| ...... ... |
. |
Đường Tam Tạng Thỉnh Kinh
Võ Đình Cường
Sàigòn 2002
---o0o---
[Phần
4]
-oOo-
X. Ở TU
HỌC TẠI CHÙA NA LAN ÐÀ
C hùa Na Lan Ðà ở
về phía đông bắc Bồ đề già, trong nước Ma Kiệt Ðà
(Trung Ấn Ðộ); dịch theo tiếng Trung Hoa, Na Lan Ðà nghĩa là
Thí Vô Y. Chùa này được dựng lên từ thế kỷ thứ nhất
(Tây lịch) và là một ngôi chùa lớn nhất và đẹp nhất ở
Ấn Ðộ. Chùa gồm trên 10 tịnh xá, có phòng họp, phòng tịnh
niệm, tịnh thất cao 4 tầng lầu, có vườn hoa, hồ sen, thành
quách, như cả một đô thị. Chính Ngài Huyền Trang cũng đã
viết trong tập bút ký của Ngài: "Tịnh xá ở Ấn Ðộ kể
có hàng ngàn, nhưng không có cái nào sánh kịp chùa Na Lan
Ðà, cả về phương diện lộng lẫy, giàu có và đồ sộ".
Vào đây, người ta có cảm tưởng như đi lạc vào một rừng
lâu đài, điện các, cái này chồng lên cái kia, với những
pho tượng và những bức tường chạm trổ công phu.
Na Lan Ðà thật xứng đáng là một học phủ tối
cao, một trung tâm văn hóa của Ấn Ðộ thời bấy giờ. Các
kinh điển Ðại thừa, Tiểu thừa, tụng tán Phệ đà, các
sách y dược, thiên văn, địa lý, kỹ nghệ đều tập trung
ở đó, tóm lại là đủ cả các thứ sách vở dạy Ngũ minh.
Vị cao Tăng chủ trì tại chùa này là Ngài Giới
Hiển, thường được gọi là Chánh Pháp tạng. Khi Ngài Huyền
Trang đến đây thì Ngài Giới Hiển đã già trên 100 tuổi rồi,
và là vị học giả thông thái nhất Ấn Ðộ thời bấy giờ.
Số Tăng sĩ trong chùa, kể cả chủ lẫn khách,
không bao giờ dưới 10 ngàn người. Các vị Tăng sĩ này đều
nghiêm trì giới luật và siêng năng tu học. Hằng ngày vào
khoảng 100 vị giảng sư túc trực giảng dạy trên pháp tọa.
Cho nên từ 700 năm nay, từ khi chùa mới thành lập cho đến
khi Ngài Huyền Trang đến tu học, chùa này luôn được sự trọng
nể của các hàng vua chúa và dân chúng khắp nơi. Trong số
10.000 tu sĩ ở đây, có 1.000 vị thông giảng được 20 bộ
kinh luận, 500 vị thông giảng 30 bộ, 10 vị thông giảng được
50 bộ, và chỉ có Ngài Giới Hiển là thông hiểu hết toàn
thể các bộ.
Ðể cung cấp mọi chi phí trong chùa và tứ sự
cúng dường cho toàn thể Tăng chúng, nhà vua đã trích số tiền
thu thuế của 100 thành phố, và mỗi ngày 200 gia đình thu thuế
đem cơm nước, bơ, sữa đến cúng dường. Nhờ thế chư
Tăng ở đây khỏi phải mất thời giờ đi khất thực và có
đủ phương tiện và nhiều thời gian để tu học.
Khi nghe Ngài Huyền Trang sắp đến, chùa phái 200
vị Tăng sĩ và1.000 tín đồ đi nghinh đón với cờ quạt, lọng
tàng, hương hoa ... Khi Ngài vào đến chùa, toàn thể Tăng đồ
và cư sĩ tụ lại, vây quanh Ngài hoan hô. Họ đặt trên bệ
cao một cái ghế, mời Ngài Huyền Trang ngồi. Sau khi khách chủ
đều ngồi, vị phó giám đốc của chùa đứng dậy, cất tiếng
mời Ngài lưu lại chùa và cùng họ chung sống trong giáo lý lục
hòa.
Ngài được dẫn vào ra mắt Pháp sư Giới Hiển.
Khi thấy Pháp sư, Ngài Huyền Trang, theo lễ phép Ấn Ðộ, quỳ
xuống và bò vào đến gần chân Ngài Giới Hiển, lạy Ngài
làm lễ ra mắt. Sau khi hỏi han và không tiếc lời khen ngợi,
Ngài Giới Hiển truyền đem ghế và mời Ngài Huyền Trang ngồi.
Ngài Huyền Trang tỏ ý định muốn được thụ
giáo với Pháp sư Giới Hiển. Khi được biết ý định của
Huyền Trang, Pháp sư Giới Hiển bảo một đệ tử thân tín kể
lại cho Ngài Huyền Trang nghe điềm mộng mà Pháp sư đã thấy
trước đây ít lâu, vì mang bệnh nặng, Ngài Giới Hiển muốn
nhập diệt, nhưng một hôm Ngài nằm mộng thấy ba vị Ðại
Bồ-tát là Ngài Văn Thù, Ngài Quan Thế Âm và Ngài Di Lặc đến
dạy Ngài phải ở lại truyền đạo và đợi một vị Tăng
sĩ ở Trung Hoa qua để truyền giáo.
Ngài Huyền Trang nghe chuyện ấy, hết sức mừng
rỡ, một lần nữa van xin Ngài Giới Hiển hãy rủ lòng từ
bi nhận cho mình được làm đệ tử. Ngài hứa sẽ luôn là một
đệ tử thuần thành và ngoan ngoãn vâng theo lời chỉ dạy của
Pháp sư Giới Hiển.
Ngài Giới Hiển, vì tuổi đã quá già, lâu nay
không giảng kinh nữa, nhưng lần này vì Ngài Huyền Trang, sẽ
đặc cách giảng về Du-già-sư-địa-luận. Ngài Huyền Trang
thật may mắn gặp được vị sư xứng đáng như thế. Ngài
Giới Hiển là học trò Ngài Dharmapala (Hộ Pháp), Ngài
Dharmapala là học trò của Ngài Luận chủ Dignaga; Ngài Dignaga
lại là đệ tử của hai Ngài Vô Trước và Thế Thân Bồ-tát,
hai vị đã sáng lập ra tông Duy Thức. Như thế là Ngài Huyền
Trang đã trực tiếp hấp thụ được giáo lý chính tông của
Duy thức; thật là một sự may mắn hiếm hoi.
