Tiểu Sử Tôn Giả
Santideva
Theo truyền thuyết, tôn giả
Santideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7.
Ngài là thái tử con vua Surastra.
Từ những kiếp quá khứ, ngài đã
cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến
giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần
chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát. Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền
ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ Tát : Văn Thù và Tara [1]. Bồ
Tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: "Ở đây không có chỗ cho
hai người"; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài nói rằng: "Vương
quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với
nước này đây".
Tĩnh dậy, ngài hiểu rằng đó là
sự khuyến cáo của hai vị Bồ Tát nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời
bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa
khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một
thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc. Sau đó thiếu nữ
dâng cho ngài một thứ nước thơm như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu
nữ: "Cô ở đâu đến?"
- Thiếu nữ trả lời: "Ở giữa khu
rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành
tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó
đến đây". Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt
được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Ðến nơi ngài
thấy đó là một hành giả Du Già (Yogi) sống trong một chòi lá. Ngài liền
đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn
Thù Bồ Tát.
Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài
chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và
thiếu nữ kia chính là Tara.
Kể từ đó, ngài luôn luôn được
thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong
triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua
trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Ðể tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh
thủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh
kiếm gỗ [2].
Ngài giúp vua trị vì đúng theo
Phật Pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Ðiều đó khiến các vị đại
thần khác ganh tức, tìm cách dèm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng:
"Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà
không bào giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng
gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được?
Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại". Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt
phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: "Kiếm của tôi, Bệ hạ
không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận". Nghe vậy, vua càng nghi
ngờ nhất quyết đòi xem. Cuối cùng Thừa tướng tâu: "Nếu Bệ hạ nhất quyết
muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn
bằng mắt trái thôi". Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang
lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của Vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn
hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Ðại thành tựu giả [3] nên cầu
xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào
tròng lại khiến vua khỏi mù.
Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa
tướng, tìm đến Tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là
Santideva. Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ
luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài tu mật
hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền định. Tất cả thời ăn,
ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang (Eussel, Clear Light).
Tuy vậy chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn, tư,
tu gì cả. Thấy thế, một số Thượng tọa học giả họp nhau lại định tống khứ
ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: "Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi
người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động
rút lui, rời bỏ Tu viện vì y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ tu học gì". Thế
rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận, ban đầu
ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên
làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: "Nếu vậy phải làm cho tôi một tòa sư tử
[4] tôi mới trùng tuyên". Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa
số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.
Sau khi lên ngồi tòa sư tử,
ngài hỏi: "Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những
sáng tác mới sau này". Vì muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: "Những
sáng tác mới sau này".Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh
(Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: "Khi Có và Không không còn
khởi lên trong tâm..." thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng
tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh.
Không thấy ngài nữa, tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy
trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya [5],
Siksacamuccaya và Bodhicaryavatara.
Chú thích:
[1] Tara là một hóa thân hình
nữ của Quán Thế Âm, trong Phật giáo Ấn Ðộ và Tây Tạng được nói đến rất
nhiều. Quán Thế Âm, khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, ngài nhỏ lệ từ bi
và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara.
[2] Văn Thù Bồ Tát, thường
hiện thân, tay phải cầm kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh Bát Nhã.
[3] Mahasiddha: người tu hành
đắc đạo có thần thông.
[4] Simhasana: tòa ngồi chỉ
dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng lão Pháp sư.
[5] Hai tập Siksasamuccaya
(Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) chắc chắn tác giả là
ngài Santideva, riêng tập Sutrasamuccaya, đa số các học giả đều công
nhận tác giả là ngài Long Thọ (Nagarjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ 2
tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende de
Santideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVi. Trong tạng luận của Tây
Tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa mà học giả
Marcelle Lalou đã chuyển sang lại Sanskrit là Visvasutrasamuccaya, tập
này ngày nay đã bị mất tích. Theo học giả J.W.DeJong thì có lẽ 2 tập này
tương tựa nhau nên các sử gia Tây Tạng và luận gia Ấn Ðộ cùng cho tác
giả của Kinh Tập Yếu (Sutrasamuccaya) là ngài Santideva. Kinh Tập Yếu đã
được Hòa Thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn
năm 1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.
Chương 1
Xưng Tán Bồ đề
Tâm
1) Sau khi thành tâm đảnh lễ
tất cả chư Phật, chư Bồ Tát cùng tất cả thầy tổ đáng kính, tôi xin trình
bày sơ lược con đường tu tập mà tất cả hàng con Phật (Bồ Tát) đều đã đi
qua.
2) Về giáo pháp, tôi không có
gì đáng nói thêm và tôi cũng không phải là một văn sĩ trước tác. Tôi viết
tập sách này với mục đích chính là để nhắc nhở và điều phục tâm mình chứ
không phải cho ai khác.
3) Nhờ sự nhắc nhở hướng thiện
này mà căn lành nơi tôi được tăng trưởng. Bởi thế, rất mong những ai đồng
hoàn cảnh cũng có thể rút tỉa được sự lợi ích nơi đây.
4) May mắn thay! Hy hữu thay
cho chúng ta đã gặp đủ thiện duyên để tu hành giải thoát. Nhưng nếu không
biết suy nghĩ thừa cơ hội trau giồi phước huệ thì không biết đến bao giờ
(kiếp nào) mới có lại được như ngày hôm nay.
5) Chúng sinh tuy trôi lăn
trong sinh tử luân hồi, nhưng nhờ thần lực của chư Phật, lâu lâu cũng khởi
được một niệm nghĩ đến điều lành. Giống như trong đêm tối, bao phủ bởi mây
đen, ánh sáng của sấm chớp lóe lên rồi liền tắt.
6) Làm sao chống chọi được với
nghiệp chướng sâu dày, khi căn lành tích tụ lại quá mỏng manh, nếu ta
không biết nương theo Bồ Ðề Tâm?
7) Quán chiếu trong vô lượng
kiếp, chư Phật đã tìm ra được bảo vật này (Bồ Ðề Tâm) có thể đưa vô lượng
chúng sinh đến bờ an vui giải thoát.
8) Những ai muốn thoát khỏi đau
khổ của luân hồi, cứu độ chúng sinh, an hưởng chân hạnh phúc, phải luôn
luôn nhớ không được rời bỏ Bồ Ðề Tâm.
9) Tuy còn trôi lăn trong luân
hồi, trói buộc bởi phiền não, nhưng kẻ nào vừa phát Bồ Ðề Tâm thì ngay khi
đó liền trở thành "Con của Ðấng Thiện Thệ" (Fils des Sugatas). Chư thiên
và loài người sẽ cung kính kẻ đó.
10) Nước phép Bồ Ðề Tâm sẽ biến
thân thể bất tịnh này thành một hòn ngọc vô giá vì nó chứa đựng một đức
Phật (tương lai). Do đó hãy gìn giữ cẩn thận Bồ Ðề Tâm.
11) Là người trôi lăn trong ba
cõi, muốn cầu giải thoát, bạn phải nắm giữ cẩn thận Bồ Ðề Tâm. Nó là hòn
ngọc vô giá đã được kiểm chứng và công nhận bởi các bậc Ðạo Sư giải thoát
duy nhất.
12) Tương tự như cây chuối, tất
cả công đức khác đều tan biến sau khi đã cho ra quả. Nhưng Bồ Ðề Tâm là
một loại cây công đức luôn luôn tăng trưởng, tiếp tục sinh hoa kết trái
không bao giờ tàn lụi.
13) Một người, dù cho có phạm
nhiều tội nặng đi nữa, chỉ trong một chốc lát cũng có thể giải trừ được
nếu biết trở về với Bồ Ðề Tâm. Giống như thoát khỏi cơn hoạn nạn vì biết
tìm sự bảo vệ nơi kẻ có thế lực mạnh. Chỉ có những kẻ vô ý mới không nương
tựa Bồ Ðề Tâm.
14) Cũng như hỏa tai của kiếp
hoại, Bồ Ðề Tâm có thể đốt cháy tất cả tội lỗi, nghiệp chướng trong chốc
lát. Công đức vô lượng không thể nghĩ bàn của nó đã được Bồ Tát Di Lặc
(Maitreya) giảng nói cho Thiện Tài (Sudhana) [1].
15) Tóm lại có hai loại Bồ Ðề
Tâm: Bồ Ðề Tâm Nguyện và Bồ Ðề Tâm Hạnh.
16) Sự khác biệt có thể ví như
một người muốn đi và một người đang đi.
17) Riêng Bồ Ðề Tâm Nguyện, tự
nó đã mang sẵn nhiều quả báo lành nhưng vẫn chưa bằng Bồ Ðề Tâm Hạnh,
nguồn gốc của tất cả công đức.
18-19) Người nào mà trong tâm
biết khởi một ý niệm nguyện cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ thì dù
ngay trong giấc ngủ hay những lúc lơ đễnh, công đức của người nay vẫn tiếp
tục tăng trưởng, phủ khắp hư không.
20) Công đức của Bồ Ðề Tâm đã
được chính đức Như Lai tuyên thuyết trong kinh Subahupriccha để sách tấn
những người chùn chân, muốn dừng bước nơi Nhị Thừa.
21-22) Nhất tâm chữa trị bịnh
nhức đầu cho vài người thôi cũng đã đem lại vô số công đức, nói chi đến
muốn cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ phiền não, đưa họ đến chỗ
an vui hạnh phúc.
23) Từ xưa đến nay, đã có người
cha nào, mẹ nào dám phát một lời nguyện rộng lớn như thế? Có vị Trời nào,
Ðạo sĩ nào, Bà la môn nào?
24) Chưa từng có một ai dám
phát nguyện như thế, dù cho chính mình, ngay trong giấc mơ, nói chi đến
chuyện cứu độ kẻ khác!
25) Ôi làm sao tìm ra được một
vị Bồ Tát (hòn ngọc vô giá) trong khi tất cả chúng sinh quá ích kỷ, không
bao giờ biết làm điều lành cho kẻ khác?
26) Nó là nguồn cội của hạnh
phúc thế gian, là liều thuốc trị đau khổ cho nhân loại, là ngọc kim cương
của tâm... Làm sao kể cho hết giá trị của nó (Bồ Ðề Tâm).
