Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Bồ Tát Thích Quảng Đức


 

 

 

 

 

 

 

Mục Lục 

Lời giới thiệu

Lời nói đầu

Nơi địa linh ươm giống Bồ Tát

Nơi đích thực địa linh

Về Đại lão Thiền Sư Tổ Pháp Thân Đạo Minh

Về bài vị và sự thẩm định niên hạn trụ thế của Đại Lão Thiền Sư Pháp Thân Đạo Minh (thế kỷ XVII- XIX)

Tổ Chơn Hương – Thiên Quang (1862-1939)

Tổ Như Đạt – Giải Nghĩa Hoằng Thâm (1857-1921)

Tổ Thanh Chánh-Phước Tường (1867-1932)

Tiểu sử Bồ Tát Thích Quảng Đức (1897-1963)

Thơ di bút của Hòa Thượng Quảng Đức

Thiền Sư Thích Hưng Từ

Thiền Sư Thích Viên Chiếu

Thiền Sư Thích Viên Chiếu Như Cự (1892-1943)

Nơi Bồ Tát Ẩn Tu (Thơ)

Về 14 Ngôi Chùa ở Xứ Trầm Hương (Khánh Hòa) Do Bồ Tát Thích Quảng Đức Khai Sơn Kiến Tạo Và Trùng Tu

Chùa Sắc Tứ Long Sơn

Chùa Linh Sơn

Tổ Đình Thiên Bửu (Thượng)

Chùa Sắc Tứ Thiên Ân

Chùa Sắc Tứ Thiên Lộc

Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Tứ

Chùa Sắc Tứ Khánh Long

Chùa Long Hà

Chùa Pháp Hải

Tổ đình Sắc Tứ Linh Sơn

Chùa Chi Hội (Đức Hòa)

Chùa Lạc Sơn

Chùa Phước Hoà

Chùa Long Phước

Những Mẫu Chuyện Nghịch Cảnh Của Bồ Tát Thích Quảng Đức

Dữ Liệu Những Năm Tháng Bồ Tát Thích Quảng Đức Hành Đạo Tại Xứ Trầm Hương

Đôi nét về cảnh quan Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Tứ

Phụ trang

Phác họa về hòn đất ở Ninh Hòa

Phần phụ lục 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

 

NƠI ĐÍCH THỰC ĐỊA LINH 

- Kính tặng ĐĐ Như Hoằng -

 

Có ai về đấy hay chưa?

Viếng thăm trên ngọn đồi (1) xưa có người

Một mình một bóng thảnh thơi

Cất am tranh nhỏ làm nơi tu hành

Thiền sư pháp hiệu Đạo-Minh (2)

Ba trăm năm trước tiên sinh lánh trần

Kiết già thị tịch an nhiên

Đến nay bảo tháp (3) còn truyền nhơn gian

Thế rồi một đại vĩ-nhân

Sau hơn thế kỷ đã lần đến đây

Dựng thảo đường (4) cạnh tháp xây

Cất chùa Thiên-Lộc (5)  đêm ngày luyện tu

Hiệu là Quảng-Đức (6)  đạo sư

Chính danh Bồ-tát đại-từ đại-bi

Gặp cơn Pháp nạn lâm nguy

Tự thiêu thân (7) để cứu vì chúng sanh

Đất này đích thực địa-linh

Từng hai nhơn-kiệt (8) ghi danh sử vàng!

Dưới chân đồi cạnh đình làng

Có chùa Thiên Tứ (9) phong quang rạng ngời

Trãi bao vật đổi sao dời

Cảnh xưa còn đó mà người xưa đâu?!

 

Núi Đất (Địa Sơn) tháng 01-2006

 (Theo Hàn-Linh-Giang)

 

(1) Núi Đất (Địa Sơn) nằm ven quốc lộ I. A miền Trung Việt-Nam thuộc thôn Mỹ-Trạch, xã Ninh-Hà, huyện Ninh-Hòa, tỉnh Khánh-Hòa
(2)
Còn gọi là Pháp-Thân Đạo-Minh (thế kỷ XVII-XIX)

(3) Nơi viên tịch của Thiền sư Đạo Minh

(4) Vào năm 1927

(5) Do Bồ-tát Quảng-Đức xây cất năm 1935, cạnh cổ tháp

(6) Chính là Bồ-tát Quảng-Đức (thế kỷ XIX-XX)

(7) Vào ngày 11/06/1963 tại Sài Gòn

(8) Tổ Thiền-sư Đạo-Minh và Bồ-tát Quảng-Đức

(9) Chùa Tổ-đình sắc-tứ Thiên Tứ do tổ Đạo-Minh khai sơn vào năm 1744.

 

VỀ ĐẠI LÃO THIỀN SƯ – TỔ PHÁP THÂN ĐẠO MINH

(Thế kỷ XVII – XIX) 

Đại lão thiền sư - Tổ Pháp Thân Đạo Minh sinh năm Giáp tý (1684) không rõ ngày tháng sinh (sinh giáp tý niên muội nguyệt nhật thời lai). TRÍCH-bài vị tại chùa tổ đình sắc tứ Thiên Tứ. Lại không biết rõ nơi ngài sanh ra và lớn lên ở đâu? (có khi ngài là người ở đàng ngoài hay là người ở xứ Quảng cũng nên?) chỉ biết rằng ngài là đệ tử của tổ Thiệt Thể Triêm Ân thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ hai chi phái Chúc Thánh. Như vậy tổ Đạo Minh thuộc đời thứ 36 hệ thứ 3 truyền thừa pháp phái Chúc Thánh

Cách đây khá lâu, trên ba thế kỷ, thì vùng đất làng Mỹ Trạch nguyên là một phần của Tổng Ích Hạ, chỉ là dãy đầm lầy cỏ cây hoang mạc có vài ngọn núi thấp lô nhô như, hòn Quải và hòn Đất bao bọc. Cư dân thuở ấy đã lập làng ấp khai hoang dỡ đất cho việc canh nông và trồng trọt. Gần bên chân hòn Quải, ven đầm Nha Phu, vừa có điều kiện làm ruộng, vừa có điều kiện đánh bắt thủy hải sản. Những năm đầu mới mở đất, nơi đây còn là nơi rừng thiêng nước độc vô cùng hiểm trở, thú dữ hoành hành. Nhất là cọp thường về làng để rình rập kiếm ăn và thường bám sát với chỗ ở của con người. Hiện còn di tích đất nền miễu thờ ông hổ cách đó không xa. Người dân làng kể lại rằng: “thời đó trong khi phát rừng khai hoang đã vô tình đốt chết 3 cọp con. Ông bà xưa nơi đây đã thận trọng lập miễu thờ 3 hộp sọ ông hổ hiện vẫn còn.

Những năm đầu thế kỷ XVII, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh của tổ Minh Hải Đắc Trí Pháp Bảo được hoằng hóa vào trong vùng đất phủ Phú Yên và Khánh Hòa. Phật giáo đàng trong được phát triển mạnh với dòng thiền trên. Trong một lần đi hoằng hóa vào vùng đất làng Mỹ Trạch, nhận thấy sơn thanh thủy tú nơi này tích tụ khí thiêng trời đất, lại gần khu dân cư nên tổ Đạo Minh đã quyết định dừng chân an trú, cắm tích trượng hoằng dương chánh pháp tại một vùng đất gò thuộc làng An Phú (An Thạnh Đông) làng Mỹ Trạch ngày nay, giáp ranh giới phía bắc làng Mỹ Thuận.

Tổ Đạo Minh đã lập ngôi chùa Thiên Tứ lần đầu tiên (cho đến ngày nay gò này cũng vẫn còn được gọi tên là gò Chùa. Sau đó, vì xét thấy nơi này còn ẩm thấp hay thường ngập nước trong các mùa mưa bão, vã lại bất tiện cho việc đi lại lễ chùa của người dân. Nên qua sự đồng ý của dân làng thế là chùa phải chuyển đi lần thứ hai đến vùng đất gò cao hơn, gò này còn gọi là gò cây Da. Chùa cũng được dựng lại tại gò Cây Da này trong một thời gian.