Ngài Giới Hiển giảng về Du-già-sư-địa luận
trong 15 tháng. Mỗi khi Ngài giảng, tín đồ xa gần nô nức tới
nghe có đến ba, bốn ngàn người. Riêng Ngài Huyền Tràng,
thì đêm ngày không phút nào chểnh mảng. Ngài vừa nghe giảng,
vừa tìm tòi nghiên cứu thêm các kinh điển khác để được
thông hiểu hết ý nghĩa sâu xa. Vì thế, thanh danh bác học của
Ngài được lan khắp 5 xứ Ấn Ðộ, và được từ vua chúa
cho đến dân chúng kính trọng, quý mến.
Ban đầu Ngài ở trong một tòa nhà hai tầng của
một tịnh xá do vua nước Ma Kiệt Ðà là Baladitya lập lên,
sau Ngài lại dời sang ở kế cận ngôi nhà mà trước kia Ngài
Luận chủ Hộ Pháp (Dharmapala) đã ở. Mỗi tháng vua nước Ma
Kiệt Ðà cúng dường cho Ngài ba thùng dầu, và các thứ bơ,
sữa, thức ăn đủ dùng trong mỗi ngày. Vua lại truyền cho một
vị Tăng sĩ và một vị Bà-la-môn cứ mỗi ngày hướng dẫn
Ngài đi du ngoạn đây đó bằng xe, ngựa hay cán. Trong 5 năm
ở tu học tại chùa Na Lan Ðà, Ngài Huyền Trang đã nghe Pháp
sư Giới Hiển giảng: 3 lần luận Du-già-sư-địa, một lần
Thuận chánh lý luận, một lần Hiển dương luận, một lần
Ðối pháp luận, hai lần Nhân minh luận, hai lần Thanh minh luận,
hai lần Tập lượng luận, 3 lần Trung luận, 3 lần Bách luận.
Ngoài ra, những luận khác như Câu Xá, Bà Sa, Lục Túc v.v ...,
đã học ở các nơi thì chỉ hỏi lại những điểm nào còn
nghi ngờ thôi.
Sau năm năm thụ giáo với Ngài Giới Hiển và tiếp
thu một số vốn học hỏi sâu rộng, Ngài Huyền Trang lại từ
giã Na Lan Ðà để đi du học ở Ðông bộ, Nam bộ và Tây bộ
Ấn Ðộ.
*
* *
XI. CHU DU
ÐÔNG, NAM, TÂY, BẮC ẤN ÐỘ
R ời Na Lan Ðà,
Ngài Huyền Trang vượt sông Hằng, đi về phía Ðông, ra vịnh
Băng-gan (Bengale) đến cửa bể Tâm-ra-li-ti (bây giờ là
Tamluk). Ngài định đến đây rồi đi thuyền vượt biển ra
đảo Xri LanKa, ở tận cùng bán đảo Ấn Ðộ, về phía Nam.
Ðối với Ngài Huyền Trang, Xri LanKa là thủ phủ trung tâm của
Tiểu thừa. Chính ở đây là nơi, lần đầu tiên công chúa
con vua A Dục đã chiết nhành cây Bồ đề sang truyền đạo
Phật. cũng chính ở đây là nơi đã có vinh hạnh độc nhất,
được giữ di tích quý báu nhất là cái răng của đức Phật.
Ngài Huyền Trang, đêm ở trên bờ biển Ấn Ðộ,
thường mơ tưởng đến cái hòn đảo xa xăm kia mà hào quang
của răng đức Phật chiếu sáng từ "Chùa răng Phật"
ra xa mấy mươi dặm ở chung quanh, như một ngôi sao sáng lấp
lánh giữa bầu trời đêm quang đãng.
Nhưng khi đến cửa biển Tâm-ra-li-ti, Ngài hỏi
đường thủy đi sang đảo Xri LanKa, thì người ta khuyên Ngài
không nên làm một cuộc hành trình bằng hải đạo xa như thế,
sợ gặp nhiều nguy hiểm. Họ bảo tốt hơn là Ngài nên đi lần
ven bờ biển vịnh "Băng-gan", xuống đến gần đảo
Xri LanKa sẽ vượt sang ngang thì dễ dàng và bớt phần nguy hiểm.
Ngài Huyền Trang nghe theo lời khuyên ấy, đi đường bộ ven
biển về phía Nam. Ngài trải qua các nước Ðông và Nam Ấn
Ðộ như nước Cung-ngự-đàm Yết-lăng-già (Kalinga) Ma-ha Kiền-tất-la
(Kosala) Án-đạp-la (Andàra), Ðà-na-yết-kiệt-ca (Dravida) v. v
...
Ðến nước nào, Ngài nghe có vị cao tăng, đại
đức có thể chỉ giáo cho mình về các môn đạo học, triết
học, thiên văn, địa lý v.v ... thì Ngài liền xin đến thụ
giáo. Ngoài ra, Ngài còn quan sát một cách chính xác địa thế
sanh hoạt, tánh tình, đạo đức của dân tộc các nước ấy.
Vì thế cho nên bộ Tây Du Ký của Ngài là một tài liệu quý
báu mà chính ngày nay các nhà bác học vẫn cần đến để tìm
tài liệu lịch sử về các nước Ấn Ðộ trong thời đại mà
Ngài đi qua đấy.
Khi Huyền Trang đến cực nam bán đảo Ấn Ðộ,
đối diện với đảo Xri LanKa, định vượt biển qua đấy,
thì một tin buồn đang đợi Ngài.
Ðảo Xri LanKa, sau một cuộc đảo chánh trong nội
phủ, đang làm mồi cho nạn đói khó và loạn lạc. Xri LanKa
không còn là một xứ thanh tịnh êm đềm như trong tưởng tượng
của Ngài Huyền Trang, mà là một nơi các vị tu sĩ đang lánh
xa để đi tìm yên tĩnh ở một nơi khác. Chính các vị tu sĩ
ở đây chạy sang trốn lánh trên đất Ấn Ðộ đã khuyên
Ngài không nên đặt chân lên đảo ấy nữa.
Ngài Huyền Trang đành hủy bỏ dự định sang viếng
Xri LanKa và tiếp tục cuộc hành trình bằng đường bộ dọc
theo bờ biển phía Tây Ấn Ðộ, để trở về chùa Na Lan
Ðà.