27) Khởi một niệm lành đến một
người thôi, công đức cũng đã hơn sự lễ Phật. Thử hỏi công đức sẽ bao nhiêu
nếu biết thực hiện an vui hạnh phúc cho tất cả chúng sanh?
28) Con người muốn chạy trốn
đau khổ nhưng lại trầm mình trong đau khổ; mong cầu hạnh phúc nhưng lại
(vô tình) tàn hoại nguyên nhân của hạnh phúc, xem nó như kẻ thù.
29-30) Ai sẽ cắt đứt sự hành hạ
khổ đau cho chúng sinh, thỏa mãn sự thèm khát hạnh phúc, cũng như sự điên
cuồng của họ? Tìm đâu ra được một hiền giả, một thiện tri thức như thế?
31) Người ta luôn luôn khen
ngợi kẻ mang ơn mà biết đền ơn. Vậy sẽ nói sao đây đối với một vị Bồ Tát
luôn luôn ban ơn mà không cần ai hỏi?
32) Kẻ biết bố thí một bữa ăn
cho vài người ăn xin cũng đã được xem như một hiền giả đạo đức. Dù sự bố
thí đó chỉ kéo dài một giờ đồng hồ, với những món ăn tầm thường vừa đủ để
lót dạ nửa ngày cho những kẻ ăn xin khổ cực kia.
33) Chúng ta phải nói sao đây
đối với vị Bồ Tát đã bố thí trong vô lượng kiếp, cung cấp thỏa mãn tất cả
mong muốn hạnh phúc của vô số chúng sinh số lượng như hư không?
34) Người nào khởi một niệm xấu
ác trong bao nhiêu giây đối với bậc hiền giả Bồ Tát trên thì sẽ phải đọa
địa ngục bấy nhiêu kiếp. Ðức Như Lai đã tuyên bố như thế.
35) Những kẻ nào, tâm biết trở
về nương tựa nơi vị Bồ Tát trên thì kẻ đó sẽ gặt hái rất nhiều công đức,
dư đủ để tiêu trừ tội chướng quá khứ.
36) Tôi xin đảnh lễ và xưng tán
tất cả chư Bồ Tát, những người mà trong tâm đã làm phát sinh ra hòn ngọc
vô giá (Bồ Ðề Tâm). Các ngài luôn luôn đem lại hạnh phúc cho mọi người,
ngay cả đối với những ai hủy báng, não hại các ngài. Tôi xin trở về nương
tựa nơi chư Bồ Tát, nguồn cội của chân hạnh phúc.
Chú thích:
[1] Trong kinh Hoa Nghiêm
(Gandavyuhasutra)
Chương 2
Sám Hối
1) Ðể có được hòn ngọc vô giá
(Bồ Ðề Tâm) tôi xin xưng tán và đảnh lễ tất cả chư Phật, Thánh Diệu Pháp
và chư Bồ Tát, các ngài là biển công đức của tất cả chúng sinh.
2-6) Tất cả hoa trái, báu vật
thế gian, các loại nước cam lồ thanh tịnh và ngon ngọt, những nọn núi đầy
bảo châu, hoa thơm, cỏ lạ, tất cả mùi hương trầm của thế giới Trời, Người,
những cây cho ra quả bằng ngọc lưu ly, những cây thành tựu điều ước [1],
những hồ sen thanh khiết với tiếng hát của đàn thiên nga, tất cả bảo vật
đầy dãy hư không. Sau khi quán tưởng những thứ trên trong tâm, tôi xin
cúng dường lên chư Phật và các Trưởng Tử của Như Lai (Bồ Tát). Các Ngài là
những bậc Ứng cúng, Ðại Từ, Ðại Bi, xin hãy thương xót tôi mà chấp nhận sự
cúng dường trên.
7) Tôi là kẻ bần cùng không
chút phước đức, không có gì khác để cúng dường. Ôi! Những đấng Che Chở [2]
luôn thương xót bảo vệ kẻ yếu, hãy vì tôi mà chấp nhận sự cúng dường trên.
8) Từ nay cho đến cùng tột đời
vị lai, tôi xin cúng dường và phó mặc toàn thân tôi cho các bậc Thắng
Vương [3] và các Thắng Vương Tử. Xin hãy chấp nhận cho tôi được phụng sự
các ngài với lòng thành kính.
9) Ðược nằm trong tay của các
ngài, tôi sẽ trở thành kẻ vô úy, không còn sợ hãi điều gì ở thế gian này.
Tôi sẽ làm cho chúng sinh được an vui, tẩy trừ mọi nghiệp chướng và không
bao giờ tái phạm.
10-11) Trong những bồn tắm thơm
ngát, lát bằng cẩm thạch và lưu ly trong suốt, có những cột trụ kết bằng
bảy báu huy hoàng. Tôi sửa soạn nước tắm cho chư Phật và các Trưởng tử của
ngài, trong nhịp điệu của tiếng hát và âm nhạc với những bình nước khảm
ngọc trai, chứa toàn hoa lạ và nước thơm.
12) Sau đó tôi sẽ lau khô báo
thân của các ngài bằng những giải lụa thanh tịnh vô nhiễm và khoác lên các
ngài những y phục trong sạch, thơm ngát.
13) Với những thiên phục mềm
mỏng, huy hoàng rực rỡ, tôi sẽ khoác lên ngài Phổ Hiền (Samantabhadra), Di
Lặc (Ajita), Văn Thù (Manjughosa), Quán Âm (Lokesvara) và tất cả chư Bồ
Tát khác.
14) Trên thân của chư Phật sắc
vàng óng ánh, tôi sẽ xức lên tất cả các loại dầu thơm tuyệt diệu mà mùi
hương thông khắp pháp giới.
15) Tôi sẽ kết tất cả loại hoa
thơm và đẹp như hoa đinh hương, hoa lài, hoa sen xanh thành tràng để cúng
dường và xưng tán chư Phật.
16) Tiếp theo tôi sẽ xông lên
những đám mây hương thanh khiết, vi diệu và dâng lên các ngài những món
trân vị mềm và cứng cùng các loại giải lao.
17) Tôi sẽ trang hoàng những
ngọn đèn làm bằng ngọc báu, xếp trên những bông sen vàng và dọc trên đường
đi tôi sẽ rải đầy hương thơm cỏ lạ.
18) Trên hư không, vang dội
những khúc nhạc trời, vô số dinh thự nguy nga, trang hoàng bằng những vòng
đai bằng cẩm thạch, bảo châu...
19) Tôi sẽ cúng dường lên các
đấng Mâu Ni những tàng lọng cao lớn khảm xà cừ tuyệt đẹp, với trục làm
bằng vàng ròng.
20) Ðể chúng sinh được an vui,
kể từ bây giờ, nguyện cho những đám mây cúng dường trên được trổi dậy vang
rền tiếng nhạc trời.
21) Nguyện cho những đám mưa
hoa và ngọc báu luôn rơi trên những bảo tháp, tượng Phật và kinh Phật.
22) Như Văn Thù và các Bồ Tát
đã cúng dường các bậc Thắng Vương, tôi cũng xin cúng dường chư Phật và các
Trưởng tử của Phật.
23) Tôi cũng xin xưng tán các
biển công đức (chư Phật, chư Bồ Tát) bằng những lời êm dịu bất tận. Nguyện
những lời ca tán thán này luôn luôn hướng về các ngài.
24) Trong pháp giới có bao
nhiêu vi trần thì tôi cũng xin phân thân ra bấy nhiêu để đảnh lễ chư Phật
ba đời cùng Pháp và Tăng.
25) Tôi cũng xin đảnh lễ trước
tất cả bảo tháp, trước những nơi nào Bồ Ðề Tâm ảnh hiện [4], trước những
bậc thầy tôn kính và các nhà tu hành.
26) Từ nay cho đến khi được Vô
Thượng Bồ Ðề, con nguyện quy y nơi Phật, Pháp và toàn thể chư Bồ Tát.
27) Với hai tay chắp lại, con
xin khấn nguyện đến chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi ở khắp mười phương.
28-29) Từ vô thỉ trôi lăn trong
sinh tử cho đến ngày nay, bởi vô minh che lắp, con đã tạo nhiều điều ác và
xúi giục người khác phạm lỗi. Ngày nay biết sự lỗi lầm, con xin thành tâm
sám hối trước chư Phật.
30-31) Tất cả lỗi lầm đã phạm
qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý, đối với Tam Bảo, với cha mẹ và các bậc tôn
trưởng, tất cả lỗi lầm thúc đẩy bởi vô minh ái dục, tất cả con xin phát lồ
sám hối. Ôi đấng Thiện Thệ!
32) Làm sao thoát khỏi tội lỗi
đã làm? Xin ngài hãy cứu con! Giúp con tẩy trừ nghiệp xấu trước khi thần
chết đến.
33) Ôi mạng sống con người mong
manh. Thần chết không bao giờ biết chờ ai cả, dù kẻ đó khỏe mạnh hay bịnh
tật.
34) Chỉ vì ham cầu sung sướng,
chạy trốn khổ cực mà ta đã tạo nhiều điều ác. Há ta không hiểu rằng một
ngày nào đó sẽ phải ra đi với hai bàn tay trắng sao?
35) Ngày đó sẽ chẳng còn lại gì
cả! Từ những kẻ thù ta, những kẻ thương ta và ngay cả chính xác thân ta
cũng không còn nữa.
36) Tất cả cảnh vật mà ta đã
thấy, nghe, chỉ còn lại là một ký ức, tựa như giấc chiêm bao, trải qua rồi
biến mất, không bao giờ trở lại.
37) Trong cuộc đời ngắn ngủi
này, biết bao bạn bè và kẻ thù ta đã ra đi. Duy chỉ còn lại nghiệp xấu ác
(mà ta đã tạo với họ) là còn ở lại bên ta đe dọa.
38) Vì không hiểu và ý thức
được ta chỉ là một kẻ du khách trên cuộc đời này nên ta đã để cho vô minh,
ái dục, sân hận dẫn dắt tạo nghiệp.
39) Mạng căn, nhựa sống tàn lụi
ngày đêm không ngừng. Không có chi ngăn cản được. Làm sao cái chết lại
không thể đến với ta được?
40) Nằm dài trên giường bịnh,
tuy có họ hàng vây quanh nhưng ta sẽ phải cảm thọ đau đớn một mình trong
cơn hấp hối.
