Asoka: Cuộc đời và sự
nghiệp
của vua A-dục
Tuyển tập
---o0o---
04
Đại đế Asoka Maurya và những pháp dụ khắc trên đá
Trần Trúc-Lâm
-ooOoo-
PHẦN I: DẪN NHẬP
Để hiểu rõ thêm về vai trò lịch sử trọng đại của
Hoàng Đế Asoka không những đối với dân-tộc Ấn, mà còn đối với nhân loại
qua sự truyền bá Phật giáo đến các nước khác, ta nên ôn lại đôi chút về
bối cảnh lịch sử Ấn độ đương thời.
Lịch sử Ấn Độ tồn tại rất lâu đời, đến cả 5 ngàn năm. Một cách khái quát,
nếu tính từ thời văn minh thung lũng sông Indus cổ đại ở vùng tây bắc tiểu
lục địa Ấn, dựa vào những phát hiện khảo cổ ở Harappa và Mohenjo-Daro thì
nó đã xuất hiện khoảng 2, 500 năm TTL Nền văn minh này kéo dài hơn một
ngàn năm, đã được xem như là một trong những nền văn minh cổ nhất của nhân
loại, cùng với nền văn minh Ai-cập và Mesopotamia (ở Iraq ngày nay). Nhiều
sử gia cho là giống dân Dravidian bản địa, vóc thấp, da sậm, mũi rộng, tóc
xoắn, đã dựng lên nền văn minh đó với lễ nghi tôn giáo phát triển, thiết
kế và kiến trúc đô thị ban sơ có kế hoạch, biết dùng đồ đồng và thau, biết
dệt lông cừu và làm dấu mộc. tạc tượng vv...
Đến khoảng 1,500 năm TTL, có giống Aryan, vóc lớn, da trắng, mũi cao,
nhiều râu, từ vùng Trung Á (ở mạn nam nước Nga ngày nay) theo ngã Iran xâm
chiếm vùng tây bắc (Punjab ngày nay). Họ chuyển đổi từ lối sống du mục
sang định cư nông nghiệp, biết quí trọng súc vật, nhất là ngựa và bò cái,
biết chế tạo xe do súc vật kéo, biết làm lịch theo mặt trăng, tôn sùng các
đạo sĩ và thầy tế lễ vv, Đến khoảng năm 800 TTL họ đã chia thành nhiều
tiểu vương cai trị hết vùng đông bắc và nam Ấn. Họ đã đưa văn h?c, triết
học, tôn giáo, tổ chức xã hội Ấn đến tột đỉnh, tạo nên nền văn minh Vedas,
cốt lõi của Ấn giáo. Upanishads có lẽ được kết tập giữa thế kỷ thứ 8 và
thứ 5 TTL.
Nhưng cũng từ đó xã hội Ấn đãbị phân chia ra nhiều đẳng cấp khác biệt, còn
kéo dài đến ngày nay; đại để có bốn giai cấp (varnas) từ cao đến thấp là
Brahmans (Bà-la-môn: gồm thầy tế lễ, trí giả), Kshatriyas (vương tướng),
Vaisyas (thương nhân, địa chủ) và Sudras (kẽ lao động, thợ thuyền, nghệ
nhân, gia nhân). Ba đẳng cấp trên dành cho người gốc Aryan, được xem là
tinh khiết, được quyền học kinh Vedas để được tái sinh theo nghĩa tôn giáo
(born again). Đẳng cấp thứ ba dành cho dân gốc bản địa, không tinh khiết
và không được học kinh Vedas. Phải kể thêm một hạng người nữa khốn khổ
thấp kém nhất chẳng được xếp vào giai cấp nào, gọi là Harijans hay
Paraiyans (Hạng ghê tỡm), bao gồm những kẽ làm nghề sát sinh súc vật,
thuộc da. Nên nhớ là trong mỗi đẳng cấp còn có sự phân chia ra rất nhiều
thứ loại (jati) tạm gọi là phường hay nghiệp đoàn. Theo thống kê năm 1901
đã có đến 2,378 phường như thế.
Đến khoảng thế kỷ thứ 6 TTL, thời đức Phật Thích Ca còn tại thế, đã nẩy
sinh nhiều trường phái đòi cải cách những quan nịệm bất công đối xử trong
xã hội bắt nguồn từ Vedas và còn thách thức cả Ấn giáo. Hai tôn giáo mới
có tầm nhìn khoan dung và cách mạng hơn đã xuất hiện: đó là Phật giáo và
Kỳ Na giáo (Janism). Trong giai đoạn này, đất Ấn có khoảng 16 nước lớn
nhỏ; và các vương quốc hùng mạnh đều tập trung ở vùng bắc Ấn (vùng Bihar
bây giờ) như Avanti, Vaishali (Vệ-sá-lị), Kosala (Kiều-tát-la), Magadha
(Ma-Kiệt-Đà) vv…. Sau nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tương tàn, Magadha
dưới triều vua Bambisara (Tần-Bà-Sa-La, lại có nơi dịch là Bình-Sa-Vương)
thuộc giòng họ Haryanka thâu tóm các lân bang trở nên một đế quốc khá
rộng, đóng kinh đô ở Rajagrha (Thành Vương Xá), cách Patna ngày nay khoảng
35 dặm về phía đông nam.
Vua Bambisara lên ngôi lúc 15 tuổi, trở thành một cư sĩ Phật tử lúc 30
tuổi, và nhịệt tình hổ trợ đạo Phật. Ôâng trị vì được 52 năm, đã xây 16
tịnh xá ở Vương Xá và cúng dường Đức Thích Ca khu vườn trúc rộng lớn để
Phật cùng tăng đoàn cư ngụmà hoằng hoá. Khu vườn này được nhắc đến nhiều
lần trong Tam tạng kinh điển, đó là Tịnh Xá Trúc Lâm (Venuvan-arama).
Nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáo đều cho rằng ngôn ngữ đức Thích Ca
thuyết pháp thời bấy giờ là tiếng Magadhi phổ thông.
Đến khoảng năm 420 TTL triều đại Haryanka lại mất vào tay của giòng họ
Nanda, nhưng họ Nanda chỉ tồn tại được trong vòng 100 năm rồi bị giòng họ
Maurya lật đổ.
Đầu thế kỷ thứ 4 TTL, sau khi đánh bại quân Persians vào năm 326 TTL, Đại
đế Alexander đã mở rộng đế quốc Hy lạp từ phía Tây đến biên cương Ấn rồi
dừng lại ở vùng sông Bès (bây giờ là Lahore, Pakistan). Sau khi Alexander
qua đời ở Babylon vào năm 323 TTL, Chandragupta Maurya lúc bấy giờ đã lật
đổ triều đại Nanda vào năm 321 TTL đẩy lui nhiều đợt quân xâm lăng của
Seleucus Nicator I, kẻ kế vị Alexander ở vùng Afghanistan, Baluchistan và
Pakistan bây giờ, rồi mở rộng bờ cõi xuống phía tây nam đến Gujatt và
thung lũng Daccan. Vua Chandragupta Maurya (trị vì từ 321 đến 298 TTL) đã
dời đô đến Pâtaliputrâ (Thành Hoa Thị; tức thành phố Patna ngày nay) vốn
là một pháo đài kiên cố trấn ngự ở châu thổ giao tiếp của hai con sông
chính là Ganga (Hằng Hà) và sông Sona.
Sự
sinh hoạt và cai trị theo lối trung ương tập quyền và những chính sách
ngoại giao khéo léo của triều đại Chandragupta Maurya đã được ghi lại
trong cuốn Arthasastra bởi Kautilya (còn được biết dưới tên Chanakya), là
tể tướng của triều ông. Ngoài ra nhiều đoạn của một báo cáo do sứ thần của
vua Seleucus tên là Megathenes ghi lại còn tồn tại đến nay qua sự trích
dẫn của các sử gia Hy-La. Đến đời vua Bindusàra Maurya (trị vì từ 298 –
273 TTL) thì đế quốc này còn bành trướng thêm nữa từ Kashmir ở phía bắc
đến Karntaka ở phía nam, và từ châu thổ sông Hằng ở phía đông sang đến mạn
nam và đông của xứ Afghanistan bây giờ. Đế quốc Maurya đã nổi tiếng với
những thành phố lớn phồn thịnh như Takshasila, Ujjain, Vidisha, Tosali, và
Suvarnagiri.
Đến đời Hoàng Đế Asoka Maurya (còn được ghi là Ashoka, dịch là A Dục
Vương, hay A-du-Ca: có nghĩa là Vô Ưu), vị vua thứ ba của triều đại
Maurya, ông kế tiếp chính sách bá quyền, và thâu tóm gần hết tiểu lục địa
Ấn. Đế quốc của ông hùng mạnh tột đỉnh và ông đã để lại cho hậu thế một
chứng liệu miên viễn bằng đá, dưới dạng những pháp dụ, bởi nếu không thì
những điều nói về vua Asoka chỉ được biết qua những huyền thoại ghi lại
trong những kỷ yếu viết bởi các tăng sĩ Phật giáo ở Tích-Lan và Ấn như các
bộ Divyavadana, Asokavadana, Mahavamsa vv..
Hoàng Đế Asoka Maurya sinh năm 304 TTL, lên ngôi năm 269 TTL lúc 35 tuổi,
trị vì được 38 năm và mất năm 232 TTL thọ 73 tuổi. Ông là vị vua vĩ đại
nhất của Ấn, và là vị hoàng đế đầu tiên đã cai trị một đế quốc Ấn rộng
lớn.
Dựa vào bộ Mahàvamsa (Đại Sử) đã được biên soạn bởi tăng già ở Tích-Lan
thì ngay sau khi vua cha là Bindusàra băng hà vào năm 273 TTL, đã có sự
tranh dành ngôi vua rất gay gắt giữa các hoàng tử trong 4 năm. Giai đoạn
này Sử ghi là thời không vua (Interregnum). Rốt cục Asoka, với sự hổ trợ
đắc lực của vài đại thần ở kinh đô Pâtaliputrâ (Thành Hoa Thị), đã thành
công và lên ngôi vào năm 269 TTL.
Tám năm sau khi kế vị vua cha, hoàng đế Asoka xua quân đánh chiếm nước
Kalinga dọc vùng duyên hải mạn đôâng, nay là bang Orissa vì xứ này giàu có
nhờ quặng mo,õ sung túc nhờ vựa lúa, vàvị trí hàng hải thuận lợi dẫn đến
vùng thung lũng Krishna đầy mõ vàng và đá quí. Chiến dịch thành công nhưng
đẩm máu. Theo các pháp dụ do ông sai khắc lên đá thì cuộc xâm lăng này đã
làm cho 150 ngàn nguòi bị bắt làm nô lệ hoặc bị đầy ải, 100 ngàn quân sĩ
bị giết, số thường dân bị sát hại còn cao hơn nhiều lần.
Trước trận Kalinga hai năm, có vẽ như là vua Asoka đã trở thành một Phật
tử sau khi nghe vị Sa-di Nigrodha (Ni-câu-thuật) thuyết pháp, nhưng không
mấy nhiệt tâm (xem Tiểu thạch pháp dụ số 1), mãi đến sau khi chứng kiến
thảm cảnh đau thương của chiến dịch này ôâng quá xúc động và rất hối hận,
rồi từ đó quyết từ bõ chiến tranh xâm lấn và hồi tâm để trở nên một
Upàsaka (Ưu-bà-tắc: cư-sĩ Phật tử) thuần thành. Suốt quảng đời còn lại ông
đã kiên trì ứng dụng Phật pháp vào việc trị nước một cách đầy nhân ái mà
ông gọi là dhammavijaya (pháp chinh phục), và đã ủng hộ Phật giáo phát
triển sâu rộng không những trên toàn đế quốc ông cai trị mà còn truyền bá
đến các nước lân bang. Những sự kiện này xảy ra khoảng hai thế kỷ sau khi
Đức Phật Thích Ca nhập diệt.
Bộ
Mahavamsa - vốn được viết trong tinh thần tôn giáo với nhiều huyền thoại
với dụng ý răn đời đã muốn đề cao Asoka từ khi trở thành Phật tử đã từ bõ
quá khứ đầy ác nghiệp, từ một Candàsoka (A-Dục Vương bạo chúa) trở thành
Dhammàsoka (A-Dục Vương mộ Pháp) – nên bộ này đã ghi rằng trong cuộc tranh
dành ngôi vua, Asoka đã giết 99 người trong số 100 anh em của mình, chỉ
còn để sót lại một người tên là Tissa. Thực ra không có chứng cớ khả tín
về điều này, vã lại trong Đại thạch Pháp dụ số 5 được ban ra 11 năm sau
khi ông lên ngôi còn cho thấy vua Asoka nhắc đến anh chị em mình. Các học
giả tin rằng trong vụ tranh ngôi này chỉ có một người anh (hay em) đã bị
sát hại mà thôi. Hơn nữa với thời gian trị vì của ông, ngoài hai sự kiện
là tranh dành ngôi vua và cuộc xâm lăng Kalinga trong 8 năm đầu, suốt
quảng 30 năm còn lại ông đã trở thành một hoàng đế nhân từ đem Chánh Pháp
ra ứng dụng vào đời, chứ không tàn bạo như Nero của La Mã hay Trụ Kịệt,
Tần Thuỷ Hoàng của Trung Quốc, nên vịệc gán cho ông xú danh Candasoka xem
ra thiếu cơ sở. Nhiều học giả nghiêm túc còn so sánh ông với những vĩ nhân
khác như Hammurabi của Babylon, Charlemagne của đế quốc Tây Âu hậu La Mã
hay Akbar của đế quốc Mogul.
