thuật cho một đệ tử là Biện Cơ chép lại cuộc Tây du của
Ngài trong 17 năm, trải qua 138 nước, một cách rất tường tận.
Những điều Ngài đã nghe thấy, học hỏi về lịch sử,
phong thổ, vị trí, sơn xuyên, thổ sản, nhân tình ở những
nơi Ngài đã đi qua đều được ghi chép thành 12 quyển nhan
đề là "Ðại Ðường Tây vức ký". Bộ sách này
không những là một bộ du ký vĩ đại cổ điển, mà còn là
một bộ lịch sử, địa lý trọng yếu ghi chép các nước
Trung Á và Ấn Ðộ. Nhiều nhà học giả chuyên môn ngoại quốc
nghiên cứu bộ sách này đều phải công nhận đó là một bộ
sách vô cùng quý báu, có một phạm vi rất lớn, kỹ thuật
chính xác và nội dung phong phú, có giá trị nhất trong các loại
sách du ký thời xưa. Vì thế, các nước Liên Xô cũ, Nhật Bản,
Anh, Ðức, Pháp, Mỹ đều có phiên dịch ra tiếng nước họ.
Ngày này các nhà bác học chuyên nghiên cứu về sử, địa dựa
vào bộ sách ấy rất nhiều để chỉnh lý những lịch sử,
địa lý mơ hồ về nước Ấn Ðộ thế kỷ thứ bảy.
Tháng Năm năm 648 Ngài Huyền Trang đã dịch xong
chín bộ kinh, lấy đề chung là "Tân phiên kinh luận".
Vua Ðường Thái Tông muốn kỷ niệm cuộc Tây du của Ngài
Huyền Trang và ghi công đức của Ngài, nên đích thân tự viết
bài tựa cho tập phiên dịch ấy. Bài tựa nhan đề là
"Ðại Ðường Tam Tạng Thánh Giáo" gồm 781 chữ.
Ðây là một đặc ân vô cùng quý báu mà vua Thái Tông đã
dành cho Ngài. Trước đó, quan Phò mã Cao Lý Hành có xin vua soạn
một bài bia cho thân sinh mình, vua từ chối, viện lẽ trong người
đã già cả suy nhược. Nhưng nay vua lại tự nguyện đứng ra
viết bài tựa cho Ngài Huyền Trang. Vì sợ có làm tủi phò
mã Cao Lý Hành chăng, nên vua nói với phó mã rằng:
–Nhà người có xin Trẫm làm bài bia cho phụ
thân ngươi, nhưng Trẫm nay khí lực không bằng trước, không
thể làm được. Sở nguyện của Trẫm ngày nay là cố gắng
làm các việc công đức mà thôi. Vì thế Trẫm mới nhận
làm bài tựa cho Pháp sư Huyền Trang. Người hãy lượng biết
cho Trẫm.
Tháng sáu năm ấy, sau khi viết xong bài tựa, vua
triệu Ngài Huyền Trang vào điện Minh Nguyệt, sai quan Hoằng
Văn Quán học sĩ Thượng quan Nghi tuyên đọc bài tựa trước
mặt đình thần. Bài tựa này, hòa thượng Hoài Nhân lấy
theo mẫu chữ của nhà đại thư pháp đời Tấn là Vương Hy
Chi để khắc lên bia đá. Nhà đại thư pháp đời Ðường là
Chư Tọa lượng viết ra thành hai bản: một bản khắc vào nhạn
tháp chùa Từ Ân, một bản khắc ở Ðồng Châu, đến tận
bấy giờ lối chữ ấy là một tự thiếp có tiếng để tập
viết.
Dưới đây là bài tựa:
Trộm nghe rằng: "Trời đất có Tượng, chở
che đà tỏ rạng đức Hàm Sinh; đông hạ vô hình, mưa nắng
vốn âm thầm hóa vật. Bởi thế ngắm trời trông đất, kẻ
dung ngu cũng sơ biết mối manh; thông âm rõ dương, bậc hiền
triết thật khó cùng đầu số. Song le, trời đất bao hàm âm
dương mà dễ biết là nhờ có tượng; âm dương ở trong trời
đất mà khó cùng là bởi không hình. Cho biết: Tượng kia bày
rõ đành rành, dù ngu cũng chẳng hoặc; hình nọ kín che mờ mịt,
dẫu trí vẫn còn mê. Huống nữa, Phật đạo hư truyền, u thâm
lặng lẽ; cứu khắp muôn vật, trị ngự mười phương. Nói
đến uy linh thì tuyệt đối; nghĩ đến thần lực lại vô
cùng. Lớn thì bao la ngoài vũ trụ; nhỏ thì thâu rút trong
hào ly. Không diệt không sanh, trải ngàn kiếp mà chẳng cổ;
như ẩn như hiện, diễn trăm phúc mãi đến nay. Ðạo cả
sâu huyền, noi theo mà chẳng biết đâu là bờ mé; pháp mầu
thẳm lặng, kiếm tìm cũng chẳng thấu đến căn nguyên. Cho
nên những kẻ phàm phu ngu xuẩn, dung tục tầm thường, nghe
đến há không nghi hoặc được ư?