Ngài đã từ phía Bắc xuống cực Nam Ấn Ðộ bằng
con đường ven biển phía Ðông (tức là bờ biển Bengale), giờ
đây Ngài lại từ cực nam Ấn Ðộ lên phía Bắc bằng con
đường ven biển phía Tây (tức là bờ biển Ấn Ðộ Ô Măng).
Ði con đường vòng này xa hơn, nguy hiểm, khó nhọc hơn,
nhưng mục đích của Ngài không phải đi cho mau đến đích
mà là đi để biết và học hỏi. Ði là chính, mà đến chỉ
là phụ. Thái độ của những người đi tìm học, tìm chân
lý đều như thế cả.
Trên đoạn đường dài trở về chùa Na Lan Ðà,
Pháp sư đã đi qua những nước Yết Lăng Già (Nam Ấn Ðộ)
Nam Kiền Tất La (Trung Ấn Ðộ), Lang Yết Là (cực Tây Ấn Ðộ)
v.v ... Trong các nước ở vùng này, có nước giòng vua
Ca-lu-ki-a (Calukya) là hùng mạnh hơn cả. Dân nước này thân
hình cao lớn, phong tục giản dị và ngay thật. Tánh tình của
họ kiêu hãnh và dễ nóng giận. Họ trọng danh dự và khinh
thường cái chết. Ai làm ơn cho họ, họ luôn luôn ghi nhớ,
trái lại, ai phạm đến danh dự của họ, không bao giờ họ
tha thứ. Ai cầu cứu đến họ, họ hy sinh tất cả để cứu
giúp. Khi họ muốn rửa hận, bao giờ họ cũng báo tin cho kẻ
thù địch của họ biết trước. Sau đó họ mới nắm khí giới
để thực hành dự định của mình. Khi ra trận, họ đuổi
theo bắt những người thua chạy, nhưng không giết những kẻ
chịu đầu hàng. Nếu một tướng sĩ của họ thua trận, họ
không trừng trị bằng cách hành hạ thân xác, mà chỉ bắt
người ấy ăn mặc y phục đàn bà; nhưng thường thường, kẻ
bại trận ấy tự tìm lấy cái chết trước để khỏi phải
ô danh như thế. Họ có một đạo quân hùng mạnh vô cùng, nhờ
thế mà họ vẫn giữ được nền tự chủ trong lúc chung
quanh họ, các nước đều bị sự đô hộ của vua Giới Nhật
là vị vua đã thống trị hầu hết cả năm xứ Ấn Ðộ. Triều
đình tuyển lựa một đám võ sĩ vô địch gồm mấy trăm
người, rất hùng dũng, gan dạ. Nhóm người này trước khi ra
trận, uống rượu vào cho đến say, và mỗi người có thể
địch được muôn người. Nếu trong lúc say sưa ấy, họ lỡ
tay giết người, thì triều đình cũng không bắt tội họ.
Khi lâm trận, bọn người này đi xung phong. Ngoài ra, đạo quân
của nước này còn gồm có một đoàn voi chiến, hàng mấy trăm
con. Trước khi xáp trận, đàn voi này được cho uống rượu
mạnh đến say như điên dại. Thế là người ta thả chúng
xông vào tàn phá hàng ngũ quân địch.
Tuy thế, dân chúng nước này phần đông đều
hiếu học. Họ thờ thần Xi Va (Civa), nhưng không chống lại
Phật giáo. Trong nước, có trên vài trăm tịnh xá Phật giáo
nằm sát cạnh những đền thờ Bà-la-môn giáo.
Sau khi đi dần đến nước Lan Yết Ma, cực Tây
Ấn Ðộ, giáp ranh giới nước Ba Tư, Ngài Huyền Trang mới
quay trở lại Trung Ấn Ðộ và sau khi trải qua nhiều nước,
Ngài trở về nước Ma Kiệt Ðà và vào tu học lần thứ hai
tại chùa Na Lan Ðà.
Kể từ ngày Ngài Huyền Trang rời chùa Na Lan
Ðà cho đến khi trở lại, ròng rã đã sáu năm. Trong sáu năm
ấy, Ngài đã đi khắp Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trung, 5 xứ Ấn
Ðộ, gồm trên 100 nước. Nơi nào xét cần, Ngài ở lại để
thụ giáo với những bực minh sư, từ một vài tháng cho đến
một vài năm, như có lần Ngài đã tìm đến núi Tượng Lâm,
lưu lại hai năm tại đấy, để học với ngài luận sư Thắng
Quân. Ngài Thắng Quân là đệ tử của ngài An Huệ (cũng học
với Ðại sư Giới Hiển) và là một học giả rất thông
bác đương thời. Từ luận Ðại, Tiểu thừa, Nhân minh, Thanh
minh, đến các sách ngoại đạo, 4 kinh Vệ Ðà, thiên văn, địa
lý, y phương, thuật số, luận sư Thắng Quân đều thông suốt
đến gốc ngọn.
Ngài Huyền Trang đã học được với luận sư
Thắng Quân về Duy Thức Quyết Trạch luận, Thành Vô uy, Bất
trụ Niết bàn luận, Thập nhị Nhân duyên luận, Trang Nghiêm
kinh luận v.v ...
Ðiều đáng quý trọng trong thái độ học hỏi
của Ngài Huyền Trang và đáng để cho chúng ta noi theo, là
không phải Ngài chỉ sưu tầm nghiên cứu giáo lý Ðại thừa
hay Tiểu thừa mà thôi; Ngài còn tìm hiểu, học hỏi những
đạo giáo, môn phái triết học khác mà có khi Ngài không
thích. Nhờ thế, tầm hiểu biết của Ngài thật bao la rộng
lớn và mỗi khi bàn đến một vấn đề gì, Ngài cũng tỏ ra
thấu triệt, quán xuyến, không ai qua mặt được và bao giờ
cũng nắm phần thắng lợi.
Chúng ta sẽ thấy những bằng chứng cụ thể về
điểm này trong các cuộc tranh luận giữa Ngài và các đạo
giáo khác, thuật ở chương sau.