Nhiều cổ thư ở Tích-Lan đã ghi lại sự kiện là Asoka nhờ đã áp dụng chính
sách chinh phục ôn hoà bằng Chánh Pháp mà ông đã khôn khéo ổn định đời
sống chính trị toàn vùng và nhiều lần dẹp yên các cuộc nổi loạn mà không
đổ máu; trong đó đáng kể là cuộc nổi loạn của dân ở thành Takshasila thuộc
vùng Gandhara chống lại sự áp bức hà khắc của quan cai trị địa phương. Về
sau Gandhara trở thành thịnh địa của Phật giáo, mà từ đó phái Đại thừa
phát triển qua phương Đông.
Để
thần dân thông hiểu chính được những sự cải cách trong chính sách cai trị
mới và những nguyên tắc về đạo đức ông đặt ra dựa theo Chánh Pháp cốt tạo
dựng nên một xã hội đầy nhân bản và công chính hơn, Asoka đã ra lệnh khắc
những pháp dụ này lên đá - có khi gọi là Lời ghi chánh pháp (dharmalipi) ,
có khi lại gọi là pháp lệnh (dharma-sravana) - đồng thời cho rao truyền
rộng rãi khắp nơi trong nước. Những pháp dụkhắc trên đá của vua Asoka đã
minh họa được hình ảnh của một vị minh quân luôn nhiệt tâm thực thi Chánh
Pháp của Phật dạy để mang lại cho trăm họ một đời sống hiền hoà, no ấm
phúc lợi, nhưng vẫn không cho biết thêm chi tiết nào về cuộc đời của ông.
Sự
khai thị về các Pháp dụ của Asoka được xem như chỉ là gần đây mà thôi.
Người nghiên cứu đầu tiên lại là một tu sĩ Thiên Chúa giáo, khi cha
Tieffenthaler khảo sát những mảnh của pháp trụ Meerut tại Delhi vào năm
1756, nhưng không hiểu được nội dung. Mãi đến năm 1837 những pháp dụ của
Asoka mới được nhà khảo cổ James Prinsep giải ám mã lần đầu tiên, rồi từ
đó những pháp dụ được dịch thuật và in ấn quảng bá khắp nơi.
Ban đầu Prinsep thấy rằng những dụ này đã được ban ra bởi một vị vua tự
gọi mình là "Vua Piyadasi, Thiên tử" (phỏng từ "Beloved-of-the-Gods, King
Piyadasi") hoặc "Devanampiya Piyadasi, Thiên tử, Người Nhìn Xuống với Từ
Tâm" ("Beloved-of-the-Gods, He Who Looks On With Affection"). Các học giả
phỏng đoán Vua Piyadasi có thể là Vua Asoka, thường được xưng tụng trong
các huyền thoại Phật giáo. Cho mãi đến năm 1915, khi một pháp dụ khác được
tìm thấy với tên vua Asoka, người ta mới khẳng định được rằng cả hai chính
là một, đó là hoàng đế Asoka, và từ đó, sau hơn hai ngàn năm bị quên lãng,
những pháp dụkhắc trên đá này của vua Asoka bỗng dưng làm sáng tõ thêm về
một con người vĩ đại của lịch sử Ấn và của cả nhân loại, chứ không còn là
một nhân vật chỉ đuọc biết đến qua huyền thoại. Một câu ghi lại trên đá đã
phản ánh chiều hướng tâm linh của Asoka: "Tất cả thần dân là con của ta.
Vì là con của ta, họ phải được chu cấp đầy đủ an sinh và phúc lợi trong
đời này và đời sau, như ta vẫn hằng mong.”
Theo giáo sư Romila Thapar về môn Lịch sử Ấn cổ tại Đại học Jawaharlal
Nehru ở New Delhi thì hệ văn tự của các Pháp dụ này được xem là văn hệ sớm
nhất của Ấn có thể nghiên cứu được. Văn hệ cổ hơn mà người ta khám phá ở
Harappa thuộc văn minh thung lũng sông Indus chỉ là những nét vẽ tượng
hình trên dấu mộc, vật trang sức và lọ gốm mà đến nay vẫn chưa ai hiểu
được ý nghĩa.
Những pháp dụ khắc đá của vua Asoka đánh dấu thời kỳ chuyển biến từ khẩu
truyền sang văn tự của xã hội Ấn vì chúng là những chữ tượng âm chứ không
tượng hình như xưa. Nghiên cứu kỹ những bia ký, người ta thấy Hoàng Đế
Asoka cho ghi lại Pháp dụ bằng bốn văn hệ cho ba ngôn ngữ khác nhau. Phần
quan trọng và chiếm đại đa số bia ký là ngôn ngữ Prakrit - bấy giờ là ngôn
ngữ đàm thoại phổ thông của xứ Magadhi, tức là ngôn ngữ chính thức trong
triều Asoka, và phần còn lại bằng ngôn ngữ Hy-lạp và Aramaic.
Ngôn ngữ Prakrit lại được viết dưới hai dạng văn hệ Brahmi và Kharoshthi
(gần với Sanscrit). Đa số pháp dụ được viết theo văn hệ Brahmi, truyền bá
rộng khắp đế quốc. Nhiều học giả cho rằng văn hệ Brahmi do triều đại
Maurya sáng tạo bởi nhu cầu hành chánh trong việc cai trị một đế quốc rộng
lớn. Nó là dạng chuyển tiếp giữa Sanscrit xuất phát từ vùng tây bắc Ấn
(thường dùng trong giới thần học, triết học, hoặc huyền học) và ngôn ngữ
hiện đại Indo-European của Ấn. Văn hệ Brahmi, dù vậy cũng bị biến dạng đôi
chút theo phát âm ở từng địa phương, ví dụ văn hệ để viết tiếng Tamil ở
vùng phía nam vốn cải biên từ hệ Brahmi.
Sự
sử dụng ngôn ngữ Prakrit trong các Pháp dụ cũng cho thấy rằng Asoka muốn
đem Chánh pháp ra ứng dụng với đời thường chứ không chỉ để một số tăng lữ
dùng để bàn luận theo ngôn ngữ Sanscrit. Văn phong dùng thể nói chuyện rất
bình dân dễ hiểu và thuòng lập đi lập lại, cứ như Hoàng Đế muốn trực tiếp
nói với quần chúng, chứ không kiểu cách cầu kỳ như các quốc vương khác
đương thời hay xử dụng. Qua đấy nhiều học giả đã nhìn thấy bản tính bộc
trực chân thật của Asoka.
Rất ít bản khắc bằng văn hệ Kharoshthi và bằng ngôn ngữ Hy-lạp và Aramaic.
Những bản này chỉ thấy ở vùng tây bắc thuộc Afghanistan bây giờ, nơi có
nhiều dân nói được hai ngôn ngữ ấy. Không rõ là những Pháp dụ thuộc loại
này đã được triều đình ra lệnh hay là do các quan cai trị địa phương làm
ra như là một bản dịch cho dân trong vùng, vốn đa chủng hỗn tạp. Trên một
trong những pháp dụ ở vùng này, Hoàng Đế Asoka đã kể ra tên của 5 vị vua
các nước phương tây đồng thời có bang giao, nhờ vậy đã giúp nhiều cho vịệc
nghiên cứu sử đối chiếu. Đó là các vua Antiyoka (Anh ngữ: Antiochos II
Theos ở Syria: 261- 246 TTL), Turamaya (Ptolemy II Philadelphos của Ai
cập: 285 – 247 TTL), Antikini (Antigonos Gonatas của Macedonia: 278 - 239
TTL), Maka (Magas của Cyrene: 300 – 258 TTL) và Alikasudara (Alexander của
Epirus: 272 – 258 TTT).
Dựa vào các bia ký bằng Hy ngữ vàAramaic này mà các nhà nghiên cứu Tây
phương hiễu được những từ tương tự ở bản Prakrit. Nhưng cũng chính vì vậy
đã gây khá nhiều ngộ nhận, ví dụ từ dharma lại không có lấy một chữ
gốc Hy và Aramaic (và cả Anh ngữ ngày nay) tương đồng để dịch và ngay
trong các bản văn bằng Hy ngữ vàAramaic này cũng không có nơi nào đề cập
đến Đức Phật. Cho nên nhiều dịch giả phải phỏng dịch ra như là: thương xót
(piety), đức hạnh (virtue), bổn phận thiêng liêng (sacred duty), hoặc dùng
nguyên ngữ là dharma dạy bởi Đức Phật (the dharma taught by
the Buddha). Trong bản khắc bằng Hy ngữ lại được ghi là eusebeia,
với một nghĩa rất tổng quát như vừa kể.
Chính vì dựa vào những ngộ nhận này mà nhiều học giả Tây phương nghi ngờ
rằng chữ dharma Asoka đã dùng không phải mang một nghĩa như Chánh
pháp của đạo Phật mà là những khuyến dụ về đạo đức xã hội nói chung. Có kẻ
còn bảo rằng vì trên những bia ký chẳng hề thấy Asoka đề cập đến giáo lý
căn bản của Phật giáo như là Luân hồi (samsàra), Giải thoát (mokkha),
Niết-bàn (nibbàna), Vô ngã (anatta), Bát Chánh Đạo (atthangika-magga), hay
Tứ Diệu Đế (cattari ariya-saccani) nên đã giải thích chữ dharma
theo lối suy diễn ngoại đạo chủ quan của mình. Thật là đáng tiếc, vì họ
quên rằng dù Asoka đã trở thành một cư-sĩ Phật tử nhưng ông phải cai trị
một đế quốc rộng lớn như một minh quân, phải công bằng với thần dân vốn đa
dạng và đa tín ngưỡng, ở một xã hội có nền văn hoá bao dung chứ không
cuồng tín độc tôn, độc thần. Asoka không thể nào dùng những ngôn từ thuần
Phật pháp để phủ dụ thần dân được.
Nhưng qua một vài pháp dụ riêng cho tăng già ví dụ tiểu thạch pháp dụ số 3
hay còn gọi là Pháp dụ Bairàt, thì không còn nghi ngờ gì nữa về đức tin
Phật giáo của Asoka. Trong dụ này sau lời vấn an tăng già, ông xác định
đức tin vĩ đại của ông vào Phật, Pháp và Tăng. Ông bảo rằng tất cả pháp do
Đức Phật thuyết giảng đều là chân diệu pháp và ông muốn nó được trường
tồn. Ông còn cho ghi ra tên của 7 bản kinh để Tăng-già thường xuyên tu
học.
Những pháp dụ khắc đá nói chung nhắm vào nhiều thành phần là các quan chức
dưới triều, giới tăng già, và thần dân. Đối với thành phần đầu thì ông
quan tâm đến sự an sinh phúc lợi của dân chúng, và kêu gọi các quan chức
nên đề cao đạo đức và nhịêm vụ xã hội để cai trị dân tốt hơn. Ở thành phần
giữa thì ông quan tâm đến việc tu tập của tăng chúng và vịệc điều hành các
tịnh xá. Ở thành phần sau thì ông chỉ khuyến khích việc ăn ở theo Chánh
pháp (Dharma).
Vua Asoka còn thường xuyên tuần du thiên ha, gọi là những chuyến vi hành
Pháp (dhammayàtras) để giảng dạy Chánh pháp cho mọi người. Ông còn ra lệnh
cho các quan đại thần cũng nên làm như thế. Hoàng Đế Asoka tự cho mình có
trách nhiệm phải giải nghĩa, công bố và rao giảng Chánh Pháp (Dharma). Với
sự minh mẫn siêu việt, Asoka đã chỉ ra trong đời thường, nó là sự tương
tác nhiều mặt của đời sống đạo đức: Nó phản ánh những trách nhiệm và bổn
phận của con người tuỳ vào vị trí của mình trong xã hội; nó phản ánh cái
trật tự trong vũ trụ và chân lý cảm nhận được trong cái trật tự đó; nó là
mối dây ràng buộc con người trong gia đình, xã hội, tôn giáo và đất nước;
nó là cái tri kiến cơ bản làm nền tảng cho sự thông cảm và an hoà, vốn
được biểu lộ khác nhau bởi các nền văn hoá và tôn giáo dị biệt; nó là sự
chỉ đạo cho hành động và sự tự giác và hạnh phúc; nó chỉ đạt được bằng
hành động, phát triễn thêm bằng thực hành, và bảo vệ bằng luật lệ, và nhờ
vậy nó tạo nên cơ sở cho chính sách, giáo dục và công lý; nó được khám phá
bằng tự quán, thiền định, và chuyển hoá, và nó đưa dần đến việc từ bõ
những điều không thích nghi với nó. Suốt thời trị vì, ông đã kiên trì thực
thi những tin tưởng của mình cho đến cuối đời khi ông đồng hoá với quan
niệm chakraqvartin, (Chuyển luân vương); tự cho mình là một minh
quân đang vận hành bánh xe chánh pháp khắp nơi để bảo toàn sự an sinh phúc
lợi cho mọi người.