41) Một khi bị sứ thần của Yama
[5] bắt đi, thử hỏi tìm đâu ra được anh em bạn bè? Duy chỉ có công đức
lành mới có thể cứu được ta, nhưng ô hô, trong lúc sống có bao giờ ta nghĩ
đến nó đâu?
42) Vì ngu si, nông nỗi không ý
thức được hậu quả mai sau nên ta đã bám víu vào cuộc đời phù du này mà tạo
nhiều điều xấu ác.
43) Một tên tù binh khi bị hành
hình thì thân mình co rút, cổ họng thắt nghẹt, ánh mắt lờ đờ không còn
nhìn rõ gì nữa.
44) Thử hỏi trường hợp của ta
sẽ ra sao khi bị bịnh tật, hấp hối hành hạ và nhất là bị sứ thần của Yama
bắt đi?
45) Lúc đó mắt ta sẽ hốt hoảng
cầu cứu. Nhưng ai là người có thể bảo vệ che chở cho ta trong cơn hiểm nạn
này.
46) Tìm khắp không thấy ai che
chở, sợ hãi ta rơi vào hôn mê bất tỉnh. Ôi số phận ta sẽ ra sao?
47) Do đó, ngày hôm nay đây,
con xin nương tựa, cầu sự che chở của chư Phật, chư Thắng Vương, là những
bậc Ðại Hùng, Ðại Lực giải trừ mọi sợ hãi cho chúng sinh.
48) Nơi Thánh Pháp mà chư Phật
đã chứng ngộ, có thể đưa chúng sinh đến giải thoát và nơi toàn thể chư Bồ
Tát.
49) Vì yếu đưối, sợ hãi nên con
xin nương tựa và phó mặc đời con cho Phổ Hiền Bồ Tát, con cũng xin dâng
mình cho Văn Thù Bồ Tát.
50) Nơi Quán Thế Âm Bồ Tát,
luôn luôn cứu khổ vì lòng đại bi, con xin khẩn cầu đến Ngài với tiếng kêu
sợ hãi, thất vọng: "Xin Ngài cứu con, một kẻ lầm mê!"
51) Nơi Hư Không Tạng Bồ Tát
(Akasagarbha) và Ðịa Tạng Vương Bồ Tát (Ksitigarbha) cùng chư Ðại Bồ Tát,
con xin khẩn nguyện đến tất cả cầu sự che chở.
52) Con cũng xin nương tựa nơi
Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajrapani), người mà tất cả ma quỷ và sứ thần của
Yama đều sợ hãi chạy trốn.
53) Bao lần con đã quên lời dạy
bảo của các ngài, ngày nay đứng trước hiểm nạn, sợ hãi, con trở về nương
tựa nơi các ngài. Xin hãy mau cứu con!
54) Thông thường khi đau bịnh
nhẹ, người ta còn không dám trái lời bác sĩ. Nói chi đến khi bị hành hạ
bởi 404 căn bịnh [6], quả báo của nghiệp quá khứ.
55) Trong số các bịnh, có một
loại vô phương cứu chữa, nó tàn hoại tất cả dân chúng cõi Diêm Phù Ðề.
56) Có một vị Ðại Y Vương
chuyên chữa lành tất cả bịnh khổ của thân và tâm. Thế nhưng ta đã xem
thường và làm trái lời vị ấy. Ôi! Sao ta có thể điên rồ như vậy được!
57) Khi đi cạnh một hố sâu vài
trượng, ta biết cẩn thận, hết sức chăm chú. Thế nhưng sao ta lại vô tình
nhởn nhơ đi trên bờ vực thẳm không đáy của địa ngục?
58) Nói rằng: "Ngày hôm nay cái
chết sẽ không đến!", đó là một sự an ủi giả dối. Chắc chắn nó sẽ đến và
khi nó đến thì ta sẽ không còn ở đó mà nói năng gì được nữa.
59) Ai sẽ bảo ta: "Ðừng sợ
hãi!". Ai sẽ chỉ ta lối thoát? Chắc chắn ta sẽ phải chết và như vậy làm
sao có thể yên tâm vui đùa được?
60) Những cảm giác khoái lạc
ngày trước đã để lại cho ta những gì? Ôi! Mải mê theo cám dỗ, ta quên lời
dạy bảo của bậc thầy!
61) Thôi ngày nay ta phải xa
lìa vĩnh viễn cõi trần, bỏ lại cha mẹ, anh em, bạn bè, ra đi lang thang
một mình, không biết về đâu? Ôi! Tình yêu và hận thù còn có nghĩa lý gì?
62) Chỉ có một điều đáng được
lo lắng ngày đêm, đó là: làm ác chắc chắn đưa đến đau khổ; làm thế nào để
thoát đây?
63-64) Hết thảy tội lỗi mà con
đã tạo vì vô minh hay vô ý, phạm giới hoặc sai lầm, con xin phát lồ sám
hối tất cả trước chư Phật, Bồ Tát. Ghê sợ tội lỗi, con xin chắp hai tay
đảnh lễ không ngừng dưới chân các ngài.
65-66) Xin các ngài chứng giám
cho sự phát lồ thành thật của con. Từ nay cho đến về sau, con xin phát
nguyện, không bao giờ tái phạm nữa.
Chú thích:
[1] Kalpadruma: đây là 5 loại
cây của cõi trời, mỗi khi chư thiên ước muốn điều chi, nó liền cho ra
quả như thế.
[2] Mgon.po: protecteur, là
một danh từ khác để chỉ chư Phật, Bồ Tát.
[3] Rgyal.ba: vainqueur, cũng
chỉ đức Phật
[4] Tức chư Bồ Tát, vì Bồ Tát
là người đã phát Bồ Ðề Tâm
[5] Yama: tử thần, còn gọi là
Diêm Vương.
[6] Trong quyển Médecine
Tibétaine Bouddhique, của Terry Clifford nói có 4 loại bịnh: nóng, lạnh,
ma quỷ ếm và nghiệp. Mỗi loại có 101 căn bịnh, tổng cộng là 404 căn
bịnh.
Chương 3
Phát bồ đề tâm
(Bồ Ðề Tâm Nguyện)
1) Tất cả chúng sinh có bao
nhiêu công đức, hạnh lành tôi đều xin tùy hỷ và nguyện cho họ được an vui
hạnh phúc.
2) Có bao nhiêu chúng sinh đã
thoát khỏi đau khổ luân hồi, bao nhiêu hiền giả, hành giả đã chứng quả Bồ
Tát, quả Phật, tôi đều xin vui mừng tán thán.
3) Tôi xin tùy hỷ, xưng tán tất
cả tâm nguyện rộng lớn như biển cả của các đấng Pháp Vương, luôn đem lại
hạnh phúc cho chúng sinh.
4) Tôi chắp hai tay, khẩn cầu
chư Phật mười phương, xin hãy thắp sáng ngọn đuốc pháp cho những kẻ lạc
đường đang rơi trong hố thẳm đau khổ.
5) Chư Phật muốn nhập Niết Bàn,
tôi xin thành kính chắp tay, thỉnh cầu các ngài trụ thế vô lượng kiếp cho
thế gian thoát khỏi tối tăm.
6) Bao nhiêu công đức góp nhặt
được qua các hạnh lành trên, tôi hồi hướng nguyện sẽ làm người cứu khổ
chúng sinh.
7) Ðối với chúng sinh đau bịnh,
tôi nguyện sẽ là thuốc hay, là bác sĩ, là y tá cho đến khi nào không còn
một ai đau ốm.
8) Tôi nguyện sẽ dập tắt ngọn
lửa đói khát nơi chúng sinh bằng những đám mưa cam lồ. Trong thời nạn đói
của kiếp hoại [1], chính tôi sẽ là đồ ăn và thức uống cho tất cả chúng
sinh.
9) Tôi nguyện sẽ là kho báu vô
tận, cung cấp mọi điều cần thiết cho những kẻ nghèo khổ.
10) Trong những kiếp vị lai,
tất cả tài vật, công đức tích tụ trong ba đời, tôi sẽ xả bỏ không luyến
tiếc để thành tựu sự giải thoát cho tất cả chúng sinh.
11) Niết Bàn chính là sự xả bỏ
hoàn toàn. Trước sau gì cũng phải xả bỏ, tốt hơn là nên bố thí, cúng dường
cho tất cả chúng sinh.
12-13) Tôi xin quên mình để
phụng sự chúng sinh. Dù có bị đánh đập, mắng chửi, chém giết hay bị xem
như một món vật mua vui đi nữa, tâm tôi vẫn vắng lặng. Vì tôi đã xả bỏ
thân này cho họ rồi! Còn gì đâu mà lo lắng.
14) Dù họ có sung sướng trong
khi hành hạ thân này, tôi cũng xin nguyện cho họ không bị quả báo.
15-16) Dù họ có tức giận, ác ý
với tôi, có vu khống, não hại và chế diễu tôi, tôi cũng xin nguyện cho tất
cả đắc quả Bồ Ðề.
17-18) Tôi nguyện sẽ là người
bảo vệ cho những kẻ yếu đuối, người chỉ đường cho những hành khách, một
con thuyền hay một cái cầu cho những kẻ muốn qua sông, một ngọn đèn cho
những ai đi trong đêm tối, một cái giường cho những ai muốn nằm nghỉ, một
kẻ nô lệ cho những ai cần nô lệ.
19) Tôi nguyện sẽ là viên ngọc
phép, một lu thần, một linh chú, một cỏ thuốc, một cây như ý và một con bò
ước cho tất cả chúng sinh [2].
20-21) Cũng như quả đất (đại
địa) và các đại khác cần thiết cho đời sống của vô số chúng sinh trong
khắp hư không, tôi nguyện sẽ là người lợi ích cho tất cả mọi loài cho tới
khi nào không còn một ai là kẻ chưa giải thoát.
22-23) Như chư Phật quá khứ đã
phát Bồ Ðề Tâm, thực hành Bồ Tát Hạnh, tôi đây cũng xin phát tâm Bồ Ðề làm
lợi ích chúng sinh và thực hành hạnh lành mà chư Bồ Tát đã trải qua.
24) Sau khi đã sáng suốt phát
Bồ Ðề Tâm, hành giả cần phải nuôi dưỡng, tăng trưởng nó bằng những lời
khích lệ sau:
25) Ôi! Từ đây cuộc đời ta đầy
ý nghĩa, ta không được bỏ lỡ cơ hội làm người. Ngay ngày hôm nay đây, ta
được sinh trong gia đình của chư Phật và làm con trai của Phật.