Xong người dân cảm thấy nơi đây chưa vừa lòng cho mấy. Họ bên nhau tiếp tục chuyển chùa lần nữa. Lần này là lần thứ ba, chùa được nằm bên cạnh đình cùng lần thứ ba này trong năm 1744 (thời Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát).

Khi chuyển chùa đi rồi, để lại gò Cây Da thật là cô liêu và trống vắng, chỉ còn lại một số cây cổ thụ như bồ đề, mét, bang, gòn, gạo, si…Đến thời Pháp thuộc trên gò Cây Da này mới dựng lên ngôi nhà thờ. Sau 1975 toàn bộ cây cổ thụ qúy giá của đất Già Lam thuở ấy đều chịu đồng chung với số phận bị triệt phá, tàn tiêu để rồi nơi này mọc lên nhà kho và sân phơi Hợp tác xã.

Hồi đó Tổ pháp thân Đạo Minh của thế kỷ XVII – XIX chuyên tu thiền định và nhập thiền thường ngày trên Núi Đất (Địa Sơn), có lẽ vậy mà người dân muốn cảnh chùa, đình được kề cận bên nhau. Nên chùa được di dời về dưới chân Núi Đất mà người xưa đã an định.

“Núi sau dừng ấm chùa đình

Đồng xanh trước mặt đậm tình quê hương”

Chùa tọa lạc sát bên cạnh đình làng được xây dựng cùng lúc ngay trong năm giáp tý (1744). Rất tiếc rằng cho tới ngày nay, người ta chỉ xác minh được năm khai sơn chùa Thiên Tứ đã được di dời lần thứ ba của tổ Đạo Minh mà thôi!

Hằng ngày ngoài những việc như đi xuống núi khất thực, giáo hóa dân chúng, tổ thường tham thiền nhập định dưới những gốc cây cổ thụ trên đỉnh hòn Núi Đất. Vì vậy, đến khi chứng qủa, tổ đã thị tịch trong tư thế kiết già. Dân cư phát hiện muộn và không biết đến bao lâu ngôi bảo tháp mới đuợc hình thành để trân trọng bảo vệ, lưu dấu nhục thân của vị đại lão thiền sư trụ thế đến 119 năm (tức 120 tuổi) có niên đại từ 1684-1803. Thực ra tổ Đạo Minh viên tịch vào ngày tháng nào không ai được rõ. Chỉ biết rằng tổ đã thoát xác phàm trần ngay trong năm qúy hợi (1803). Cũng giống như những trường hợp mất tích đối với con người trong chốn dân gian không biết rõ ngày mất là ngày nào nên đành phải áng chừng hoặc lấy ngày từ biệt bước chân đi để kỷ niệm ngày qúa vãng của họ. Trường hợp tổ Đạo Minh cũng thế, nhưng có khác hơn người thế gian là để ngậm ngùi tưởng nhớ và tôn vinh bậc thiền sư cao niên đắc đạo ngay sau khi cư dân trong vùng phát hiện nhục thân ngài ngồi trơ sựng dưới sân thảo am của những gốc cây cổ thụ trên đỉnh núi Đất, họ đã xây thành bảo tháp và thường tới lui để hương khói, chiêm bái ngài. Hơn thế nữa họ đã thống nhất lấy ngày rằm tháng chạp (15 tháng 12) làm ngày kỷ niệm kỵ Tổ hàng năm, từ ấy đến nay đã trở thành thông lệ (tịch qúy hợi niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật khứ. TRÍCH- bài vị tại Cổ tự Sắc Tứ Thiên Tứ.)

Do kính ngưỡng đối với một bậc thiền sư chân tu đắc đạo, công viên quả mãn, nên trãi qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…đều có sắc phong vua ban cho chùa Thiên Tứ. Vì thế, kể từ đó đã có tên gọi là chùa Sắc Tứ Thiên Tứ.

 

Núi Đất (Địa Sơn), tiết lập thu năm Canh Ngọ 1990

 

Ngẫu nhiên, núi Đất (Địa Sơn) là nơi đích thực địa linh, đã thành tựu thánh quả, qua hai hình ảnh rõ nét của thiền sư Đạo Minh (thế kỷ XVII-XIX) và Bồ tát Quảng Đức (thế kỷ XIX-XX) phù hợp phần nào theo khoa học huyền bí được thể hiện qua vài nét kinh “DỊCH” đã có từ thuở xa xưa. Sau đây xin trích lại vài đoạn về Kinh Dịch số 15 trang 202 của Huệ Thiên – Vũ Nam để quí vị tiện bề tham khảo.

QUÊ ĐỊA SƠN KHIÊM

Ngoại quái là khôn địa, nội quái là cấn sơn gồm có năm phần chính sau đây:

I.              Tự quái: “đại hữu dã bất khả dinh cố thụ chi dĩ khiêm. “DỊCH: thời đại hữu là thời thịnh đạt, muốn được lâu dài cần phải khiêm tốn, không nên để cho quá sung mãn đầy đủ. Vì vậy sau quẻ đại hữu là quẻ khiêm.

II.           Soán từ: “khiêm hanh chung tử dĩ chung “DỊCH: biết nhún nhường thì được hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới lúc cuối cùng.”

III.         Soán truyện: “khiêm hanh thiên đạo hạ tế nhi quang minh địa đạo ty nhi thượng hành. Thiên đạo khuy dinh nhi ích khiêm. Địa đạo biến dinh nhi lưu khiêm. Quỷ thần hại dinh nhi phúc khinh. Nhân đạo ố danh nhi hiếu khiêm. Khiêm tốn nhi quang, ty nhi bất khả du, quân tử chi chung dã “DỊCH: biết khiêm tốn thì hanh thông, như đạo trời giao tế xuống thấp để giúp vạn vật phát triển nên có công đức quang minh. Đạo đất ở dưới thấp hết mọi vật nhờ đó mà âm khí thượng hành giao tiếp với dương khí của trời. Cho nên đạo lý của trời hễ đầy thì làm cho vơi, khiêm thì làm cho ích, còn đạo lý của đất là làm biến đổi chỗ đầy để chảy vào chỗ thấp. Đạo lý con người thì ghét sự sung mãn mà thích sự khiêm hạ. Vì vậy, nếu có đức khiêm ở ngôi vị Tôn thì đạo lại càng sáng sủa, biết xử nhún nhường mà không ai hơn được thì chi người quân tử mới giữ được trọn vẹn mà thôi.

IV.         Đại tượng nguyện:  “địa trung hữu sơn khiêm, quân tử dĩ biều đa ích quả, xứng vật bình thí “DỊCH: trong đất mà có núi nổi lên là tượng quẻ khiêm. Người quân tử xem tượng thấu hiểu luật tạo hóa nên chỗ nào có nhiều thì rút bớt, chỗ nào có ít thì gia thêm, cốt sao cho mọi vật đều cân bằng.

V.           Hào từ và tiểu tương truyện:

1.Sơ lục: “ khiêm khiêm quân tử dạng thiệp đại xuyên cát” DỊCH: người quân tử biết khiêm nhường luôn luôn dùng đức này để vượt nguy hiểm như lội qua sông lớn thì được tốt lành.

Tượng truyện: “khiêm khiêm quân tử, ty dĩ tự mục dã” DỊCH: người quân tử phải luôn luôn biết khiêm nhường để tự bồi dưỡng mình.

2.Lục nhị: “minh khiêm, trinh cát” DỊCH: nhờ khiêm tốn mà có tiếng tăm nhưng phải giữ được chánh đạo thì mới được tốt lành.

Tượng truyện: “minh khiêm cát, truy tâm đắc dã” DỊCH: khiêm tốn mà có tiếng tăm và hưởng được tốt lành bởi sự khiêm tốn ấy xuất phát từ cõi lòng chứ không phải giả dối bề ngoài.

3.Cữu tam: “lao khiêm quân tử, vạn dân phục dã” DỊCH: người quân tử có công khó nhọc mà biết khiêm tốn thì vạn dân tín phục.