*
* *
XII. TRANH
LUẬN VỚI CÁC PHÁI TIỂU THỪA VÀ NGOẠI ÐẠO
S au sáu năm chu du và
học hỏi khắp năm xứ Ấn Ðộ, Ngài Huyền Trang trở về Na
Lan Ðà. Ở đây Ngài được toàn thể Tăng đồ tiếp đón rất
nồng hậu và Ngài Giới Hiển vô cùng trọng nể. Vị trưởng
lão này giao cho Ngài chủ trì các khóa giảng, ngoài ra còn sai
Ngài giảng về Nhiếp Ðại Thừa luận, Duy Thức Quyết Trạch
luận cho Tăng chúng cả chùa nghe.
Trong số các đại đệ tử của Pháp sư Giới
Hiển có ông sư Tử Quang thấy Ngài Huyền Trang được trọng
đãi và làm chủ giảng, có ý không phục. Nhân ông này lấy
Trung luận, Bách luận để phá nghĩa lý Du già, Ngài Huyền
Trang vốn thông suốt cả Trung luận, Bách luận và Du già,
nên hội thông cả ba tông cho là không trái nhau và làm ra
3.000 bài tụng "Hội tông luận", giảng rõ đại
nghĩa, trình lên Giới Hiển và đại chúng, ai ai cũng đều khâm
phục. Sư Tử Quang tự biết sức học của mình không thể
nào theo kịp Ngài Huyền Trang, lấy làm xấu hổ bỏ chùa Na
Lan Ðà ra đi, một năm sau mới dám trở lại.
Cũng trong thời gian ấy, có người Thuận Thế
ngoại đạo viết ra hơn 40 điều lý luận treo ở cửa chùa
Na Lan Ðà và ngạo mạn tuyên bố rằng nếu ai có thể phá
được một điều nào, thì anh ta cam chịu cắt đầu đền tội.
Trong chùa không một ai dám bác bẻ. Ngài Huyền
Trang liền xin Ngài Giới Hiển và các vị cao Tăng làm chứng
cho cuộc biện luận giữa Ngài và người ngoại đạo ấy. Cuối
cùng, người này thất lý, đành phải cúi đầu chịu lỗi và
yêu cầu thi hành lời thách đố của mình. Ngài Huyền Trang cười
bảo:
–Ðã là một kẻ tu hành thì không bao giờ giết
người. Anh định để vong hồn anh theo dõi bên mình ta hay
sao?
Trong các nước ở Ấn Ðộ thời bấy giờ có nước
Ma Kiệt Ðà (hay Yết Nhược Cúc Am) là một nước lớn ở
Trung Ấn Ðộ, ở dưới quyền thống trị của vua Giới Nhật
(Harsha). Vị vua này rất sùng mộ Ðại thừa Phật giáo, và
là một vị vua vừa có tài trị dân vừa là một thi sĩ. Uy tín
và ảnh hưởng chính trị của ông lan xa trong năm xứ Ấn Ðộ.
Phật giáo ở Ấn Ðộ thời bấy giờ mất dần thanh thế, nhưng
ở nước Ma Kiệt Ðà, nhờ ảnh hưởng và uy tín của vua Giới
Nhật, vẫn còn thạnh hành.
Khi vua Giới Nhật thân chinh nước Cung Ngự Ðà,
đi qua nước Ô Ðồ nghe tin có một vị tu sĩ theo Tiểu thừa
có danh tiếng của nước đó là Bát-nhã-cúc-đa làm ra 700
bài tụng "Phá Ðại thừa luận", chê phái Ðại thừa
là "không hoa ngoại đạo". Vua liền viết thư cho Ngài
Giới Hiển xin cho người đến nước Ô Ðồ biện luận phải
trái.
Ngài Giới Hiển nhận thư, thương nghị cùng
các vị cao tăng đại đức trong chùa Na Lan Ðà, và cuối
cùng quyết định cử Ngài Huyền Trang với 3 người nữa là
Sư Tử Quang, Hải Tuệ, Trí Quang đến đó biện luận. Ba người
sau này lo sợ không dám nhận lãnh sứ mệnh ấy. Trái lại,
Ngài Huyền Trang không chút sợ hãi, tìm được nguyên văn 700
bài tụng "Phá Ðại thừa luận", đêm ngày nghiên cứu,
có chỗ nào nghi nan thì cùng người Thuận Thế ngoại đạo mà
Ngài đã thuyết phục trước kia, thảo luận, rồi viết ra thành
1.600 bài tụng: "Phá ác kiến luận". Những bài tụng
này rất được Ngài Giới Hiển và tăng chúng trong chùa thán
phục.
Ngài Huyền Trang sắp đi đến nước Ô Ðồ
tranh luận thì vua Cưu Ma La (Kumura) ở cực Ðông Ấn Ðộ
(bây giờ là Assam) vì hâm mộ sự uyên bác của Ngài Huyền
Trang nên sai sứ đến thỉnh Ngài đến nước ấy giảng đạo.
Ðiều đáng chú ý là vua Cưu Ma La, mặc dù theo Bà-la-môn
giáo, vẫn không ngại nghe giảng về giáo lý Phật đà. Do
thái độ rộng rãi, không cố chấp và luôn tìm kiếm học hỏi
ấy, nên vua Cưu Ma La được những kẻ tài đức ở các nơi
hâm mộ, kính yêu.
Khi vua Giới Nhật thân chinh xong trở về nước
mong được hội kiến với Ngài Huyền Trang để sắp đặt cuộc
đấu lý giữa Ngài và các phái Tiểu thừa và ngoại đạo, hầu
làm sáng tỏ giáo nghĩa Ðại thừa, nhưng Ngài Huyền Trang
còn ở nước Cưu Ma La chưa trở về. Vua Giới Nhật một mặt,
tức tốc phái người đi trước đến nước ấy triệu Ngài
về, một mặt, thân hành đi sau đón Ngài.
Vua Cưu Ma La, vốn là một chư hầu của vua Giới
Nhật, nhận được thư của vua Giới Nhật, liền tự mình hộ
tống Ngài Huyền Trang trở về. Ðoàn hộ tống ngược dòng
sông Hằng, gồm có 20 ngàn thớt voi và 30 ngàn chiến thuyền.
Khi đến địa điểm mà hai vị vua đã hẹn gặp thì trời đã
tối. Vua Giới Nhật nóng lòng muốn gặp Ngài Huyền Trang,
không đợi đến sáng hôm sau, mà truyền quân tức tốc cùng
mình đến đón Ngài. Ðêm ấy, giữa giòng sông sáng rực lên
mấy ngàn ngọn đuốc và vang lừng tiếng trống lớn. Cứ mỗi
bước là 100 cái trống đều đánh lên một lần, đó là nghi
lễ đặc biệt chỉ dành cho vị đại vương Giới Nhật mà
thôi, các vị vua Ấn Ðộ khác không được theo nghi lễ ấy.