26) Từ nay trở đi, ta sẽ cư xử,
hành động đúng theo truyền thống của gia đình Phật. Nhất định không làm
cho gia đình thanh tịnh quý báu này mang danh xấu nhơ vì ta.
27) Như một kẻ mù bắt được ngọc
báu trong thùng rác, không biết nhờ phép lạ nào đã khiến cho Bồ Ðề Tâm
sinh khởi nơi tôi.
28-31) Nó là một cây thuốc
trường sinh khắc trừ sự chết, là một kho tàng vô tận thay thế sự nghèo khổ
cho chúng sinh, là một phương thuốc vi diệu chữa trị tất cả bịnh tật thế
gian, là một bóng cây mát nghỉ ngơi cho kẻ bộ hành mệt mỏi lang thang trên
đường luân hồi, là một cái cầu vĩ đại đưa mọi hành khách thoát khỏi hiểm
đạo, là một bóng trăng xoa dịu vết thương ái nhiễm, là một mặt trời tỏ
rạng đẩy lui đám sương mù vô minh, là một tô lạc mới làm bằng sữa diệu
pháp.
32) Những ai đang lang thang
trên nẻo đường luân hồi, khao khát hạnh phúc, thì đây, bữa tiệc hạnh phúc
tôi đã dọn sẵn, hãy mau đến dự cho thỏa lòng.
33) Ngày hôm nay, trước sự
chứng giám của chư Phật, Bồ Tát, con nguyện đưa hết chúng sinh đến Phật
quả. Tất cả chư Thiên, A tu La và mọi loài hãy vui mừng lên!
Chú thích:
[1] Trước khi mãn một tiểu
kiếp, sẽ xẩy ra 7 ngày binh đao chiến tranh, 7 tháng bịnh dịch hoành
hành và 7 năm hạn hán đói khát
[2] Ngọc phép (cintamani) hay
ngọc như ý: khi tâm nghĩ điều gì thì liền có điều đó. Lu thần
(bhadragata): khi cần điều gì, chỉ cần thò tay vào lu là lấy được. Linh
chú (Siddhavidya): khi đọc câu chú này thì mọi việc đều thành tựu. Cỏ
thuốc (mahaushadhi): là một cỏ chữa bá bịnh. Cây như ý (kalpaviksha) và
con bò ước (kamadhenu) là bảo vật của chư thiên. Trái cây và sữa bò cho
ra tất cả điều ước.
Chương 4
Thực hành Bồ Ðề Tâm
(Bồ Ðề Tâm Hạnh)
1) Sau khi mạnh mẽ phát nguyện
Bồ Ðề Tâm, bậc Bồ Tát (con trai của Phật) phải tinh tấn tu tập không được
xao lãng.
2) Khi quyết định một việc gì
hấp tấp, không suy nghĩ chín chắn, người ta có thể hoặc thi hành hoặc lãng
quên, mặc dầu đã phát nguyện.
3) Nhưng làm sao có thể từ bỏ
được những gì đã được suy nghĩ, quán chiếu bởi chư Phật, chư hiền giả Bồ
Tát và ngay cả ta nữa?
4) Khi đã nguyện, đã hứa mà
không làm thì hóa ra ta lừa tất cả chúng sinh! Như vậy số phận ta sẽ ra
sao?
5) Ðức Phật dạy rằng: "Ai có ý
định cho người một vật gì, dù thật nhỏ không đáng giá, mà cuối cùng không
cho thì sẽ đầu thai thành ngạ quỷ".
6) Vậy thì ta đây, sau khi
thành tâm phát nguyện sẽ đem lại cho chúng sinh hạnh phúc tối thượng mà
nay lại từ bỏ. Không biết đời sau ta sẽ tái sinh làm gì đây?
7) Tuy vậy, cũng có những người
từ bỏ Bồ Ðề Tâm mà vẫn được giải thoát [1]. Song le việc đó chỉ có bậc
Nhất Thiết Trí (Phật) mới thấu rõ hoàn toàn nguyên nhân bất khả tư nghì
của luật nhân quả mà thôi.
8) Tất cả sự yếu đuối, vi ước
của Bồ Tát rất là tai hại. Vì khi phạm lỗi, Bồ Tát sẽ bị quả báo ác không
thể tính đếm, vì y đã vô tình làm hại đến tất cả chúng sinh.
9) Và kẻ nào làm chướng ngại,
dù chỉ một tích tắc, hạnh lành của Bồ Tát, sẽ bị quả báo ác không thể tính
đếm , vì y đã vô tình làm hại đến tất cả chúng sinh.
10) Khi phá hại sự an vui của
một chúng sinh, chắc chắn ta sẽ bị quả báo hại lại. Thử hỏi, nếu ta phá
hại sự an vui của vô lượng chúng sinh trong hư không vô biên thì hậu quả
sẽ ra sao?
11) Kẻ nào có sức mạnh dám phát
Bồ Ðề Nguyện, nhưng lại từ bỏ hoặc làm ngược lại Bồ Ðề Hạnh thì kẻ ấy sẽ
tiếp tục trôi lăn trong biển sinh tử, không biết bao giờ mới đến được Bồ
Tát địa (Bodhisattvabhumi).
12) Như vậy, ta phải thi hành
những gì đã hứa, nếu không ta sẽ bị đọa, càng ngày càng sâu.
13) Vô lượng chư Phật đã qua
lại làm lợi ích, cứu độ chúng sinh. Nhưng lỗi tại ta đã tạo nghiệp chướng
quá sâu dày nên không cảm nhận được sự cứu độ của các ngài.
14) Nếu ngày hôm nay, ta cũng
lại tiếp tục làm những việc (xấu) như trước, chắc chắn sẽ không thoát khỏi
sự trừng phạt, bịnh tật, đánh đập, chém giết.
15) Biết đến bao giờ ta mới có
lại được những duyên lành hy hữu như: mang thân người, gặp được Phật, có
lòng tin, đầy đủ các căn để tu hành?
16) Hiện thời, ta khỏe mạnh, ăn
uống đầy đủ, không bị khổ nạn. Nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh phù du: chính
cái thân này cũng chỉ là vật vay mượn.
17) Hành động như ta hôm nay,
chắc chắn không thể nào tái sinh làm người được. Mà nếu không được thân
người thì làm sao có thể tạo hạnh lành được?
18) Ngày hôm nay đầy đủ duyên
lành mà không biết tạo công đức thì hỏi làm sao ta có thể tạo công đức khi
bị đau khổ hành hạ trong ba đường ác?
19) Nếu không làm lành mà chỉ
tạo ác thì trong trăm triệu kiếp ta sẽ không bao giờ nghe được một danh từ
tốt như "thân người" khó được.
20) Ðó là lý do vì sao đấng
Thiện Thệ đã tuyên bố: "Ðược thân người khó hơn việc con rùa mù gặp được
bọng cây trôi giạt trên biển cả".
21) Phạm tội dù chỉ trong chốc
lát cũng đủ đọa địa ngục A Tỳ (Avici) một tiểu kiếp. Thử hỏi khi tội lỗi
đã được tạo từ vô thỉ thì làm sao có thể nói đến chuyện tái sinh trong
đường lành?
22) Nếu sau khi trả hết tội ở
địa ngục mà được giải thoát thì cũng còn may! Nhưng trong lúc đền tội, con
người lại tạo thêm nghiệp ác.
23) Không có gì điên cuồng ngu
xuẩn bằng, sau khi được thân người, ta lại không biết thừa cơ tạo công đức
lành.
24) Hiểu được vậy mà vẫn để cho
lười biếng ngự trị thì ta sẽ không kịp ăn năn khi tử thần đến gõ cửa.
25) Và lúc đó thân ta sẽ bị
thiêu đốt nhiều kiếp bởi ngọn lửa ác độc của địa ngục, tâm ta sẽ bị ngọn
lửa ân hận dày vò.
26) Không biết nhờ phép lạ nào
đã khiến ta may mắn được thân người khó được này. Thế mà vừa ý thức được
điều đó, ta lại phải trở xuống địa ngục!
27) Ta chẳng khác gì kẻ mất
hồn, bị thôi miên bởi tà thuật! Không biết cái gì đã ngự trị trong ta, đã
làm ta mất trí?
28) Trời ơi! Những kẻ thù của
ta: tham dục, sân hận và phiền não, chúng không có tay, không có chân,
không can đảm cũng không có trí huệ. Thế sao ta lại có thể trở thành nô lệ
cho chúng?
29) Ngự trị trong tâm ta, chúng
tự do hoành hành, phá phách mà ta chẳng hề tức giận. Ôi! Quả là một sự
chịu đựng, nhẫn nhục vô lý!
30) Tất cả Trời, Người, A tu La
hợp lại cũng không thể lôi kéo ta vào địa ngục được.
31) Nhưng phiền não, ái dục là
những kẻ thù không tưởng, lại có thể vứt ta vào địa ngục A Tỳ trong nháy
mắt. Trong đó, to lớn như núi Tu Di cũng bị cháy tiêu không còn một hạt
tro.
32) Trong số các kẻ thù, không
có ai sống dai hơn kẻ thù vô minh, ái dục, vô thỉ vô chung.
33) Một người chủ khi được phục
vụ trung thành thường biết bảo vệ tôi tớ của mình. Nhưng ái dục thì ngược
lại, luôn luôn đem lại đau khổ cho những ai đã phục vụ nó.
34) Sự ác độc của nó trường kỳ
dai dẳng. Nó chính là nguồn gốc của biển khổ và oái ăm thay, nó lại ở ngay
trong tâm ta. Như thế làm sao ta có thể an nhiên vui chơi theo lạc thú của
đời?
35) Nó là kẻ cai tù, là kẻ hành
quyết tội nhân trong địa ngục. Làm sao mơ ước được hạnh phúc khi nó còn
ngự trị trong tâm ta?
36-37) Chỉ khi nào nó bị tiêu
diệt hoàn toàn dưới mắt ta thì lúc đó ta mới cởi bỏ chiến bào. Những kẻ
kiêu ngạo, khi bị mắng chửi, họ liền nổi giận tìm cách trả thù cho đến khi
hạ nhục được đối thủ thì họ mới yên tâm đi ngủ. Trên bãi chiến trường, họ
có thể đánh đập tàn nhẫn kẻ thù dù kẻ đó đã bị thương gần chết. Họ thản
nhiên bắn tên, liệng dao, xem thường sự đau đớn của kẻ thù và họ chỉ quay
lưng đi khi kẻ thù đã chết.