Tượng truyện: “lao khiêm, quân tử, vạn dân phục dã” DỊCH: người quân tử có công khó nhọc mà biết khiêm tốn thì vạn dân tín phục.

4.Lục tứ: “vô bất lợi, huy khiêm” DỊCH: biết phát huy sự khiêm tốn thì không có gì bất lợi…vv và vv

 

VỀ BÀI VỊ VÀ SỰ THẨM ĐỊNH NIÊN HẠN TRỤ THẾ

CỦA ĐẠI LÃO THIỀN SƯ PHÁP THÂN ĐẠO MINH

(THẾ KỶ XVII-XIX)

 

 

A-    BÀI VỊ      

Bài vị được viết ba hàng bằng chữ Hán, dịch âm ra quốc ngữ như sau:

(hàng chữ chính giữa ghi là)

-Từ Lâm Tế Chánh Tông Thiên Tứ Đường Thượng Tam Thập Lục Thế Húy Pháp Thân Hiệu Đạo Minh Hòa Thượng Mạo Tòa.

Dịch: bài vị thờ Hòa Thượng đời thứ ba mươi sáu dòng Lâm Tế Chánh Tông ở chùa Thiên Tứ, húy Pháp Thân, hiệu Đạo Minh.

(hàng chữ phía bên phải ghi là)

-Sanh Giáp Tý niên, muội nguyệt, nhật thời lai

Dịch: Sanh năm Giáp Tý, không biết rõ ngày giờ.

(hàng chữ phía bên trái ghi là)

-Tịch Quý Hợi niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật khứ

Dịch: tịch vào ngày rằm than chạp năm Quý Hợi.

 

B- SỰ THẨM ĐỊNH NIÊN HẠN TRỤ THẾ

Có nhiều người đời sau chưa rõ thực hư, thậm chí còn người có ngờ vực đến sự trụ thế lâu dài (sống lâu) của Đại lão thiền sư Pháp Thân Đạo Minh có đúng như vậy hay không? Vì vậy, việc chứng minh năm sanh và năm tịch của Tổ Đạo Minh là cần thiết, nên đề cập đến sau đây:

1.      NĂM SANH:

Căn cứ theo bài vị của tổ Đạo Minh là năm Giáp Tý, ta biết được ngài sanh trước năm Giáp Tý (1744) là 60 năm (đúng một hoa giáp) tức vào năm Giáp tý (1684). Giả thiết, nếu ngài sanh vào năm Giáp Tý (1744) thì làm gì có việc vừa mới sanh ra đời, ngài đã làm tở khai sơn được ư?

2.      NĂM TỊCH:

Căn cứ theo bài vị của Tổ Đạo Minh là tịch năm Quý Hợi (gồm có các năm 1743 và 1803). Giả thiết nếu ngài tịch vào năm Quý Hợi (1743) thì ngài còn đâu nữa để đứng ra khai sơn chùa Thiên Tứ vào năm Giáp Tý (1744)? Như vậy là vô lý. Vì thế ta có thể xác minh được việc Tổ viên tịch vào năm Quý Hợi (1803) là đúng sự thật. Lại nữa, hiện nay căn cứ nhiều tài liệu sách báo viết về Tổ Đạo Minh và việc khai sơn chùa Thiên Tứ vào năm Giáp Tý (1744) là đồng nhất, nên ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Tổ viên tịch vào năm Quý Hợi (1803) là có cơ sở. Như vậy, Ngài đã trụ thế đến 119 năm (cũng có nghĩa là 120 tuổi) là hoàn toàn chính xác.

 

Theo Hàn Linh Giang

(Nơi Địa Linh Ươm Bồ Tát)

 

TỔ CHƠN HƯƠNG – THIÊN QUANG

(1862-1939)

 

Tổ Chơn Hương hiệu Thiên Quang thế danh là Phạm Huyền Túc, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 40, thế hệ thứ 7 truyền thừa theo dòng kệ Tổ Minh Hải – Pháp Bảo (chùa Chúc Thánh - Quảng Nam).

Ngài sinh ngày 28 tháng 12 năm Nhâm Tuất – 1862 (niên hiệu Tự Đức thứ 15) tại huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là ông Phạm Dĩ, thân mẫu là bà Nguyễn thị Điền.

Ngài là đệ tử xuất gia và đắc pháp với Hòa thượng Ấn Chánh - Tổ Tông - Huệ Minh ở chùa Bảo Sơn (Tuy An, Phú Yên).

Do ảnh hưởng với thời cuộc chiến tranh, vào khoảng năm 1893 Ngài đã vào Vạn Ninh tiếp tu học và sau đó trụ trì chùa Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa).

Căn cứ vào những văn kiện còn lưu giữ cho đến ngày nay đã giúp chúng ta rõ được công hạnh của tổ Chơn Hương-Thiên Quang đã có nhiều công đức rất lớn với tổ đình Linh Sơn kể từ năm 1902.

Năm Ất Tỵ - 1905, Ngài là Hòa Thượng Yết Ma của Tổ đình Linh Sơn đã phát tâm đúc tượng Phật cho chùa Linh Sơn (xem Văn Kiện ngày 10 tháng 4)

Năm Đinh Mùi -1907, ngài khai sơn chùa Báo Ân (Vạn Khánh, Vạn Ninh, Khánh Hòa).

Năm Mậu Thân -1908, đệ tử Như Đạt - Hoằng Thâm cung thỉnh ngài chứng minh chú nguyện đúc đại hồng chung tại chùa Long Sơn (Phú cang - Vạn Giã)

Năm Ất Mão -1915, ngài kiêm nhiệm trụ trì chùa Hội Phước (Nha Trang).

Năm Bính Thìn -1916, Tổ Chơn Hương tái tạo cổng tam quan và ghi câu đối trong đó có chữ “Hội Phước thiền môn”:

Hội Tấn Nhơn Duyên Phước Thiền Khai Tế Độ Môn

Năm Đinh Tỵ -1917, giao chùa Hội Phước cho Tổ Thanh Chánh - Phước Tường thừa kế, Ngài về chùa Linh Sơn trùng tu lại tổ đình và mở trường dạy tăng chúng tu học.

Năm 1922, Ngài tiếp tục phát tâm tôn tạo tượng Tam Thế cho tổ đình Linh Sơn.

Năm Đinh Sửu – 1937, ngài làm Hòa thượng Đàn đầu đại giới đàn ở chùa Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hoà).

Ngày 26 tháng chạp năm Mậu Dần -1939 (niên hiệu Bảo Đại thứ 14) Hòa Thượng Chơn Hương – Thiên Quang viên tịch tại chùa Linh Sơn , trụ thế 77 năm. Đồ chúng lập tháp ngài trong khuôn viên Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh)

Huynh đệ của Ngài Chơn Hương đều là bậc danh tăng như:

- Ngài Chơn Tín - Đạo Thành - Pháp Hỷ, kế thừ chùa Từ Quang (tức chùa Đá Trắng, Phú Yên), trụ trì chùa Linh Sơn (Tuy An, Phú Yên). Ngài rất uyên thâm giáo lý Phật Đà và tinh thông Nho Giáo, là vị pháp sư nổi tiếng thời bấy giờ. Cầu học với Ngài có: Hòa Thượng Phước Hụê ở chùa Thập Tháp Di Đà và Hòa Thượng Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm (Bình Định).

- Ngài Chơn Chánh - Đạo Tâm - Pháp Tạng, trụ trì chùa Phước Sơn (Đồng Xuân, Phú Yên).

- Ngài Chơn Thật - Đạo Thông - Pháp Ngãi, trụ trì chùa Từ Quang (Tuy An, Phú Yên).

- Ngài Chơn Thành - Đạo Đạt - Pháp Ngữ, trụ trì chùa Từ Quang (Tuy An, Phú Yên).

- Ngài Thanh Đương – Thiên Đường, khai sơn chùa Long Hòa (Vạn Ninh, Khánh Hòa).

- Ngài Chơn Niệm kế thừa chùa Trùng Khánh.

