Ý nghĩa
Vía Phật -
Bồ Tát trong năm
---o0o---
ĐỨC PHẬT A
DI ĐÀ
Thích Hữu Thiện
I.
DẪN NHẬP
Nói đến Phật A Di Đà, là người ta nghĩ
ngay đến một vị Phật của đại chúng, công đức hoá độ khắp các quốc gia trên
khắp thế giới. Mọi thành phần xã hội từ thấp đến cao, không phân biệt giới
tính, màu da sắc tộc, ai cũng có thể niệm đến danh hiệu ngài từ một đến
mười niệm; hoặc niệm liên tiếp từ một đến bảy ngày, tâm được chuyên nhất
thanh tịnh, chỉ trong giây phút niệm cũng cảm ứng được sự mầu nhiệm từ tự
tâm phát khởi thánh thiện. Mọi nguyện vọng chính đáng đều được đáp ứng.
Do đó
danh hiệu ngài như một bài Kinh được truyền tụng phổ thông. Kể cả thuyền
tông giáo ngoại chủ trương tự lực, mỗi thời đại vẫn có một số thiền sinh
niệm danh hiệu ngài để được minh tâm Kiến tánh.
Lưu ý,
cầu nguyện không niệm Phật nhất tâm không hiệu quả. Vì đạo phật là đạo
giác ngộ chứ không phải một tôn giáo quyền năng. Đức phật được xem như một
vị đạo sư gương mẫu đáng tôn kính cho đệ tử noi theo hơn là ban phát ơn
phước cho những kẻ cầu xin thiếu phần tự lực.
II.
NỘI DUNG
1.
Tiểu sử: Theo kinh Bi Hoa, thuở xa xưa vào một đại kiếp gọi là
Thiện Trì, cõi nước Tản đề Lam, có một vị chuyển luân Thánh Vương là vô
Tránh Niệm, thống trị bốn châu thiên hạ: Một là Đông Thắng Thần Châu, hai
là Nam Thiện Bộ Châu, ba là Tây Ngưu hoá Châu, bốn là Bắc cưu lô Châu.
Theo cách nói nay, bốn châu này gồm các nước trên mặt đất, tức là tất cả
địa lý nhân sinh trên thế giới (?)
Bắt đầu
từ chữ Phạn La tinh hoá Cakra-Var-Tira. Vị chuyển luân Thánh Vương có 32
tướng tốt như Phật, dùng pháp hiền thiện minh triết giáo hoá thống trị
quốc dân. Người hành Thập thiện được khen thưởng quí trọng, người hành
Thập ác bị trừng phạt bằng tiếng sét như sấm trời xẹt lửa loại người ấy ra
khỏi cộng đồng sự sống. Đến khi nhiều người sống thập ác, vị chuyển luân
thánh vương ấy và triều thần quyến thuộc không xuất hiện nữa, vì ngài
không nỡ diệt hết bọn xấu, để cho quy luật nhân quả đủ cơ duyên vận hành
dạy cho chúng kinh nghiệm. “Bài học kinh nghiệm bao giờ cũng đánh trước
dạy sau!”
Theo
luận Câu Xá quyển 12, thời vua chuyển luân thánh vương xuất hiện tuổi thọ
nhân loại cao đến tám vạn tuổi, môi trường sinh thái tinh khiết, đất đai
mầu mở, cây cỏ xinh tươi, vật chất sung mãn. Vị vương này chuyển luân ứng
phó nên gọi chuyển luân vương. Có bốn loại chuyển luân vương là Kim, ngân,
đồng, thiết. Theo thứ tự đó các vị vương ấy lần lượt cai quản bốn Châu
thiên hạ.
Khế kinh
ghi: Vua sinh vào dòng Sát đế lợi ( giai cấp quyền quý của Ấn Độ xưa), đến
tuổi trưởng thành nối ngôi soái đỉnh, sau 15 ngày tắm gội sạch sẽ nghiêm
tịnh khiêm cung cử hành đại lễ, thụ đủ các loại giới luật của Đại Phạm
Thiên Vương, rồi bay lên đài cao, thần liêu phụ tá. Phía đông tức thì Kim
luân bảo xuất hiện hai ngàn luân xa, vành trục mọi thứ đều toả ánh hào
quang lóng lánh chiếu dọi đến vương sở; vị ấy chắc chắn là Kim chuyển luân
Vương.