38) Như thế thì ta đây, người
đã đứng lên quyết thắng kẻ thù ái dục, nguyên nhân của khổ đau, tại sao
lại có thể thất vọng, thối lui được?
39) Ðối với những vết thương vô
ích gây ra bởi kẻ thù mà người chiến sĩ lại xem đó như một vinh quang thì
chẳng lẽ ta đây, quyết làm đại sự, lại lẩn tránh khổ cực sao?
40) Chỉ vì sinh nhai thôi mà
những kẻ chài lưới những nông phu, những thợ săn còn chịu đựng được nóng
lạnh, đói khát. Chẳng lẽ ta, vì muốn giải thoát chúng sinh, lại không làm
được hơn thế sao?
41) Ta đã phát nguyện cứu độ
chúng sinh trong mười phương ra khỏi ái dục, phiền não trong khi chính ta
chưa tự độ giải thoát!
42) Không biết tự lượng khả
năng của mình, ta đã ngạo nghễ phát nguyện một cách vô ý thức. Vậy từ nay
ta phải không ngừng chiến đãu, tiêu diệt phiền não của chính mình trước.
43) Sự chiến đãu này sẽ là mục
đích duy nhất của đời ta. Như một chiến sĩ căm thù, chỉ còn một say mê, đó
là: say mê tiêu diệt tất cả những say mê khác (tức ái dục).
44) Dù có bị chặt đầu, moi
ruột, móc gan! Ta cũng không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù muôn đời
của ta.
45) Bình thường khi một kẻ địch
thua trận, y có thể rút lui ẩn trú một nơi để phục hồi sức lực và sau đó
sẽ trở lại. Nhung kẻ thù ái dục thì không thể ẩn náu một nơi nào khác cả!
46) Một khi bị tống khứ ra khỏi
tâm ta, thử hỏi nó sẽ ẩn trú nơi đâu để có thể phục thù ta được? Sức lực
duy nhất của nó, không gì khác hơn, chính là sự yếu hèn và ngu si của ta.
Ái dục chính là một bọn tiểu nhân hèn hạ, chạy trốn khi gặp trí huệ.
47) Ái dục không nằm ngoài cảnh
vật, không nằm trong các căn, không nằm ở giữa (cảnh và căn), cũng không
nơi nào khác. Vậy nó nằm ở đâu để có thể làm điên đảo tất cả thế gian? Nó
chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Hỡi tâm ơi! Hãy trở về với Trí Huệ, xa lìa mọi
sợ hãi. Tại sao ngươi lại muốn bị đau khổ nơi địa ngục một cách vô lý?
48) Nhất quyết! Từ nay ta sẽ
tinh tấn thực hành giới hạnh của Bồ Tát. Vẫn biết thuốc hay có thể chữa
lành bịnh, nhưng làm sao hồi phục được sức khỏe nếu không làm đúng theo
lời bác sĩ?
Chú thích:
[1] Ý nói các bậc A La Hán
ban đầu phát tâm Ðại Thừa nhưng nửa đường thối chí.
Chương 5
Giữ gìn tâm ý
1) Người nào muốn giữ gìn giới
hạnh thì trước hết phải biết giữ gìn cẩn thận tâm ý; nếu không giữ gìn
được tâm ý thì sẽ không giữ gìn được giới hạnh.
2) Những con voi rừng, khi bị
động cỡn, dày xéo phá hoại mọi vật nhưng vẫn chưa bằng con "voi tâm" phóng
túng nơi địa ngục.
3) Nhưng nếu cột được con "voi
tâm" này bằng sợi dây chánh niệm thì mọi nguy hiểm sẽ tan biến, mọi hanh
thông sẽ hiển bày.
4-5) Tất cả sư tử, cọp, voi,
gấu, rắn, độc thú, những tên cai tù địa ngục, La Sát, Dạ Xa sẽ bị giam
trói nếu chính tâm bị giam trói; hết thảy sẽ được điều phục nếu tâm được
điều phục.
6) Bao nhiêu tai nạn, đau khổ,
thảy đều phát xuất từ tâm! Bậc Ðạo Sư đã dạy như thế.
7) Ai đã tạo ra những giường
sắt nung đỏ, những rừng đao kiếm nơi địa ngục? Và những người đàn bà răng
bằng sắt này [1] ở đâu ra?
8) Tất cả đều do cái tâm tội
lỗi tạo ra. Ðức Phật đã nói: trên đời này chỉ có tâm tội lỗi là nguy hiểm
nhất.
9) Nghe nói Bố Thí Ba La Mật sẽ
đem lại giàu sang, thế sao ngày nay loài người vẫn còn nghèo khổ? Chẳng lẽ
chư Phật quá khứ đã không thành tựu sự bố thí sao?
10) Bố Thí Ba La Mật là tâm
niệm xả bỏ, bố thí cho tất cả chúng sinh những vật sở hữu, và cho (hồi
hướng) luôn cả công đức bố thí kia. Như vậy Bố Thí Ba La Mật cũng chính là
tâm (niệm) không gì khác.
11) Làm thế nào để tránh khỏi
giết hại chúng sinh, đưa họ đến nơi an ổn? Trì giới Ba La Mật chính là tâm
niệm từ bỏ lỗi lầm.
12) Chúng sinh ngỗ nghịch, số
lượng vô cùng vô tận làm thế nào hàng phục được tất cả? Nếu ta hàng phục
được tâm sân hận thì tức khắc sẽ hàng phục được tất cả.
13) Tìm ở đâu được mảnh da lớn
có thể bao phủ toàn quả địa cầu? Ngay nơi chiếc dép da này, toàn mặt đất
sẽ được bao phủ.
14) Cũng vậy, tuy chưa làm chủ
được ngoại cảnh nhưng ta làm chủ được tâm mình: còn gì đáng làm hơn nữa!
15) Dù có phối hợp với khẩu và
thân nghiệp đi nữa, cái tâm nặng trĩu (tà kiến) cũng không đạt được cảnh
trời Phạm Thiên, trong khi chỉ cần riêng một mình cái tâm thanh tịnh cũng
đủ!
16) Dù tụng kinh, ép xác lâu
ngày cũng đều vô ích nếu tâm tán loạn, chứa đầy tà kiến.
17) Những kẻ đi tìm hạnh phúc,
chạy trốn khổ đau, sẽ tiếp tục lầm đường lạc lối nếu không hiểu được cái
tâm kỳ bí năng chứa tất cả các pháp này.
18) Như vậy tâm phải được canh
chừng, gìn giữ cẩn thận. Nếu không biết giữ gìn tâm ý thì tu tập những
pháp môn khác có nghĩa lý gì?
19) Như một kẻ bị thương, đứng
giữa đám khùng cố gắng bảo vệ vết thương không cho bị đụng. Cũng vậy, giữa
những người lưu manh, dối trá, ta phải giữ gìn tâm ý mình như bảo vệ vết
thương vậy.
20) Thay vì bảo vệ vết thương
ngoài da để nó đừng làm đau, tốt hơn ta nên bảo vệ vết thương tâm để nó
đừng bị đè nát dưới chân núi địa ngục.
21) Nếu giữ đúng giới hạnh
trên, ta sẽ cứng rắn, điềm nhiên giữa những người tội lỗi và nữ sắc.
22) Ta có thể để mất tất cả tài
sản, danh dự, mạng sống cùng các công đức, nhưng không bao giờ để mất tâm
[2]. Không bao giờ!
23) Hỡi những ai muốn bảo vệ
tâm ý. Tôi xin chắp tay khẩn cầu: "Hãy hết sức giữ gìn chánh niệm và tỉnh
thức".
24) Một người bịnh hoạn đau ốm
sẽ không có sức để làm bất cứ một việc gì. Cũng vậy nếu tâm si mê, phóng
túng thì sẽ không làm được công đức gì cả.
25) Nếu vô ý (không tỉnh thức)
thì tất cả công lao, kết quả của sự học hỏi, suy nghĩ, thỉền quán sẽ tan
mất như nước chứa trong một bình nứt.
26) Có nhiều người thông thái,
trí thức, sùng tín nhưng vì thiếu tỉnh thức nên đã lầm theo tà kiến.
27) Sự thất niệm cũng giống như
tên ăn trộm, luôn rình rập thừa lúc ta vô ý, nhảy vào đánh cắp tất cả công
đức và khiến ta rơi vào khổ nạn.
28) Ái dục cũng giống như đoàn
hải tặc, chuyên tìm cơ hội để đánh cướp. Nếu tìm được, chúng sẽ cướp giật
hết căn lành khiến ta không còn hy vọng tái sinh nhàn cảnh.
29) Như vậy, ta sẽ không bao
giờ để tâm thất niệm. Nếu thất niệm thì phải nhớ đến cảnh khổ địa ngục mà
mau mau đưa tâm trở về chánh niệm.
30) May mắn thay, những ai được
ở gần các bậc thầy lành, nhờ biết kính nể và tuân theo lời chỉ dạy nên dễ
dàng giữ gìn chánh niệm.
31) "Chư Phật, Bồ Tát có thanh
tịnh nhãn nhìn thấu mười phương không chướng ngại, tất cả đều hiển lộ
trước mắt các ngài và ta đây cũng luôn ở trước mặt các ngài".
32) Nhớ nghĩ như vậy, ta sẽ
sinh lòng hổ thẹn, kính nể và luôn nhớ tưởng đến chư Phật trong từng sát
na.
33) Tỉnh thức, một khi đến sẽ
không bỏ đi nữa nếu được chánh niệm giữ gìn ngoài cửa (tâm).
34) Cứ như thế, ta phải giữ gìn
tâm ý. Nếu cảm thấy như bị thúc giục bởi một ý niệm bất chánh, ta phải tức
khắc đứng yên bất động như một cây khô.
35) Mắt không được ngó đây liếc
kia một cách vô ích mà phải nhìn xuống như trong lúc tọa thiền.
36) Nhìn xuống lâu mỏi mắt, ta
có thể ngẩng lên nhìn chân trời và lúc đó nếu có người đến gần, ta cũng
nên chào hỏi lễ phép.