Vua Cưu Ma La nghe báo vua Giới Nhật sắp đến cũng lật đật
truyền quân đốt đuốc ra nghinh đón.
Khi gặp Huyền Trang, vua Giới Nhật liền quỳ xuống
hôn chân Ngài, rồi rải hoa trước mặt Ngài, và nhìn Ngài với
một vẻ vô cùng ngưỡng mộ. Sau khi không ngớt lời tán
thán Ngài Huyền Trang, vua hỏi có vẻ trách móc tại sao Ngài
không đến hội kiến sớm hơn. (Từ khi Ngài Huyền Trang đặt
chân đến Ấn Ðộ, lần này là lần đầu tiên Ngài gặp Giới
Nhật. Vua thường đi thân chinh, ít khi có mặt ở kinh đô
Khúc Nữ).
Ngài trả lời với một vẻ tự tại của một
nhà hiền triết rằng vì Ngài đang bận nghiên tầm kinh điển
và nhất là đang cố soạn cho xong các bài tụng "Phá ác
kiến luận", nên chưa có dịp đến yết kiến vua được.
Tuy mới gặp nhau lần đầu, hai vị danh nhân
này đã quý chuộng nhau và có cảm tình sâu đậm đối với
nhau. Trước khi hỏi về đạo lý, vua Giới Nhật hỏi về
tình hình nước Trung Hoa và được ngài trả lời một cách
thông suốt.
Vua hỏi:
–Nước Ðại Ðường ở về phương nào? Cách
đây xa hay gần?
–Tâu, nước Ðại Ðường ở về phía đông bắc,
cách đây đến hơn vài vạn dặm, tiếng Ấn Ðộ gọi là Ma
ha Chi na.
–Ta nghe nước Ma ha Chi na có vua Tần Vương, trẻ
tuổi mà đã tinh thông, lớn lên rất là thần võ; gặp buổi
trên đời tán loạn, cõi đất chia xẻ lở lang, Tần Vương
ra dẹp yên bờ cõi, phong thanh ra đến cõi khác phương xa, đâu
cũng mộ pháp xưng thần, có đặt ra khúc "Tần Vương phá
trận nhạc", ta nghe tiếng đã lâu, nước Ðại Ðường có
phải cũng là nước ấy chăng?
Ngài Huyền Trang tâu:
–Thưa phải! Chi Na là quốc hiệu của đời
trước.[Ghi chú: Thì ra chữ "Chi na" là do người
Ấn Ðộ gọi Nhà Tùy mà ra (Chi na: Tùy na)] .
Ðại Ðường là tên nước
của vua tôi, mà Tần Vương là hiệu của vua tôi khi chưa lên
ngôi; nay đã vâng đại thống lên ngôi xưng là Thiên tử rồi.
Trước đây, khi Tần Vương chưa tức vị, thì nước tôi
đang ở trong cảnh vô cùng loạn lạc. Dân không có chủ, đồng
ruộng đầy dẫy những xác chết, máu chảy thành sông, thây
chất thành núi. Ban đêm những ngôi sao quái dị xuất hiện,
ban ngày tử khí bốc lên. Hai bên bờ sông của Tam Hà đều
hoang tàn vì thú dữ, còn Tứ Hải thì bị rắn độc hoành
hành. Nhưng may nhờ Ngài Ðường Thái Tông (tức Lý Thế Dân)
nặng lòng vì nghĩa cả, với một sức mạnh phi thường đã
tung kiếm dẹp tan mọi loạn lạc và đem thái bình thịnh trị
lại cho muôn dân ....
Sau khi hỏi han về nhà Ðường xong, vua Giới Nhật
lại hỏi về công cuộc nghiên cứu đạo lý của Ngài Huyền
Trang, nhất là những bài tụng mà Ngài đã làm để hiển
dương giáo lý Ðại thừa và bác bỏ những lý lẽ xuyên tạc
của ngoại đạo. Sau khi được biết Ngài Huyền Trang đã
hoàn tất công tác mà Ngài Giới Hiển đã giao phó, vua Giới
Nhật mới hội đàm với vua Cưu Ma La, quyết định thông tri
cho các nước, mở một đại hội ở than Khúc Nữ (Kanauj)
kinh đô nước Ma Kiệt Ðà, để Ngài Huyền Trang tuyên dương
giáo lý Ðại thừa và tranh luận với các phái Tiểu thừa
và Ngoại đạo.
Ðại hội mở vào những ngày đầu xuân năm 643
tại Khúc Nữ, trong một khung cảnh rất đồ sộ. Có thể
nói đây là một đại thịnh hội văn hóa thứ nhất trong lịch
sử Ấn Ðộ. Tất cả những nhân sĩ học giả uyên thâm của
các giáo phái, các học thuyết ở Ấn Ðộ thời bấy giờ đều
có đến dự. Người ta đếm được 18 vị quốc vương của
18 nước, 3.000 Tăng lữ thuộc Ðại thừa và Tiểu thừa,
trên 2.000 người Bà-la-môn và Ni Càn Ngoại đạo, trên 1.000 Tăng
lữ ở chùa Na Lan Ðà đến tham dự hội nghị. Tất cả những
người này, mặc dù khác tín ngưỡng, khác học thuyết, nhưng
đều là những học giả cao siêu, có uy tín, có ảnh hưởng
trong 5 xứ Ấn Ðộ. Người thì đi thuyền theo giòng sông Hằng
mà đến; người thì đi voi, đi cán dọc theo bờ sông. Mỗi
người đều kéo theo nhiều đám tùy tùng. Cờ xí rợp trời,
trống kèn dậy đất. Quang cảnh thật là tưng bừng, rực rỡ
và vĩ đại chưa từng thấy.
Vua Giới Nhật đã truyền dựng hai dãy nhà rộng
mênh mông để chứa quan khách và Tăng sĩ.
Ngày đầu khai mạc Ðại hội, có cuộc rước
Phật. Tượng Phật được cung nghinh trên một thớt voi lớn
trang hoàng lộng lẫy. Vua Giới Nhật, vận y phục như thiên
thần Indra, nắm quạt trắng đi theo hầu ở phía tay phải tượng
Phật; vua Cưu Ma La vận y phục như Phạm Thiên, mang lọng đi
hầu ở phía trái. Trước và sau tượng Phật có trên một trăm
thớt voi mang những nhạc sĩ và hoa quý để tung lên sau tượng
Phật. Ngài Huyền Trang và vua chúa cùng đình thần đến cưỡi
mỗi người mỗi thớt voi đi sau vua Giới Nhật và Cưu Ma La.