Theo
Chuyển luân Thánh Vương tu hành kinh, Trường A Hàm quyển sáu, chuyển luân
Vương có bảy báu: 1. Kim luân bảo; 2. Bạch tượng bảo; 3. Cam mã bảo; 4.
Thần châu bảo; 5. Ngọc nữ bảo; 6. Cư sĩ bảo; 7. Chư binh bảo và Ngài có
một ngàn người con thông sáng hùng dũng!
Bảo thứ
sáu, Kinh Niết Bàn gọi là Chủ tàng thần bảo, Kinh Tạp thí dụ gọi là: Điển
Tài Bảo. Bảo vật dùng để trấn quốc, gọi Chung Thất bảo. Vua chúa xưa có
nhiều vợ thì có nhiều con. Ngày nay ở thành phố Hồ Chí Minh cô Tiểu Hương
ở dưới đáy xã hội vươn lên cao sống độc thân có hơn một nghìn người con
nuôi được cô cho đào tạo trí thức, đạo đức, tài nghề từ tiểu học đến đại
học sống tốt với xã hội.
Vua Vô
Tránh Niệm cai quản Bốn Châu Thiên hạ là vị Chuyển luân thánh Vương địa vị
thống soái đĩnh cao nhất thời bấy giờ. Trong triều đình của vua có quan
đại thần Bảo Hải, dòng Phạm Chí rất tinh thông Thiên văn học, mến mộ Phật
giáo ( Bảo Hải là tiền thân Phật Thích Ca) ông có người con trai tướng hảo
thông tuệ, khi mới đản sinh được các nhà tôn quí kính tặng nhiều châu báu
nên đặt tên là Bảo Tạng.
Bảo Tạng
nhận thấy thân tâm thế giới vô thường khổ, nên xin với cha mẹ xuất gia tu
Phật. Cha mẹ thương mến không nở xa lìa, nhưng thấy con kiên quyết quá đến
quên ăn bỏ ngủ, rồi cũng chiều ý con. Thế là vị đại công tử hưởng thụ cao
lương mỹ vị xa hoa trở thành Sa Môn Khất sĩ đầu trần chân đất xin giáo
pháp Phật nuôi tâm, xin cơm bá tánh nuôi thân, tam y nhất bát, mỗi ngày độ
ngọ một lần, đêm ngủ một giấc, dùng trí bát nhã ba la mật giãi trừ ác
kiến, tự phá ma tâm, thiền định kiên cố. Tu tập tinh chuyên không bao lâu
sau tu sĩ Bảo Tạng chứng quả vô thượng chánh đẳng giác thành Phật hiệu Bảo
Tạng Như Lai.
Đức Phật
Bảo Tạng đến nhiều nơi đô hội trong nước hoằng khai đạo tràng giảng dạy
Kinh Pháp, người đến nghe quy ngưỡng rất đông. Người nhàm chán sinh tử xin
xuất gia, tu hạnh Thinh văn, Phật thuyết Trung đạo Tứ đế; Người thích hạnh
độc cư nghiên cứu tu quả Duyên giác Bích chi Phật siêu thoát sinh tử,
ngài thuyết Thập Nhị Nhân duyên; người tích cực nhập thế giúp đời ngài
thuyết Bồ tát Lục độ vạn hạnh, người cầu thành Phật, thượng báo Tứ đại
trọng ân hạ tế tam đồ khổ, ngài thuyết Nhất thừa Phật đạo; Người muốn vượt
Giáo môn minh tâm Kiến tánh thành Phật, ngài chỉ thẳng chân như tự tính.
Hạng người nào đến thính pháp qui y cũng đều được tăng tiến phúc huệ.
Danh
thơm tiếng tốt của Phật Bảo Tạng đến tai Vua Vô Tránh Niệm, Vua cũng thỉnh
Phật và chư tăng vào vương cung cúng dường y phục, phẩm thực, y dược toạ
cụ trong ba tháng hạ chu đáo. Lúc bấy giờ quan đại thần Bảo Hải, giống như
vua Tịnh Phạn sau khi nghe pháp chứng thánh quả Tu đà hoàn trở thành cư sĩ
Bồ Tát, nhân một buổi thiết triều bàn luận quốc sự xong, hành lễ tâu với
vua Vô Tránh Niệm: “-Bệ hạ cúng dường cầu quả phúc nhân thiên mỹ mãn cũng
chỉ ở trong tướng vô thường biến đổi như gió thoảng mây tan. Do túc nghiệp
tu phúc huệ hữu lậu đời trước nay được quả vị tôn quí không ai sánh kịp,
thuận tiện giúp đời khôn sáng, cơm no, áo ấm; nhưng chiều sâu tâm lý bệ hạ
và thần dân vẫn bất an vì sanh lão bịnh tử khổ. Chi bằng phát tâm bồ đề,
hành Bồ tát đạo Kiến tạo nước Phật thì hạnh phúc cho toàn dân biết mấy!
