Với mục đích nêu
gương Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi của Phật giáo Việt Nam mà
Hòa thượng Thích Quảng Đức đã quên mình vì đạo, vì dân, đồng
thời ghi lại tất cả sự thật về vụ tự thiêu này để các Phật
tử chúng ta, ở trong và ngoài nước, hiện tại và tương lai phải
nghĩ gì, và làm gì cụ thể trên tiến trình hoằng pháp, lợi sinh và
góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới chung của Dân tộc và
Đạo Pháp. Tôi viết hồi ký đặc biệt này với tư cách là chứng
nhân Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam tại Sài Gòn, trong suốt
cuộc vận động của Phật giáo năm 1963 đối với chính quyền Ngô
Đình Diệm.
Sở dĩ có công cuộc vận động
này, là phát xuất từ chính sách kỳ thị tôn giáo và gia đình trị
của chế độ ông Diệm từ cuối năm 1954 đến cuối năm 1963, từ vĩ
tuyến 17 tới Cà Mau Việt Nam. Lý do phong trào Phật Giáo Việt Nam năm
1963 được thành công rực rỡ, có một không
hai, là vì có chính
nghĩa, đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân và phù hợp
với xu thế tiến bộ, dân chủ và bình đẳng chung của toàn thế
giới. Thêm vào đó, bấy giờ Phật giáo lại áp dụng phương pháp
bất bạo động để giác ngộ cho đối phương. Nói
chung, biến cố lịch
sử 1963 xảy ra, được như sau và chỉ đặc biệt chú trọng riêng về
vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức.
Xuyên qua những dữ kiện lịch sử,
thì việc cố tình kỳ thị tôn giáo của chế độ ông Diệm đã tiềm
phục từ lâu, cụ thể thì từ 1957 tới 1963 qua những bản phúc
trình của Phật giáo Trung Việt. Đặc biệt vào lễ khánh thành nhà
thờ Đức Mẹ La Vang tại Quảng Trị, trùng hợp với đại lễ Phật
Đản hàng năm, từ ngày 8-4 đến 15-4 Âm lịch trên toàn quốc. Vào
dịp lễ khánh thành này, ông Diệm, ông
Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô
Đình Thục cùng đi dự lễ. Trên đường tới nhà thờ tại Quảng
Trị, phải đi qua thành phố Huế, thấy trang hoàng cổng chào nhà thờ
và cờ Phật giáo rợp trời, ông Diệm mới hỏi người tùy tùng
và được trả lời : Đây là cờ Phật giáo. Do đó, ông Diệm
liền hạ lệnh cho Quách Tòng Đức, Đổng lý văn phòng phủ Tổng
Thống, cùng đi theo : "Hãy gởi gấp công điện, khắp nơi phải
hạ cờ Phật giáo xuống !". Đó là nguyên nhân chính xảy ra
cuộc tranh đấu Phật giáo chống chính quyền ông Diệm vào mùa Phật
Đản, năm 1963.
Tiếp đến là vụ thảm sát các
hàng Phật tử hồi 9 giờ tối, đêm ngày 15-4 ÂL (8-5-63) trước
đài phát thanh Huế để nghe tin tức về đại lễ Phật Đản, do các
công lực của chính quyền gây ra.
Kết quả là tám (8) Phật tử chết
tại chỗ; và bốn Phật tử bị thương phải mang vào bệnh viện cấp
cứu !
Sáng hôm sau, Hòa thượng Hội Chủ,
Thích Tịnh Khiết, Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, khẩn cấp triệu tập
một phiên họp bất thường, gồm các vị lãnh đạo cao cấp Phật
giáo, tại chùa Từ Đàm, Huế để tìm phương tiện đối phó với
chính quyền và chính thức soạn thảo một bản Tuyên Ngôn gồm 5
điểm như sau để gởi tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm :
1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng
Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ Phật giáo.
2. Yêu cầu Phật giáo phải được
hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa
giáo đã được ghi trong đạo dụ số 10.