Ôâng lại đặt ra một bộ gọi là "Bộ thực thi Chánh pháp hay Bộ Pháp Hành",
bổ nhiệm các quan đại thần gọi là dharmamahàmàtras (Pháp đại thần) vào năm
257 TTL (theo dụ số V, 13 năm sau khi ông lên ngôi) chuyên trông coi mọi
công tác phúc lợi xã hội của người dân, quan tâm đến những nhu cầu thiết
yếu của phụ nữ, của dân sống ở biên cương, đến các cộng đồng tôn giáo khác
nhau và phải vô tư khi thi hành công lý. Ôâng còn phủ dụ cho các quan chức
các cấp nên thuyết phục dân trong vịệc ứng dụng Chánh pháp vào đời sống
thường ngày hơn là ép buộc bằng lệnh lạc. Ôâng cũng uỷ thêm quyền cho
những phán quan ở khắp nơi để ngăn ngừa sự chểnh mảng công tác, cũng như
tránh việc đối xử dã man với súc vật và giải quyết nhanh chóng những khó
khăn gặp phải. Pháp dụ còn liệt kê những thú rừng được triều đình bảo vệ
không được săn bán. Ông còn ra lệnh là những việc khẩn cấp cần phải được
đệ đạt đến ông ngay.
Những thành tựu đáng kể còn được ca tụng đến bây giờ là việc xây cất nhiều
bệnh viện cho người và gia súc, cũng như cho trồng nhiều khu vườn thảo
dược, việc xây dựng rộng rải một hệ thống đường sá với hàng cây đa và xoài
phủ bóng bên lề, với giếng đào và nhà nghỉ dọc đường ở từng khoảng đều đặn
cho khách lữ hành. Hệ thống giao thông này đã làm cho việc thương mại và
hành chánh của đế quốc Maurya phát triễn thuận lợi nhiều mặt.
Đối với thần dân ít khai ngộ thì Hoàng Đế Asoka khuyến khích việc ứng dụng
Chánh Pháp vào đời sống hằng ngày bằng thực hành những giới đức chân thật
(sace), từ bi, ôn hòa (daya), tử tế với mọi người (samya pratipati) hơn là
thường bày trò cúng tế cầu xin ơn phước; nên thường bố thí (dana) cho
người nghèo khổ (kapana valaka), cho các vị tu hành, bạn bè, thân nhân
vv..; hạn chế sát sinh, không hành hạ súc vật (avihisa bhutanam); không xa
xỉ, không tham cầu, và tránh dữ làm lành (apa vyayata apa bhadata) [tựa
theo lời dạy trong Kinh Tăng nhất A-hàm (Anguttara Nikaya, II:282)]; biết
kính trọng các bậc trưởng thượng như cha mẹ, ông bà, sư phụ, và cả đối với
bạn bè, tôi tớ và thầy cúng tế bà la môn [tương tự lời dạy của Đức Phật
trong Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya) Đoạn 31]. Ông dạy rằng nếu làm được
như thế thì sẽ mang lại công đức vô lường.
Ông không đề ra và bắt phải theo một nghi lễ tôn giáo độc đoán nào, nhưng
chỉ thuyết về Phật giáo riêng với giới tăng già mà thôi. Đối với các tôn
giáo khác đương thời, gồm có Ấn giáo, Kỳ na giáo và giáo phái Ajivika
chuyên tu khổ hạnh, ông rất công bằng và khuyến khích sống đời đạo hạnh
(bhava sudhi), nhiệt tâm (usahena), tôn trọng lẫn nhau, đề cao giá trị nội
tâm (bahu sruta), tự chế (sayame) và ngăn cấm việc xung đột tôn giáo. Ông
đã không ngừng học hỏi đàm đạo với các vị chân tu của các tôn giáo.
Về
hình thức thì các Pháp dụ đã được phân loại theo dạng bề mặt đã được chạm
khắc: mặt núi đá tảng, trụ đá và hang động. Ngay cả bề mặt của vật liệu và
nơi chốn cũng hàm cái dụng công của nó, cho nên nội dung của Pháp dụ cũng
đổi thay tương ứng. Dựa vào các pháp dụ này mà người ta có thể đoán được
niên kỷ của các sự kiện trong thời Asoka trị vì.
Có
thể phân biệt được hai giai đoạn các bia ký được tạo ra. Giai đoạn đầu, 11
năm sau khi Asoka lên ngôi, các pháp dụ đước khắc trên vách đá một cách
thô thiển, và tuỳ vào nội dung dài ngắn mà còn chia ra là Đại Thạch Pháp
dụ (Major Rock Edicts) và Tiểu Thạch Pháp dụ (Minor Rock Edicts). Những
Thạch Pháp dụ này thường được khắc trên những tảng núi đá lớn đến nay đã
bị hư hỏng khá nhiều. Lấy trường hợp bia ký ở Sopara, chỉ vài mảnh của dụ
VIII và IX còn sót lại. Nhờ vào những văn bản khác còn được bảo quản tốt
mà người ta đọc được những đoạn bị mất ở những pháp dụ bị hư hỏng.
Cho đến nay người ta phát hiện có 14 đại thạch pháp dụ mang nội dung rất
rộng rãi từ việc hạn chế sát sinh đến cung cấp các dịch vụ phúc lợi và y
tế, rồi đến cuộc chiến ở Kalinga và những tác dụng của nó. Lại thêm hai
pháp dụ Kalinga đựơc ban ra vào năm măm 259 TTL, có học giả còn gọi là
pháp dụ số 15 và 16. (mà nội dung tương tự như 3 pháp dụ đã bị hư hõng, là
các pháp dụ số XI: nói về việc cứu tế và sự tương thân của nhân loại, số
XII: nói về sự khoan dung tôn giáo và XIII: nói về cuộc chíến tranh ở
Kalinga, sự hồi tâm của Asoka). Hai pháp dụ này cũng có lời dành cho các
quan cai trị vùng mới chiếm, nói về những vấn đề đạo đức, thi hành công
lý, vấn đề làm giảm căng thẳng với lân bang và cải thiện hoà bình liên
quốc.
Mười bốn đại thạch pháp dụ kể trên được tìm thấy ở 6 nơi khác nhau gồm:
hai nơi gần biên giới phía tây của đế quốc Maurya bên biển Ả Rập là Sopara
thuộc bang Bombay và Girnar thuộc bang Saurahtra; hai nơi gần biên giới
tây bắc là Mansehra và Shahbazgarhi ở vùng tây Pakistan; một nơi ở phía
bắc là Kalsi thuộc Uttar Pradesh và một ở phía nam Erragudi thuộc Andhra
Pradesh. Mười một đại thạch pháp dụ cùng với 2 pháp dụ Kalinga còn được
tìm thấy ở Dhauli và Jaugada thuộc Orissa, gần bờ biển phía đông bên vịnh
Bengal.
Những Tiểu Thạch Pháp dụ có lẽ đã được ban ra vào năm 260 TTL và là những
Pháp dụ đầu tiên, cùng lúc với những chuyến vi hành Pháp bắt đầu. Chúng
tập trung hầu hết ở phía giữa và nam của đế quốc gồm Tiểu Thạch Pháp dụ I,
được tìm thấy tại 7 nơi ở bắc Ấn và Hyderabad: là Bairat, Gavimath, Maski,
Palkigundu, Gujarra, Rupnath và Sahasram. Tiểu Thạch Pháp dụ II được tìm
thấy tại 5 nơi ở phía nam là Brahmagiri, Jatinga-Ramesvara và Siddaoura
thuộc bang Mysore, Erragudi và Rajula-Mandagiri thuộc bang Andhra. Tiểu
Thạch Pháp dụ III (pháp dụ dành cho tăng già ban ra vào năm thứ 12 sau khi
lên ngôi) được tìm thấy ở Bairat.
Ở
giai đoạn sau, vào năm thứ 27 đến 28 dưới triều của hoàng đế Asoka, những
pháp dụ mới đươc khắc lên trên những cột đá đánh chà bóng loáng, được dựng
lên ở nhiều thành phố quan trọng trong thung lũng sông Hằng và các đường
lớn trong đế quốc, thường được gọi là Thạch trụ Pháp dụ (Pillar Edicts).
Lúc ban đầu có lẽ có rất nhiều pháp trụ được dựng lên, nhưng đến nay chỉ
còn lại có 10 trụ mà thôi. Mồi trụ trung bình cao khoảng từ 12 đến 15
thước, nặng đến 50 tấn. Trên đầu mỗi trụ đều được điêu khắc những hình
tượng thật tinh xảo như sư tử gầm, con bò thần hay con ngựa thánh vv.. Tất
cả thạch trụ đều được lấy từ các mõ ở Chunar, phía nam Varanasi và được
kéo đến nơi được dựng lên, nhiều khi xa cả hàng trăm dặm. Dù sau bao nhiêu
thế kỷ phơi giữa mưa nắng gió sương vậy mà nước bóng láng vẫn còn sáng như
gương, đủ nói lên chất lượng cao tuyệt của nghệ thuật tạc đá của Ấn thời
bấy giờ.
Hai đại sư Trung quốc hành hương Tây trúc (Aán) là Pháp Hiển (Fa Hien: 401
– 410 TL.) ghi là đã nhìn thấy 6 pháp trụ, và Huyền Trang (Hiuen Tsang hay
Yuan Chwang: 629 – 645 TL) thì đã thấy 15, trong số ấy ngày nay chỉ 2 còn
tồn tại đúng theo lời Huyền Trang mô tả trong ký sự. Những pháp thạch trụ
dựng ở Meerut và Topra đã được vua Sultan Driuz Shah dời về Delhi ở thế kỷ
14. Trụ tại Kausambi (thuộc bang Kosam ngày nay) cũng đã được vua Akbar
dời về Allahabad ở thế kỷ 16. Một số lớn khác có lẽ đã bị chôn vùi, che
phủ bởi rừng rậm theo thời gian thăng trầm, vật đổi sao dời.
Các Thạch trụ Pháp dụ này gồm 7 dụ mà nội dung tương đối đơn giản: bắt đầu
bằng hai trụ nói về tự tánh của Chánh pháp, đến 3 trụ nói về sự ứng dụng
Chánh pháp vào việc chế ngự ác nghiệp và tham ái, việc truyền bá đạo đức
và công lý, và những qui định về việc sát hại súc vật và tiệc tùng công
cộng, và kết thúc với một pháp dụ (hoặc 2 như trong trường hợp của trụ
Topra) nói về phương thức truyền bá đạo đức. Những thạch trụ Pháp dụ này
đã được tìm thấy ở rãi rác trên 30 nới kháp toàn cõi đế quốc Maurya bao
gồm Ấn độ, Nepal, Pakistan và Afghanistan ngày nay, như Meerut và Kausambi
thuộc Utter Pradesh, Lauriya-Araraj, Lauriya-Nandangarh và Rampurva thuộc
Bihar. Một trụ khác với dụ thứ 7 lại được tìm thấy tại Topra thuộc vùng
đông Punjab. Văn bản của bia ký trên các Thạch trụ Pháp dụ này giống hệt
nhau.
Trụ Allahabad lại có khắc thêm 2 dụ khác. Dụ thứ nhất, có khi được gọi là
tiểu thạch trụ pháp du I, cũng còn thấy xuất hiện ở Sanchi thuộc bang
Bhopal và tại Sarnath thuộc bang Uttar Pradesh. Bia ký không được bảo quản
tốt nên văn bản của bia ký trên trụ ở ba nơi có nhiều thay đổi.
Trụ tại Sarnath (nơi có vườn nai: Lộc Uyển) lại còn khắc thêm phần tiếp
theo của dụ trên trụ Allahabad, còn gọi là tiểu thạch trụ pháp dụ II. Ngày
nay chính phủ Ấn dùng hình tạc bốn con sư tử đâu lưng với nhau trên thạch
trụ Sarnath làm biểu tượng quốc gia. Dụ còn lại thứ hai trên trụ Allahabad
có khi được gọi là tiểu thạch trụ pháp dụ III, là quà tặng của một bà
hoàng hậu của vua Asoka, nên còn được gọi là Pháp dụ của Hoàng hậu.
Hai trụ tìm thấy ở Nepal là trụ ghi dấu thánh địa, một ở Rummindei hay
Lumbini, nơi đức Phật đản sanh, một gần hồ lớn Nigali Sagar, gần tháp giữ
xá lợi của cổ Phật Kanakamuni.