- Ngài Chơn Công-Viên Giác (chùa Linh Sơn, Vạn Ninh).

- Đệ tử đắc pháp với ngài Chơn Hương khá đông, nhưng hiện nay chỉ mới biết được quý ngài sau đây:

- Ngài Như Đạt-Giải Nghĩa-Hoằng Thâm, khai sơn chùa Long Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa) Bổn sư của Bồ Tát Thích Quảng Đức.

- Ngài Như Nghĩa – Không Niệm - Tấn Hạnh, Trú trì Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ. (Núi Đất, “Địa Sơn”, Ninh Hòa, Khánh Hòa).

- Ngài Hoằng Chất, trụ trì chùa Trung Long (Vạn Ninh) và chùa Phước Long (Khánh Hòa).

- Ngài Ấn Tuệ - Hoằng Điển (chùa Hội Phước).

- Ngài Tín Quả - Hoằng Đạo (chùa Hội Phước). Hoằng Phước, Hoằng Ứng trụ trì chùa Long Thạnh, Hoằng Nguyện chùa Linh Sơn (Vạn Ninh).

 

(Tổ sư Chơn Hương – Thiên Quang là vị Sư ông của Bồ-tát Thích Quảng Đức)

 

TỔ NHƯ ĐẠT - GIẢI NGHĨA HOẰNG THÂM 

(1857 -1921)

 

Tổ thượng Như Hạ Đạt Tự Giải Nghĩa hiệu Hoằng Thâm. Họ Nguyễn, được gọi là Nguyễn Văn Giá, sinh ngày 01/05 năm Đinh Tỵ (1857) quê tỉnh Phú Yên. Tương truyền khi xuất gia Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền học…Sau khi xuất gia Tổ đắc pháp với Sư tổ Chơn Hương - Thiên Quang tại tổ đình Linh Sơn đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tổ Hoằng Thâm nối pháp đờí, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

Trong khoảng đời vua Tự Đức tức những năm 1848 – 1883. Tổ cùng theo với cả gia đình nhập tịch vào làng Phú Cang, nội Tổng Phước Tường, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Nay là thôn Phú Cang, xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Nhờ thế, bà Nguyễn thị Nương (thân mẫu của Bồ tát Thích Quảng Đức) do cùng đi theo người anh ruột của mình là Nguyễn văn Giá (tức Tổ Hoằng Thâm) từ Phú Yên vào đến Vạn Ninh, Khánh Hòa để lập nghiệp mới có duyên gặp gỡ và kết hôn cùng với ông Lâm Hữu Ứng (thân phụ của Bồ tát Thích Quảng Đức).

Năm 42 tuổi (1898) tháng 9 niên hiệu Thành Thái thứ 10. Tổ Hoằng Thâm xây xựng chùa Thánh Kinh, thờ đức Quan Thánh Đế quân…là ngôi chùa quy tụ cùa những Phật tử người Việt gốc Hoa.

Cũng trong tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (1898) Tổ Hoằng Thâm có mua một phần ruộng 2 mẫu ta tại thôn Vinh Huề tục danh là xứ Đồng Bé.

(Giấy tờ còn lưu giữ cho đến ngày nay)

Năm 46 tuổi Nhâm Dần (1902) cùng thời kỳ vua Thành Thái thứ 14, thân hào Võ Trung cùng Phật tử bổn đạo trong làng Phú Cang cung thỉnh Tổ Hoằng Thâm về làm trú trì chùa Long Sơn và cúng tiền của để Tổ có phương tiện xây dựng lại ngôi chùa này. Thế là toàn bộ pháp bảo tài sản và ruộng đất của chùa Thánh Kinh, Tổ đem sáp nhập vào cho chùa Long Sơn. Trước chùa thờ Quan Thánh, Thần… nay hoán cải chùa thờ Phật, Tổ… trừ một ít ruộng Tổ trích ra đem cúng cho các chùa.

-  Tổ trích 3 mẫu hiến cúng cho thầy mình là Tổ Chơn Hương –Thiên Quang tại tổ đình Linh Sơn (Hiền Lương,Vạn Ninh).

-   Tổ trích 3 mẫu hiến cúng cho chùa cũ Long Hòa cùng làng (Phú Cang, Vinh Huề, Vạn Ninh). Nơi đây ngày trước Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền hoặc đi đi về về vì nơi đây gần Hòn Chảo – Hóc Chim nơi Tổ luyện đạo, và Tổ đi vân du hành đạo (trị bệnh…) cũng như làm Phật sự tại vùng này.

-   Phần ruộng còn lại của chùa Thánh Kinh, Tổ sáp nhập vào chùa Long Sơn.

-  Tổ có người đệ tử Bùi văn Quang cúng linh cho chùa Long Sơn 6 mẫu ta ruộng tại Gò Lăng.

-  Tổ cùng ông Lý trưởng Nguyễn Hữu Lộc xin khai khẩn 15 mẫu ta thổ cư tại hòn Núi Cấm (làng Truông) nay là núi Chùa, đất già lam, rồi Tổ tiếp tục xây dựng chùa Long Sơn cho đến năm Duy Tân thứ 2 (1908) thì xong. Toàn vùng núi Cấm biến thành khu già Lam thắng cảnh.

Công đức khai sáng và tôn tạo của Tổ Hoằng Thâm thật là:  

Tổ ấn hào quang mãi đượm hồng.

Pháp thân lồng lộng như hư không

Cõi trần nhẹ gót trong phương tiện

Bất biến tùy duyên độ chúng sinh

Đạo pháp trường tồn điều hệ trọng

Ngày sau còn mãi một Thánh Tăng. 

Cuộc đời của Tổ Hoằng Thâm là tấm gương soi sáng, Ngài đã mở ra một trang sử mới bắt đầu cho chùa Long Sơn. Công đức tu hành và công đức hoằng truyền đạo pháp của Tổ Hoằng Thâm đã nói lên qua các triều đại. Vua chúa cảm phục ban phong sắc tứ cho chùa. Còn quần chúng Phật tử những  người có phẩm vật triều đình cho đến các vị lý trưởng thân hào nhân sĩ và nhân dân trong làng đều kính ngưỡng qui phục. 

Một mai thân xác tiêu tan

Danh thơm còn ở thế gian muôn đời 

Cuộc đời hoằng hóa độ sinh của Tổ Hoằng Thâm đã đến lúc công  viên quá mãn. Vào ngày 23/11 năm Tân Dậu (1921), Tổ đã xả báo an tường, thâu thần thị tịch trụ thế 65 tuổi.

Đồ chúng lập bảo thờ Ngài trong khuôn viên chùa Long Sơn.

Tương truyền trước khi xuất gia, Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền học. Dân chúng trong vùng Vạn Ninh còn kể khá nhiều mẫu chuyện ly kỳ lý thú: 

Chuyện kể rằng:

Một buổi sáng hôm đó vì có người ở đảo Đầm Môn mắc bệnh thiên thời rất nguy kịch, các lái ghe và người nhà tìm đến chùa Thánh Kinh, để cầu Tổ trị giùm bệnh. Tổ nhận lời nhưng từ chối không chịu đi cùng ghe với họ. Tổ bảo rằng các ông bà cứ việc đi về trước, tôi sẽ đi sau. Họ giải thích rằng: Nếu thầy không đi cùng với các con chuyến này, thì sẽ không còn chuyến ghe nào khác để đưa thầy đi cả! và dẫu họ năn nỉ thế nào, Tổ cũng không thay đổi lập trường của mình. Họ đành thất thểu ra về mà lòng họ rất phân vân và lấy làm thất vọng. Nhưng họ quá đổi ngạc nhiên là không ngờ họ chèo ghe về tới nhà đã thấy Tổ có mặt ở đó hồi nào rồi! Hỏi ra họ được biết Tổ đã giúp trị cho người bệnh đã xong. Tổ kiếu từ về. Họ mời Tổ ở lại để sáng hôm sau họ sẽ đưa Tổ về, nhưng Tổ lại tiếp tục từ chối. Họ vẫn dư hiểu rằng không có chuyến ghe nào trong chiều hôm đó về đất liền nữa cả. Người ta thấy Tổ đi về hướng bãi đỗ ghe và không bao lâu sau đó, không còn thấy tông tích của Tổ ở đó nữa.