3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt trình
trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo.
4. Yêu cầu cho Tăng Ni Phật tử
được tự do truyền đạo và hành đạo.
5. Yêu cầu chính phủ đền bồi một
cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết
hại phải đền bù xứng đáng.
Đến ngày 10-5-1963, bản tuyên ngôn
gồm năm nguyện vọng nêu trên đã được gởi đi khắp nước.
Riêng tại Sài Gòn, đã được một sĩ quan Đại úy, người Phật
tử, đích thân từ Huế mang vào chùa Ấn Quang và Xá Lợi đầy
đủ bản Tuyên Ngôn nói trên cùng những hình ảnh về vụ thảm sát
các Phật tử và chính quyền Huế.
Ngay sau đó, theo văn thơ chỉ thị của
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đã thành lập Ủy Ban Liên Phái Bảo
Vệ Phật Giáo Việt Nam, gồm tất cả 11 tập đoàn giáo phái Phật
giáo, dưới sự lãnh đạo tối cao của Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết, để trực tiếp gặp Tổng Thống Diệm hầu mong giải quyết đẹp
đẽ mọi vấn đề giữa Phật giáo và chính phủ. Song, không đạt
được bất cứ việc gì cho Phật giáo. Bởi vậy, Ủy Ban Liên Phái
bắt buộc phải hành động theo phương pháp bất bạo động.
Ở Sài Gòn, hành động đầu tiên
là cử Thầy Thích Thanh Minh ra Huế để kiểm tra mọi biến cố giữa
Phật giáo và chính quyền hữu quan.
Tiếp theo Thượng tọa Thiện Minh ở
ngoài Huế vào tường trình mọi sự việc đã xảy
ra.... Đồng thời
cho mời cá nhân tôi đến chùa Ấn Quang dùng cơm trưa với Thượng
tọa Tâm Châu và Thượng tọa Thiện
Hoa. Sau bữa ăn, Thượng tọa
Thiện Minh có mời tôi giữ chức Trưởng ban ngoại giao và điều
hành mọi Phật sự trong Ủy Ban Liên Phái. Thêm ý kiến, Thượng
tọa Thiện Hoa đề nghị tôi giữ chức Đại đức Tổng Tư Lệnh, còn
Thượng tọa Tâm Châu, chủ tịch Ủy Ban Liên Phái, thì hoàn toàn
tán thành cả hai ý kiến của hai Thượng tọa Thiện Minh và Thiện
Hoa. Biết rằng lúc đó tôi là Giám đốc Trường Trung Học Vạn
Hạnh của Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam, đồng thời
tôi là giáo sư Anh ngữ tại các trường Trung học Vạn Thắng,
Nguyễn Công Trứ và Thăng Long tại Sài Gòn. Nghĩa là tôi chưa đi
học tại Mỹ.
Bấy giờ, phải nói rằng : Ở Huế
thì có chùa Từ Đàm, Báo Quốc, Linh Quang và Diệu Đế; ở Sài
Gòn, thì có chùa Ấn Quang, Xá Lợi, Giác Minh và Từ Quang. Tất cả
đều là trung tâm đầu não để xuất phát những cuộc biểu tình,
tuyệt thực, thuyết pháp và họp báo để đương đầu có hiệu quả
đối với chính quyền. Đặc biệt, lúc đó, Sài Gòn là thủ đô
của ông Diệm và các phái bộ ngoại giao cũng như các nhà báo
quốc tế đều tập trung ở đây, dễ đương đầu có hiệu quả đối
với chính quyền.
Ngày 21-5-1963, giáo lệnh của Hòa
thượng Tịnh Khiết ban bố khắp nơi, đều phải tổ chức lễ cầu
siêu cho các nạn nhân Phật tử tại đài phát thanh Huế.