37) Trong khi đi đường, nếu
nghi ngờ tai nạn, ta có thể nhìn bốn phía, nhưng phải đứng lại để nhìn.
38) Sau khi nhìn trước ngó sau,
ta có thể tiến tới hoặc thối lui tùy trường hợp.
39) "Ðây là tư thế của thân"
hành giả sơ cơ cần phải niệm như vậy trước khi làm một động tác nào. Và
trong khi hành động cũng phải kiểm soát tư thế của mình.
40) Hành giả phải canh chừng
cẩn mật tâm ý như canh chừng một con voi rừng không cho nó giựt đứt giây
xẩy thoát khỏi cột trụ chánh pháp.
41) "Tâm ta ở đâu, đang làm
gì?". Hành giả niệm như vậy và quán sát tâm mình nếu muốn an trụ nơi thiền
định.
42) Tuy vậy, gặp trường hợp bất
ngờ như tai nạn hoặc trong lúc bố thí, nếu thất niệm thì cũng có thể tha
thứ được.
43) Nếu quyết định làm một việc
lành nào thì phải để hết tâm thi hành xong việc đó không được nghĩ đến
chuyện khác.
44) Như vậy mọi việc sẽ được
hoàn tất. Ngược lại thì "xôi hỏng bỏng không" và thất niệm sẽ trở về lấn
át.
45) Phải xa lìa các cuộc nói
chuyện tầm phào và những cảnh tượng kích thích.
46) Nhớ lời Phật dạy không nên
làm điều vô ích, ta sẽ không gạch đường, bới đất, cắt cỏ.
47) Trước khi nói năng hay cử
động, ta phải kiểm soát tâm ý đưa nó trở về chánh niệm.
48) Nếu thấy tâm đang ái nhiễm
hay sân hận thì ta ngưng mọi nói năng, cử động và đứng yên như một cây
khô.
49-50) Khi nào thấy tâm ngã
mạn, kiêu ngạo, háo thắng, khoe khoang, tà vạy, ác độc, muốn chỉ trích lừa
đảo kẻ khác thì ta hãy đứng yên bất động như một cây khô.
51) Khi tâm muốn tiền của, danh
dự, vinh quang, khen ngợi thì ta sẽ đứng yên bất động như một cây gỗ.
52) Khi tâm ích kỷ, không muốn
làm lợi ích cho người mà chỉ muốn lợi cho mình thì khi sắp nói, ta sẽ đứng
yên bất động như một cây khô.
53) Khi tâm bồn chồn, lo lắng,
lười biếng, thích nói chuyện phù phiếm, thiên vị thì ta sẽ đứng yên bất
động như một cây khô.
54) Khi nhận thấy tâm mình bị
xao động, đang làm mồi cho ý niệm tà kiến thì người dũng sĩ (Bồ Tát) phải
giữ chặt giây cương, dùng phương pháp đối trị.
55-56) Cương quyết từ bi, khiêm
nhường, lễ phép, thông cảm, bình tĩnh, luôn luôn làm lợi ích cho kẻ khác.
Không bao giờ bực tức, nổi giận vì những đòi hỏi vô lý của những kẻ vô tri
mà ngược lại, khởi tâm thương xót vì biết họ đang bị vô minh phiền não sai
sử.
57) Trong lúc làm lợi ích cho
mình và cho người, Bồ Tát luôn thuận theo Chánh pháp, giữ gìn cẩn mật tâm
ý, xa kìa mọi ý niệm về "Ta".
58) Luôn ghi nhớ giờ phút hy
hữu có được ngày hôm nay, sau bao kiếp đau khổ, ta sẽ giữ gìn tâm ý vững
chắc, bất động như núi Tu Di.
59) Khi bị đám diều hâu thèm
thịt, cắn xé, mổ xẻ, sao cái thân (thây) chết kia không biết đau đớn, la
hét?
60) Ôi, tâm ơi! Sao ngươi lại
lo lắng, cho cái thây đó là ngươi? Là bản ngã (cái ta) của ngươi? Nếu nó
không phải là ngươi thì sự còn mất của nó có ăn nhằm gì?
61) Ôi, ngu xuẩn! Tại sao ngươi
không lấy một con búp bê bằng gỗ sạch sẽ cho đó là cái Ta (bản ngã) của
ngươi mà lại đi săn sóc một cái máy dơ bẩn cấu tạo bằng những thứ bất
tịnh?
62-63) Trước hết bằng sự quán
tưởng, hãy nhấc bỏ cái lớp vỏ "da" này ra; với trí phân biệt làm con dao,
hãy cắt rời từng mảnh thịt ra khỏi xương; tiếp theo chặt từng khúc xương
và nhìn vào tủy xem thực chất của nó là gì?
64) Sau khi tìm kiếm kỹ lưỡng,
không thấy được thực chất nào. Tại sao ngươi vẫn tiếp tục bảo vệ, ái luyến
cái thân?
65) Người ta không ăn được
những thứ bất tịnh, không uống được máu mủ. Vậy thử hỏi ngươi làm gì với
cái thân?
66-67) A! Phải ngươi gìn giữ nó
để sau này làm mồi nuôi chó sói và diều hâu chăng? Thay vì dùng cái thân
khốn nạn này vào việc tạo công đức, ngươi lại săn sóc ái luyến nó để cuối
cùng tử thần cũng đến giựt của ngươi, vứt cho diều hâu ăn. Ôi, lúc đó
ngươi sẽ làm gì?
68) Thông thường, một kẻ đầy tớ
khi thôi việc rời khỏi nhà, người ta có cho y quần áo cùng tặng vật không?
Cũng thế, cái thân này, sau khi được nuôi dưỡng, chăm sóc, cuối cùng nó sẽ
ra đi, tại sao ngươi lại tốn công vì nó?
69) Hãy trả vừa đủ lương cho nó
thôi! Và tâm của ta ơi! Hãy lo cho chính ngươi, đừng tốn thì giờ vô ích
cho cái thân nữa.
70) Hãy xem cái thân như một
chiếc thuyền qua lại. Hãy làm chủ và điều khiển nó theo ý ngươi để đưa
chúng sinh đến bờ giải thoát.
71) Bãy giờ làm chủ được cái
ta, Bồ Tát trở nên người bạn lành của tất cả mọi người, luôn mỉm cười
không còn nhăn mặt chau mày.
72) Không còn bồn chồn, xao
động, đập phá bàn ghế, xô cửa ầm ĩ. Bồ Tát an trụ trong yên lặng và khiêm
tốn.
73) Con hạc, con mèo và kẻ trộm
luôn bước đi nhẹ nhàng yên lặng nên dễ bắt được mồi. Bồ Tát cũng nên tập
như vậy.
74) Ðối với các bậc hiền giả
khéo dùng phương tiện hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sinh, Bồ Tát luôn
đảnh lễ kính trọng. Ðối với mọi người, Bồ Tát luôn nhún nhường như một
người đệ tử vậy.
75) Nghe ai thuyết giảng chánh
pháp, Bồ Tát gật đầu xưng tán. Thấy ai làm việc lành, Bồ Tát liền khen
ngợi và tùy hỷ.
76) Bồ Tát luôn khéo léo kể lại
hạnh lành của những kẻ khác. Nếu nghe người khen ngợi công đức của mình
thì Bồ Tát phải xem đó là lời khen ngợi hạnh lành (chứ không phải khen
ngợi mình).
77) Công đức chính là nguồn gốc
của an vui hạnh phúc. Tuy vậy, chúng rất hy hữu, dù có nhiều tiền của cũng
không thể mua được. Bởi thế nên ta sung sướng tùy hỷ công đức của kẻ khác.
78) Ðược vậy, trong đời này ta
không mất mát gì cả mà đời sau lại được sung sướng hạnh phúc. Ngược lại,
nếu ganh ghét, đố kỵ thì đời này ta bị hận thù ray rứt và đời sau s? phải
chịu nghèo hèn khổ sở.
79) Lời nói của Bồ Tát cần phải
rành mạch, rõ ràng, thành thật, dịu dàng, dễ nghe, ẩn chứa từ bi, vắng
lặng.
80) Khi gặp một người nào đó,
Bồ Tát nhìn thẳng và nghĩ rằng: "Ta phải biết cám ơn kẻ này vì nhờ họ mà
ta sẽ được thành Phật".
81) Thành kính cúng dường chư
Phật, vâng lời phụng sự các bậc Thầy, cứu khổ giúp đỡ chúng sinh: đó là
những cơ hội cho Bồ Tát tích tụ công đức.
82) Với sự cương quyết, khéo
léo, Bồ Tát hành động một mình, không nhờ vả lệ thuộc vào ai.
83) Các hạnh Ba La Mật như bố
thí, trì giới, v.v... được xem từ thấp lên cao, từ dễ đến khó. Nhưng Bồ
Tát không được xem thường hạnh Bố thí (cho nó là thấp kém) hoặc bất cứ
hạnh nào.
84) Sau khi hiểu rõ điều trên,
Bồ Tát phải đem hết nghị lực làm việc không ngừng để lợi ích chúng sinh.
Nhiều khi Bồ Tát cũng có thể phạm vào giới cấm nếu biết điều đó đem lại
lợi ích cho chúng sinh.
85) Bồ Tát sẽ chia xẻ thức ăn
của mình cho kẻ đau khổ, cô thế và những tu sĩ khác. Bồ Tát xả bỏ hết, trừ
ba y (cà sa).
86) Thân của Bồ Tát chỉ dùng để
tu tập chánh pháp nên Bồ Tát không hành hạ, lạm dụng nó vào những việc tầm
thường thế gian. Như thế, Bồ Tát sẽ hoàn tất nhanh chóng sự mong ước của
chúng sinh.
87) Bồ Tát không được hy sinh
thân mạng của mình cho những người lợi dụng, không có lòng từ bi. Bồ Tát
chỉ nên hy sinh nó vì lý do chánh đáng (tức giải thoát chúng sinh).
88) Bồ Tát không thuyết pháp
cho kẻ bất kính, hoặc kẻ đội mũ, che đầu, cầm dù, cầm gậy, cầm dao.
89) Giáo pháp cao thượng, thâm
sâu, không được giảng dạy cho những kẻ thô tục hoặc cho người nữ nếu không
có người nam cùng nghe. Bồ Tát kính trọng bằng nhau giáo lý Ðại Thừa và
Tiểu Thừa.