Tổ đã từng luyện cọp ở núi Hóc Chim (vùng Hòn Chảo - Vạn Ninh) và cưỡi cọp từ núi Hóc Chim về chùa Long Sơn và đôi khi đi ngược lại (đoạn đường 7 cây số). Các hào lão ngày nay còn kể lại rằng thỉnh thoảng vào ban đêm ở vùng núi Cấm khu chùa kể cả nhà dân bỗng dưng lửa cháy cả làng. Người dân la inh ỏi nhưng đến sáng hôm sau thì thấy tình trạng cảnh vật vẫn còn nguyên. Có điều lạ hơn sau khi thấy cháy vùng này, như thế, các loài rắn, rít, kể cả cọp dữ cũng không thấy vãng lai ở nơi này nữa… Còn nhiều chuyện lạ có thật nữa nhưng kể sao cho hết!.

Phép tu mật giáo của tổ Hoằng Thâm có truyền lại cho Bồ tát Thích Quảng Đức, những năm hành đạo của Bồ tát Thích Quảng Đức ở xứ Trầm Hương. Bồ tát hành đạo cũng như chữa bệnh… giống như tổ Hoằng Thâm vậy (một số tư liệu về tổ Hoằng Thâm như các sách chữa bệnh, sách thiên văn, địa lý và huyền môn học… của Tổ cũng để lại cho Bồ tát Thích Quảng Đức còn lưu lại ở Tổ đình sắc tứ Thiên Tứ).

Tổ Hoằng Thâm, vừa là cậu ruột, vừa là cha nuôi, là vị Bổn Sư của Bồ tát Thích Quảng Đức: Vì thế cậu bé Lâm Văn Tuất được đổi tên lại là Nguyễn Văn Khiết xuất gia tại chùa Long Sơn lúc 7 tuổi với pháp danh Thị Thủy tự Hạnh Pháp, hiệu Quảng Đức

Đồng sư với Bồ tát còn có các vị mà hiện tại được biết:

- Thiền sư Thị Hớn - Hạnh An – Nhơn Thọ (1881 -1947) kế thế trú trì chùa Long Sơn - Vạn Ninh)

- Thiền sư Thị Cảnh - Hạnh Phước – Viên Minh (1881 -1967) trú trì chùa Pháp Hải, Ninh Hòa.

(Tổ Hoằng Thâm là Bổn sư của Bồ tát Thích Quảng Đức)

 

TỔ THANH CHÁNH - PHƯỚC TƯỜNG (1867 – 1932)

 

Tổ Thanh Chánh tự Quảng Đạt hiệu Phước Tường thuộc phái Lâm Tế đời thứ 41, truyền thừa theo dòng kệ của Tổ Liễu Quán.

Ngài sinh ngày 15/05 năm Đinh Mão (niên hiệu Tự Đức thứ 20 – 1867) tại Phú Yên.

Năm Ất Dậu (1885) ngài cùng với tầng lớp thanh niên nho sĩ tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương. Sau đó đến quy y với Tổ Hải Nhiễu – Thiên Ân tại chùa Khánh Long (Phú Yên). Ở đây một thời gian, ngài được bổn sư gởi đến tham học với các bậc thiền sư thạc đức đương thời ở Phú Yên như Tổ Pháp Hỷ (chùa Từ Quang), Tổ Trí Hải (chùa Thiên Thai Sơn Thạch).

Năm Quý Sửu (1913) Ngài vào chùa Kim Long (Ninh Quang, Ninh Hòa, Khánh Hòa) mở trường kỳ truyền trao giới pháp.

Năm Đinh Tỵ (1917) ngài về chùa Hội Phước trụ trì thay thế Hòa Thượng Chơn Hương .

Trong thời gian Ngài kế thừa có cụ Hồng Lô họ Nguyễn (tục gọi là ông Ấm Mười, được học giới xưng tụng là Nguyễn Đại Nhơn) là một Phật tử đạo tâm nhiệt thành đã cùng Ngài thực hiện nhiều Phật sự như đúc chuông, gia trì chú tạo tượng Phật và ấn tống nhiều kinh sách v.v

Khoảng năm 1920, Tổ Thanh Chánh giao chùa Hội Phước cho đệ tử Nhơn Hiền kế thừa rồi về chùa Thiên Bửu thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa) chăm lo Phật sự và liên tục mở các đại giới đàn truyền trao giới pháp. Ngài đã độ rất nhiều đệ tử. Thời gian ngài đảm trách trụ trì chùa Hội Phước là 3 năm (1917-1920).

Ngày 28/07 năm Nhâm Thân (niên hiệu Bảo Đại thứ 7 – 19/08/1932) ngài viên tịch tại chùa Thiên Bửu thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa) trụ thế 66 năm.

Đồ chúng lập tháp ngài trong khuôn viên chùa Thiên Bửu Thượng (Ninh Hòa).

Đệ tử đắc pháp với ngài rất đông, hiện nay chỉ tìm được một số vị có chữ “Nhơn” sau đây:

 

1- Trừng Hoằng – Nhơn Nguyện, chùa Linh Quang, núi Đại An (Diên Khánh).

2- Trừng Thông – Nhơn Duệ, khai sơn chùa Thiên Quang (Diên Khánh).

3- Trừng Thọ - Nhơn Thị, trụ trì chùa Phước Long (Ninh Hòa).

4- Trừng Tương – Nhơn Sanh, thừa kế Tổ đình Thiên Bửu Thượng và chùa Phụng Sơn (Ninh Hòa)

5- Thị Thọ - Nhơn Hiền, thừa kế Tổ đình Sắc tứ Hội Phước (Nha Trang).

6- Như Chất – Nhơn Trực, khai sơn chùa Từ Vân (Nha Trang), trụ trì chùa Long Quang, chùa Linh Phong (Nha Trang).

7- Quảng Đức - Nhơn Trí, đến Thiên Tứ rồi cất thảo am ẩn tu 3 năm kể từ 1927 cho đến 1935 khai sơn chùa Thiên Lộc (Núi Đất- Điạ Sơn). Chùa Pháp Hải (Ninh Thọ 1940). Chùa Chi Hội (Trụ sở Hội An Nam Phật học 1942….) và Trú trì trùng tu chùa Sắc tứ Thiên Ân (Ninh Đông 1933). Tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ (Ninh Hà – 1936). Chùa Long Phước (Ninh Quang – 1959) Ninh Hòa. Và tổ đình Sắc Tứ Linh Sơn (Hiền Luơng-Vạn Ninh) v.v…

(Xem phần về 14 ngôi chùa của Bồ Tát Thích Quảng Đức)

8- Tâm Trung – Nhơn Thứ, Khai sơn chùa Linh Quang (Đà Lạt)

9- Tâm Điệu – Nhơn Hưng, khai sơn các chùa Thanh Hải Thanh Sơn, Hòa Vân, Khánh Phước, trụ trí chùa Khánh Long (Cam Ranh), kế thừa chùa Linh Quang (Diên Khánh), chùa Thiền Sơn (Ninh Hòa).

10- Nguyên Châu – Nhơn Bảo (Tục Châu – Vĩnh Thọ) trụ trì chùa Vĩnh Long (Phú Yên), kế thừa chùa Linh Sơn Trường Thọ (núi Tà Cú), khai sơn chùa Pháp Bửu Đường (Bình Thuận).

11- Trừng Dung – Nhơn Lý, trụ trì chùa Hoa Quang (Nha Trang, Khánh Hòa).

12- Chơn Du – Nhơn Thiện, trụ trì chùa Đông Phước (Nha Trang, Khánh Hòa).