Những pháp dụ hang động (The Cave Edicts) được tìm thấy ở 3 trong số 4
hang trong dãy núi Barabar thuộc bang Bihar. Trong 2 hang trước có bia ký
của Hoàng đế Asoka ghi vào năm thứ 12, hang thứ ba ghi năm thứ 19 sau khi
ông lên ngôi, tặng các hang động như là nơi cư trú cho các nhà tu khổ hạnh
thuộc giáo phái Ajivika, mà giáo chủ là Gosala cùng thời với Đức Thích Ca.
Trong hang thứ 4 thì bia ký được ghi lại thuộc thế kỷ thứ 5 TL sau này. Ở
một nơi khác là đồi Nagarjuni có 3 hang động nữa chứa bia ký đề tặng cho
tu sĩ phái Ajivika của một vị vua dùng tước vị "Thiên tử ", nhưng lại do
vua Dasaratha, cháu của hoàng đế Asoka cho dựng lên.
Vị
trí của Hoàng đế Asoka trong Phật giáo thật là vinh hiễn, có thể nói là
được tôn sùng lên hàng Hộ Pháp Vương. Những công đức của ông thường được
giới Phật tử ca tụng là lòng sùng bái và hổ trợï Phật giáo của ông. Asoka
cho xây cất nhiều tháp thờ xá lợi Phật (stùpa), nhiều tịnh xá (vihàra).
Kinh sách còn ghi là 84 ngàn vihàras ở 84 ngàn thị trấn, và ngôi lớn nhất
Asokàràma ở ngay kinh đô để vua thường đến cúng bái. Ông đã chu cấp thực
phẩm cho hàng trăm ngàn tăng ni, vì thế thời bấy giờ đã có nhiều kẽ xấu
lợi dụng khoác áo nhà tu gia nhập tăng chúng để được sống an nhàn. Điều
này đã đưa đến tình trạng suy đồi trong việc tu tập Phật pháp. Khi biết ra
tệ nạn, Asoka liền ra lệnh cho thanh lọc hàng ngũ tăng già và đã loại bõ
đến 60 ngàn kẽ ngụy danh và ăn bám trước kỳ Đại hội kiết tập kinh điển
(sangìti) lần thứ 3 tại kinh đô Pâtaliputrâ do ông bảo trợ.
Ông thường đi hành hương chiêm bái những Phật tích và cho dựng những cột
trụ đá tán thán, mà gần đây nhiều cuộc khảo cổ đã phát hiện được ở Lumbini
nơi Đức Thích Ca đản sanh, hay ở Bồ đề Đạo tràng (Bodh Gaya) mà thời ấy
được gọi là Sambodhi hay Vajirasana. Riêng thạch trụ ở Bồ đề Đạo tràng lại
có khắc Pháp dụ số VIII ban ra vào năm thứ 10 sau khi ông đăng quang. Ông
còn đề ra một chương trình tu hïoc Phật pháp cho tín đồ. Ông cũng cho dựng
những trụ đá ghi sự liễu ngộ Phật pháp của ông (như trên Tiểu thạch pháp
dụ). Ông thường trực tiếp phân xử những cuộc tranh luận giữa các tông phái
và cương quyết ngăn chặn những sự phân hoá trong tăng già.
Cũng nhờ sự hộ pháp của ông mà Phật giáo đã được lan rộng khắp đế quốc
Maurya, và đến các nước lân cận. Cũng theo bộ Mahavamsa ở Tích Lan thi khi
Hội đồng tăng già trong nước quyết định muốn truyền bá Phật pháp ra nước
ngoài, vua Asoka liền giúp đở tích cực, còn phái ngay cả hoàng tử Mahinda
và công chúa Sanghamitta, (và về sau cả đứa cháu Sumana) vào đoàn truyền
giáo xuống Tích Lan vào năm thứ sáu dưới triều của ông, cũng như gởi những
đoàn khác đến vùng Đông Nam Á và Trung Á. Ông còn gởi những đoàn sứ giả
(duta) đến 5 nước phía tây thuộc đế quốc Hy lạp mãi đến vùng biển Địa
Trung Hải (Mediteranean) từ Syria đến Macedonia, như đã ghi trong pháp dụ
số XIII.
Trong khi những đoàn truyền giáo qua hướng tây không mấy thành công thì
những tăng đoàn hoằng hoá do hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamitta
hướng dẫn xuống phía nam lại thành công rực rỡ. Ngay từ buổi đầu cho đến
nay Phật giáo đã trở thành quốc giáo ở Tích Lan. Có truyền thuyết cho rằng
phái Thượng toạ bộ còn được truyền đến Miến Điện từ Tích Lan dưới triều
Asoka, nhưng ai cũng bíết rằng Phật giáo chỉ du nhập Miến vào khoảng từ
thế kỷ thứ 5 TL.
Đáng tiếc là sau khi ông mất vào năm 232 TTL thì đế quốc Maurya rộng lớn
cũng tan rã theo khoảng 50 năm sau, và rồi bị giòng họ Shungas thay thế;
và những công tác phúc lợi xã hội do ông đề xướng cũng không kéo dài được
lâu trừ những pháp dụ khắc vào đá và ảnh hưởng truyền bá đạo Phật qua Đông
Phương.
PHẦN 2: NỘI DUNG
NHỮNG PHÁP DỤ KHẮC TRÊN
ĐÁ
CỦA ĐẠI ĐẾ ASOKA MAURYA (304 TTL. – 232 TTL.)
Lời thưa trước: Hiện nay có
khá nhiều bản dịch ra Anh ngữ về những Pháp dụ của Vua Asoka vốn được viết
bằng tiếng Brahmi (Prakrit). Bản dịch Việt ngữ này đã dựa vào 2 bản Anh
ngữ phổ thông nhất và được nhìn dưới 2 góc độ tiêu biểu: 1) Giới hàn lâm,
của các tác giả Nayarayanrao Appurao Nikam và Richard McKeon thuộc Viện
Đại học Chicago, ấn hành năm 1959 (Viết tắt "Bản Nikam") và 2) Giới tăng
già, của Ðại đức S. Dhammika thuộc Buddhist Publication Society, Sri
Lanka, ấn hành năm 1993 (Viết tắt "Bản Dhammika"). Quí độc giả có thể vào
trang
http://www.accesstoinsight.org để xem bản Dhammika. Tuy vậy, trong
khi đối chiếu để làm rõ nghĩa hơn giữa 2 bản này chúng tôi nhận thấy rằng
ngoài những khác biệt về văn phong, ở vài đoạn các dịch giả nói trên đã có
lối diễn dịch khác hẳn nhau. Vì thế chúng tôi đã cân nhắc chọn lối dịch
nào gần với tinh thần nội dung của Pháp dụ để chuyển ra Việt ngữ, và dùng
những từ ngữ hợp với đương thời hơn. Ngoài ra ngay dưới mỗi Pháp dụ, chúng
tôi thêm phần ghi chú và nhận xét riêng (NXR) để giải thích những khác
biệt, thay vì để ở cuối bài không được tiện dụng. Dù vậy vẫn không thể
tránh được những sơ sót. Mong được quí vị cao minh chỉ giáo. Xin gởi góp ý
đến kvt9899@aol.com.
Mong bài viết này đóng góp phần nào vào tài liệu Sử Phật Giáo. Đa tạ.
A. Mười
Bốn Đại Thạch Pháp Dụ
ĐTPD I
Thiên tử, Vua Piyadasi,
ban lệnh cho ghi pháp dụ này [1]. Trong lãnh thổ do trẫm cai trị không
sinh linh nào được sát hại hoặc tế sống và không tịệc tùng liên hoan nào
được tổ chức, bởi Thiên tử, Vua Piyadasi thấy nhiều điều xấu ác trong
những cuộc tụ họp liên hoan ấy. Nhưng Thiên tử, Vua Piyadasi vẫn chuẩn y
cho một vài cuộc liên hoan khác.
Trước đây, trong nhà bếp
hậu cung của trẫm đã có hằng trăm ngàn sinh thú bị giết hằng ngày để làm
thức ăn. Nhưng với Pháp dụ này kể từ nay chỉ có ba loại sinh thú được phép
hạ thịt mà thôi, là hai con công và một con nai, nhưng thỉnh thoảng mới
làm thịt nai. Và rồi nay mai cả ba thú này cũng sẽ khỏi bị giết.
Ghi chú:
1. Bia ký Girnar, ban
vào năm 257 TTL. Bản Nikam
còn viết là vua Priyadarsi. Trong các Pháp dụ, Đại đế Asoka luôn tự xưng
là Thiên tử, Vua Piyadasi.
ĐTPD II
Khắp nơi [2] thuộc lãnh
thổ do Thiên tử, Vua Piyadasi cai trị, và dân cư ngoài biên ải như dân
Cholas, dân Pandyas, dân Satiyaputras, dân Keralaputras, và xa hơn nữa dân
Tamraparni, và ở xứ Yona (Hy-lạp) do vua Antiyoka cai trị, và vua các xứ
lân cận với vua Antiyoka [3]. Thiên tử, Vua Piyadasi ban cho hai loại săn
sóc y tế: cho người và cho thú. Nơi nào không có thảo dược để trị liệu,
trẫm cho du nhập và trồng. Nơi nào không có cũ rể hoặc trái cây làm thuốc,
trẫm cho du nhập và trồng. Dọc các đường trẫm cho đào giếng và trồng cây
để người và thú được hưởng lợi [4].
Ghi chú:
2. Bia ký Girnar, ban
vào năm 257 TTL.
3. Dân Cholas vàPandyas
ở phía nam ngoài đế quốc do vua Asoka cai trị. The Dân Satiyaputras và
Keralaputras sống cận duyên vùng tây nam. Tamraparni là tên cổ của Tích
Lan (Sri Lanka). Antiyoka tức là Antiochos II Theos của xứ Syria
(261-246 TTL).
4. Asoka thực hành lời
dạy của Đức Phật trong Samyutta Nikaya (Tương Ứng Bộ Kinh), I:33.
ĐTPD III
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng [5]: Pháp dụ này được ban ra sau mười hai năm trẫm đăng quang –
Trẫm lệnh cho các quan Yuktas, Rajjukas và Pradesikas phải tuần du thanh
tra khắp nơi thuộc lãnh thổ do trẫm cai trị mỗi 5 năm để huấn dụ Chánh
pháp như dưới đây, đồng thời lo các chính sự khác [6].
Biết kính trọng vâng lời
cha mẹ là việc tốt, hào phóng với bạn bè, thân hữu, bà con, các bậc tu
hành [7] là việc tốt, không sát sanh là việc tốt, biết chừng mực trong
tiêu pha và tiết kiệm là việc tốt, tất cả toàn là những điều phước đức.
Triều đình nên báo cho các
quan địa phương phải tuân thủ nghiêm chỉnh những điều huấn dụ này đúng ý
của trẫm.
Ghi chú:
5. Bia ký Girnar, ban
vào năm 257 TTL.
6. Bản Dhammika: Không
có tài liệu nào tồn tại cho biết rõ chức năng của các vị quan này. Bản
Nikam: đó là các quan cai trị huyện (Yuktas), tỉnh (Rajjukas) và kinh đô
(Pradesikas).
7. Bản Nikam: "priests
and ascetics"; Bản Dhammika: "Brahmans and ascetics": "tu-sỉ (Bà-la-môn)
và đạo sĩ khổ hạnh", chỉ cho giới tu hành thời bấy giờ. Đạo-sĩ khổ hạnh
gồm cả các khất sĩ Phật giáo, Ajivika và Kỳ na giáo.
ĐTPD IV
Nhiều trăm năm trong quá
khứ, việc sát hại sinh vật, đối xử tệ bạc với bà con, và thiếu tôn kính
với các bậc tu hành đã gia tăng [8]. Nhưng nay do việc thực hành Chánh
Pháp của Thiên tử, Vua Piyadasi, nên diệu âm của Chánh Pháp thay dần cho
tiếng trống [9]. Đã nhiều trăm năm hiện tượïng về những thiên xa, voi
lành, sao băng và những cảnh tượng thần linh đã không xảy ra. Nhưng nay do
Thiên tử, Vua Piyadasi cổ xúy việc khồng chế sát hại sinh thú, đối xử ân
cần với bà con, tôn kính các bậc tu hành, và kính trọng cha mẹ và bậc
trưởng thượng, những cảnh tượng điềm lành ấy lại gia tăng [10].
Những điều này cùng với
nhiều lối khác thực hành Chánh Pháp đã được Thiên tử, Vua Piyadasi khuyến
khích, và ngài sẽ tiếp tục thăng tiến việc thực hành Chánh Pháp. Rồi cũng
thế, các con, cháu và chắc của Thiên tử, Vua Piyadasi sẽ tiếp tục thăng
tiến việc thực hành Chánh Pháp cho đến hết đời; an trú trong Chánh Pháp
thì họ mới giáo huấn dân theo Chánh Pháp được. Thực vậy, giáo huấn theo
Chánh Pháp là công tác cao cả. Tuy vậy kẻ thiếu đạo đức thì không thể thực
hành Chánh Pháp được, bởi việc thực hành và thăng tiến Chánh Pháp là việc
đáng ca tụng.