Song Phật giáo khởi hưng, nền tảng xây từ
Tây độ; Hán đình báo mộng, từ quang chiếu đến Ðông phương.
Nhớ ngày xưa hình tích vừa phân, chưa nói ra, người đều cảm
hóa; vả lúc trước Phật còn tại thế, ngửa trông đức ai
chẳng tuân theo; kịp đến khi ẩn bóng quy chơn, dung quang cách
biệt; ánh vàng mờ tối, ba ngàn cõi chẳng chiếu hào quang;
ngọc tượng phô bày, bốn tám tướng luống trơ hình dạng.
Từ đó kim ngôn lan khắp, cứu vạn loại thoát khỏi tam đồ;
di huấn truyền xa, dẫn chúng sinh đều lên thập địa. Nhưng
mà chân giáo khó tin, được mấy kẻ nhất tâm quy ngưỡng; tạp
học dễ tập, nào ai hay phân biệt chánh tà. Vì thế, không
luận, hữu luận, quen thói tục, tranh thị tranh phi; Ðại thừa
Tiểu thừa, phải tùy thời thoạt suy thoạt thịnh.
Nay Pháp sư Huyền Trang là bậc lãnh tụ chốn
thuyền môn. Nhỏ đà linh mẫn, tâm tam không (1) sớm tỉnh ngộ
từ xưa, lớn lại thần tình, tánh tứ nhẫn (2) trước bao hàm
đủ cả. Gió tùng trăng nước, chưa đủ ví thanh hoa; tuyết
sáng ngọc trong, khó so bằng tư chất. Vậy nên, trí suốt
thông không bị gì hệ lụy, thần soi thấu cả những việc
chưa thành: vượt sáu trần xa hẳn lao lung; tột thiên cổ
không ai sánh kịp. Lưu tâm nội cảnh, thương Chánh pháp suy
vi; chú ý huyền môn, buồn thâm văn sai uyển. Nghĩ muốn chia
điều chẽ lý, mở rộng chỗ học xưa; bỏ ngụy thêm chơn,
khai thông kẻ hậu tấn. Vậy nên, lòng trông đất Tịnh, thân
đến cõi Tây, mạo hiểm nghìn trùng, xông pha chiếc bóng. Ban
mai tuyết phủ, đất mất đường đi; chiều xế, cát bay, trời
mờ lối tới. Muôn dặm non sông, vén mây mù mà tiến bước;
trăm tầng nắng rét, đạp sương tuyết để lên đường. Nặng
lòng thành coi nhẹ gian lao; mạnh chí quyết sở cầu nguyện
đạt. Châu du Tây vức mười lẻ bảy năm. Trải khắp đạo
tràng tham cầu chánh giáo. Song lâm bát thủy (3) , suy nếm mùi
thuyền; Lộc Uyển Thứu Phong, thánh cảnh. Vâng chí ngôn của
đấng thiên thánh, lãnh chơn giáo với bậc thượng hiền. Tìm
thấu cửa mầu, tin cùng nghĩa áo. Ðạo nhất thừa cùng năm
luật bộ, đầy dẫy tâm điền; văn bát tạng với ba hòm
kinh, dập dồn khẩu hải (4).