Tại Sài Gòn, chùa Ấn Quang vâng
lệnh tổ chức rước linh từ chùa Ấn Quang tới Xá Lợi để làm
lễ cầu siêu. Mặc dầu Phật giáo có báo tin trước cho chính quyền
Sài Gòn biết, tối hôm trước, ông Quách Tòng Đức, Đại diện
Tổng Thống phủ; ông Nguyễn Phú Hải, Đô trưởng Sài Gòn Chợ
Lớn và ông Quận Trưởng quận 5, đều đã có mặt tại chùa Ấn
Quang để xin ngưng việc rước linh tới chùa Xá Lợi. Nhưng việc
rước linh và diễn hành đầu tiên vẫn được tiến hành như đã
dự định của Ủy Ban Liên Phái.
Vào 14 giờ, ngày 30-5-1963, đại lão
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở Huế đã ra chỉ thị cho các cấp Phật
giáo phải tổ chức tuyệt thực đòi hỏi chính quyền thực thi năm
nguyện vọng. Tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái chúng tôi tuân luyện
tổ chức ngay một cuộc biểu tình tại Công trường Lam Sơn trước
quốc hội, từ 12 giờ 5 phút tới 5 giờ chiều, rồi diễn hành,
căng biểu ngữ, về tới chùa Xá Lợi tuyệt thực suốt 48 giờ.
Dịp này có Hòa thượng Thích Quảng Đức tham dự và Ngài có gởi
một bức tâm thư xin tự thiêu lên Ủy Ban Liên Phái, để ngày
27-5-1963. Tuy nhiên, Ủy Ban Liên Phái bác bỏ nguyện vọng tự thiêu
này.
Sau cuộc tuyệt thực đó, Ủy Ban
Liên Phái lại tổ chức rước linh hàng tuần vào mỗi buổi sáng
ngày chủ nhật, để luân phiên cầu siêu tại các chùa trong Sài
Gòn; Chợ Lớn, Gia Định, là trụ sở chính của mỗi giáo phái
trực thuộc Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam.
Thế nhưng, về phía chính quyền, ông
Diệm vẫn cứ trơ trơ trước dư luận lên án gắt gao của nhân dân
Việt Nam và thế giới. Độc ác và bất nhân hơn nữa là ông Diệm
lại còn hạ lệnh bắt bớ thêm, phong tỏa thêm các chùa trên toàn
quốc, thậm chí ông còn cho những thuộc quyền thẳng tay cắt đứt
điện nước và tuyệt đường lương thực của các chùa chủ yếu.
Bởi vậy, vào 8 giờ tối ngày
10-6-1963, hai Thượng tọa Tâm Châu và Thiện Hoa có cho xe vào Ấn
Quang, mời tôi (Thích Đức Nghiệp) ra Xá Lợi bàn Phật sự gấp. Khi
tới Xá Lợi, tôi gặp hai vị Thượng tọa đang ngồi phòng khách.
Thượng tọa Thiện Hoa nói là : - Phật giáo mình đương bị lâm nguy
quá, nhất là tại Huế hiện nay.... Thượng tọa Tâm Châu nói theo : -
Ngày mai, buổi sáng chủ nhật, tới phiên tôi rước linh và cầu
siêu tại chùa Phật Bửu Tự, do Hòa thượng Thích Minh Trực tổ
chức, tại đường Cao Thắng, Quận 3. Vậy Thầy về hỏi lại ý
nguyện tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức, hiện đương tụng kinh
Pháp Hoa tại Ấn Quang. Nếu Hòa thượng đồng ý, thì ngay sau khóa lễ
ở Phật Bửu Tự, trên đường về Xá Lợi, Thầy tìm mọi cách
có hiệu quả nhất, để Hòa thượng Quảng Đức được tự nguyện
tự thiêu, đồng thời để cứu nguy cho Phật giáo hiện nay. Khi về,
tôi gặp ngay Hòa thượng Quảng Đức ở chùa Ấn Quang. Sau khi tôi
hỏi : - Hòa thượng còn giữ nguyện tự thiêu như lá thơ Hòa
thượng đã gởi cho Liên Phái trước đây không ? Hòa thượng
mừng rỡ trả lời : Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam
Bảo và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của
Phật giáo. Tôi (Thích Đức Nghiệp) nói thêm : - Vậy Hòa thượng
hãy đi nghĩ và sáng mai, con sẽ tổ chức cho Hòa thượng tự thiêu
cho Hòa thượng được thành tựu viên mãn. Song Hòa thượng nói
thêm : - Đại đức cho tôi được lễ tạ Phật và Thượng tọa
Thiện Hoa, tôi sẽ nói : Ngày mai tôi phải đi xa vì Phật sự, đồng
