Lê Cung
Hòa thượng (HT) Thích Quảng Đức tên đời là
Lâm Văn Túc sinh năm 1897 tại làng Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh,
tỉnh Khánh Hòa. Lên bảy tuổi Lâm Văn Túc được cậu ruột
đem về nuôi và đổi tên là Ngyễn Văn Khiết, Lâm Văn Túc
xuất gia với thiền sư Hoằng Thâm, thọ đạt giới năm hai mươi
tuổi và bắt đầu tu khổ hạnh ở núi Ninh Hòa. Trong năm năm,
Ngài tu Thiền và đi du hóa, theo hạnh đầu đà, chỉ giữ bên
mình một y, một bát. Sau đó, Ngài về định cư tu tập tại
chùa Thiên Ân ở Ninh Hòa gần thành phố Nha Trang. Năm 1932, Ngài
được chi hội Ninh Hòa của Hội An Nam Phật Học mời làm
chứng ming đạo sư. Ít lâu sau đó, Ngài lại lên đường hành
hóa ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ, góp phần mình vào việc
kiến tạo và trùng tu 14 ngôi chùa ở đây. Năm 1943, Ngài vào
hành hoá các tỉnh miền Nam: Sài Gòn, Gia Định, Bà Rịa, Long
Khánh, Định Tường, và Hà Tiên. Tiếp theo, Ngài lên Kim Biên
(Campuchia) vừa hành đạo vừa học hỏi thêm các kinh điển Pàli.
Trong thời gian hành đạo ở miền Nam và ở Campuchia Ngài đã
góp công tạo lập hoặc trùng tu cả thảy là 17 ngôi chùa.
Năm 1953, Giáo hội Tăng già Nam Việt thỉnh Ngài
làm Trưởng ban Nghi lễ, và hội Phật học Nam Việt mời Ngài
làm trụ trì chùa Phước Hòa. Ngôi chùa Ngài thường trú lâu
nhất là chùa Long Vĩnh, Phú Nhuận,TP. Hồ Chí Minh, nên tín đồ
thường gọi Ngài là HT Long Vĩnh. Ngôi chùa cuối cùng mà Ngài
trú trì là chùa Quan Thế Âm (Gia Định). Ngay khi phong trào PG
miền Nam năm 1963 phát khởi, Ngài đã có ý nguyện hiến mình
để bảo vệ Đạo pháp trước chính sách kỳ thị Phật giáo
của chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo HT Thích Tịnh Khiết
"bảy ngày sau khi" Phong trào vận động cho 5 nguyện
vọng của Phật giáo " phát khởi, HT Thích Quảng Đức là
một trong ba vị Tăng và Ni đã tình nguyện hiến thân".
Đến ngày 27-5-1963, HT Thích Quảng Đức gởi cho giới lãnh đạo
Phật giáo một bức tâm thư xin tự thiêu để bảo vệ Phật
giáo. Tuy nhiên giới lãnh đạo Phật giáo hy vọng rằng
những cuộc tuyệt thực của Tăng Ni trên toàn miền Nam sẽ
tạo được một áp lực mạnh, buộc chính quyền Ngô Đình
Diệm phải giải quyết những nguyện vọng đã được đưa
ra trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Do đó, ý nguyện tự thiêu
của HT Thích Quảng Đức không được giới lãnh đạo PG
chấp nhận.
Tới ngày 9-6-1963, sau những lần thảo luận
giữa Ủy ban Liên phái Bảo vệ PG và Ủy ban Liên bộ của chính
quyền Ngô Đình Diệm, nhưng vẫn không đem lại một kết
quả nào, trái lại , chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn tăng
gia các hoạt động đàn áp, khủng bố Tăng Ni Phật tử,
Trong tình hình đó, "nếu kéo quá dài các cuộc rước
linh và tuyệt thực một cách nhàm chán thì phong trào đấu
tranh tự nó cũng sẽ bị xẹp vì thiếu những hình thức
mới mẻ, gây xúc động mạnh nuôi dưỡng", giới lãnh đạo
PG bị bắt buộc phải chấp nhận ý nguyện xin tự thiêu
của HT Thích Quảng Đức.
Ngày 11-6-1963, tại ngã tư đường Lê Văn
Duyệt - Phan Đình Phùng ( Sài Gòn), HT Thích Quảng Đức đã
anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn
Tăng Ni Phật tử cùng những quan sát viên quốc tế. Lực lượng
Diệm được điều động đến để hòng phá tan cuộc tự
thiêu, nhưng bị thất bại vì Tăng Ni Phật tử đã kiên
quyết bảo vệ bằng cách vây quanh nhiều vòng. Có người
nằm lăn trước xe cứu hỏa, xe cảnh sát không cho can thiệp.
Chiều ngày 11-6-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh phong
tỏa các chùa , nhất là chùa Xá Lợi, nơi đang đặt thi hài
của HT Thích Quảng Đức, khắp các nẻo đường dẫn về chùa
Xá Lợi, cảnh sát được huy động để ngăn chặn làn sóng
người đang đổ xô về đây. Buổi tối cùng ngày, qua đài
truyền thanh, Ngô Đình Diệm đọc thông điệp lên án vụ
tự thiêu của HT Thích Quảng Đức là do "một số người
bị đầu độc gây án mạng" và "kêu gọi đồng bào
hãy bình tĩnh nhận định tình thế". Lời lẽ trong thông
điệp một lần nữa bộc lộ bản chất độc tài của Diệm,
khi y tuyên bố: "Sau lưng PG trong nước còn có Hiến pháp
nghĩa là còn có tôi". Mặc dầu vậy, những con đường
dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát đã bị làn sóng người tràn
ngập.