Pháp dụ này được ghi để
những kẻ kế thừa của trẫm hoan hỉ tận lực mình thăng tiến Chánh Pháp và
không để suy thoái. Thiên tử, Vua Piyadasi đã lệnh cho Pháp dụ này ghi lại
mười hai năm sau khi ngài đăng quang.
Ghi chú:
8. Bia ký Girnar, ban
vào năm 257 TTL.
9. Bản Dhammika: muốn
nói đến tiếng trống đánh lên khi triều đình trừng phạt những kẽ phạm
pháp. Bản Nikam: là tiếng trống trận. NXR: Ý kiến của Nikam và McKeon có
vẻ đúng hơn.
10. Bản Dhammika: Giống
như mọi người trong thời cổ đại, Asoka tin rằng dưới sự cai trị của một
minh quân thì nhiều điềm lành xuất hiện. NXR: Bản dịch của Nikam và
McKeon về đoạn này không sát bằng bản của HT. S. Dhammika.
ĐTPD V
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng [11]: Làm điều thịện thực khó. Kẻ nào làm điều thiện là làm được
nan sự. Trẩm đã làm nhiều điều thiện, và nếu các con, các cháu và hậu duệ
của trẩm, cho đến hết đời noi gương trẩm thì sẽ làm được những điều thật
tốt. Nhưng ai trong bọn chúng bỏ bê dù một phần huấn dụ này thì chúng sẽ
làm điều ác. Thưc vậy, làm điều ác thì rất dễ [12].
Trong quá khứ không hề có
Pháp Đại thần (Dhamma Mahamatras), nhưng mười ba năm sau khi trẫm đăng
quang chức vụ này được bổ nhiệm. Từ nay họ được ủy nhiệm làm việc với tất
cả các tôn giáo cho việc cũng cố Chánh Pháp, cho sự thăng tiến Chánh Pháp,
và cho an sinh và hạnh phúc của tất cả những ai ngưỡng mộ Chánh Pháp. Họ
được ủy nhiệm làm việc với dân Yonas (Hy-lạp), dân Kambojas, dân
Gandharas, dân Rastrikas, dân Pitinikas, và các dân khác ở biên cương phía
tây của lãnh thổ. [13] Họ được ủy nhiệm làm việc với quân sĩ, các cấp chỉ
huy, các bậc tu hành, các cư sĩ, [14] kẻ nghèo khó, người già cả, và những
ai ngưỡng mộ Chánh Pháp để lo cho sự an sinh và hạnh phúc của họ và để họ
khỏi bị nhũng nhiễu.
Các Pháp Đại thần được ủy
nhiệm làm việc để cải thiện cách đối xử với tù nhân, đưa đến việc phóng
thích chúng, và nếu các Pháp Đại thần nghĩ rằng "Kẻ này có một gánh nặng
gia đình", "Kẻ kia bị vu cáo", "kẻ nọ đã già", thì họ tiến hành việc phóng
thích các kẻ đó. Họ được ủy nhiệm làm việc khắp nơi, ở đây (nơi bia ký
được khắc, dựng), ở những thị trấn xa xôi, trong những hậu cung thuộc các
bào huynh hay bào tĩ của trẫm, và hoàng tộc. Các Pháp Đại thần chuyên lo
truyền bá Chánh Pháp được cử đi khắp nơi thuộâc lãnh thổ, giữa ngừơi dân
ngưỡng mộ Chánh Pháp để xem ai ngưỡng mộ Chánh Pháp, hay an trú trong
Chánh Pháp, hay thựïc hành bố thí.
Pháp dụ này được khắc lên
đá để nó có thể trường tồn và hậu duệ của trẫm có thể theo đấy mà thực
hành.
Ghi chú:
11. Bia ký Kalsi, ban năm 256 TTL.
12. Theo lớiPhật dạy
trong "Pháp Cú" (Dhammapada), câu 163.
13. Dân Hy-lạp (Yonas),
định cư đông đảo ở vùng mà nay là Afghanistan vàPakistan sau cuộc xâm
lăng của Alexander the Great.
14. Trong hai bản đều
dịch là "householders: gia trưởng". NXR: Có lẽ Asoka muốn nói đến giới
cư sĩ. Theo chúng tôi, dịch là "cư sĩ" thì đúng với tinh thần Pháp dụ
hơn.
ĐTPD VI
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: [15] Trong quá khứ, quốc sự hoặc các biểu tấu không hề được đệ
trình hoàng thượng thường xuyên. Nhưng nay trẫm ra lệnh này, khi các quan
có chuyện bẩm báo về dân tình trong nước thì có thể đến gặp trẫm bất cứ
lúc nào và bất cứ ở đâu, dù trẫm đang ngự thiện, đang ở trong hậu cung,
trong cấm cung, trên long xa, trong ngự giá, trong thượng uyển hay đang
cầu nguyện. Và khi một ban bố hay tuyên dương bằng khẩu lệnh, hoặc vì quốc
vụ khẩn cấp trẫm ủy quyền cho các Pháp Đại thần, mà gây nên sự bất đồng
hay bàn cải trong triều thì phải cấp báo cho trẫm biết ngay bất cứ lúc nào
và bất cứ ở đâu. Đó là mệnh lệnh của trẫm.
Trẫm không hề bao giờ bằng
lòng với việc làm và canh cánh cho quốc vụ của trẫm. Trẫm cho rằng viêc
thăng tiến an sinh của thần dân là nhiệm vụ cao cả nhất của trẫm, và cốt
lõi của việc này là phải chính mình tận lực. Đối với trẫm, không có điều
gì quan trọng hơn là viêc thăng tiến an sinh của thần dân, và tất cả những
nổ lực của trẫm chỉ là trả cái nợ trẫm mắc chúng sinh để mưu cầu hạnh phúc
cho họ trong đời này và đạt đến thiên giới trong kiếp sau.
Vì vậy trẫm lệnh cho Pháp
Dụ này được khắc ra để trường tồn và các con, các cháu và chắt của trẫm
noi theo vì sự an sinh cho mọi người. Tuy nhiên đây là một việc khó nếu
không nhiệt tâm và tận sức.
Ghi chú:
15. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
ĐTPD VII
Thiên tử, Vua Piyadasi
muốn rằng tất cả môn đồ của các tín ngưỡng đều chung sống trên đất nước
của ngài, vì tất cả bọn họ đều mong cầu tự chế và thiện tâm. [16] Nhưng
con người thường có nhiều xu hướng và khát vọng khác nhau, nên họ có thể
thực hành được một phần hay tất cả những điều ấy.
Nhưng kẻ thiếu tự chế,
lòng không trong sạch, thiếu ân tình và tín tâm mà lại nhận lắm phẩm vật
cúng dường, thì kẻ ấy là gian ác. [ 17 ]
Ghi chú:
16. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
17. Bản Nikam lại dịch
là: "Ngay cả kẽ không cúng dường được phẩm vật xa xỉ, không biết tự chế
và lòng không trong sạch, không có ân tình, và tín tâm vững chắc vẫn
đáng khen vàcần thiết."
ĐTPD VIII
Trong quá khứ, các thiên
tử hay tuần du để săn bắn hoặc vui chơi. [18] Nhưng mười năm sau khi lên
ngôi, Thiên tử, Vua Piyadasi đã đến thăm Bồ Đề Đạo Tràng [19] và như thế
thiết chế những cuộc Pháp du hành (Dharma-yatras). [20] Trong những lần
như thế, các việc sau đã được làm: viếng thăm và quà tặng cho các bậc tu
hành, viếng thăm và tặng (tiền) vàng cho người già, viếng thăm dân ở thôn
quê, huấn dụ họ về Chánh Pháp và thảo luận với họ về Chánh Pháp khi thích
hợp. Những điều này đã làm Thiên tử, Vua Piyadasi đẹp mặt và lại được xem
như là một mối thu hoạch khác. [21]
Ghi chú:
18. Vihar-yatras. Bia ký
Girnar, ban vào năm 256 TTL. Ở đây vua Asoka dùng "Thiên tử" để chỉ cho
các tiên vương.
19. Bản Dhammika: Thời
bấy giờ có tên là Sambodhi hay Vijirasana chứ không gọi là Bodh Gaya như
ngày nay.
20. Bản Nikam lại dịch
đoạn này như sau: "Tuy nhiên, vua Priyadarsiđã giác ngộ (sambuddha) mười
năm sau ngày đăng quang, nên từ đó những chuyến tuần du của ngài được
gọi là Pháp du hành."
21. Bản Nikam dịch:
"Những chuyến Pháp du hành này làm vua Priyadarsi rất vui lòng hơn những
chuyến khác."
ĐTPD IX
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: [22] Người ta hay cúng nhiều lễ, nhất là những dịp đau ốm, khi
cưới hỏi, lúc sinh nở, trước một chuyến đi xa. Đặc biệt là phụ nữ lại còn
bày ra lắm lễ lặt vặt, vô nghĩa khác.
Không có gì quấy với những
lễ cúng bái này nhưng thường thì chẳng đem lại kết quả nào. Chỉ có Lễ
Chánh Pháp (Dharma-mangala) là mang lại rất nhiều kết quả. Nó bao gồm việc
đối xử tử tế với nô tì và gia nhân [23], tôn kính thầy dạyï, đừng độc ác
với sinh linh, và cúng dường cho các bậc tu hành. Những việc như thế được
gọi là Lễ Chánh Pháp. Vì thế một người cha, một ngườ con, một người anh
em, một người chủ, một người bạn, một người phối ngẫu, hay cả người hàng
xóm thấy thế nên bảo: "Những việc này tốt, nên làm cho đạt đến mục đích,
tôi nên tham dự."
Những buổi cúng lễ khác,
dù đạt mục đích hay không vẫn chẳng có mấy giá trị. Nhưng những mục đích
này, nếu có chỉ hạn chế trong đời này. Còn Lễ Chánh Pháp thì vô cùng. Cho
dù nó không đạt được mục đích trong đời này, nó tạo ra vô lượng phước đức
cho đời sau. Nếu Lễ Chánh Pháp đạt được mục dích trong đời này thì lại có
cả phước đức trong đời này và đời sau. [24]
Lòng hào phóng thực đáng
ca ngợi. Nhưng không có quà nào lớn bằng quà Chánh Pháp, hoặc bằng lợi lộc
Chánh Pháp. Vì thế, một người bạn, người khách, bà con, hoặc người phối
ngẫu nên cổ xúy người khác khi cơ hội đến và bảo rằng: "Điều này tốt, nên
làm, rất đáng khen. Làm việc này ta có thể đạt thiên giới." Và có việc gì
còn giá trị hơn là đạt thiên giới?" [25]
Ghi chú:
22. Bia ký Kalsi, ban
năm 256 TTL. Asoka nghĩ đến Mangala Sutta (Sutta Nipata 258-269) khi ban
Pháp dụ này.
23. Bản Dhammika: "công
nhân và gia nhân".
24. Nhiều bản chấm dứt ngang đây.
25. Bia ký ở Girnar,
Dhauli và Jaugada lại thêm đoạn này.
ĐTPD X
Thiên tử, Vua Piyadasi
không xem vinh quang và danh vọng có giá trị gìù trừ phi thần dân của trẫm
đều nghe đến Chánh Pháp và thực hành Chánh Pháp trong hiện tại vàtương
lai. [26] Chỉ có điều này Thiên tử, Vua Piyadasi mới muốn được vinh quang
và vang danh.
Tất cả mọi nỗ lực của trẫm
chỉ nhắm đến giải thoát cho con người khỏi vòng nô lệ trong đời từ nay về
sau. Bởi ác nghiệp là vòng nô lệ. Thật là nan sự cho kẽ giàu và người
nghèo trừ phi họ tận lực và từ bõ tham vọng. Lại càng khó bội phần cho kẽ
giàu hơn là người nghèo. [27]
Ghi chú:
26. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
27. Bản Dhammika dịch
đoạn này như sau: "Tất cả mọi nỗ lực của trẫm chỉ nhắm đến an sinh trong
đời sau cho thần dân, và để họ không vướng ác nghiệp. Vô phước đức là ác
nghiệp. Thật là việc khó làm cho kẽ hèn hạ và người cao sang trừ phi họ
tận lực và từ bõ tham vọng. Lại càng khó bội phần với người cao sang
(hơn là với kẽ hèn hạ)."
ĐTPD XI
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: [28] Không quà nào bằng quà Chánh Pháp (Dharma-dana), [29]
không sự quen biết nào bằng sự quen biết Chánh Pháp (Dharma-samstava),
không sự san xẻ nào bằng sự san xẻ Chánh Pháp (Dharma-samvibhaga), và
không sự thân thuộc nào bằng sự thân thuộc Chánh Pháp (Dharma-sambandha).
Và nó bao gồm những điều này: đối xử tử tế với nô tì và gia nhân, kính
trọng cha mẹ, hào phóng với bạn bè, phối ngẫu, bà con, các bậc tu hành, và
đừng sát sinh. Vì thế một người cha, một người con, một người anh em, một
người chủ, một người phối ngẫu, hay một người hàng xóm nên bảo rằng: "Điều
này có phước đức, nên làm." Bằng cách biếu quà Chánh Pháp, người ta được
lợi lộc ngay trong đời này và vô lượng phước đức trong đờùi sau".