90) Nếu thấy người nào có đủ
nhân duyên lãnh thọ giáo pháp Ðại Thừa thì Bồ Tát không nên giảng dạy giáo
pháp Tiểu Thừa cho người đó. Bồ Tát cũng không được thu hút người khác
bằng cách giảng dạy sai lạc Kinh giáo (Sutra) và Mật giáo (Mantra).
91) Bồ Tát không vứt tăm xỉa
răng hay khạc nhổ bừa bãi. Tiểu tiện trên dòng nước sạch, trên đất cấy là
điều xấu hổ đáng trách.
92) Bồ Tát không ăn đầy miệng,
há miệng to, khua húp ra tiếng; không ngồi duỗi chân, đong đưa, cũng không
được xoa tay xào xạc.
93) Bồ Tát không du lịch một
mình hoặc ngủ lại đêm với người nữ (đã có chồng). Bồ Tát cần học hỏi để
giữ gìn, không làm những việc có thể gây tai tiếng.
94) Bồ Tát không ra dấu (hay ra
lệnh) bằng một ngón tay, mà bằng cả một bàn tay phải, một cách lịch sự, dù
để chỉ đường cũng vậy.
95) Khi cần gọi ai, Bồ Tát
không dơ tay xua vẫy, trừ trường hợp gấp rút, mà Bồ Tát chỉ búng tay (đàn
chỉ) ra tiếng động. Nếu không Bồ Tát sẽ mất tự chủ (oai nghi).
96) Khi ngủ, Bồ Tát sẽ nằm theo
tư thế của Ðức Phật khi nhập Niết Bàn. Luôn chánh niệm, tỉnh thức, sẵn
sàng ngồi dậy nhanh chóng (không chờ ai bắt buộc).
97) Hạnh của Bồ Tát rất nhiều,
không thể tính đếm. Nhưng có một hạnh tuyệt đối cần giữ gìn đó là luyện
tập và thanh lọc tâm ý.
98) Ba lần buổi sáng, ba lần
buổi tối, Bồ Tát thực hành (trì tụng) ba điều căn bản (Giới, Ðịnh. Huệ).
Nương tựa chư Phật và Bồ Ðề Tâm, Bồ Tát sẽ tẩy sạch mọi tội lỗi cho đến
vết cuối cùng.
99) Trong bất cứ hoàn cảnh nào,
dù thuận, dù nghịch, Bồ Tát cũng đều nhớ thực hành những giới hạnh trên
một cách tương xứng.
100) Vì lợi ích (giải thoát)
chúng sinh nên không có hạnh nào mà Bồ Tát không làm. Và như thế, không có
hạnh nào mà không đem lại công đức.
101) Bồ Tát làm những hạnh trên
chỉ vì lợi ích trực tiếp hay gián tiếp cho chúng sinh; và cũng chỉ vì lợi
ích chúng sinh mà Bồ Tát hồi hướng tất cả công hạnh cầu quả Bồ Ðề (Phật).
102) Dù phải xả bỏ thân này đi
nữa, Bồ Tát cũng không bao giờ xa lìa thiện tri thức thực hành Bồ Tát
Hạnh, thông hiểu giáo nghĩa Ðại Thừa.
103) Bồ Tát phải thành kính tin
tưởng bậc thầy dẫn đạo của mình, như phẩm Srisambhavavimoksa đã dạy. Những
giới hạnh được trình bày nơi đây và những lời dạy của Phật cần được tìm
học trong Kinh tạng.
104) Những giới luật cùng sự
hành trì đều được giảng nói trong Kinh, do đó Bồ Tát cần phải đọc (tụng)
Kinh, đặc biệt là Kinh Akacagarbhasutra để biết các lỗi nào nên tránh.
105) Thêm nữa, Bồ Tát cần phải
đọc Siksasamuccaya vì trong đó kể chi tiết những hạnh của Bồ Tát.
106) Hoặc Bồ Tát nghiên cứu tập
Sutrasamuccaya, tóm tắt các hạnh của Bồ Tát và tác phẩm trùng tên của ngài
Long Thọ [3].
107) Qua những sách trên, Bồ
Tát sẽ biết rõ những gì nên tránh và nên làm. Như thế, Bồ Tát mới có thể
hoàn tất chu đáo giới hạnh của mình.
108) Tóm lại, chánh niệm tỉnh
thức có nghĩa là quán sát tỉ mỉ, thường xuyên những trạng thái của tâm ý
và thân thể.
109) Sau cùng ta phải áp dụng,
thực hành những điều trên, vì chỉ đọc tụng và nói suông không thể đem lại
lợi ích nào cả. Nếu một bịnh nhân chỉ biết đọc toa thuốc thôi thì y có hết
bịnh chăng?
Chú thích:
[1] Ở địa ngục, kẻ phạm tội
tà dâm bị bắt buộc leo lên cây Kutacalmali, trên đó có những người đàn
bà khổng lồ răng sắt nhọn bám níu cắn xé.
[2] Nghĩa là để tâm phóng
túng khởi nghĩ những điều trái với Bồ Tát Hạnh.
[3] Xem phần chú thích ở tiểu
sử Tôn Giả Santideva.
Chương 6
Nhẫn nhục
1) Tất cả hạnh lành tích tụ
trong nhiều kiếp như bố thí, lễ Phật, v.v.. chỉ cần một giây phút sân hận
thôi cũng đủ đốt cháy tiêu tất cả.
2) Không có tội nào tai hại hơn
sân hận, cũng không có khổ hạnh nào dũng cảm hơn hạnh nhẫn nhục. Do đó,
bằng mọi cách, ta (Bồ Tát) sẽ nuôi dưỡng, tăng trưởng tánh nhẫn nhục.
3) Ta sẽ không bao giờ an ổn
hay nếm được mùi vị sung sướng thảnh thơi, không bao giờ được yên ngủ tự
tại nếu ngày đó nọc độc sân hận còn nằm ở trong tâm .
4) Dù được dạy dỗ, bảo vệ,
nhưng một khi chán ghét, bực tức, người đệ tử có thể mong muốn hủy diệt vị
thầy của mình.
5) Nếu ta giống như người đệ tử
trên thì anh em, bạn bè sẽ ghê tởm, xa lánh ta. Dù ta có rộng rãi bố thí
đi nữa, họ cũng không tin tưởng ta. Tóm lại, sự an vui không thể đến với
người sân hận.
6) Kẻ nào, sau khi ý thức được
sân hận là nguồn gốc của đau khổ, hăng hái diệt trừ nó, kẻ đó sẽ hưởng
sung sướng trong đời này và đời sau.
7) Sự bất mãn hay sợ hãi vì bị
lừa dối chính là nhiên liệu của sân hận. Nếu để nó bùng cháy chắc chắn ta
sẽ bị hại.
8) Do đó, ta phải tiêu hủy chất
nhiên liệu này trước khi nó sát hại ta.
9) Dù có bị vu khống thậm tệ đi
nữa, sự an lạc trong tâm ta cũng không lay động. Vì ta biết rằng bất mãn
không đem lại an vui mà ngược lại nó sẽ làm tiêu tan công đức.
10) Cần gì phải buồn rầu bất
mãn, nếu ta có giải pháp? Và dù không có giải pháp thì bất mãn sẽ đem lại
lợi ích gì?
11) Ðau khổ, mạ nhục, chỉ
trích, vu oan, tất cả điều đó ta không muốn nó xảy đến với ta và người
thân, nhưng ta lại muốn nó xảy đến cho kẻ thù.
12) Sung sướng, dù được cực
nhọc tìm kiếm, vẫn mãi không đến. Ðau khổ, dù không ai mời mọc, lại đến
thường xuyên. Giải thoát không thể có nếu không đi qua đau khổ. Ôi, tâm
(của ta ) ơi, hãy can đảm nhẫn nhục!
13) Ngoại đạo và chúng sinh ở
Carnatic sẵn sàng tự thiêu, rọc xé thân mình mà không hy vọng có ngày giải
thoát. Trong khi ta đây, vì mục đích giải thoát, há lại hèn nhát sao?
14) Không có gì khó làm cả, nếu
biết luyện tập. Như thế, hãy bắt đầu làm quen với sự cực khổ tầm thường,
sau này ta sẽ nhẫn chịu được những cực khổ dữ dội hơn.
15) Ruồi, muỗi, đói, khát,
nhức, ngứa v.v... Tại sao lại xem thường, bảo chúng là vô ích?
16) Nếu không nhẫn chịu được
nóng, lạnh, mưa, gió, nhọc, mệt, hành hung, đấm đá thì làm sao có thể nhẫn
chịu được những khổ cực khác?
17-18) Có những người lính khi
bị đổ máu, họ lại càng can đảm; lại cũng có người chỉ nhìn thấy máu của kẻ
khác cũng đủ té xỉu. Cái đó tùy thuộc ở tâm vững mạnh hay yếu đuối. Bồ Tát
phải vượt lên làm chủ, chống lại đau khổ.
19) Ðau khổ không thể lay động
sự bình tĩnh của Bồ Tát. Bởi vì không có sự chiến thắng nào mà không có
đau khổ, nhất là chiến thắng ái dục.
20) Thắng được kẻ thù bằng cách
chiến đấu hiên ngang thì đáng được xem là chiến tướng anh hùng; còn kẻ
chiến thắng bằng thủ đoạn chỉ là người "giết thây chết" mà thôi.
21) Ðau khổ nhiều khi cũng đem
lại lợi ích: nó dẹp trừ kiêu mạn, khai mở lòng thương người (đau khổ), ghê
sợ tội lỗi và tăng trưởng đức tin nơi chư Phật.
22) Ta không thể nào nổi sân
với lục phủ, ngũ tạng, dù biết chúng là nguyên nhân của bịnh tật. Như thế
sao ta lại nổi sân đối với người khác? Vì họ cũng (vô chủ) bị nhân duyên
chi phối.
23) Dù không ai ưa thích nó,
nhưng bịnh tật một khi hội đủ nhân duyên thì tự phát sinh. Cũng vậy, vì bị
vô minh, tà kiến che lấp nên khi gặp ngoại cảnh nghịch ý thì con người nổi
sân lên.
24) Khi nổi sân, con người đâu
có nghĩ trước rằng: "Bây giờ ta phải nổi sân!". Và cơn giận, tự nó cũng
đâu có nghĩ rằng: "Bây giờ ta phải xuất hiện".