Vua vô
Tránh Niệm nghe qua đẹp ý, thu xếp việc triều chánh, xa giá đơn giản, quan
đại thần Bảo Hải cởi ngựa tháp tùng đến vườn Diêm phù đàn cận thành vua
cúng dường Phật tăng thính pháp. Đến nơi thấy Bảo Tạng Như Lai nhập định
phóng quang sáng suốt, soi rõ mười phương thế giới Tịnh Độ của chư phật
cho chúng hội Chiêm bái. Vua Vô Tránh Niệm cũng nhập chúng, xét thấy nhân
dân của mình sắc thân không ngời sáng như dân Phật, trí tuệ cũng kém hơn,
quốc độ đền đài cung điện thô thiển bằng cây đá chạm trổ, trong khi đó
cung điện xứ Phật làm bằng bảy báu lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san
hô, hổ phách v.v... Đặt biệt không có cõi Phật nào có dân nghèo khó, bệnh
viện, nghĩa trang!
Chiều
đến quan đại thần Bảo Hải từ tạ Vua về dinh thự riêng, vua hồi cung suốt
đêm không ngủ hồi tưởng tư duy, suy xét rút tinh tuý các nước Phật làm
thành đại nguyện xây dựng nước Phật cho mình. Sáng sớm Vua đến lễ bái Phật
Bảo Tạng xin chứng minh đại nguyện Bồ đề, dù trăm ngàn kiếp khổ khó thực
hiện quyết không thối chí như sau:
- “Bạch
đức thế tôn! Nguyện khi tôi thành Phật, đặng một thế giới đủ sự vui đẹp,
hình dáng nhân dân trong cõi ấy toàn sắc vàng, không có những đường địa
ngục, ngã quỉ, súc sanh xen ở. Hết thảy chúng sanh cõi ấy hiền thiện tu
tiến không thối đoạ vào ba đường dữù, người nào cũng có sáu phép thần
thông, căn thân tốt đẹp.
- Tôi
nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy đều hảo tướng nam tử, không thọ
báo nữ thân. Hết thảy chúng sanh được sanh vào đó, thần thức gá vào hoa
sen báu, hoa nở căn thân xinh tốt thọ mạng lâu dài.
- Tôi
nguyện cõi ấy, cảnh vật xinh tươi thanh tịnh trang nghiêm thường có hoa
tốt, hương thơm thoảng bay lan toả các hướng.
- Tôi
nguyện chúng sanh trong cõi ấy, vị nào cũng có ba hai tướng tốt, sáu phép
thần thông, trong một giây phút dạo khắp các cõi Phật mười phương cúng
dường Phật nghe pháp rồi trở về không trễ bữa ăn trưa.
- Tôi
nguyện nhân dân trong cỏi ấy đều được thọ dụng như ý, đúng giờ thọ thực,
có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mặt, y phục tinh tươm hiện đến bên
mình, không cần sắm sửa như cõi nhân gian bận bịu.
- Tôi
nguyện cầu cõi Phật được như thế, để đời đời kiếp kiếp vị lai thường tu Bồ
tát hạnh lợi ích chúng sinh, làm phật sự hy hữu tạo thành cõi Tịnh Độ. Đến
khi chứng đạo, thân ngồi nơi cội cây bồ đề, tâm toả sáng thành quả chánh
giác, phóng hào quang đến tận cùng mười phương pháp giới, chư Phật xem
thấy khen ngợi danh hiệu tôi.
- Tôi
nguyện sau khi thành Phật, các loài chúng sanh ở thế giới khác, đã có tu
tập thiện căn ( tín, tấn, niệm, định, tuệ) muốn sanh về cõi nước tôi, khi
lâm chung, tôi và thánh chúng hiện thân đến trước người ấy tiếp dẫn về
Tịnh dộ.
- Tôi
nguyện khi tôi nhập Niết Bàn đến vô số kiếp mai sau, nữ nhân trong thế
giới mười phương nghe đến danh hiệu tôi, phát bồ đề tâm chăm chỉ tu niệm
đến khi thành phật, luôn cảm quả thân đại trượng phu chứ không mang thân
người nữ nữa.