Ghi chú:
28. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
29. Dharma-dana: Đàn thí
Chánh Pháp. Tương tự "Pháp Cú" (Dhammapada) câu 354.
ĐTPD XII
Thiên tử, Vua Piyadasi tôn
kính tất cả các bậc tu hành và các cư sĩ của các tôn giáo qua quà cáp ngài
ban và nhiều sự vinh dự. [30] Nhưng Thiên tử, Vua Piyadasi không coi trọng
quà cáp hay vinh dự bằng sự tăng trưởng về đạo hạnh của người có tín
ngưỡng. [31] Sự tăng trưởng về đạo hạnh có thể đạt được bằng nhiều lối,
nhưng cái gốc rễ vẫn là phải kềm chế lời nói, không được đề cao tôn giáo
mình và lại phỉ báng tôn giáo khác một cách vô cớ, hoặc là khi đúng cớ thì
lại quá đà.
Dù bất kỳ lý do nào, tín
ngưỡng của kẽ khác cần phải được tôn vinh. Có như vậy thì tôn giáo của
mình cũng được lợi lộc, và tôn giáo của kẽ khác nữa. Ngược lại thì tôn
giáo của mình bị tổn hại, và tôn giáo của kẽ khác nữa. Kẽ nào huyênh hoang
về tôn giáo của mình vì cuồng tín và phỉ báng tôn giáo kẽ khác với ác ý
"Để ta làm vinh quang đạo của ta", thì chỉ làm tổn hại đến tôn giáo của
mình. Vì thế, sự hòa đồng tôn giáo là điều tốt. [32] Ai cũng phải lắng
nghe và tôn kính giáo lý của đạo khác.
Thiên tử, Vua Piyadasi
muốn rằng mọi người nên tìm hiểu thêm giáo lý chân chính của tôn giáo
khác.
Kẽ nào chỉ biết cố chấp
với tôn giáo của mình thì phải được dạy rằng: Thiên tử, Vua Piyadasi không
coi trọng quà cáp và vinh dự bằng sự tăng trưởng về đạo hạnh của mọi tôn
giáo. Để đạt đến điều này, các Pháp Đại thần, các Đại thần chuyên lo về
hậu cung, những quan lại trông nom những vùng xa xôi và những quan lại
khác phải tận tâm. Và kết quả là tôn giáo của mỗi người đều thăng tiến và
Chánh Pháp cũng được rạng rỡ.
Ghi chú:
30. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
31. Nguyên bản:
"saravadi"dịch là "tinh túy tôn giáo" có nghĩa là "phẩm chất đạo hạnh".
32. Theo Bản Dhammika,
vốn dựa vào bản bằng tiếng Pal, dịch theo câu "Ta samavayo eva sadhu";
mà "Samavayo" chiết tự ra thí có "sam + ava + i", có nghĩa là "đến với
nhau".
ĐTPD XIII
Thiên tử, Vua Piyadasi xâm
chiếm Kalinga tám năm sau khi ngài đăng quang. [33] Một trăm năm chục ngàn
người bị bắt và bị đầy, một trăm ngàn người bị giết và rất nhiều người nữa
chết vì những lý do khác. Ngay sau khi Kalinga được chinh phục, Thiên tử,
Vua Piyadasi mạnh mẽ nghiêng về học hỏi Chánh Pháp, yêu thích Chánh Pháp
và muốn phát triển Chánh Pháp.
Nay Thiên tử, Vua Piyadasi
rất xúc động và lấy làm hối hận đã chinh phục Kalinga. Thực vậy Ngài rất
buồn và hối tiếc việc chinh phục một dân tộc bất khuất qua tàn sát, chết
chóc và đầy ải. Điều quan trọng hơn đã làm Thiên Tử hối hận là các bậc tu
hành cũng như giới cư sĩ, tín đồ của các tôn giáo của nước này – tất cả
đều thực hành kính trọng bậc trưỡng thượng, cha mẹ và thầy dạy, đối xử tử
tế và trung thành với bạn bè, người quen, kẽ phối ngẫu, bà con, nô tì, gia
nhân – đã bị thương, bị giết hay bị chia lìa với người thân. Ngay cả những
kẽ không bi hề hấn cũng đau khổ khi thấy bạn bè, người quen, người phối
ngẫu và bà con bị liên lụy. Những việc này làm Thiên tử, vua Piyadasi đau
buồn.
Không có nước nào, trừ xứ
của người Yonas (Hy Lạp) ở đó không có các bậc tu hành (giống như tu-sĩ
Bà-la-môn và đạo sĩ khổ hạnh), và không ở nơi nào mà cư dân lại không
phụng thờ tôn giáo này hay tôn giáo nọ. [33] Bởi thế, dù số tử vong hay số
bị đày ải qua trận Kalinga chỉ bằng một phần trăm hay một phần ngàn của
thực sự, điều này cũng làm Thiên tử, Vua Piyadasi đau buồn. Ngài nghĩ rằng
những ai phạm lỗi nên được tha thứ nếu có thể. [34]
Ngay đối với dân mọi rợ
nay sống dưới quyền cai trị của Thiên tử, Vua Piyadasi, cũng nên theo lối
sống mới mà cư xử đàng hoàng. Chúng nên được khuyến cáo rằng dù Ngài hối
hận nhưng Ngài vẫn còn đũ quyền lực để trừng trị bọn chúng nếu chúng phạm
tội đáng chết. Thực vậy, Thiên tử muốn ai cũng được vô hại, tự chế, và
công bằng, ngay cả những kẽ phạm lỗi.
Nay Thiên tử, Vua Piyadasi
xem Chinh Phục bằng Chánh Pháp (Dharma-vijaya) mới là cuộc chinh phục quan
trọng nhất. [35] Cuộc chinh phục này đã chiến thắng liên tục không những
trong xứ mà còn cả với những dân sống ngoài biên cương xa đến sáu trăm
do-tuầøn, (yojanas) [36] ở đó vua Yona (Hy-Lạp) là Antiyoka cai trị, và xa
hơn nữa nơi của bốn vua khác cai trị, đó là vua Turanmaya, Antikini, Maka,
và Alikasudara,[37] xuống phía nam với dân Cholas, dân Pandyas, và còn xa
hơn nữa là dân Tamraparni. [38]
Ở đây trong lãnh thổ của
Thiên tử, giữa dân Yonas, [39] dân Kambojas, dân Nabhakas, dân
Nabhapamkits, dân Bhojas, dân Pitinikas, dân Andhras và dân Palidas, khắp
nơi dân đều theo lời giáo huấn về Chánh Pháp của Thiên tử, Vua Piyadasi.
Cả đến những xứ mà sứ giả
của Thiên tử, Vua Piyadasi chưa đến, dân ở đấy cũng đã nghe đến Chánh Pháp
và những chiếu chỉ của Thiên tử về Chánh Pháp nên họ đã tuân thủ và tiếp
tục tuân thủ. Cuộc chinh phục bằng Chánh Pháp này diễn ra khắp nơi và đem
lại niềm hân hoan – niềm hân hoan chỉ do chinh phục bằng Chánh Pháp đem
lại mà thôi. Nhưng niềm hân hoan cũng chỉ là kết quả nhỏ. Thiên tử xem quả
gặt được trong đời sau mới thực quan trọng.
Trẫm cho ghi Pháp dụ này
để các con và cháu của trẫm khi kế vị đừng lấy xâm lăng làm thành tích.
Nếu chinh phục thì nên khoan hòa và nhẹ trừng phạt. Nên xem chinh phục
bằng Chánh Pháp là cuộc chinh phục thật sự, bởi nó có kết quả trong đời
này và đời sau. Hãy vui lấy niềm vui trong Chánh Pháp (Dharma-rati), bởi
nó mang lại kết quả tốt rong đời này và đời sau.
Ghi chú:
32. Bia ký Kalsi, ban
năm 256 TTL. Kalinga, bây giờ là bang Orissa.
33. Thời bấy giờAsoka
nghĩ rằng Hy-Lạp là xứ vô tôn giáo.
34. Bản Nikam dịch: "Bây
giờ, vua Priyarsi nghĩ rằng kẽ phạm lỗi với Ngài nên được tha thứ nếu
lỗi ấy có thể tha thứ được."
35. Có thể Asoka nghĩ
đến "Pháp Cú" câu 103-104.
36. Khoảng ba ngàn dặm.
37. Theo thứ tự, là các
vua Antiochos II Theos của Syria (261-246 TTL), Ptolemy II Philadelphos
của Egypt (285-247 TTL), Antigonos Gonatos của Macedonia (278-239 TTL),
Magas của Cyrene (300-258 TTL) và Alexander của Epirus (272-258 TTL).
38. Xem ghi chú 3.
39. Xem ghi chú 13.
ĐTPD XIV
Thiên tử, Vua Piyadasi ra
lệnh cho những Pháp dụ này được ghi. Vài bản được ghi ngắn gọn, vài bản
được ghi vừa đủ hay vài bản được ghi dài hơn. [40] Không phải tất cả đều
được trưng bày khắp nơi bởi lãnh thổ của trẫm rất rộng. Nhiều bản đã được
khắc và trẫm sẽ còn sai làm thêm.
Vài Pháp dụ đã được lập đi
lập lại vì lời hay ý đẹp của lời dạy để thần dân thực hành noi theo. Vài
Pháp dụ không hoàn tất vì không thích hợp với địa phương, hoặc vì cần loại
bõ, hoặc vì lỗi của người ghi khắc.
Ghi chú:
40. Bia ký Girnar, ban
vào năm 256 TTL.
B. Những Thạch Pháp Dụ
Kalinga
TPDKa I
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán lệnh này cho các Đại thần ở Tosali cũng là các Phán quan thuộc thành
ấy: [41] Trẫm muốn thấy những gì trẫm xem là chính đáng phải được thi hành
nghiêm chỉnh. Trẫm phải chỉ thị cho các ngươi lối thực hiện điều này vì
trẫm đã đặt các ngươi ở vị trí phải thu phục được nhân tâm của hàng vạn
người.
Mọi người đều là con cái
của trẫm. Những gì trẫm ước muốn cho con cái của trẫm, như phúc lợi và
hạnh phúc cho đời này và đời sau, trẫm đều ước muốn như thế cho thần dân.
Các ngươi không hiểu lòng trẫm muốn như thế nào về những điều này, và dù
một vài người trong các ngươi hiễu đi nữa cũng không thấu đáo hết lòng của
trẫm.
Các ngươi phải quan tâm
đến điều này. Trong khi thi hành luật pháp nhiều người phải bị giam cầm,
tra khảo và ngay cả bị giết vô cớ nên lòng dân ta thán. Vì thế các ngươi
phải hành sự thật vô tư. Phải tránh tị hiềm, tức giận, tàn bạo, thù ghét,
nhẫn tâm, trây lười hoặc mệt nhọc. Luôn phải tự hỏi "Những thói ấy có ở
trong lòng ta không?" Cốt lõi vẫn là không tức giận và nên nhẫn nại. Quan
chức nào chán mệt khi thi hành công lý không nên được thăng chức, kẽ khác
thì càng thăng tiến và nên được đề bạt. Ai trong các ngươi hiểu được điều
này nên nói với đồng sự "Có gắng thi hành nhiệm vụ mà Thiên tử giao phó.
Như vậy, như thế này đúng là lời dạy của Thiên tử, Vua Piyadasi."
Thực hiện nghiêm chỉnh
huấn dụ này thì gặt được nhiều kết quả, còn nếu làm khác đi thì chẳng đạt
đến thiên giới và cũng chẵng làm Thiên tử hài lòng. Nếu các ngươi thất bại
trong nhiệm vụ sẽ làm trẫm kém vui. Nếu thực hiện nghiêm chỉnh thì các
ngươi sẽ đạt thiên giới và đẹp lòng trẫm.
Pháp dụ này phải được
tuyên cáo cho mọi người vào mỗi ngày Tisya. [42] Nó cũng có thể được đọc
cho những cá nhân vào những dịp đặc biệt ở những ngày khác. Nếu làm được
như thế là các ngươi thi hành nhiệm vụ.
Pháp dụ này đã được ghi ở
đây để nhắc nhở các Phán quan trong thành này lúc nào cũng nên cố gắng
tránh giam cầm và tra tấn không chánh đáng. Để đạt được điều này trẫm sẽ
phái các Đại quan nhân ái đi thanh tra mỗi 5 năm xem các Phán quan có theo
đúng lời dạy của trẫm. Hơn nữa, vị hoàng tử cai trị thành Ujjayini sẽ phái
những vị quan thanh tra như thế mỗi 3 năm. Cũng làm như thế từ thành
Taksasila. Những đại quan thanh tra này không được chểnh mảng công tác, và
họ phải bảo đảm là những phán quan theo đúng huấn dụ của Thiên tử.