Cuộc hy sinh phi thường và dũng cảm của HT
Thích Quảng Đức, hình ảnh Ngài ngồi yên như tượng đá
trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như một làn sóng điện
cực mạnh làm sôi nổi dư luận trong cả nước và trên thế
giới. Ảnh của HT Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa
được đăng trên hầu hết các báo khắp năm châu, với
những dòng chữ nói lên sự khâm phục.
Thật vậy, ở trong nước, "Đây là một
gương Đại hùng, Đại lực. Tinh tiến bất chuyển mà chúng
ta thường nghe nói, nhưng đến nay mới có một số ít được
chứng kiến. Phối hợp với những hy sinh khác của Phật tử
khắp nơi trong nước, cái chết vô úy của HT Thích Quảng Đức
là một hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi người, một tiếng
gọi đàn cho hàng tứ chúng". Cái chết của HT Thích
Quảng Đức, như ý nguyện của Ngài là "làm đèn soi sáng
nẻo vô minh", nhằm "cảnh tỉnh ai còn ngốc" đã
tiếp thêm một sức mạnh lạ thường cho hàng triệu người
trên toàn miền Nam, bất chấp mọi bạo lực, hiên ngang
xuống đường đấu tranh chống lại chế độ bạo tàn Ngô
Đình Diệm. Về phía tín đồ Thiên Chúa giáo, ngay từ đầu
của cuộc đấu tranh, Linh mục Lê Quang Oánh cùng với 9 linh
mục và tín đồ khác đã gởi cho giới lãnh đạo Phật giáo
"Huyết lệ thư", lên án chế độ Diệm và bày tỏ
sự ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo. Sau cái chết
của HT Thích Quảng Đức, ngày 16-6-1963, Tổng giám mục
Nguyễn Văn Bình, cai quản giáo khu Sài Gòn đã chính thức lên
tiếng trong một bức thư luân lưu. Bức thư xác định rõ:
"Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam hoàn toàn đứng ngoài
cuộc tranh chấp mặc dù vai trò chủ động gây ra cuộc tranh
chấp là tín đồ Thiên Chúa giáo". Trong bức thư thứ hai
gởi cho các hàng giáo sĩ và tín đồ Thiên Chúa giáo trước
khi lên đường đi La Mã tham dự cộng đồng Vatican II, Tổng
giám Mục Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: "Giáo hội không
những không gây nên biến cố mà còn đau đớn vì những tai
họa đã và còn là ác quá của biến cố".
Đối với thế giới, sự hy sinh của HT Thích
Quảng Đức là "hành động tiêu biểu vĩ đại. Nó không
chỉ chống lại Diệm, để chỉ sự hiện hữu của Phật giáo
và được để ý tới, mà nó còn có ý nghĩa chống lại sự
bất công, bất chính của toàn thế giới...Với một hành động
lặng thinh, không nói một lời, một vị HT Việt Nam, đã nêu
ra một tấm gương sáng rùng rợn, một kháng nghị cao đẹp,
lộng lẫy, chống lại mọi sự xấu xa đê hèn của loài
quỷ sứ đang còn tồn tại trong thế giới này". "Đây
là một trạng thái mới lạ và huyền ảo của bất bạo động.
Nó chứng tỏ rõ rệt cái uy quyền tối thượng của tinh
thần. Không một bạo lực nào có thể làm suy giảm tâm hồn,
sức chịu đựng của một cá thể đối với mọi ức chế
đàn áp chính trị độc tài thật vô biên".
Tờ New York Herald Tribune (21-7-1963) viết:
"HT Thích Quảng Đức, một tu sĩ đã biến áo cà sa vàng
của mình thành một giàn hỏa thiêu...Tổng thống Ngô Đình
Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một việc rất hay là
ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ ông".
"Tai Hoa Thịnh Đốn ngày 12-6-1963, nhân dân Mỹ đã đón
nghe một cách xúc động tin cuộc biểu tình tranh đấu của
giới Phật tử miền Nam". Vụ tự thiêu đã gây nên một
chấn động mạnh, đặc biệt làm cho dư luận Mỹ quay sang
chống Ngô Đình Diệm và gia đình y.Trên thực tế cái chết
của HT Thích Quảng Đức đã làm rung chuyển chế độ Diệm.
Nó "có một tầm quan trọng rất lớn và đã chuyển
mạnh cuộc vận động của Phật giáo sang một thế giới
mới, trên cả hai bình diện quốc nội và quốc tế...Nó thúc
đẩy cuộc vận động cho Phật giáo ở Việt Nam cũng như ở
quốc tế tiến mạnh tiến nhanh"...
...Robert Topmiller (Mỹ) viết: "Ngày nay,
"ngọn đuốc sống" của ngài vẫn được nhiều người
Mỹ quan tâm và nghiên cứu. Đó là một đề tài bất tận đối
với giới khoa học phương Tây". Mục sư Donalds Harrington
(Mỹ) đã xem cái chết của HT Thích Quảng Đức giống như cái
chết của Chúa Giêsu, Michel Servetus, Jeanne d'Arc. Ông cho rằng
hành động mỗ bụng của người Nhật cũng không thể nào so
sánh nổi với sự tự thiêu của HT Thích Quảng Đức, tuy
rằng gan dạ như nhau, bởi vì "sự tự thiêu của Ngài đã
cứu vớt bao nhiêu sinh linh đang chìm đắm trong khổ hận,
kẻ đàn áp cũng như kẻ bị đàn áp đều bừng tỉnh. Ngài
đã tô đậm nét vàng son vào trang sử huy hoàng của Phật giáo
và dân tộc".
PTS LÊ CUNG