13- Trừng Văn – Nhơn Chi, khai sơn chùa Khánh Long (Cam Ranh, Khánh Hòa)

14- Trừng Khánh – Nhơn Thụy, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang, Khánh Hòa)

15- Trừng Nghệ - Nhơn Sơn, khai sơn chùa Thiền Sơn (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

16- Trừng Thanh – Nhơn Khiết, kế thừa chùa Phước long (Cam Ranh, Khánh Hòa)

17- Trừng Hành – Nhơn Lực, kế thừa chùa Thiên Bửu Thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

18- Nhơn Duyên, trụ trì chùa Phước Thọ (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

19- Nhơn Hòa, trụ trì chùa Long Phước (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

20- Thị Hán – Nhơn Thọ, thừa kế chùa Long Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa)

21- Nhơn Hoằng, trú trì chùa Thạch Sơn Cổ Tự 1935 (Núi Hòn Hèo, Tiên Du, Ninh Hòa, Khánh Hòa)

(Tổ Thanh Chánh - Phước Tường là vị bổn sư cầu pháp của Bồ-tát Thích Quảng Đức)

 

 

 

TIỂU SỬ BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC 

(1897 -1963)

 

Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh Lâm văn Tuất, sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngài sinh trong một gia đình có 7 anh chị em, thân sinh là cụ ông Lâm Hữu Ứng và cụ bà Nguyễn Thị Nương.

Lên 7 tuổi, Ngài được song thân cho đi xuất gia thụ giáo với Hòa Thượng Như Đạt Giải Nghĩa Hoằng Thâm, trụ trì chùa Long Sơn, thuộc dòng Thiền Chúc Thánh, là cậu ruột, được Hòa thượng nhận làm con và chính thức đổi tên họ là Nguyễn Văn Khiết.

Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát được pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hạnh Pháp, pháp hiệu Quảng Đức. Khi thọ giới xong, Ngài phụ trách nhiệm vụ trì sự chùa Long Sơn, để giúp cho Bổn sư của mình lúc ấy đã già. Khi bổn sư viên tịch vào năm 1921 và thọ tang xong, Ngài phát nguyện nhập thất tu ba năm trên ngọn Núi Đất ở Ninh Hòa. Về sau, vào năm 1935 Ngài có lập trên núi này một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc.

Rời Núi Đất, Ngài vân du hóa đạo một mình với chiếc bình bát theo hạnh đầu đà. Hai năm mãn nguyện, Ngài lại quay về nhập thất tại chùa sắc tứ Thiên Ân ở Ninh Hòa.

Năm 1936, Hội An Nam Phật Học ra đời, Đại lão hòa thượng Hải Đức đến nơi Ngài đang nhập thất thăm hỏi, mời Ngài nhận chức Chứng minh Đạo sư cho Chi hội Phật học Ninh Hòa. Ba năm sau, ngài được thỉnh cứ giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, Ngài đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.

Năm 1945, rời Khánh Hòa vào Nam, Ngài hành đạo khắp các tỉnh Sài Gòn, Gia Định, Định Tường, Tây Ninh, Bà Rịa xuống đến Hà Tiên. Ngài cũng đã từng sang Nam Vang lưu trú ba năm, vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu kinh điển Pãli và Phật giáo Nam Tông.

Lúc mới vào Nam, Ngài đã lưu trú tại chùa Long Vĩnh (Quận 3-Sài Gòn) một thời gian dài, nên dân chúng quen gọi Ngài là hòa thượng Long Vĩnh, Ngài còn có hiệu là Thích Giác Tánh. Suốt thời gian hóa độ chúng sinh, bất cứ nơi nào Ngài cũng dốc lòng làm tròn nhiệm vụ của một sứ giả Như Lai, kế tục lại các thế hệ Tổ sư truyền giáo, chăm lo tô bồi công đức, hoằng dương chánh pháp.

Năm 1953, ngài được thỉnh cử vào chức vụ Phó Trị Sự và Trưởng ban Nghi lễ Giáo hội Tăng già Nam Việt, đồng thời lãnh nhiệm vụ trú trì chùa Phước Hòa ở Bàn Cờ, là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt.

Năm 1958, khi trụ sở của Hội dời về chùa Xá Lợi, Ngài nhận thấy tuổi già sức yếu, và với bản nguyện: “Ưng vô sở trụ nhi sinh ky tâm”, Ngài xin thôi mọi chức vụ để có đủ thì giờ an tâm tu niệm. Tuy nhiên vốn có tâm từ bi, Ngài vẫn để cho gót chân vân du hành đạo ghi dấu nhiều nơi, khi thì chùa Quan thế Âm ở Gia Định, lúc lại tới chùa Long Phước, xã Ninh Quang, tỉnh Khánh Hòa, dùng mọi phương tiện thích ứng hướng dẫn hậu sinh mê mờ quay về chánh đạo.

Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam vào năm 1963 đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, tuy tuổi đã già, Ngài vẫn tích cực tham gia. Chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm ngày một nặng nề và khốc liệt. Máu Phật tử đã đổ ở Đài Phát thanh Huế. Chùa chiền bị phong tỏa, Phật tử bị bắt bớ khắp nơi. Để thức tỉnh ông Ngô Đình Diêm và tập đoàn của ông đang đắm chìm trong vô minh sớm thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo đồ, đồng thời để cho thế giới nhận thấy cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng của Phật tử Việt Nam là chính đáng. Ngài đã quyết định thực hiện tâm nguyện của mình là được thiêu đốt nhục thân để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo Pháp, bởi vì Ngài nhận ra rằng thân ngũ uẩn này chỉ là giả tạm, chỉ có làm sao cho Chánh pháp được trường tồn mới là hạnh nguyện cao cả để Ngài phục vụ chân lý bất diệt.

Ngày 24 tháng 4 năm Qúy Mão, tức ngày 11/06/1963, cuộc diễu hành rước di ảnh các Thánh tử đạo của trên 800 vị Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễn hành tiến đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt. Ngài từ xe hơi bước xuống, tự tẩm xăng thấm ướt mấy lớp cà sa, ngồi kiết già trên mặt đường, tự châm lửa giữa hàng mấy trăm Tăng Ni đang vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa bốc cao, phủ kín thân mình, Ngài vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa.

Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn Tam muội.

Nhục thân của Ngài được rước về quàn tại chùa Xá Lợi hơn một tuần lễ. Đến ngày 20/06/1963, Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, cùng tất cả chư Tăng Ni và Phật tử tổ chức lễ đưa rước về An dưỡng địa, cử hành trọng thể lễ Trà tỳ.

Sau khi hỏa thiêu suốt ngày, trong lò thiêu đến 4000°C, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy.

Cái chết phi phàm của Bồ tát Thích Quảng Đức đã làm chấn động dư luận khắp hoàn cầu. Báo chí thế giới đăng tin trên trang đầu cùng hình ảnh tự thiêu của Ngài. Việc Ngài tự thiêu được đồng bào cả nước biết ngay chiều hôm đó, và đã gây xúc động sâu xa trong mọi tầng lớp, không phân biệt tôn giáo. Sự hy sinh vì đạo của Ngài đã làm cho Ngô Đình Diệm vô cùng hoảng hốt và lo sợ, tìm mọi cách đối phó với Phật giáo bằng những thủ đoạn thâm độc hơn, đồng thời nó cũng đẩy mạnh phong trào đấu tranh của Phật giáo cuồn cuộn như sóng thần để đi đến kết thúc là ngày 01/11/1963, chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô sụp đổ, Phật giáo Việt Nam thoát qua một thoát nạn.

Trước khi tự thiêu Ngài có để lại một bức thư gọi là Lời nguyện tâm quyết, nói rõ chủ định và nguyện vọng của Ngài. Điều đáng ghi nhớ là toàn văn bức thư này đã không chứa đựng một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào, mà trái lại còn toát lên tình thương và hy vọng:

Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quan Thế Âm, Phú Nhuận, Gia Định.

Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.

Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại đức, Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:

1/ Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.

2/ Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.

3/ Mong nhờ hồng ân Đức Phật gia hộ cho chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác gian.

4/ Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc…

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.

Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.

NAM MÔ ĐẤU CHIẾN THẮNG PHẬT.