Những nước đã kinh lịch đi qua, tóm thâu được
tám tạng (5) kinh văn, gồm có sáu trăm năm mươi bảy bộ,
đem về dịch truyền bá khắp Trung Quốc, để tuyên dương thắng
nghĩa. Dẫn mây Lành ở nơi Tây vức, rưới mưa Pháp vào chốn
Ðông thùy. Thánh giáo khuyết mà lại toàn, thương sanh tội mà
lại phúc. Dập tắt ngọn lửa nồng hỏa trạch, dắt khỏi
đường mê; lắng trong làn sóng dục ái hà, đồng lên bờ
giác. Thế mới biết, ác do nghiệp trụy, thiện bởi duyên thăng,
cái cớ thăng hay trụy đều chỉ tại lòng người. Ví như:
quế mọc trên đỉnh cao, sương móc mới thấm nhuần được
ngọn; sen sanh trong nước biếc, bụi nhơ khó vấy bợn đến
hoa. Ðó không phải là tánh sen tự sạch, chất quế vốn
trinh, chỉ bởi ở tại nơi cao, nên vật hèn không thể lụy;
nương vào chốn tịnh, nên loại bẩn khó làm nhơ. Kìa như cây
cỏ vô tri, còn phải nhờ thiện mới nên thiện; huống hồ
loài người có biết, lại chẳng bởi lành mà thành lành. Những
mong kinh này lưu khắp, trải bao nhật nguyệt vô cùng, phúc
ấy nhuần xa, sánh với càng khôn vĩnh viễn.
[Bản dịch của Thượng tọa Thích Trí Thủ
và Thượng tọa Thích Thiện Siêu. Chú thích thêm:
(1) Tam không: không, vô tướng, vô tác: ba
môn giải thoát
(2) Tứ nhẫn: Trong kinh Tư Ích về phẩm Tứ
nhẫn nói: Bồ tát có bốn pháp nhẫn để tiêu trừ tội
phá giới: một là vô sanh nhẫn, hai vô diệt pháp nhẫn,
ba nhân duyên nhẫn, bốn vô trú nhẫn. Các vị Bồ tát
quan sát bốn điều nhẫn này khi chứng được thì tội
phá giới thảy được tiêu trừ.
(3) Bát thủy: Tên tám con sông lớn Ấn Ðộ.
Trong kinh Niết Bàn về phẩm Trường thọ nói rằng: Phật
bảo ngài Ca Diếp, như tám con sông lớn, một Hằng Hà,
hai Cát Ma La, ba Bát La, bốn A Di La Bạt Ðề, năm Ma Hà,
sáu Tân Ðầu, bảy Bát Xoa, tám Tất Ðà đều chảy về
biển cả.
(4) Khẩu hải: ý nói khẩu thuyết thao như
sóng biển
(5) Tám tạng: Ðại, Tiểu mỗi thừa đều
có bốn tạng là kinh, luật, luận, tụng.]
Khi bài tựa đọc xong, triều thần chúc mừng
Ngài Huyền Trang; Hoàng thái tử Lý Trị (tức là Ðường Cao
Tông sau này) lại chế bài "Thuật Thánh Ký" để tặng
Ngài.
Tháng 10 năm ấy, Hoàng thái tử Lý Trị, vì muốn
kỷ niệm báo ân mẫu thân mình, nên xây dựng tại Tràng An một
cảnh chùa đồ sộ, lấy tên là chùa Từ Ân. Trong chùa có một
sở đặc biệt dành cho việc phiên dịch gọi là "Phiên
kinh viện". Vua triệu Ngài Huyền Trang đến đấy để tiếp
tục việc phiên dịch cho đủ tiện nghi.
Cuộc đón rước Ngài Huyền Trang đến chùa Từ
Ân đã được triều đình tổ chức rất trọng thể:
Mở đầu đám rước là một pho tượng lớn
cung nghinh trên một cỗ xe, hai bên tả hữu có hai tràng phang
lớn nêu cao trên hai xe khác. Tiếp theo sau là 1.500 chiếc xe
trang hoàng lộng lẫy, 300 lọng gấm, 200 ảnh tượng thêu hay
vẽ trên lụa, 500 tràng phang bảo cái thêu bằng kim tuyến. Rồi
đến tất cả những kinh điển đã thỉnh ở Ấn Ðộ về cũng
được rước trên những hương án chở trên xe. 50 vị Trưởng
lão Hòa thượng được rước trên 50 chiếc xe, còn Tăng, Ni
thì đi bộ theo sau, vừa đi vừa tung hoa và tụng niệm. Sau nữa
là các văn quan và võ quan sắp hàng theo thứ tự cấp bậc.
Cuối cùng là chín ban nhạc trong nội phủ, dàn ra thành hai
hàng dài, vừa đi vừa tấu nhạc.