25) Như vậy, tất cả lỗi lầm
cùng hành động xấu ác đều do nhân và duyên hòa hợp sanh khởi. Không có cái
gì có thể phát sinh tự nó được.
26) Khi "nhân" và "duyên" phối
hợp với nhau, chúng không cố ý tạo ra một cái gì cả. Và "quả" cũng vậy, nó
không bao giờ nghĩ là nó được tạo ra bởi cái gì cả.
27) Cái thường được gán gọi là
bản chất đầu tiên hoặc cái được tưởng tượng dưới nhãn hiệu "Ta", không bao
giờ tự phát sinh sau khi suy nghĩ: "Ta sinh".
28) Vì trước khi được sinh ra.
Nó không có (hiện hữu) và như thế làm sao có thể "muốn" sinh ra được? Nếu
nó thường có (vĩnh cửu), nó sẽ không bao giờ tách rời khỏi đối tượng của
nó và như vậy việc giải thoát không thể có được.
29) Nếu cái Ta (Atman) thường
hằng, vô biên như hư không thì đương nhiên nó bất động chuyển. Tự tánh nó
như vậy thì dù có xúc chạm với bất cứ vật gì đi nữa, nó cũng không bị
chuyển động.
30) Ngay khi xúc chạm sự vật mà
nó vẫn như như không khác lúc trước khi xúc chạm, vậy nhân duyên nào lại
có thể lay chuyển nó? Nếu bảo tự nó chuyển động thì là cả một sự sai lầm!
Một vật làm sao lại có thể có hai tự tánh cùng một lúc được? (vừa bất
chuyển động vừa chuyển động) [1].
31) Như vậy tất cả sự vật bắt
nguồn từ nhiều nhân, và những nhân này lại tùy thuộc vào nhiều nhân khác
nữa. Không có gì độc lập tự hữu cả! Hiểu như thế, làm sao ta có thể nổi
sân lên đối với những tên người máy (rô bô) vô chủ cử động như ảo ảnh,
huyễn thuật?
32) Nhưng người ta sẽ hỏi rằng:
"Nếu các pháp không có thật (như ảo như huyễn) vậy "Ai" sẽ dằn cơn giận?
Và nếu như không có "Ai" thì cần gì phải dằn cơn giận?" -Cần chứ! Bởi vì
tuy không có "Ai" cả nhưng tiến trình nhân quả vẫn tiếp diễn. Ngăn chặn
cơn giận thì sẽ hóa giải được hậu quả đau khổ.
33) Khi một người bạn hay một
kẻ thù có những hành động bất hảo với ta, ta hãy nên nhủ lòng: "Ðây là
nhân duyên đang hoạt động" và giữ tâm vắng lặng.
34) Nếu tất cả vật phát sinh
theo ý muốn con người thì chắc không có ai khổ cả: vì đâu có ai lại muốn
đau khổ bao giờ!
35) Bởi si mê, sân hận, ham
muốn dục lạc, nữ sắc nên con người cấu xé nhau, đói khát khổ sở.
36) Lại cũng có người vì đó mà
tự hại mình như: thắt cổ, gieo mình xuống vực thẳm, uống thuốc độc, ăn
uống quá độ, v.v.. Thảy đều là tội lỗi.
37) Chỉ vì nô lệ cho ái dục,
con người đâm ra hủy hoại thân thể (quý giá) của mình. Như vậy làm sao bảo
vệ được thân thể cho người khác?
38) Với những kẻ điên dại vì ái
dục, luôn não hại ta, nếu ta không khởi được lòng từ bi thương xót họ, thì
ít nhất ta cũng đừng nên sân hận (với họ).
39) Nếu tự tánh của những kẻ si
mê trên là ác độc, chuyên làm khổ người khác thì nổi sân với họ chẳng khác
chi nổi sân với ngọn lửa. Ðó là một điều vô lý.
40) Ngược lại, nếu tự tánh của
họ hiền lành, ngay thẳng và sự ác độc của họ chỉ là tạm thời chốc lát thì
nổi sân với họ cũng vô lý như nổi sân với làn khói trong hư không.
41) Khi bị đánh đập, không ai
giận cây gậy cả, mà giận chính người xử dụng cây gậy. Cũng vậy, đối với
người sân hận ta, ta không nên giận họ mà hãy nên giận cái tánh sân hận đã
thúc đẩy họ.
42) Xưa kia ta não hại người
nên nay người não hại ta. Ðó là quả báo đương nhiên.
43) Sự đau khổ của ta có hai
nguyên nhân: lưỡi kiếm chém ta và thân ta bị chém. Người kia đã lựa cây
kiếm còn ta thì khoác cái thân này. Như vậy còn trách ai?
44) Bởi vô minh che lấp, ta đã
bám víu vào thân này, không biết thực tướng của nó chính là một vết thương
nặng, chỉ cần đụng nhẹ cũng gây đau đớn. Như vậy, thử hỏi khi nó đau thì
giận ai (nếu không phải là giận chính ta)?
45) Ta không thích khổ đau
nhưng lại thích (tạo) nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Ôi! Không ai điên rồ
hơn ta! Chính vì (tội lội của) ta mà đau khổ phát sinh, tại sao lại đi
giận kẻ khác?
46) Chính những hành động của
ta đã tạo ra cảnh địa ngục với rừng đao lá kiếm và cũng chính hành động
của ta tạo cho ta khổ đau hiện thời. Như vậy ta còn giận ai?
47) Chính những hành động của
ta đã khiêu khích kẻ khác (để họ tức giận) và khiến họ đọa địa ngục. Thủ
phạm há chẳng phải là ta ư?
48) Nhờ họ mà ta thành tựu được
hạnh nhẫn nhục, tẩy trừ nhiều tội lỗi. Nhưng ngược lại, vì ta mà họ phải
đọa địa ngục lâu dài.
49) Họ là những ân nhân của ta,
trong khi ta lại hành quyết họ. Ôi! Cái tâm (mất dạy của ta) ơi, sao ngươi
không biết hổ thẹn mà lại đòi giận tức?
50) Nếu biết hành hạnh nhẫn
nhục thì ta sẽ tự cứu được mình không đọa địa ngục. Nhưng những kẻ khác
thì sao?
51) Dù ta có trả thù họ đi nữa,
không phải vì thế mà họ được cứu rỗi. Ngược lại, sự nghiệp Bồ Tát của ta
sẽ đổ gẫy và những kẻ đáng thương kia sẽ bị đọa đày.
52) Tâm của ta vô tướng mạo,
không phải bằng vật chất nên không ai có thể đánh đập được nó. Nếu nó bị
đau đớn, chẳng qua chỉ vì nó bám víu vào cái thân mà thôi.
53) Những lời mắng chửi, nói
xấu, vu oan, v.v.. không ăn nhằm hay tổn thương gì đến thân, thế nhưng tại
sao ngươi lại nổi giận hả tâm?
54) Nếu có nhiều người thù ghét
ta, sự việc đó đâu có cắn xé được ta trong đời này hay đời sau, tại sao ta
lại sợ hãi?
55) Vì sợ mất lợi dưỡng chăng?
Dù muốn dù không, lợi dưỡng cũng tan biến sau đời này, trong khi đó nghiệp
xấu của ta vẫn tiếp tục mãi đời sau.
56) Thà chết ngay ngày hôm nay
còn tốt hơn là sống lâu trong tà kiến. Bởi vì, dù có sống lâu đi nữa cũng
không ai thoát khỏi đau đớn của cái chết.
57-58) Một người, trong chiêm
bao thấy mình sống sung sướng 100 năm; người khác lại mơ thấy chỉ sung
sướng trong một giờ. Cuối cùng cả hai đều thức dậy và khi đó hạnh phúc kia
cũng không còn. Cũng vậy, dù cuộc đời có dài hay ngắn, khi cái chết đến
thì cũng chấm dứt như nhau.
59) Dù có sống sung sướng, giàu
sang, hưởng thọ khoái lạc, cuối cùng ta cũng phải ra đi với hai bàn tay
trắng, giống như người bị kẻ cướp bóc lột.
60) Có người bảo: "Nhờ giàu
sang ta mới có thể sống lâu để tích tụ công đức, tiêu trừ tội lỗi". Ðúng
vậy, nhưng nếu vì lợi dưỡng mà nổi sân thì đó lại là tích tụ tội lỗi, tiêu
mòn công đức.
61) Nếu không có một mục đích
lý tưởng cao thượng trong đời thì sống lâu có ích lợi gì? Phải chăng để
tạo nghiệp ác?
62) Chắc chắn ta ghét kẻ nói
xấu ta, vì như thế họ sẽ làm người khác không tin tưởng ta nữa. Thế sao
khi họ nói xấu kẻ khác thì ta lại thản nhiên?
63) Ta thản nhiên được khi kẻ
khác bị nói xấu, thế sao ta lại khó chịu trước những lời thật (trái tai)
vạch rõ lỗi lầm của ta?
64) Ðối với những người bất
kính, đập phá tượng, tháp, kinh sách, ta cũng không nên nổi giận. Bởi vì
ngay cả đức Phật và chư thánh tăng cũng đâu có bị (tổn thương) gì!
65) Nếu kẻ nào xử tệ với thầy
ta, cha mẹ ta và những người thân ta, ta hãy kềm tâm hãm giận, quán chiếu
đó chỉ là kết quả của nhiều nhân duyên.
66) Sự đau khổ của chúng sinh
chính là hậu quả của những nguyên nhân cố ý hay vô tình và nó chỉ phát
hiện với một chúng hữu tình. Vậy hãy ráng nhẫn chịu tâm ơi!
67) Một kẻ thì tạo ác bởi vô
minh, một kẻ thì nổi sân vì si mê. Vậy ai đúng ai sai?
68) Xưa kia ta đã tạo hành động
gì để ngày nay khiến người khác làm ta đau khổ? Tất cả đều là kết quả
nghiệp quá khứ, làm sao trách cứ được ai?
69) Hiểu như vậy, ta sẽ cố gắng
tạo nghiệp lành, cầu cho tất cả chúng sinh có được ý niệm thương yêu lẫn
nhau.
70) Khi có một căn nhà bị cháy,
người ta sẽ chạy sang nhà bên cạnh, lôi vứt tất cả rơm cỏ khô và những đồ
dễ bắt lửa.