Tỳ khưu Thích Quảng Đức kính bạch”

Ngoài ra, Ngài còn để lại 5 bài kệ, đặn dò bổn đạo và đệ tử sống theo Bát chánh đạo và Lục hòa, đoàn kết và giữ vững niềm tin trong đạo pháp.

Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, Ngài đã khai sơn và đại trùng tu được 17 ngôi chùa.cảnh chùa cuối cùng Ngài trú trì là chùa Quan Thế Âm, tại Gia Định, Sài Gòn. Như vậy, Ngài đã có công xây dựng và trùng tu cả thảy 31 ngôi chùa ở miền Trung và miền Nam Việt Nam.

Để ghi nhớ công hạnh của Ngài, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Hội đồng lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Đạo trong một phiên họp trước ngày Phật Đản năm 1964, đã đồng thanh quyết nghị suy tôn Ngài pháp vị Bồ tát. Sau 1975, đường Nguyễn Huệ cũ chạy qua trước chùa Quan Thế Âm được đổi thành đường mang tên Thích Quảng Đức.

Quả tim Bồ tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình tự do và bình đẳng nhưng cũng bất khuất trước nạn cầm quyền và áp bức. Trái tim ấy trở thành biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang đấu tranh mãi cho tự do hòa bình, hạnh phúc nhân sinh. 

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM soạn thảo

 

THƠ DI BÚT CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG ĐỨC

 

Kệ thiêu thân cúng dường vì Chánh Pháp

 

Kính dâng Thập phương chư Phật:

Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh

Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác

Tro trắng phẳng san hố bất bình

Thân cháy nát tan ra tro trắng

Thần thức nương về giúp sinh linh

Hỡi ai mộng ảo đang còn mộng

Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Dâng chư Hiền Thánh Tăng:

Phật giáo sử vàng máu thay son

Than ôi! Qủy kế họ vẫn còn

Quyết diệt suy tàn nền Chánh Pháp

Làm cho Tăng, Tín phải chết mòn

Vì sự bất công tôi thiêu xác

Khói hồn nguyện độ kẻ hàm oan

Kính chúc Tăng, Ni tâm dũng tiến

Chánh Pháp ngày mai phải trường tồn.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Cùng toàn thể tín đồ Phật giáo:

Cùng hang Phật tử tại gia

Hãy quên bản ngã bỏ cái ta

Gấp sửa thân tâm vì đại cuộc

Ngàn năm sử Việt vẫn Phật gia

Thân tôi dù cháy linh thiêng máu

Thần thức tôi luôn giúp đạo nhà

Đã mang danh thể con dòng Thích

Bi, Trí, Hùng sao chẳng đem ra.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Cùng hàng Phật tử quy y, thế độ và xuất gia:

Thầy đã đến lúc biệt các con

Ba mươi năm hạnh nguyện đã tròn

Những gì đáng độ Thầy đã độ

Thầy tranh chánh pháp lúc mất còn

Gia Định Sài Gòn hỡi các con

Hà Tiên, Cai Lậy Thầy vẫn còn

Nam Vang, Núi Lớn Thầy ghi dấu

Khánh Hòa đệ tử giữ ấn son.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

 

Xuất Kệ Vân:

Nền Phật dò lần kiếp tẩy sang

Phủi tay rửa sạch nợ trần gian

Tránh đàng danh lợi tìm nơi tịnh

Niệm chữ từ bi lánh cửa quan

Chuỗi hột tay lần khuya với sớm

Kệ kinh tụng niệm vái rồi van

Một lòng thành kính lòng mình nguyện

Tịnh độ từ đây rất ở an.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Hiện nay bài vị Bồ Tát đang thờ tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ.

 

THIỀN SƯ THÍCH HƯNG TỪ
THỊ LẠC – HÀNH THIỆN 

(1911-1991)

 

Thiền sư Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn An, sanh ngày 01 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sanh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ Ngài là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh Thị Bửu. Từ nhỏ ngài đã được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của nhà Phật, nên ngài sớm mộ cửa thiền.

Duyên lành đã đến, ngày mùng 08 tháng 02 năm Mậu Ngọ (1918), khi vừa bảy tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia đầu sư với hòa thượng Thích Hòa Phước, trụ trì chùa Thiên Long. Được bổn sư ban cho Pháp danh Thị Lạc tự Hành Thiện, thuộc đời 42 tông Lâm Tế, dòng Chúc Thánh.

Nhờ túc duyên, ngài rất thông minh đỉnh đạt. Ngay từ nhỏ, từ hai thời công phu, bốn quyển luật Tỳ Ni cho đến các bộ kinh Địa Tạng, Thủy Sám ngài đều thuộc lòng. Ngoài sự dạy dỗ của bổn sư, ngài còn được tham học giáo điển với các vị Cao Tăng như Hòa thượng Từ Pháp chùa Thiên Tôn.

Năm 20 tuổi (1931) ngài thọ Tam đàn cụ túc tại Đại giới đàn chùa Linh Sơn do Đại lão Hòa Thượng Thích Hoằng Hóa làm Đàn đầu thí giới và được Phú pháp hiệu Hưng Từ. Sau khi thụ giới cụ túc xong, ngài tiếp tục học khóa Du Già Mật Tông với Hòa thượng Linh Quang và được Hòa thượng truyền trao pháp ấn.

Năm 23 tuổi (1934) ngài được Chư tôn túc trong hội Địa Tạng Phổ lúc bấy giờ giới thiệu và gửi học Tam Tạng giáo điển tại Phật học đường Tây Thiên ở Huế trong ba năm kể từ năm 1934 -1936. Nhờ tâm cầu học vững bền, chẳng những ngài uyên thâm kinh điển mà còn thấu triệt lý tánh diệu dụng của khoa Du Già Chẩn Tế.

Sau khi tham học với các bậc Cao Tăng ở Huế và Phú Yên xong, nhằm lúc phong trào chấn hưng Phật Giáo đang dấy lên mạnh mẽ trên khắp ba miền đất nước, ngài nhận thấy đây là một cơ duyên thuận lợi để phục hưng chánh Pháp.

Trong những năm 1936 -1940 phong trào chấn hưng Phật giáo lan rộng, nơi nơi đều có giáo lý Từ bi ban rải, ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức mời về tham gia trong công cuộc hoạt động truyền bá Phật Pháp tại nhiều nơi. Riêng ở Khánh Hòa, đặc biệt là ở Ninh Hòa có tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (Núi Đất, Địa Sơn, Mỹ Trạch). Sau đó ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức giao trọng trách kế vị trú trì tổ đình Thiên Tứ. Còn ở Tuy An (Tuy Hòa) thì có chùa Liên Trì, chùa Cổ Lâm. Riêng hoạt động tại Núi Đất, Mỹ Trạch, Ninh Hòa trong khoảng thời gian kể trên gặp được rất nhiều thuận lợi. Tại đây đã mở nhiều khóa Trường hạ và Phật học, do ngài làm giáo thọ là Pháp sư chủ giảng, có nhiều bậc Hòa Thượng nổi tiếng sau này như Hòa Thượng Vĩnh Thọ, Nhơn Duệ, Nhơn Thị, Thủ Thiên… là những học viên xuất sắc thời đó. Số Tăng tín tham gia tu học tại đây có khoảng gần 100 vị từ các tỉnh ở miền Nam và miền Trung cũng như ở tại Ninh Hòa và Khánh Hòa.

Kể từ năm 1940 trở đi, vì tình hình chính trị bất ổn, hoạt động Phật sự tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ bị gián đoạn, các Tăng học đường tạm thời đóng cửa, nhưng ngài luôn tìm mọi cách tổ chức các lớp tu học, giảng kinh luật dưới hình thức an cư-kiết hạ. Mở Đại giới đàn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Tuy để đào tạo các bậc Tăng tài hữu ích cho Đạo sau này như các Hòa thượng Ấn Tâm, Viên Quang, Đồng Huy và giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Đặc biệt là ở vùng đất Khánh Hòa. Vào năm 1942 ngài mở Đại giới đàn tại chùa Kim Long (Phú Hòa, Ninh Quang) do Hoà thượng Phước Huệ chùa Hải Đức, Nha Trang làm Đàn đầu. Từ đó đạo tràng lớn mạnh không ngừng.