thời cho tôi viết một lá thơ gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Tôi trả lời đều được cả, nhưng tuyệt đối Hòa thượng không
nên để cho ai biết việc tự thiêu này. Sau đó, tôi đến phòng
Thượng tọa Thiện Hoa mới ở Xá Lợi về để xin ít tiền mua sắm
xăng để thiêu và vải để viết biểu ngữ cho sáng ngày mai. Tiếp
theo tôi gọi anh lái xe ô tô Austin của Phật tử Trần Quang Thuận
gởi ở Ấn Quang và nhờ anh ta đi mua xăng và vải, đồng thời tôi
nhờ anh ấy chở Hòa thượng Quảng Đức đi dự lễ tại Phật Bửu
Tự.
Kế đó, tôi họp ngay mấy Thầy lại
để phân công vào việc sáng mai :
Thầy Chân Ngữ có trách nhiệm đổ
hết xăng từ đầu tới chân Hòa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi
trên xe Austin để đi tới ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn
Duyệt trước tòa Đại sứ Cao Mên.
Thầy Trí Minh phải ngồi cùng hàng
ghế trước để bảo anh lái xe phải dừng lại ở ngã tư đường
nói trên, rồi làm bộ chữa xe để Hòa thượng bước xuống
đường và ngồi tự thiêu.
Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, Tăng
Ni đi thành hai hàng và xe của Hòa thượng từ từ đi ở giữa.
Tôi (Thích Đức Nghiệp) đi bên cạnh
xe của Hòa thượng. Khi xe ngừng lại Hòa thượng bước xuống, tôi
trao tay Hòa thượng bao quẹt và bao diêm để Hòa thượng tự bật
lửa thiêu.
Bùng cháy ! Ngọn lửa ngất trời !
Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và
những người đứng xung quanh ! Lệ rơi ! Tiếng khóc vang lên !
Lập tức, tôi yêu cầu hai mươi vị
Tăng Ni ra nằm chặn ở bốn đầu đường để xe cứu hỏa không thể
vào nơi thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Biết rằng trong lúc tự
thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện hãng thông tấn AFP của
Pháp; Malcome Browne, đại diện AP của Mỹ và Neel Shihanm, đại diện UPI;
đều chứng kiến tận mắt và xe của Đại tướng Hakins Mỹ cũng
tới chỗ hỏa thiêu này.
Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng
Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ
Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất
dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi
những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để
kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước
và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này.
Thật vậy, tin này đã làm rung
chuyển lòng người trên khắp địa cầu, năm châu bốn biển, đã
làm cho cả một chế độ gia đình trị và kỳ thị tôn giáo của ông
Diệm phải lung lay. Vì thế, ông Diệm đã thúc giục hai bên, Ủy Ban
Liên Bộ và Ủy Ban Liên Phái, sớm ngồi hội nghị và cùng ký bản
thông cáo chung.
Cũng chính nhờ công đức hy sinh cao
cả của Hòa thượng Quảng Đức mà ông Diệm ra lệnh phải giải
tỏa tất cả các chùa, đồng thời dùng máy bay dân sự đặc biệt
để đón Hòa thượng Tịnh Khiết, Thượng tọa Mật Nguyện, Thượng
tọa Trí Quang, Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Huyền Quang và
Đại đức Thích Đức Tâm từ Huế vào Sài Gòn, để tiến hành
gấp thủ tục và nhân sự cho phái đoàn Đại diện Ủy Ban Liên
Phái, đi dự hội nghị cùng Ủy Ban Liên Bộ tại hội trường Diên
Hồng, Sài Gòn, từ ngày 14 tới sáng ngày 16-6-1963. Kết quả hội
nghị này là hai bên đã nhất trí đưa ra một bản thông báo chung,
trong đó có chữ ký của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Tổng
Thống Ngô Đình Diệm.