Ðám rước khởi đầu đi từ doanh trại vua Giới
Nhật vào lúc bình minh. Khi đám rước đến cửa hội trường,
mọi người đều xuống voi để rước tượng Phật vào điện
thờ. Vua Giới Nhật, cứ mỗi bước đi, lại trải ngọc ngà
châu báu xuống đất để tỏ lòng sùng kính Tam bảo. Vua tự
tay làm lễ tắm tượng Phật với nước hoa, rồi tự mình thỉnh
tượng lên trên tháp cao. Sau khi lễ Phật xong, vua Giới Nhật
truyền lệnh cho 18 quốc vương thỉnh vào đạo trường 1.000
vị cao tăng đại đức, 500 vị Bà-la-môn và ngoại đạo xuất
sắc, 200 vị văn võ triều thần của 18 nước. Những vị tu
sĩ và cư sĩ không vào được trong đạo trường thì sắp
hàng đứng ngoài cửa. Sau khi mở tiệc thiết đãi và cúng dường
tứ sự các vị tu sĩ. Hội nghị chính thức bắt đầu. Vua
Giới Nhật thỉnh Ngài Huyền Trang lên Pháp tọa làm Luận chủ,
xưng dương Ðại thừa, chế tạo luận lý và nêu vấn đề
cho Hội nghị thảo luận. Ngài Huyền Trang đưa ra rất nhiều
lý luận của phái Ðại thừa và lấy bài "Chân duy thức
luận" hữu danh của Ngài làm nội dung cho cuộc tranh luận.
Ngài sai Sa môn Minh Hiền đọc giữa chúng và dán một bản
ở ngoài cửa hội trường để cho những người không thể
vào được xem. Dưới bản ấy, vua còn ghi chú: "Nếu ai
nhận thấy một chữ sai lầm, vô lý và có thể bác bẻ được
thì trẫm sẽ xin chịu cắt đầu để tạ ơn".
Sau khi treo bài luận ấy, từ sáng đến chiều,
không một người nào dám đứng ra tranh luận. Những ngày
sau, Ngài Huyền Trang vẫn biện luận một cách thông suốt và
không gặp một đối thủ nào ngang sức. Ðến ngày thứ năm,
phái đối lập thấy lý luận của mình bị đánh đổ tất cả,
sanh lòng oán hận, âm mưu tìm cách ám hại Ngài.
Vua Giới Nhật khám phá được âm mưu ấy liền
ra một bản tuyên cáo, lời lẽ gắt gao:
"Trong đại chúng, nếu kẻ nào âm mưu làm tổn
thương đạo thể Pháp sư Huyền Trang sẽ bị chặt đầu; kẻ
nào gièm siểm, mạt sát Pháp sư sẽ bị cắt lưỡi. Trái lại,
kẻ nào tin tưởng vào sự công minh chính trực của Trẫm mà
bàn cãi một cách đường chính chính, thì sẽ được hoàn
toàn tự do phát biểu ý kiến".
Trong 18 ngày liên tiếp, Ngài Huyền Trang giảng một
cách minh bạch, nghị luận xác đáng, đưa ra những nghĩa lý
tinh vi, thâm thúy, làm cho cả hội trường, không ai cãi chối
vào đâu được. Sau khi hội nghị bế mạc, hàng ngàn người
đã bỏ đạo lý cũ của mình để xin quy y theo Ðại thừa Phật
giáo.
Quốc vương Giới Nhật vô cùng hoan hỷ, truyền
đem cúng dường Ngài Huyền Trang 10 ngàn đồng tiền vàng, 30
ngàn đồng tiền bạc, 100 bộ y bằng nỉ. Mười tám vị quốc
vương đều tặng Ngài rất nhiều báu vật, nhưng Ngài không
nhận một mảy may nào.
Theo cổ lệ Ấn Ðộ, những người đắc thắng
trong các cuộc biện luận, được cưỡi voi du hành khắp nơi
để được sự hoan hô của quần chúng. Bởi thế, vua Giới
Nhật truyền trang hoàng một con voi lớn, có 18 vị quốc vương
và các vị đình thần, dân chúng đi theo hộ vệ, rồi mời
Ngài Huyền Trang lên voi. Ngài từ chối hai ba lần, nhưng vì mọi
người đều nài ép bảo rằng đó là một tục lệ nên Ngài
phải làm theo. Ngài trèo lên mình voi. Vua Giới Nhật nâng
chéo y của Ngài, long trọng tuyên bố với quần chúng:
–Ðây là vị Pháp sư Trung Quốc đã lập luận
về giáo lý Ðại thừa, phá tan mọi tư kiến, luôn trong 18
ngày không ai tranh luận nổi. Vậy hết thảy chúng ta phải nhận
biết sự đắc thắng ấy.
Toàn thể hội trường hoan hô nhảy múa, dâng hương
tung hoa, và đi theo hộ tống Ngài.
Từ đây, tiếng tăm của Ngài vang dội cả 5 xứ
Ấn Ðộ.
Bên lề cuộc thắng lợi vẻ vang mà Ngài Huyền
Trang đã thâu hoạch trong cuộc tranh luận với các giáo phái
và ngoại đạo ấy, chúng ta cũng nên biết qua những nỗi
khó khăn, trở ngại mà vua Giới Nhật đã gặp phải trong khi
tổ chức Ðại hội có một không hai trong lịch sử văn hóa
Ấn Ðộ ấy.
Nguyên ở Ấn Ðộ hồi ấy, đạo Phật đã dần
dần mất thanh thế, và Bà-la-môn giáo đang vào giai đoạn khôi
phục thanh thế đã có từ trước khi đức Phật ra đời.
Ngay ở nước Ma Kiệt Ðà là nơi đạo Phật đang còn nhiều
uy tín, mà trong triều đình của vua Giới Nhật, phần lớn
các quan đại thần đều là tín đồ Bà-la-môn giáo.