Ngoài ra ngài còn tranh thủ thời gian để mở lớp giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng tại tỉnh Bình Thuận. Song song với việc giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, ngài còn đem hết sức mình khai sơn và trùng tu rất nhiều ngôi chùa để có nơi tu học cho Tăng Ni và sớm hôm lễ bái của Phật Tử xa gần như: Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (1937) Núi Đất (Địa Sơn) Ninh Hòa, chùa Thiên Long ở Phú Yên (1938), chùa Kim Long (1942) Phú Hòa – Ninh Quang, Tổ đình Minh Sơn (1957), Linh Đài đều ở Tuy An (1959). Đồng thời khai sơn Linh Sơn Tự, Lạc Tánh ở Tánh Linh (1961) và chùa Pháp Hội ở Hàm Tân, Bình Thuận (1967).

Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo, ngài không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào khi được chư Tăng và Giáo hội giao phó cũng như Phật tử cần đến. Đối với dân tộc, ngài luôn đem hết sức mình góp phần vào công cuộc bảo vệ quê hương.

- Năm 1945 trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ngài được Tăng tín đề cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Phú Yên.

- Năm 1955, ngài đảm nhận chức vụ tri sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Khánh Hòa liên tiếp trong hai nhiệm kỳ.

- Năm 1963-1964 ngài lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ Phật giáo và dân tộc tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân).

- Năm 1964-1978, ngài được Hội đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy tôn vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.

- Từ năm 1982 cho đến ngày viên tịch, ngài được suy tôn Cố vấn Chứng minh kiêm ủy viên Tăng sự Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thuận Hải (cũ) cũng chính là tên gọi tỉnh Bình Thuận trước kia và sau này.

Ngài đã có công dịch bộ kinh Thập Lục Quán và trước tác quyền Lịch sử Tổ Hữu Đức (Tổ linh Sơn Trường thọ, núi Tà Cú) và Chư hậu Tổ. Đặc biệt ngài đã sáng tác ra nhiều Liễn Đối hiện nay nhiều Tự viện còn lưu lại bút tích một thời vang bóng giới đức và trí đức trang nghiêm của ngài.

Riêng Tổ đình Hội Phước từ lâu thiền sư thường thăm viếng và sách tấn chư Tăng. Ngài là Y chỉ sư của TT Thích Quảng Thiện. Năm 1986, ngài đã quang lâm Tổ đình chứng minh, đặt đá đại trùng tu Tổ đường và năm 1989, quang lâm chứng minh, đặt đá xây dựng Liên Hoa Bảo Tháp.

Dù tuổi già sức yếu, nhưng ngài vẫn tinh tấn tu hành không một phut giây trễ nải và phục vụ chúng sanh đến giây phút cuối cùng.Ngày mồng 02 tháng 8 năm Tân Mùi (1991), Thiền sư Hưng Từ đã an nhiên thị tịch, trụ thế 81 tuổi với 61 hạ lạp, môn đồ xây thờ Bảo tháp của ngài được toạ lạc trong khuôn viên chùa Pháp Hội, thuộc huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Thiền sư Thích Hưng Từ là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Việt Nam đã trọn đời lo cho Phật Pháp và đặc biệt là ngài chú trọng đến việc tiếp Tăng độ Chúng. Cuộc đời tu hành và hóa đạo của Thiền sư là tấm gương hy sinh tận tụy, không từ nan bất cứ công việc gì dù nhỏ, đem hết sức mình để giáo huấn Tăng tín đồ Phật tử. Với đức tính khiêm cung hiếu hạnh và mô phạm cao cả của ngài là thân giáo quan trọng đã tác thành nên những đệ tử hữu danh.

Đệ tử đắc Pháp với thiền sư có pháp danh chữ Đồng, có pháp tự chữ Thông, có pháp hiệu chữ Ấn rất đông, hiện nay đang giữ nhiều chức vị quan trọng trong Giáo hội như:

1. HT Đồng Huy – Trí Thắng là thành viên Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự TWGHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, khai sơn chùa Vạn Hạnh và Vạn Thiện tại Phú Mỹ - Tân Thành, Bà Rịa, Vũng Tàu.

2. HT Quảng Nhơn - Ấn Tâm – Nguyên Chánh đại diên PGVNTN tỉnh Bình Thuận, Viện chủ chùa Long Đoàn, núi tà Cú, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.

3. HT Trừng Huệ - Như Ý - Ấn Bửu Phó ban Trị sự tỉnh GHPG Khánh Hòa. Khai sơn chùa Linh Sơn Pháp Bảo, Nha Trang, Khánh Hòa.

4. HT Tâm Thủy - Thiện Lưu - Ấn Thanh Trưởng ban Trị sự Phật giáo Phú Yên, kế thừa chùa Minh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên.

5. HT Quảng Đại - Tuệ Hải -Ấn Tạng Viện chủ Kim Liên Bửu Tự, Diên Khánh, Khánh Hòa.

6. HT Tâm Linh - Thiện Chí - Ấn Đức Viện chủ chùa Phước Thái, quận 9,  Sài Gòn.

7. HT Đồng Giải - Thông Ứng - Ấn Ký kế thừa Trú trì chùa Linh Đài, xã Hòa Đa, huyện Tuy An, Phú Yên.

8. TT Nguyên Thích - Minh Mỹ - Ấn Đạo kế thừa Trú trì Tổ đình Thiên Quang, Diên Khánh, Khánh Hòa.

9. TT Chúc Thọ - Quảng Thiện - Ấn Pháp trưởng ban Từ thiện xã hội Phật giáo Khánh Hòa, Phó ban Tăng sự kiêm Viện chủ Tổ đình Sắc Tứ Hội Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.

10. TT Nguyên Thích - Thiện Trì - Ấn Hội Trú trì chùa Phước Quang quận 3, Sài Gòn.

11. TT Tâm Huệ - Hưng Công - Ấn Đạo Trú trì chùa Sắc Tứ Kim Sơn, Ngọc Hội, Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa.

12. TT Trừng Lộc - Chơn Kiến - Ấn Minh Trú trì chùa Thiên Phú, Vĩnh Thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa.

13. TT Nguyên Hải –-Như Minh - Ấn Chánh Trú trì chùa Sắc Tứ Liên Hoa, Nha Trang, Khánh Hòa.

14. TT Thanh Trí - Thiện Qủa - Ấn Pháp Trú trì chùa Hoa Quang, Nha Trang, Khánh Hòa.

15. TT Nguyên Thắng - Từ Thành - Ấn Tín Trú trì chùa Thiền Lâm, Nha Trang, Khánh Hòa.

16. TT Thiện Tâm - Ấn Nhơn Trú trì chùa Huyền long, La Gi, Bình Thuận.

17. TT Đồng Quan - Thông Thoại - Ấn Chánh kế thừa trú trì Tổ đình Pháp Hội, Bình Tuy.

18. TT Đồng Nguyên - Thông Thắng - Ấn Đức Trú trì chùa Thập Thành, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

19. TT Thiện Hoa - Ấn Quả Trú trì chùa Quan Âm, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.

20. TT Đồng Nghĩa - Phổ Quảng Trú trì chùa Nghĩa Trang Phật Giáo, Diên Khánh, Khánh Hòa.

21. TT Đồng Thành – Nguyên Thanh - Bảo Thiền Trú trì chùa Nguyên Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.

22. TT Tâm Quả - Ấn Hạnh Trú trì chùa Phú quang, Tuy Hòa, Phú Yên.

23. TT Thiện Hanh - Ấn Tuệ Trú trì Tổ đình Khánh Long, Vạn Ninh, Khánh Hòa.

24. TT Đồng Trung Trú trì chùa Dược Sư - Mỹ Quốc.

25. TT Đồng Giác Trú trì chùa Vĩnh Xương, An Phú, Tuy An, Phú Yên.