Bởi vậy, danh sách của hai phái
đoàn gồm những thành viên chính thức như sau :
I. Ủy Ban Liên Bộ của chính phủ gồm
có :
1. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
kiêm Bộ Trưởng kinh tế.
2. Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ
Trưởng quốc phòng kiêm B. T. Phủ Tổng Thống.
3. Ông Bùi Văn Lương, Bộ Trưởng
bộ nội vụ.
II. Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo Việt Nam gồm có :
1. Thượng tọa Thích Thiện Minh,
Trưởng phái đoàn.
2. Thượng tọa Thích Tâm Châu, Ủy
viên.
3. Thượng tọa Thích Thiện Hoa, Ủy
viên.
4. Thượng tọa Thích Huyền Quang, Thư
ký.
5. Đại đức Thích Đức Nghiệp, Phụ
tá thư ký.
Sự thật chính phủ ông Ngô Đình
Diệm ký thông cáo chung với Phật giáo, chỉ là một kế hoãn binh
để tạm thời xoa dịu khí thế của Phật giáo đương lên, được
mọi người trong nước và ngoài nước tích cực ủng hộ về mặt
ảnh hưởng và công luận.
Chẳng những như vậy, mà sau đám
hỏa táng thi hài của Hòa thượng Quảng Đức tại An Dưỡng Địa
lại có một hiện tượng phi thường, đó là trái tim bất tử của
Ngài không cháy và vẫn tồn tại như một hình thể Bông Sen. Bên
cạnh đó, ngày 7-7-1963, ông Nguyễn Tường Tam, nhà văn Nhất Linh trong
Tự Lực Văn Đoàn, đã tự sát để noi gương vô úy và từ bi
của Hòa thượng Quảng Đức. Nhân vụ án này, cô Deepe đại diện
tuần báo Newsweek tại Sài Gòn, đã viết một câu đầy ý nghĩa đã
báo trước sự sụp đổ của chính phủ ông Diệm.
"Sau vụ tự thiêu của Hòa
thượng Quảng Đức, cái chết của Nhất Linh sẽ đóng thêm một cái
đinh vào quan tài ông Tổng Thống Diệm (After the most venerable Quảng
Đức 's self-immolation, Mr Nhat Linh 's suicide willdrive one more nail into President
Diệm 's coffin)".
Và chính đám táng ông Nguyễn
Tường Tam (Nhất Linh) đã rước tới cổng chùa Xá Lợi, rồi mang di
ảnh và bát nhang của ông vào làm lễ Phật và xé khăn tang cho mấy
chục ngàn người vào sáng ngày 3-7-1963, bất chấp sự có mặt của
công an và cảnh sát ông Diệm. Tôi đứng ra điều đình với ông
Mai Thọ Truyền để tang gia và bạn bè, hiếu quyến được vào thấp
hương và hành lễ thoải mái.
Về phía Phật giáo, chúng tôi đã
kiên nhẫn trông chờ sự thực thi thông cáo chung của chính phủ.
Trái lại, sự vi phạm và ngấm ngầm phá hoại thông cáo chung mỗi
ngày thêm trầm trọng. Vì thế, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đã
công khai gởi một văn thơ tới ông Diệm chủ ý là, kể từ ngày
14-7-1963, Phật giáo sẽ tái phát cuộc vận động bằng phương pháp
bất bạo động để chính phủ mau chóng thực hiện bản thông cáo
chung mà hai bên đã ký sáng ngày 16-6-1963.