Dân chúng Tràng An đều đổ xô ra xem, ban tổ chức
phải huy động đến 1.000 binh lính để theo giữ trật tự
ở hai bên đường. Trong lúc ấy, vua Ðường Thái Tông cùng
Hoàng thái tử Lý Trị và cung phi mỹ nữ đứng trên lầu
Nhân Phúc Môn, kính cẩn bưng lư hương nghi ngút trầm, nhìn
theo đám rước đang diễn hành vô cùng ngoạn mục và trang
nghiêm trên các đường phố đi đến chùa Từ Ân.
Ðường Thái Tông lúc bấy giờ đã già yếu.
Sau một cuộc đời tung hoành ở các trận mạc, vô cùng sôi
nổi hiên ngang, Thái Tông cảm nghe mệt mỏi, thích thú thanh
nhàn tĩnh mịch. Do đó, mối thâm tình giữa Thái Tông và
Ngài Huyền Trang lại càng tăng lên. Vua thường vời Ngài vào
cung giảng đạo và nhất là kể lại cuộc Tây du đầy mạo
hiểm kỳ lạ của Ngài cho vua nghe, hay cùng vua đi dạo.
Sau khi Ðường Thái Tông mất (10 tháng 7 năm
649), Ngài ít khi bước chân ra khỏi cửa chùa Từ Ân, chỉ
chuyên tâm vào việc phiên dịch. Ngài sợ thọ mệnh của
mình hữu hạn, không làm xong được công tác nặng nề, khó
khăn ấy nên lại càng sách lệ mình tinh tấn làm việc, hết
ngày lại đêm không biết mệt.
Chúng ta hãy nghe Ðại đức Huệ Lập, một vị
đệ tử thường túc, từng theo Ngài 20 năm, thuật lại sự
tinh tấn của Ngài:
"Ngài ở Từ Ân, chuyên lo phiên dịch, ngày
nào gặp việc, dịch chưa xong, thì đêm đến, dịch thế lại,
dịch cho đến chỗ đã làm dấu trước trong nguyên bản mới
dừng bút. Khi dịch xong, Ngài xếp sách đi lễ Phật, kinh hành
đến canh ba mới tạm nghỉ. Sang canh năm Ngài đã trở dậy,
đọc to bản kinh chữ Phạn, lấy điểm son làm dấu thứ tự,
định trước những đoạn sẽ dịch trong ngày. Mỗi ngày, sau
giờ ngọ trai, và lúc hoàng hôn, Ngài giảng kinh luận mới dịch,
và giải đáp nhưng nghi nghĩa mà các học tăng khắp nơi thường
đến thỉnh giáo. Ngoài ra, vì chức vị trụ trì tại chùa của
Ngài, nên mọi tăng sư, mọi công quả trong chùa Ngài đều phải
đặt mắt đến và giải quyết. Tối lại, hàng trăm đệ tử
trong chùa đều đến cầu Ngài dạy bảo. Ðầy nhà, đầy hiên
đều là nơi thù đáp, không bỏ sót một ai. Tuy phải nhiều
việc bận rộn như thế, mà lúc nào thần khí của Ngài cũng
vẫn thư thái, chẳng chút ủ trệ. (Ðại Từ Ân Tam Tạng
Pháp sư truyện).
Vua Cao Tông, kế vị vua Thái Tông đối với Ngài
cũng rất kính mến, trọng nể, nhưng thỉnh thoảng Ngài mới
đến yết kiến, vì sợ làm mất thì giờ cho công tác phiên
dịch mà Ngài cho như là công tác chính, vô cùng cấp bách sau
cuộc Tây du.
Tháng 3 năm 652 (năm Vĩnh Huy thứ ba) Ðường Cao
Tông, vì muốn làm nơi chứa kinh điển và tượng Phật đem từ
Ấn Ðộ về, mới dựng một tòa tháp năm tầng ở phía Tây
chùa Từ Ân. Từ ngày khởi công, cứ sáng sớm, người ta thấy
một vị sư già ngoài 50 tuổi, cùng mọi người gánh vác gạch
đá, mới nhìn không ai có thể nhận ra vị sư ấy chính là
Ngài Pháp sư Huyền Trang, người đã được các vua chúa từ
Ấn Ðộ đến Trung Hoa kính bái như một bậc thầy cao cả.
Ngài cùng thợ xây dựng tháp ấy trong hai năm mới xong. Tòa
tháp ấy ngày nay vẫn còn sừng sững đứng ở thành Tây Ân,
tỉnh Thiểm Tây.