Bạch
đức thế tôn, tôi nguyện được cõi phật chúng sanh thanh tịnh trang nghiêm
viên mãn mới thành Phật.
Đức Bảo
Tạng Như Lai và đại chúng lắng nghe vua Vô Tránh Niệm phát đại nguyện xong
hoan hỉ thọ ký:
- “Lành
thay đại vương, ông hãy nhìn qua phương tây, cách nơi đây muôn ngàn trăm
ức cõi Phật có một thế giới là Thiện vô cấu thanh tịnh hoàn hảo, giáo chủ
cõi ấy hiệu Tôn ÂmVương Như lai hiện đang thuyết pháp. Vị Phật nối pháp
đời thứ hai là Bất Khả Tư Nghị công Đức Như lai, đổi hiệu thế giới ấy
thành An Dưỡng quốc và Kiến thiết Cực lạc thế giới; Vị Phật ấy là thân sau
của ông đấy! –Thời gian còn dài, nay tôi đặt pháp danh cho ông là vô lượng
Thanh Tịnh. Vua vô Tránh Niệm nghe qua rất mừng, tâm lành phát khởi trí
tuệ vô nhiễm vi diệu, Phật Bảo Tạng mỉm cười cất tiếng phạm âm: “Thiện lai
Tỷ Khưu!” tức thì vua Vô Tránh Niệm râu tóc rụng hết, áo hoàng bào đổi
thành manh áo vá nhiều mảnh của một nhà sư đầu trần chân đất tinh tiến tu
học.
- Kinh
vô Lượng Thọ, quyển thượng ghi rằng: “Lúc bấy giờ có vị đế vương cung kính
nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, tâm đắc, phát tâm bồ đề vô thượng,
xả bỏ quốc thành, thê tử quyến thuộc, xuất gia thực hành hạnh Sa môn hiệu
là Pháp Tạng. Ngài có tài đức cao siêu mà rất khiêm tốn đến dưới pháp toà
của Phật đãnh lễ, đi nhiễu ba vòng quỳ xuống chấp tay nói kệ khen ngợi:
Dung
nhan Phật cao vời
Oai đức
lớn cùng cực
Chiếu
sáng thật rực rở
Soi đến
chổ tối tăm
Giãi trừ
các phiền não
Cho
chúng sanh an lành.
(...)
Tỳ kheo
Pháp Tạng nói bài tụng xong liền bạch Phật: -Kính lạy đức Thế Tôn, nguyện
thế tôn vì con diễn nói pháp vô thượng chánh giác, để con tu hành gìn giữ
cõi Phật nhiệm mầu trang nghiêm, sớm thành tựu quả chánh giác giáo hoá
chúng sanh thoát khỏi mê lầm đau khổ trong sinh tử.
Phật Thế
tự tại vương biết được ý chí cao siêu, tín nguyện sâu chắc của Tỳ Kheo
Pháp Tạng nên thuyết giảng: “Nếu có người tinh tấn chí tâm cầu đạo không
dừng sẽ được kết quả. Rồi ngài nói rõ 210 ức quốc độ của chư Phật, từ thô
sơ đến vi diệu, việc lành dữ của nhân thiên. Do thần lực của Phật tác động
các cỏi Phật mười phương cũng hiển hiện trước pháp nhãn của Tỳ Kheo Pháp
Tạng. Ngài biết được phải làm thế nào cho tâm thanh tịnh để nghiêm tịnh
quốc độ, rồi thực hành tư duy, Thiền định cho phát sanh trí tuệ; thực hiện
nghiêm túc, trải qua năm kiếp tinh chuyên cần mẫn, Phật Thế Tự Tại Vương
thấy Tỳ Kheo Pháp Tạng đã viên mãn hạnh trang nghiêm Phật độ nên bảo:
“Thật đúng thời, ông nên vì tất cả đại chúng, rút tinh tuý 210 ức cõi Phật
lập thành nguyện lớn tuyên thuyết để các vị Bồ Tát ấy tu hành theo cho
đúng pháp.
Tỳ kheo
Pháp Tạng bạch Phật: “Cúi mong đức Thế Tôn từ mẫn chứng minh 48 điều
nguyện lớn của con sau đây:
1.
Nguyện khi tôi thành Phật, nếu trong cõi nước tôi có địa ngục, ngạ quỉ,
súc sanh, thời tôi không ở ngôi chánh giác.