Tiếp theo, văn thơ tái phát động
này, vì chính quyền ông Diệm thiếu thiện chí, ngày 17-6-1963, chư Tăng
thuộc Ủy Ban Liên Phái tại chùa Xá Lợi đã biểu tình trước tư
dinh ông Frederic Nolting, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, vì ông này đã
thiên vị ông Diệm, và tuyên bố với hãng UPI (United Press
Intermnational) của Mỹ rằng:
"Ở Nam Việt Nam không có vấn
đề kỳ thị tôn giáo và ngược đãi các Phật tử".
Chính vì lời tuyên bố trên, nên
ông Frederic Nolting đã bị ông Cabot Lodge thay làm Đại sứ Mỹ tại
Sài Gòn vào ngày 22-8-1963.
Và tiếp đó, ngày 1-8-1963, Hòa
thượng Thích Tịnh Khiết, lãnh đạo tối cao của Liên Phái Bảo Vệ
Phật Giáo Việt Nam, đã chính thức gởi một văn thơ tới Tổng
Thống Mỹ John F. Kennedy, để phàn nàn về lời tuyên bố trên của
ông Đại sứ Mỹ Frederic Nolting là hoàn toàn không chính xác.
Cũng nhắm theo xu thế chung, là đòi
hỏi chính quyền ông Diệm hãy thực thi nghiêm chỉnh bản thông cáo
chung cùng buổi sáng 17-7-1963; tại chùa Giác Minh (hiện nay nằm trên
đường Điện Biên Phủ); Thầy Quảng Độ đã tổ chức cuộc biểu
tình gồm hàng ngàn Phật tử đi ra chùa Xá Lôi để thăm các vị
lãnh đạo Phật giáo đương tuyệt thực để yêu cầu chính phủ áp
dụng thực tiễn bản thông cáo chung, trong khi Thầy Chánh Lạc lại
hướng dẫn trên ba trăm Tăng Ni từ Xá Lợi ra trước chợ Bến
Thành để đòi thực thi bản thông cáo chung. Dĩ nhiên hai cuộc biểu
tình này đều bị đàn áp và bắt bớ, giam tù.
Ngày 23-7-1963, Sư bà Diệu Huệ, thân
mẫu của nhà bác học Bửu Hội, cùng Sư bà Diệu Không tổ chức
cuộc họp báo vào 8 giờ sáng tại chùa Xá Lợi và tuyên bố rằng
:
- Nếu chính quyền Ngô Đình Diệm
không thực thi bản thông cáo chung, thì Sư bà sẽ tự thiêu.
Cũng trong cuộc họp báo này, đại
diện hãng Thông tấn Reuter hỏi tôi (Thích Đức Nghiệp) rằng :
- Đại đức nghĩ gì về thái độ
của chính phủ đối với bản thông cáo chung ?
Tôi trả lời :
- Đó là nụ hôn của Judas (phản
bội) đối với Chúa.
Tiếp đến David Halberstam, phóng viên
của tờ New York Times anh ta hỏi:
- Ông quan niệm thế nào về lời
tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu (Trần Lệ Xuân) rằng :
Mấy ông sư trẻ chích thuốc mê vào
Hòa thượng Quảng Đức, rồi nướng sống ông (barbercue) ấy ?".
Riêng tôi nhận thấy :
- Bà Ngô Đình Nhu là hiện thân của
Lady Macbet (âm mưu xúi chồng để giết vua anh). Còn việc tự thiêu
của Hòa thượng Quảng Đức, xin anh Simon Michaud của hãng AFP và anh
Malcome Browne của hãng AP vui lòng trả lời giúp tôi, vì việc tự
thiêu này hai anh đều thấy tận mắt.
Sau đó hai nhà báo Pháp và Mỹ
đều xác nhận là chính xác và thực tế, tuyệt đối không có vấn
đề chích thuốc mê, rồi thui sống Hòa thượng Quảng Đức. Tất cả
mọi người có mặt đều vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt....