Sau đó năm năm, Ngài lại dịch được thêm 10 bộ
kinh luận nữa. Bấy giờ Ngài đã già yếu, vì đã mất sức
quá độ trong cuộc Tây du và trong việc phiên dịch. Ngài thường
có chứng đau ngực, mà Ngài đã mắc phải trong khi vượt qua
núi Thống Lĩnh. Ðau thì Ngài dùng thuốc, chứ không bao giờ
nghỉ việc phiên dịch và dạy học.
Tháng 2 năm Hiển Khánh thứ hai (657), vua Cao Tôn
ngự đến Lạc Dương sắc Ngài bồi tụng. Ngài dẫn theo năm
vị Cao tăng chuyên dịch kinh điển, mỗi vị này lại đem thêm
một đệ tử, đến ở Tích Túy cung tiếp tục việc dịch
kinh.
Lạc dương là quê quán của Ngài và đây là lần
đầu tiên Ngài được dịp về thăm quê hương sau gần 40
năm xa cách. Thân thuộc Ngài bấy giờ chỉ còn một người
chị già, lấy chồng ở Doanh Châu. Ngài cho người đi đón chị
về. Chị em gặp nhau mừng mừng tủi, không nói nên lời.
Ngài nhờ chị dẫn đến mộ phần của song thân, qua đời đã
gần 40 năm trước trong lúc nhà Tuy đang cảnh loạn lạc. Nhận
thấy mộ phần song thân lâu ngày bị bỏ đồi tệ, Ngài tự
đi tìm đất, sắm quan quách cải táng hài cốt của song
thân. Trong cuộc cải táng này, cả Tăng lẫn tục có trên mười
ngàn người đi đưa.
Sau khi cải táng, Ngài nhận thấy chùa Thiếu
Lâm, tại núi Thiếu Bửu, quê hương Ngài, cảnh trí rất đẹp
đẽ, thanh tịnh, Ngài dâng biểu xin Vua vào đấy ở tu và
chuyên việc dịch kinh. Trong lời biểu có câu: "Cái tuổi
60 đã đến nơi" (lục thập chi niên liệp yên dĩ chí),
mà "từ nhỏ đến giờ chỉ chuyên tinh về giáo nghĩa còn
đối tam thuyền, cửu định chưa rảnh an tâm, nếu không
lánh ở trong núi chưa dễ thành tựu". Ðể Vua Cao Tông
chuẩn y, Ngài hứa khi đến ở chùa Thiếu Lâm, ngoài giờ thiền
quán, Ngài vẫn tiếp tục việc phiên dịch. Nhưng Vua vẫn xuống
chiếu không thuận!
Ðến 65 tuổi, tại Ngọc Hoa Cung, Ngài bắt đầu
dịch bộ kinh sau cùng bằng chữ Phạn rất to tát khó khăn là
bộ Ðại Bát Nhã kinh, tổng cộng có hai trăm ngàn (200.000)
bài tụng.
Các đệ tử đều cho là số chữ nhiều quá,
nên rút ngắn lại. Ngài Huyền Trang trái lại, có quan niệm rằng
việc phiên dịch không nên vì số chữ nhiều mà cắt bớt
nguyên văn và dịch tắt để làm mất nguyên ý. Ngài chủ trương
không bỏ một chữ nào, cứ phiên dịch theo thật đúng toàn
bộ. Thật là một quan niệm rất sáng suốt, và phương pháp
làm việc của Ngài cũng rất khoa học. Ngài lấy ba bộ
"Ðại Bát Nhã" không cùng một mẫu đem từ Ấn Ðộ
về, hễ đến đoạn nào ngờ, thì đem ra so sánh, hiệu duyệt
cẩn thận đến hai, ba lần mới dám hạ bút.
Trước khi cầm bút dịch bộ kinh đồ sộ này,
Ngài nói với chư Tăng:
"Trang nay đã 65 tuổi, tất sẽ lâm chung tại
Già lam này, mà kinh bộ thì quá lớn, sợ e dịch không trọn
được. Vậy chư vị hãy gắng sức gia công, chớ từ lao khổ".
Ngài và các đệ tử tinh tấn làm việc, không một
chút trễ biếng, trong hơn ba năm trời, mới dịch xong bộ
kinh gồm 600 quyển ấy (tháng 11 năm 663). Năm ấy, Ngài đã
là một ông già 68 tuổi. Và ngày từ giã cõi đời cũng sắp
đến với Ngài rồi!
*
* *
XVII. TỪ
GIÃ CÕI ÐỜI
Sau khi phiên dịch tổng cộng 75 bộ kinh chữ Phạn,
gồm 1.335 quyển, Ngài Huyền Trang nhận thấy sức lực mình
đến đây đã suy nhược lắm rồi, và ngày từ giã cõi đời
cũng không còn bao lâu nữa.