Ghi Chú:
41. Bia ký Dhauli, ban
năm 256 TTL. Hai Pháp dụ Kalinga chỉ tìm thấy được ở Dhauli và Jaugada.
42. Bản Dhammika: còn
viết là Tisa; là ngày rằm, trăng tròn.
TPDKa II
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán lệnh này cho các Đaị thần ở Samapa: [43] Trẫm muốn thấy những gì trẫm
xem là chính đáng phải được thi hành nghiêm chỉnh. Trẫm phải chỉ thị cho
các ngươi lối thực hiện điều này.
Mọi người đều là con cái
của trẫm. Những gì trẫm ước muốn cho con cái của trẫm, như phúc lợi và
hạnh phúc cho đời này và đời sau, trẫm đều ước muốn như thế cho thần dân.
Những dân tộc chưa bị
chinh phục ở ngoài biên cương của lãnh thổ trẫm có thể đang thắc mắc:
"Hoàng thượng đang tính toán gì về chúng ta?" Ý định duy nhất của trẫm là
chúng sống mà không phải sợ hãi gì đến trẫm, và tin tưởng trẫm; là trẫm sẽ
ban cho chúng hạnh phúc chứ không phải khổ đau. Hơn nữa, chúng nên ghi nhớ
rằng trẫm tha thứ cho chúng những lỗi lầm có thể tha thứ được; và rằng
chúng nên noi gương trẫm mà thực hành Chánh Pháp để hưởng phước trong đời
này và đời sau.
Trẫm dạy điều này là để
trả cái nợ mà trẫm đã chịu, và để các ngươi hiểu rõ lòng quyết tâm và lời
cam kết không lay chuyển được của trẫm. Vì thế, để thực hiện được điều này
các ngươi phải thi hành nhiệm vụ và làm bọn chúng an tâm tin tưởng rằng
"Hoàng thượng cũng như là người cha vậy. Ngài thương chúng ta như thương
chính Ngài. Chúng ta đối với Ngài cũng như là con cái của Ngài vậy."
Trẫm dạy các ngươi và cho
các ngươi biết về lòng quyết tâm và lời cam kết không lay chuyển được của
trẫm. Trẫm sẽ bổ nhiệm các quan chức thi hành điều này ở khắp các tỉnh.
[44] Hẳn nhiên, các ngươi còn có thể khích lệ bọn chúng tin tưởng trẫm và
bảo đảm an sinh và hạnh phúc cho chúng trong đời này và đời sau. Làm được
như thế, các ngươi sẽ đạt thiên giới và giúp trẫm trả cái nợ cho chúng
sinh.
Pháp dụ này đã được ghi
khắc ở đây để các Đại thần có thể tận tụy khích lệ các dân ngoài biên
cương luôn tin tưởng vào trẫm và khuyến khích chúng thực hành Chánh Pháp.
Pháp dụ này phải được
tuyên cáo cho mọi người mỗi bốn tháng lúc đầu mùa, [45] vào mỗi ngày
Tisya. Nó cũng có thể được tuyên cáo vào những kỳ giữa những ngày kể trên;
và có thể được đọc cho những cá nhân vào những dịp đặc biệt. Làm được như
thế là các ngươi thi hành nhiệm vụ.
Ghi Chú:
43. Bia ký Jaugada, ban năm 256 TTL.
44. Bản Dhammika dịch
đoạn này như sau: "Bằng vào việc chỉ dạy và cho các ngươi biết về lòng
quyết tâm và lời cam kết của trẫm, trẫm sẽ tự mình quan tâm để đạt đến
mục tiêu này."
45. Ấn có 3 mùa: nóng,
mưa và lạnh. Ngày Tisya: xem ghi chú 42.
C. Tiểu Thạch Pháp Dụ
TTPD I. (Còn gọi là Pháp
Dụ Maski)
Thiên tử, Vua Asoka phán
rằng: [46] Trẫm đã trở thành một cư sĩ Phật tử (Upasaka) hơn hai năm rưỡi,
nhưng không mấy thuần thành. Mãi đến nay sau khi khi thường đến viếng Tăng
già (Shanga hay Shamga) hơn một năm trẫm trở nên rất thuần thành. [47]
Thần dân của trẫm nếu chưa
có tín ngưỡng thì nên noi theo. [48] Đây là kết quả của lòng nhiệt thành
chứ không phải vì người cao cả mới làm được. Cho ngay đến cả người hèn
ha,[49] nếu có lòng nhiệt thành vẫn có thể đạt thiên giới. Và tuyên ngôn
này được ghi lại cho mục đích ấy. Hãy nhiệt thành lên hỡi người cao cả và
kẽ hèn hạ, hãy để cho các dân ở ngoài biên cương biết và hãy để cho lòng
nhiệt thành trường tồn. Và rồi lòng nhiệt thành sẽ tăng trưởng, nó sẽ tăng
trưởng to lớn hơn, nó sẽ tăng truởng gấp một lần rưỡi. [50]
Thông điệp này đã được
Thiên tử tuyên cáo hai trăm năm chục lần trong chuyến du hành. [51]
Ghi Chú:
46. Bia ký Gavimath, ban
năm 257 TTL. Pháp dụ này đã tìm thấy ở 12 nơi khác nhau, với nội dung
không đồng nhất. Đặc biệt là chỉ trong Pháp Dụ Maski nói với Tăng Già
này Đại Đế mới xưng thực danh là Asoka (Asokaraja).
47. Nhiều học giả khi
dịch đoạn Pali "yam me samghe upeti" (đã vào Tăng già), đã hiểu nhầm,
cho là Đai đế Asoka đã trở nên một tỷ-khưu (tăng sĩ).
48. Nhiều bản khác dịch
sát nguyên ngữ là "men unmingled with Gods: người không hòa lẫn với
Trời". Hai bản Nikam và Dhammika dịch " the people who have not
associated with the gods."
49. Bản Nikam dịch là
"kẻ giàu và người nghèo". Nói chung là đều bình đẳng trong Chánh Pháp.
50. Bản Nikam dịch đoạn
này như sau: [Ở cõi Diêm-Phù-Đề (Jambudvipa), trời vốn không hòa lẫn với
người, nay đã hòa lẫn với họ. Nhưng những kết quả trẫm thu đạt chỉ bằng
của (ngay cả) người nghèo nếu họ ngưỡng mộ Chánh Pháp. Thực không đúng
nếu nói rằng điều này chỉ dành cho kẻ giàu. Kẻ giàu và người nghèo đều
phải được bảo rằng: "Nếu các ngươi làm như thế thì những thành tựu đáng
ca tụng này sẽ trường tồn và sẽ gia tăng một lần rưỡi."]
51. Bản Nikam không dịch
đoạn này.
TTPD II. (Còn gọi là Pháp
Dụ Brahmagiri)
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: [51] Phải kính trọng, vâng lời cha mẹ và các bậc trưởng thượng.
Phải tôn trọng sinh mạng. Đừng nói dối. Phải thực hành những giới này của
Chánh Pháp.
Cũng như thế, học trò phải
tôn kính thầy dạy, và trong gia đình phải lịch thiệp với thân nhân. Đây là
lệ luật truyền thống của Chánh Pháp dẫn đến trường sinh. Ai cũng phải hành
động như thế.
Ghi bởi người khắc (tên
là) Chapala.
Ghi Chú:
51. Bia ký Brahmagiri.
TTPD III. (Còn gọi là Pháp
Dụ Bairat hay Bhabra)
Thiên tử, Vua Piyadasi gởi
lời chào Tăng già, và cầu chúc khỏe mạnh và an lạc, đồng thời thưa
rằng:[52] Bạch chư tôn đức, chư vị đã rõ đức tin cao cả của trẫm vào Phật,
Pháp và Tăng như thế nào rồi. Bạch chư tôn đức, những gì Đức Phật thuyết
giảng đều là diệu ngôn. [53] Phải phép mà nói, thưa chư vị, diệu Chánh
Pháp phải trường tồn. [54]
Bạch chư tôn đức, những
bài pháp – trích từ Giới Luật, Lối Sống Cao Thượng, Âu Lo đến, Bài Ca Đạo
Sĩ, Bài Giảng về Cuộc Sống Tinh Khiết, Những câu hỏi của Ưu-Bà-Đề-Xà, và
Bài giảng về vọng ngữ do Đức Phật dạy cho La-Hầu-La - nhửng bài pháp này,
kính thưa chư vị trẫm muốn tất cả Ty-Khưu và Tỷ-Khưu-Ni (tăng và ni) nên
thường tụng niệm. [55] Những Ưu Bà Tắt và Ưu Bà Di (cư sĩ nam và nữ) cũng
nên làm như thế. Trẫm cho ghi Pháp dụ này để chư tôn đức hiểu được ý trẫm.
Ghi Chú:
52. Pháp dụ này được tìm
thấy trên một tảng đá nhỏ gần thành phố Bairat, và nay được bảo tồn
trong Hiệp Hội Á Châu ở Calcutta.
53. Câu này đã dựa vào
một đoạn trong Kinh Tăng Nhất A-Hàm (Anguttara Nikaya, IV:164.) "...
thật là diệu ngôn, những lời do ĐứÙc Thế Tôn thuyết."
54. Bản Nikam dịch: "Cho
phép trẫm liệt kê những bản kinh phản ánh Diệu Chánh Pháp, và làm Chánh
pháp trường tồn."
55. Đã có nhiều thảo
luận về những bản kinh Pali nào tương ứng với trích dẫn của vua Asoka:1)
Vinaya samukose (Skt.: Vinaya samukasa: Xưng Tụng về Trì Giới): có thể
là Atthavasa Vagga, Anguttara Nikaya, 1:98-100. 2) Aliya vasani (Skt.:
Aliya vasani: Mẫu Mực về Đời Đạo Hạnh): có thể là Ariyavasa Sutta,
Anguttara Nikaya, V:29, hoặc Ariyavamsa Sutta, Anguttara Nikaya, II:
27-28. 3) Anagata bhayani (Skt.: Anagata—bhayani: Âu Lo về Tương Lai) :
có thể là Anagata Sutta, Anguttara Nikaya, III:100. 4) Muni gatha (Skt.:
Muni-gatha: Bài Ca Đạo Sĩ): là Muni Sutta, Sutta Nipata 207-221. 5)
Upatisa pasine (Skt.: Upatisya-pasine: Bài Giảng về Cuộc Sống Thánh
Thiện): là Sariputta Sutta, Sutta Nipata 955-975. Và 6) Laghulavade
(Skt.: Rahulavada: Bài giảng về vọng ngữ cho La-Hầu-La): là Rahulavada
Sutta, Majjhima Nikaya, I:421.
D. Bảy Thạch Trụ Pháp Dụ
TTrPD I
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: [56] Pháp dụ này được ghi hai mươi sáu năm khi trẫm đăng quang.
Hạnh phúc đời này và đời sau thực khó mà đạt được nếu không hết lòng yêu
thích Chánh Pháp, hết lòng tự xét, hết lòng kính trọng, vâng lời, hết lòng
kinh sợ (ác nghiệp), và hết lòng hăng hái.
Nếu theo đúng lời dạy của
trẫm về tôn kính Chánh Pháp thì lòng yêu thích Chánh Pháp gia tăng mỗi
ngày, và sẽ tiếp tục gia tăng. Mọi quan lại các cấp của triều đình từ
thượng, trung và hạ cấp đều thực hành theo Chánh Pháp đúng như lời dạy của
trẫm, và có khả năng cảm kích người khác làm như thế. Các đại thần ở biên
cương cũng làm như thế. Và đây là những lời dạy của trẫm: cai trị theo
Chánh Pháp, nâng cao sự an lạc của dân theo Chánh Pháp, và che chở họ theo
Chánh Pháp.
Ghi Chú:
54. Bảy Pháp dụ này dịch
từ bia ký Dehli Topra, sáu bản đầu được ban ra năm 243 TTL và còn thấy
trên năm thạch trụ khác. Bản thứ bảy được ban ra năm 242 TTL.
TTrPD II
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Chánh Pháp thì diệu hảo, nhưng cái gì tạo nên Chánh Pháp? Nó
gồm làm lành tránh dữ, nhân ái, hào phóng, chân thật và trong sạch. Trẫm
đã ban cho sự sáng bằng nhiều cách. [55] Trẫm đã ban nhiều sắc chỉ nhân từ
bao gồm quà của sự sống cho những sinh vật hai và bốn chân (người và thú),
trên không và dưới nước, [56]. Và còn nhiều việc thiện khác do trẫm làm
nên.
Pháp dụ này được ghi để
thần dân noi theo, và để nó trường tồn. Và ai noi theo đúng sẽ làm nhiều
thiện nghiệp.
Ghi Chú:
55. Theo tiếng Pali:
"Cakhu dane" có nghĩa là "Trẫm ban cho sự thấy". Có thể là vua Asoka ban
cho "con mắt trí tuệ"; nhưng đặt nó vào toàn bộ Pháp dụ thì có vẽ như là
Asoka đã ra lệnh ngưng lối hình phạt làm mù mắt.
56. Có nghĩa là ngưng
sát sinh.