Tới đây, tôi phải nói thêm rằng
:
"Chính nhờ ngọn lửa tự thiêu
đầu tiên của Hòa thượng Quảng Đức, đã vận động thêm sáu
vụ tự thiêu khác của Tăng Ni trên toàn quốc, kể cả đầu tháng
8-63 tới cuối tháng 10-63, cộng với những cuộc biểu tình, tuyệt
thực, đình công, bãi khóa của các giáo sư, sinh viên, học sinh và
đồng bào Phật tử".
Thí dụ :
1. Ngày 4-8-63, tại đài Chiến sĩ,
trước tòa Tỉnh Trưởng Phan Thiết, Thầy Nguyên Hương đã tự
thiêu.
2. Ngày 13-8-63, trong khuôn viên chùa
Phước Duyên, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Thầy Thanh Tuệ đã
thực hiện tự thiêu rất hào hùng và anh dũng.
3. Ngày 15-8-63, tại quận Ninh Hòa gần
tỉnh Nha Trang, Ni sư Diệu Quang, người đầu tiên trong Ni bộ, cũng tự
thiêu để noi gương của Hòa thượng Quảng Đức.
4. Ngày 16-8-63, tại chùa Từ Đàm
Huế, Thượng tọa Tiêu Diêu đã tự thiêu để cứu nguy Phật giáo
và Dân tộc.
5. Ngày 5-10-63, trước chợ Bến
Thành Sài Gòn, Thầy Quảng Hương từ Ban Mê Thuộc vào đây tự
thiêu.
6. Ngày 27-10-63, trước nhà thờ
Đức Bà Sài Gòn, Thầy Thiện Mỹ người sau cùng, đã tự thiêu
trong khi phái đoàn Liên Hiệp Quốc đang có mặt tại Sài Gòn và
trước năm ngày khi có cuộc đảo chính, 1-11-63.
Đối lại, chính quyền ông Diệm đã
dùng những thủ đoạn thâm độc để triệt hạ Phật giáo. Thí dụ :
"Dùng gậy ông đập lưng ông" như cho thành lập hai tổ chức
giáo gian với danh nghĩa :
1. Tổng hội Phật giáo Cổ Sơn Môn
Việt Nam.
2. Ủy ban Liên hiệp Phật giáo thuần
túy Việt Nam để đánh lừa dư luận quốc nội và quốc tế. Hơn thế
nữa, ông Diệm còn cho áp dụng "Kế hoạch nước lũ" và
biểu tình của thương phế binh nhằm phá hoại ngầm uy tín các vị lãnh
đạo Phật giáo đối với quần chúng đương nhiệt tình ủng hộ Phật
giáo.
Và cuối cùng, ông Diệm đã cho
lệnh bố ráp các chùa và bắt giam tất cả Tăng Ni trên toàn quốc
kể cả các vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt
Nam tại chùa Xá Lợi Sài Gòn vào đêm 20-8-63. Tuy vậy, vào 17 giờ
cùng ngày, David Halberstam, ký giả báo New York Times đã đích thân lái
xe riêng tới chùa Xá Lợi và cấp báo rằng :
- Đêm nay (20-8-63) ông Diệm sẽ cho
quân lính và cảnh sát đặc biệt vào khám chùa và bắt các Tăng
Ni đấy. Vậy ông (Thích Đức Nghiệp) có muốn t?ạn thì đi ngay
với tôi.
Tôi nói :
- Làm ơn chờ tôi 10 phút để hỏi
ý kiến mấy vị lãnh đạo xem sao !
Tôi liền gặp các vị Thượng tọa
Tâm Châu, Trí Quang và Thiện Minh hiện cùng ở trong chùa Xá Lợi.
Các vị đều cương quyết trả lời : "Không đi đâu hết, cứ ở
đây, sống chết cùng Tăng Ni và các Phật tử".
Ngay sau đó, tôi đi ra gặp lại anh
nhà báo nước ngoài :
- Xin cảm ơn anh. Tôi không đi.