Nhưng vào cuối tháng Giêng năm Lân Ðức nguyên
niên (664), các vị đại đức dịch kinh và đồ chúng ân cần
xin Ngài dịch tiếp bộ kinh Ðại Bảo Tích. Mặc dù đã 69 tuổi
và trong mình đã suy yếu lắm rồi, Ngài vẫn nắm bút gắng
gượng dịch để khỏi phụ lòng tha thiết của chúng Tăng. Dịch
được ít dòng, Ngài đặt bút xuống, xếp bản sách chữ Phạn
lại mà bảo đại chúng rằng:
"Số lượng bộ kinh này cũng bằng số lượng
kinh Ðại Bát Nhã, Huyền Trang tự lượng khí lực không còn
dịch nổi. Giờ chết đến, thế không lâu nữa. Nay ta muốn
qua hang Chi Lan lễ từ Phật tượng mà thôi".
Môn nhân tăng chúng liền cùng đi với Ngài, vừa
đi vừa nhìn nhau ứa lệ. Lễ Phật xong, Ngài trở về chùa,
nghỉ hẳn việc dịch, chỉ chuyên tinh hành đạo. Nửa đêm mồng
Năm tháng Hai, Ngài viên tịch.
Trước khi tịch, Ngài hội đệ tử lại dạy rằng:
"Ta nhận biết ngày lâm chung của ta sắp đến
rồi. Sau khi ta mất, các người hãy tống táng ta một cách
đơn sơ, giản dị. Hãy bó di hài ta vào một manh chiếu và an
táng ở một nơi nào thâm u tĩnh mịch, chứ đừng bày vẽ
nhiều điều vô ích".
Vài giờ trước khi mất, sau một giấc ngủ, Ngài
thức dậy và hoan hỷ kể cho các đệ tử nghe rằng Ngài vừa
nhận thấy một tòa sen rất lớn và vô cùng đẹp đẽ nở
ra trước mắt. Ngài lại chiêm bao thấy những người rất
cao lớn ăn mặc toàn gấm vóc, nắm những giải lụa thêu hoa
và thất bảo, từ phòng Ngài đi sang phòng phiên dịch để
trang hoàng, từ trong cho đến ngoài phòng. Ngài lại nói với
các đệ tử:
"Các người hãy bình tĩnh và hoan hỷ từ
giã cái thân giả tạm này sau khi nó đã làm xong nhiệm vụ.
Ta nguyện đem công đức này hồi hướng khắp tất cả chúng
sanh, và cùng chúng sanh chứng nhập cung trời Ðao Lỵ. Ta nguyện,
trong những kiếp sau, trở về cõi Ta bà này để hóa độ chúng
sanh cho đến khi được giác ngộ hoàn toàn.
"Nam Mô Di Lặc Tôn Phật, xin Ngài hãy thị
hiện trong cõi Ta bà này để đệ tử và chúng sanh được
chiêm ngưỡng. Nam Mô Di Lặc Tôn Phật, xin Ngài hãy độ cho
đệ tử được vào hàng thánh chúng của Ngài".
Pháp sư Huyền Trang nhập định và trút hơi thở
cuối cùng. Sắc mặt Ngài vẫn hồng hào và nét mặt Ngài phản
chiếu một niềm hoan lạc vô biên.
Ngài mất vào giữa đêm mồng 5 tháng 2 năm 664,
tại Ngọc Hoa Cung, hưởng thọ 69 tuổi. Nghe tin Ngài từ trần,
vua Ðường Cao Tông không cầm được nước mắt, bãi triều
ba ngày và nói với các quan cận thần:
"Trẫm nay mất một quốc bảo!"
Lễ an táng của Ngài cử hành vào ngày 14 tháng
4 tại Bạch Lộc Nguyên, với sự tham dự của hơn 1 triệu
người (1.000.000) ở Tràng An và các miền phụ cận; trong số
ấy có ba mươi ngàn người làm lều ở cạnh mộ Ngài mà ở.
Chỉ với con số người hộ táng ấy cũng đủ
hình dung được sự cảm phục và thương mến của người đồng
thời đối với Ngài thiết tha biết bao nhiêu!
- Hết-
Mục
lục | Phần
1
| Phần
2 |
Phần
3 |
Phần
4
| Phần
5
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Tủ sách Phật Học
|
Chân thành
cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng tập sách này
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-04-2002
|
|