Bà-la-môn giáo đang lớn mạnh. Bởi thế, những
người lãnh đạo tôn giáo này không muốn vua Giới Nhật tổ
chức đại hội nói trên mà kết quả là nâng cao uy tín của
đạo Phật và Ngài Huyền Trang, một vị Pháp sư Trung Quốc,
và làm lu mờ Bà-la-môn giáo và giới lãnh đạo tôn giáo ấy,
trước mắt quần chúng Ấn Ðộ. Họ tìm cách để phá hoại
đại hội và âm mưu ám sát cả vua Giới Nhật nữa.
Trong ngày cuối cùng của đại hội, lửa bỗng
nhiên bốc cháy ở cái tháp mới cất để thờ Phật trong hội
trường, và gian nhà hai tầng cũng làm mồi cho ngọn lửa.
Nghe tin chẳng lành ấy, vua Giới Nhật đã đau đớn thốt lên:
–Ta đã đem hết của cải ra bố thí; và theo gương
các tiên đế, ta đã xây dựng cái tháp ấy và làm các việc
ích lợi khác. Nhưng vì đức ta quá mỏng nên ta không được
sự ủng hộ của thần dân. Trước những tai họa và những
điềm chẳng lành ấy, ta có cần kéo dài thêm đời sống nữa
chăng?
Những cận thần thân tín của vua cũng nói:
–Chúng tôi tin tưởng rằng cái tháp mới xây dựng
này sẽ tồn tại đến thiên thu, nào ngờ trong mấy hôm đầu
nó đã thành tro bụi. Chắc bọn Bà-la-môn sẽ sung sướng vỗ
tay reo mừng lắm.
Nhưng may thay, nhờ Phật gia hộ, đám lửa được
dập tắt và các sự thiệt hai không lấy gì làm quan trọng:
Nhưng bọn chủ mưu Bà-la-môn không nản lòng,
còn tiếp tục tiến xa hơn nữa trong những âm mưu đen tối.
Sau khi lửa tắt, vua Giới Nhật cùng các tiểu vương và đình
thần leo lên ngọn tháp để quan sát tình hình. Vua lên đến
đỉnh tháp, nhìn xuống dưới một vòng rồi theo tầng cấp bước
xuống. Thình lình một kẻ lạ mặt tay nắm đoản đao phóng
đến phía vua. Vua Giới Nhật nhảy lui mấy bước, rồi chạy
trở lên. Khi kẻ lạ mặt chạy theo gần đến, vua cúi xuống
ôm lấy nó và giao cho các quan hộ vệ.
Khi kẻ ám sát đã bị bắt, vua Giới Nhật
không đổi sắc mặt, bình tĩnh hỏi lý do vì sao nó muốn giết
ngài. Người này khai là những người Bà-la-môn tức giận
vì vua đã ưu đãi Tăng sĩ Phật giáo, nên họ dự tính sau
khi phóng lửa đốt cháy cái tháp, sẽ thừa dịp lộn xộn để
ám sát vua. Nhưng đám lửa đã bị dập tắt ngay, họ không
thi hành được như đã dự định, nên thuê người ấy nắm
dao đâm vua.
Sau vụ mưu sát ấy, 500 người Bà-la-môn bị đày
ra khỏi biên giới Ấn Ðộ.
*
* *
XIII. ÐẠI
THÍ TRƯỜNG "VÔ GIÀ"
S au ngày bế mạc
đại hội ở Khúc Nữ, Ngài Huyền Trang muốn từ giã Ấn Ðộ
trở về nước. Nhưng vua Giới Nhật muốn ngài ở lại để
dự Ðại hội "Vô già" là một đại hội Bố thí rất
lớn, tổ chức tại Bát-la-ra-gia (Prayâga). Vua nói:
–Ðệ tử ở ngôi vua đã hơn 30 năm nay, tích
chứa của báu, cứ năm năm một lần mở ra hội Vô già đại
thí trong 75 ngày. Nay đệ tử muốn mở hội lần thứ sáu, vậy
xin Pháp sư hãy tạm ở lại để cùng tùy tùng tùy hỷ cho
vui.
Nể lời mời của vua Giới Nhật, Ngài Huyền
Trang ở lại, chứng kiến một đại hội bố thí vô cùng đặc
biệt, chỉ riêng ở Ấn Ðộ mới có.
Ðại hội này mở tại nước Bát-la-ra-gia, phía
Bắc giáp sông Hằng, phía Nam giáp sông Diêm-mâu-na (Jumnâ), lập
trên một cái đàng rộng lớn, mỗi bề độ 15 dặm. Từ ngàn
xưa, mỗi lần muốn bố thí lớn, các vua chúa đều đến đây
mở hội. Tục truyền rằng một đồng bạc bố thí ở đấy
có giá trị phước đức 100 ngàn đồng bố thí ở các chỗ
khác. Chung quanh đàng có hàng rào bằng tre, ở giữa có nhiều
dãy nhà rộng lớn lợp tranh để chứa các vật bố thí có
giá trị như vàng, bạc, châu báu, san hô, xa cừ, mã não ...
Ngoài ra còn có mấy trăm kho chứa vải lụa ... Trước mỗi
kho, có một gian nhà có thể chứa được một ngàn người.
Ngoài hàng rào, một dãy trại lớn được dựng lên để làm
trai đường.
Khi vua Giới Nhật, Ngài Huyền Trang và 18 vị Quốc
vương đến đại thí trường này thì 500 ngàn người đang đợi
sẵn để được bố thí.
Sau khi các vua chúa hạ trại xong, quân lính đi
theo hộ giá chia làm hai đạo, một đạo đi theo đường thủy,
trên những chiếc thuyền lộng lẫy, một đạo theo đường bộ
trên những thớt voi hùng dũng, tề tựu ở chung quanh thí trường;
còn các vua chúa thì cứ theo thứ tự lớn nhỏ mà đứng ở
những địa điểm đã định trước.
Ngày đầu, người ta cung thỉnh một tượng Phật
lên điện thờ và bố thí những thứ thất bảo và y phục
vô cùng quý giá. Một bữa tiệc linh đình được thết đãi,
có hoa và nhạc.
Ngày thứ hai, người ta cung thỉnh một tượng
Nhật thần, và cũng bố thí các thứ thất bảo và y phục
quý báu, nhưng chỉ bằng nửa giá trị của những thứ bố
thí ngày đầu.
Ngày thứ ba, người ta cung thỉnh một tượng thần
Xi-va (Civa) và cũng bố thí các thứ quý giá như ngày thứ
hai.
Ngày thứ tư, người ta cúng dường cho mười ngàn
Tăng sĩ; những người này ngồi sắp thành 100 hàng dài và mỗi
người nhận lãnh 100 đồng tiền vàng, một bộ y bằng vải,
các thức ăn và hương hoa.