Thế rồi, đúng 12 giờ 5 phút đêm
20-8-1963, sự việc khám chùa Xá Lợi và bắt tất cả Tăng Ni về
trại giam của công lực ông Diệm xảy ra đúng như lời nhà báo Mỹ
đã nói. Duy chỉ có hai Tăng Sĩ là trốn thoát sang sở USOM bên cạnh
chùa Xá Lợi và sau đó riêng Thượng tọa Trí Quang xin t?ạn tại
tòa Đại sứ Mỹ. Còn chúng tôi Ủy Ban Liên Phái thì bị đưa về
trại giam của Đại tá Lê Quang Tung, trên đường nằm giữa tổng tham
mưu quân đội và phi cảng Tân Sơn Nhất.
Vì thế sau đó ba ngày, Đại sứ Mỹ
ông Cabot Lodge đã sang Sài Gòn thay thế ông Frederic Nolting và tại New
York một khối quốc gia gồm 16 nước mà đứng đầu là ông Đại
sứ Ceylan (Srilanka), Tích Lan tại Liên Hiệp Quốc, đã ra công bố, lên
án : Tại Nam Việt Nam đã vi phạm nhân quyền của Phật giáo. Lúc
đó, Thượng tọa Nhất Hạnh đang dạy học tại Đại học Columbia, New
York, sau khi Thượng tọa đã học ở Đại học Princeton, New Jersey và
tốt nghiệp ở Đại học Columbia về ngành triết học. Nghĩa là,
Thượng tọa cũng ngồi tuyệt thực một tuần lễ tại trụ sở Liên
Hiệp Quốc và tích cực vận động Liên Hiệp Quốc công cử một
phái đoàn sang điều tra tại Sài Gòn, Nam Việt Nam. Kết quả Liên
Hiệp Quốc đã cử một phái đoàn gồm bảy người tới Sài Gòn 12
giờ 30 phút giữa đêm ngày 24-10-1963 và trở về New York vào 6 giờ
chiều, ngày 3-11-1963, sau khi có cuộc đảo chính ông Diệm, theo tài
liệu bản phúc trình của phái đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra sự
việc tại Nam Việt Nam (Report of United Nations Fact Finding Mission of South
VietNam) trang 8 và 21.
Biết rằng : Trước và trong thời
gian phái đoàn Liên Hiệp Quốc làm việc tại Sài Gòn, Thầy Thích
Thanh Nhân (Thích Minh Thông) đã bí mật hoạt động ráo riết cùng
quý vị Tăng Ni, sinh viên và Phật tử tổ chức biểu tình và hai vụ
tự thiêu, như :
- Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày
5-10-1963, Thầy Thanh Nhân đã bố trí an toàn và tổ chức chu đáo cho
Đại đức Quảng Hương tự thiêu tại chợ Bến Thành Sài Gòn.
- Vào sáng ngày 27-10-1963, Thầy Thanh
Nhân tổ chức thành công cho Đại đức Thiện Mỹ tự thiêu trước
nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, trong khi đó có bốn người của phái
đoàn Liên Hiệp Quốc cũng chứng kiến.
Trước ngày đảo chánh, phái đoàn
Liên Hiệp Quốc đã gặp riêng Đức Hội Chủ Tịnh Khiết tại chùa
Ấn Quang, ngày 27-10-1963 và vào trại giam của Đại tá Lê Quang Tung,
ngày 30-10-1963 đến 31-10-1963 và sáng ngày 1-11-1963 để phỏng vấn Hòa
thượng Trí Thủ, Thượng tọa Quảng Liên, Thượng tọa Tâm Giác,
Thượng tọa Tâm Châu, Đại đức Thích Đức Nghiệp, Thượng tọa
Thiện Minh và ông Mai Thọ Truyền.
Sau đó, phái đoàn Liên Hiệp Quốc
về khách sạn. Đúng 1 giờ chiều, ngày 1-11-1963, tiếng súng Cách
mạng quân đội bắt đầu nổ, chấm dứt chế độ và mạng sống của
ông Diệm, ông Nhu.
- 8 giờ sáng, ngày 2-11-1963, tất cả
quý vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Việt Nam và
tôi được thả.