TTrPD III
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Người ta chỉ thấy việc tốt của mình, bảo rằng: "Ta đã làm việc
thiện này." Nhưng họ lại không nhìn thấy việc xấu họ làm mà bảo rằng "Ta
đã làm ra việc ác này, điều này gọi là ác nghiệp". Nhưng sự tự giác rất
khó thấy. [57] Người ta nên tự bảo thế này:" Những việc này đưa đến điều
ác, đến bạo hành, đến hung hản, đến giận dữ, đến kiêu căng và ganh tị. Ta
đừng mắc vào". Và hơn nữa, người ta nên nghĩ rằng: "Điều này đưa đến an
lạc trong đời này và đời sau."
Ghi Chú:
57. Tương tự như lời
Phật dạy trong "Pháp Cú" (Dhammapada) câu 50 và 252.
TTrPD IV
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Pháp dụ này đã được ghi hai mươi sáu năm sau khi trẫm đăng
quang. Các quan đầu tỉnh (Rajjukas) đang cai trị dân, hằng trăm ngàn dân.
Họ được giao cho trông coi việc thỉnh cầu của dân và thi hành công lý một
cách vô tư và hiền hậụ, và nhờ thế họ mới chăm lo cho an sinh và phúc lợi
của dân. Nhưng họ nên nhận rõ điều gì gây ra hạnh phúc và khổ đau cho dân,
và bởi họ hằng ngưỡng mộ Chánh Pháp, họ nên khuyến khích dân làm như thế
để có thể được an lạc trong đời này và đời sau. Những quan đầu tỉnh
(Rajjukas) này hết lòng phụng sự trẫm. Họ cũng tuân lệnh những thượng quan
(Purusas) đã hiểu ý trẫm và chỉ thị họ để làm trẫm vui lòng. Cũng như một
người an tâm giao con mình cho vú nuôi ngĩ rằng: "Bà vú này sẽ săn sóc tốt
con mình," nên trẫm đã bổ nhiệm các quan để lo cho an sinh và phúc lợi của
thần dân.
Các quan đầu tỉnh được
giao cho trông coi việc thỉnh cầu của dân và thi hành công lý nên họ đã
thi hành nhiệm vụ một cách quả quyết, hiền hậu và vui vẻ, và nhờ thế họ
mới chăm lo cho an sinh và phúc lợi của dân. Trẫm muốn rằng phải có một sự
công bằng trong luật pháp và trong việc kết tội. Trẫm còn đi xa hơn, trẫm
muốn gia ân triển hạn thêm ba ngày cho những tử tội trước khi hành hình.
Trong thời gian ấy, thân nhân của chúng có thể khiếu nại để khỏi tội chết.
Nếu không còn ai khiếu nại cho chúng, tử tội có thể bố thí hay chay tịnh
để được phước trong đời sau. Trẫm thực lòng muốn rằng, theo lối này, nếu
thời gian của tử tội không còn bao lâu hắn cũng có thể chuẩn bị cho đời
sau, và rằng việc thực hành Chánh Pháp của dân qua tự chế và bố thí sẽ
được gia tăng trong thần dân.
TTrPD V
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Hai mươi sáu năm sau khi đăng quang, trẫm ra lệnh những thú vật
sau đây được triều đình bảo vệ: két, chim sáo sậu, ngỗng, vịt trời, dơi,
kiến chúa, ba-ba, cá không xương, [58] rùa, nhím, sóc, hươu có gạc già, bò
đực, thú nuôi trong nhà, tê-giác, lừa hoang, aruna, nandimukhas, gelatas,
vedareyaka, gangapuputaka, sankiya, okapinda, bồ câu nuôi hoặc hoang và
tất cả những thú bốn chân có ích hoặc không ăn được. [59]
Những dê cái, trừu cái,
hoặc heo rừng cái đang nuôi con hoặc cho con bú cũng được bảo vệ. Cũng
thế, những thú con dưới sáu tháng. Gà trống không định thiến, võ cây đang
che chở sinh vật không được đốt, và rừng cây không được đốt nếu không có
lý do hoặc chỉ để giết thú. Không được dùng một con thú để nuôi con thú
khác.
Vào ba ngày
Caturmasis,[60] ba ngày trăng tròn Tisya [61] và vào những ngày 14 và 15
của tháng Uposatha, [62] cá không được giết và bán. Vào những ngày này thú
không được giết trong những khu bảo tồn voi và khu bảo tồn cá. Vào ngày
thứ 8 và vào ngày 14 và 15 của tháng , vào ngày Tisya, ngày Punarvasu
[63], ba ngày Caturmasis và những ngày thánh khác, bò đực, dê đực, hươu
đực, heo rừng và những thú khác không được thiến. Vào ngày Tisya,
Punarvasu, Caturmasis và mỗi nữa tháng của tháng Caturmasis, ngựa và bò
con không được đóng dấu nóng trên da.
Hai mươi sáu năm sau khi
trẫm đăng quang, tù nhân được ân xá trong hai mươi lăm dịp.
Ghi Chú:
58. Có thể là tôm, cua.
59. Hai bản Dhammika và
Nikam vẫn để những tên thú theo nguyên ngữ, không dịch được.
60. Ngày đầu mùa. Xem
45.
61. Ngày Tisya: xem 42.
NXR: Ở đây chỉ qui định ngày trăng tròn của tháng đầu mổi mùa.
62. Tháng an cư kiết hạ
63. ngày lễ hội
TTrPD VI
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Mười hai năm sau khi đăng quang trẫm đã cho ghi nhửng Pháp dụ
về an sinh và hạnh phúc của thần dân, để họ sửa đổi mà phát triển theo
Chánh Pháp.
Trẫm tin rằng chỉ với cách
này an sinh và hạnh phúc của thần dân mới đạt được. Trẫm luôn quan tâm đến
làm cách nào dể bảo đảm an sinh và hạnh phúc cho mọi người, không phải chỉ
riêng bà con của trẫm hoặc dân sống ở kinh đô mà còn cả dân sống ở những
vùng xa xôi hẽo lánh. Trẫm đối xử bình đẳng như thế với tất cả mọi người,
mọi giới.
Hơn nữa, trẫm đã tôn kính
mọi tôn giáo bằng mọi cách cúng dường nhưng cách tốt hơn hết là trực tiếp
thăm viếng họ.
Pháp dụ này được ghi hai
mươi sáu năm sau khi trẫm đăng quang.
TTrPD VII
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Trong quá khứ các vua đã nghĩ đến nhiều cách để tăng sự ngưỡng
mộ Chánh Pháp của dân. Nhưng dù vậy, sự ngưỡng mộ Chánh Pháp của dân vẫn
không tăng trưởng.
Về việc này, Thiên tử, Vua
Piyadasi phán rằng: "Việc này cũng đã xảy ra với trẫm. Trong quá khứ các
vua đã nghĩ đến nhiều cách để tăng sự ngưỡng mộ Chánh Pháp của dân. Nhưng
dù vậy, sự ngưỡng mộ Chánh Pháp của dân vẫn không tăng trưởng. Nay phải
làm sao để khuyến khích thần dân tuân theo? Làm thế nào để sự ngưỡng mộ
của thần dân gia tăng qua sự truyền bá Chánh Pháp? Làm sao trẫm có thể
nâng cao họ qua sự truyền bá Chánh Pháp?
Về việc này, Thiên tử, Vua
Piyadasi còn phán thêm rằng: "Việc này đã từng xảy ra với trẫm. Trẫm phải
công bố Chánh Pháp và chỉ dạy Chánh Pháp. Khi thần dân nghe đến lời tuyên
cáo và sự chỉ dạy, họ sẽ sống theo Chánh Pháp, tự nâng cao họ và tiến bộ
qua sự truyền bá Chánh Pháp." Vì mục đích này mà trẫm phải công bố Chánh
Pháp và trẫm phải chỉ dạy Chánh Pháp bằng nhiều cách, và những quan lại
được lệnh phải gắng truyền bá và giải thích Chánh Pháp thực rõ ràng. Các
quan đầu tỉnh cai trị hàng trăm ngàn người được lệnh như thế để hướng dẫn
dân ngưỡng mộ Chánh Pháp.
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: " Với mục đích này, trẫm đã cho dựng những Pháp thạch trụ để
công bố Chánh Phápï, và bổ nhiệm các Pháp Đại thần để truyền bá Chánh
Pháp."
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Dọc đường, trẫm đã cho trồng nhiều cây đa để lấy bóng mát cho
thú và người, và trẫm cũng đã cho trồng vườn xoài. Cứ cách khoảng tám
krosas, [64] trẫm cho đào giếng nước, xây nhà nghỉ chân, và ở nhiều nơi
trẫm cho xây bồn nước cho thú và người dùng. Nhưng đây chỉ là những thành
tựu nhỏ mà thôi. Những việc như thế làm cho dân vui đã được nhiều tiên
vương thực hiện. Trẫm làm những điều này chỉ với mục đích là mọi người có
thể hăng say thực hành Chánh Pháp.
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Những Pháp Đại thần của trẫm bận rộn với những công tác giúp đở
các bậc tu hành và cư sĩ các tôn giáo. Trẫm ra lệnh cho họ nên chăm lo cho
đời sống Tăng già. Trẫm ra lệnh cho họ nên chăm lo cho đời sống của các
tu-sĩ Bà-la-môn và đạo-sĩ Ajivika. Trẫm ra lệnh cho họ nên chăm lo cho đời
sống của Niganthas. [65] Trẫm ra lệnh cho họ nên chăm lo cho đời sống của
các tông phái khác.
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Những đại thần này và những quan lại quan trọng khác bận rộn
phân phát quà tặng của trẫm cũng như của các hoàng hậu. Trong hậu cung của
trẫm, họ cũng tổ chức những sinh hoạt cứu tế khác, ngay ở đây (kinh đô) và
ở các châu quận. Trẫm cũng ra lệnh cho các thái tử và hoàng tử nên ban
phát quà để những việc thiện cao cả của Chánh Pháp và việc thực hành Chánh
Pháp được thăng tiến. Những việc thiện cao cả của Chánh Pháp và việc thực
hành Chánh Pháp bao gồm gia tăng lòng nhân từ, hào phóng quảng đại, chân
thật, trong sạch, tử tế và thiện tâm giữa mọi người.
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Những việc thiện gì trẫm đã làm, đều được thần dân noi theo và
thực hiện. Nhờ vậy mà họ tiến bộ và còn tiếp tục tiến bộ qua sự tôn kính
cha mẹ, tôn kính các bậc trưởng thượng, lễ phép với người già và tử tế với
các bậc tu hành, với người nghèo, kẻ khổ và ngay cả với nô tì và gia nhân.
Thiên tử, Vua Piyadasi
phán rằng: Những tiến bộ này của thần dân qua Chánh Pháp được thực hiện
bằng hai cách, bởi những qui định Chánh Pháp và bởi thuyết phục. Những qui
định Chánh Pháp thì không có hiệu quả mấy, trong khi thuyết phục thì hiệu
quả hơn nhiều. Những qui định Chánh Pháp trẫm ban chẵng hạn như phải bảo
vệ một số thú, và nhiều qui định Chánh Pháp khác. Nhưng chỉ bằng thuyết
phục thì tiến bộ của thần dân qua Chánh Pháp có nhiều hiệu quả hơn liên
quan đến không hành hạ sinh vật và không sát sinh.
Về việc này, Thiên tử, Vua
Piyadasi phán rằng: Ở đâu có thạch trụ hay mặt đá thì ở đấy Pháp dụ được
khắc ghi để nó trường tồn đến đời con cháu trẫm, và còn dài lâu như mặt
trời và mặt trăng còn soi sáng để thần dân thực hành theo lời dạy Chánh
Pháp. Bởi qua thực hành Chánh Pháp thì an lạc mới có trong đời này và đời
sau.
Pháp dụ này được ghi hai
mươi bảy năm sau khi trẫm đăng quang.
Ghi Chú:
64. Khoảng 1 mile.
65. Tu sĩ Kỳ-na giáo
(Jaina hay Jains). Giáo chủ là Makkhali Gosala, cùng thời với Đức Phật
Thích Ca.
E. Tiểu Thạch Trụ Pháp Dụ
TTTrPD I (Còn gọi là Thạch
Trụ Pháp Dụ Rummindei)
Hai mươi năm sau khi đăng
quang, Thiên tử, Vua Piyadasi đã viếng thăm và lễ bái nơi này bởi vì đây
là nơi Đức Phật Thích Ca, Bậc Giác Ngộ đã ra đời. [66] Thiên tử đã cho xây
một tường đá bao bọc xung quanh và dựng một thạch trụ. [67] Và vì Đức Thế
Tôn đãn sinh ở đây, làng Lumbini [68] được miễn thuế và chỉ đóng một phần
tám nông sản.
Ghi Chú:
66. Lời ghi này được
khắc trên một thạch trụ tại Lumbini vào năm 249 TTL.
67. Bản Dhammika: "Thiên
tử đã cho tạc tượng và dựng một thạch trụ."
68. Nay được gọi là
Rummindei.