Ngày thứ năm, làm lễ cúng dường cho tu sĩ Bà-la-môn,
và liên tiếp trong 20 ngày như thế.
Lần thứ sáu, làm lễ cúng dường cho ngoại đạo,
và liên tiếp trong mười ngày như thế.
Lần thứ bảy, làm lễ cúng dường cho các người
thuộc đạo Ni Càn ở xa đến và trong 10 ngày như thế.
Sau cùng, là cuộc bố thí cho những người nghèo
khổ, mồ côi, vô gia đình. Lần bố thí này kéo dài trong suốt
một tháng. Sau thời hạn này, tất cả các kho tàng của nhà
vua tích trữ trong khoảng năm năm đều hết sạch; chỉ còn
voi ngựa, khí giới là những thứ cần dùng để bảo vệ an
ninh, trật tự, không thể đem cho được.
Ðến đây Ngài Huyền Trang được chứng kiến một
cử chỉ vô cùng ngoạn mục của lòng từ bi mà vua Giới Nhật
đã biểu lộ trong những ngày cuối cùng của Ðại thí trường
Vô già:
Sau khi nhận thấy quanh mình không có gì để cho
nữa, vua Giới Nhật liền lột hết cả áo mão, vòng vàng,
chuỗi ngọc, tất cả những vật quý mang trong mình ra bố
thí. Rồi mượn một bộ áo quần mặc thường của bà công
chúa chị mình, vua choàng vào và quỳ xuống đảnh lễ mười
phương Phật. Vua chắp hai tay trong dáng điệu vô cùng hoan hỷ
và nói:
–Xưa kia, đệ tử thâu nhặt bao nhiêu ngọc
ngà châu báu và cứ sợ kho tàng không đủ chắc chắn để
thu giấu kín đáo. Nhưng bây giờ, sau khi làm bố thí, đã
gieo tất cả vào phước điền, đệ tử thấy rất yên lòng,
vì biết không bao giờ chúng có thể mất mát đi đâu được.
Nhưng, mặc dù vua Giới Nhật tỏ vẻ vô cùng
hoan hỷ trong cử chỉ bố thí cao cả của mình, 18 vị quốc
vương nhận thấy áy náy vì không thể để cho một vị Ðại
vương ăn mặc tầm thường như thế được. Họ phải xuất
tiền của trong kho ra chuộc lại những thứ áo mão, vòng
vàng, chuỗi ngọc, hoa tai v.v ... mà vua Giới Nhật đã bố
thí, và đem dâng lại cho vua.
Sau khi đại hội Vô già bế mạc, Ngài Huyền
Trang xin từ giã vua Giới Nhật để lên đường về nước.
Bấy giờ Ngài đã 48 tuổi, và tính ra, ở Ấn
Ðộ đúng 15 năm. Trong thời gian ấy không một giờ phút nào
Ngài không nhớ đến tổ quốc. Mặc dù biết thế, vua Giới
Nhật vẫn còn muốn cầm Ngài ở lại nữa. Pháp sư phải dùng
những lời lẽ vô cùng vững chắc và cảm động mới làm
xiêu được lòng vua Giới Nhật. Vua đề nghị nếu Ngài đi
đường thủy thì sẽ cho người theo hộ tống. Nhưng Ngài Huyền
Trang đã có ý định từ trước là trở về bằng đường bộ,
qua ngã Trung Á. Bao nhiêu cảm tình nồng hậu và kỷ niệm
quý báu đang đợi Ngài ở đấy. Nhất là Ngài không thể
quên lời hẹn với vua Khúc Văn Thái, sẽ trở về ở lại nước
Cao Xương trong một thời gian vài năm. Lời hẹn ấy có giá
trị như một lời thề không thể làm ngơ được. Vì thế, mặc
dù Ngài có thể đi sang cực đông Ấn Ðộ đến nước của
vua Cưu Ma La rồi vượt núi, thẳng đường lên phía Bắc là
đến Trung Hoa, con đường này rất gần, nhưng Ngài không đi.
Có người cho rằng Ngài không đi đường này, vì sợ gặp
nhiều nguy hiểm. Nhưng một người đã có lòng cương quyết,
nhiều kinh nghiệm, không hề sợ gian nguy, hiểm trở như Ngài,
thì có bao giờ lại lùi bước trước một con đường rút ngắn
như thế? Lý do Ngài không đi đường ấy chính là để khỏi
thất lời hứa với vua Cao Xương vậy. Ngài không ngờ rằng
vua Cao Xương khi ấy đã chết rồi.
Khi Ngài Huyền Trang ra về, vua Giới Nhật trao tặng
Ngài rất nhiều lễ vật và truyền lệnh cho một số quan
lính theo hộ tống Ngài đến tận biên giới Ấn Ðộ, để bảo
vệ Ngài chống bọn giặc cướp, rất nhiều ở sườn núi Hy
Mã Lạp Sơn. Vua lại còn tặng Ngài một thớt voi quý để chở
Ngài đi và viết thư cho các vị tiểu vương các nước Ngài
sắp đi qua để họ giúp đỡ, tiếp đón Ngài. Còn kinh sách
và tượng Phật mà Ngài đã sưu tầm thì vua truyền lệnh cho
một tiểu vương ở Bắc Ấn Ðộ chở đi bằng ngựa hay bằng
xe trận.
Vua Cưu Ma La cũng trao tặng Ngài một bộ áo bằng
lông rất quý để phòng mưa gió khi vượt qua rừng núi.
Hai vị vua ấy lại còn kéo cả một đạo quân
tùy tùng theo đưa tiễn Ngài đến mấy mươi dặm đường trên
đồng bằng xứ Bạt-la-ra-gia (Prayaga). Phút chia tay, chủ và
khách đều không thể cầm được nước mắt và những tiếng
thở dài thương cảm.
Ba hôm sau, khi Ngài Huyền Trang đi rồi, vua Giới
Nhật và Cưu Ma La cùng mấy trăm kỵ mã lại ruổi theo Ngài,
mong gặp lại một lần cuối, và tiễn Ngài thêm mấy dặm
đường nữa mới trở lui.
-oOo-
Mục
lục | Phần
1
| Phần
2 |
Phần
3 |
Phần
4
| Phần
5
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Tủ sách Phật Học
|
Chân thành
cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng tập sách này
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-04-2002
|
|