(....)
Tỳ kheo Pháp Tạng thuyết xong 48 điều đại
nguyện, cõi đất sáu thứ chấn động. Trời rưới mưa hoa trỗi nhạc vui mừng
khen ngợi. Trong hư không tiếng chư Phật như hải triều âm vang vọng: “ Tỳ
kheo Pháp Tạng quyết thành tựu quả vô thượng chánh giác”. Từ đó về sau số
kiếp nhiều không thể nghĩ bàn, Tỳ kheo Pháp tạng thực hành đầy đủ đại
nguyện lực ấy, Kiến tạo xong Thế giới cực lạc, thành Phật hiệu A Di Đà.
Có đôi
điều khác biệt giữa hai Kinh. Kinh Bi Hoa nói Bảo Tạng Như Lai, (là vị
Phật nắm giữ tạng pháp quí báu dùng hoá độ nhân thiên.) Kinh vô Lượng Thọ
nói đức Thế Tự Tại Vương Như Lai (là vị Phật nắm giữ tạng pháp tự tại giữa
thế gian hoá độ nhân thiên.) Phật hiệu hai đức Như Lai khác, ý nghĩa không
khác. Phật nào cũng có đủ 10 danh hiệu: Như Lai, ứng cúng, chánh biến tri,
minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng
phu, thiên nhân sư, Phật thế tôn.
Kinh Bi
Hoa nói Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện lớn, được đức Phật Bảo Tạng Thọ ký
sẽ thành Phật A Di Đà và đặt pháp danh ngay thời điểm ấy là Vô Lượng Thanh
Tịnh. Kinh vô lượng Thọ nói, thuở ấy có vị quốc vương xuất gia hiệu là tỳ
kheo Pháp Tạng, phát 48 điều đại nguyện được đức Phật Thế tự tại vương thọ
ký cho sẽ thành Phật A Di Đà giáo chủ cực lạc thế giới ở phương tây. Tạng
pháp của Phật hàm chứa vô lượng thanh tịnh người sử dụng sẽ vô tranh, được
vô tránh tam muội (chánh định). Tiền thân đức Phật A Di Đà có quá nhiều
kiếp là quốc vương xuất gia làm Bồ Tát Tăng, nghiêm tịnh quốc độ thì mỗi
đời quy y với mỗi vị Phật khác, được pháp danh khác, nhưng đặc biệt ý
nghĩa nghiêm tịnh vẫn y như mãi mãi thì người mới nhận ra tâm lý của một
vị Bồ Tát tu chứng chuyển thân, tuy danh tướng có khác, nhưng nguyện vương
không dời đổi.
Đối
chiếu đại nguyện của vua vô Tránh Niệm và 48 đại nguyện của Tỳ Kheo Pháp
Tạng, lời văn có đồng dị nhưng ý nghĩa vẫn một. Đại nguyện của vua Vô
Tránh Niệm như bản văn cô động 48 điều đại nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng.-
Trái lại 48 điều đại nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng như khai triển đại
nguyện của vua Vô Tránh Niệm.
Vua Vô
Tránh Niệm (Bồ Tát vô lượng Thanh Tịnh), Tỳ Kheo Pháp Tạng là hai hay một
tiền thân Phật A Di Đà, cũng không cần phải đào sâu tìm biện chứng, bởi
trí Phật không vướng bận danh tướng, chỉ nhấn mạnh chỗ giác ngộ duyên sanh
vô ngã nhìn ra thực tướng, là đệ tử Phật cần thực hành Phật trí vô ngã, vô
ngại, toả sáng.
- Vì
Kinh sách Tịnh Độ không ghi rõ ngày đản sinh, xuất gia thành đạo của Phật
A Di Đà, nên người tu Tịnh Độ chọn ngày sinh của Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư là
ngày 17 tháng 11 âl cữ hành lễ vía, nhớ lại đức Phật A Di Đà. Vĩnh Minh
Thọ Thiền Sư được xem như là hoá thân của Phật A Di Đà, qua câu nói của
Hoà thượng Hành Tu giải đáp câu hỏi của Ngô Việt Vương. Ngài Vĩnh Minh Thọ
thiền sư cũng được tôn là tổ thứ sáu, của Tông Tịnh Độ, Trung Hoa. Theo
sách Đường về cực Lạc:- Ngài sinh vào đời Tống, người Tiền Đường, họ Vương
tự Xung Huyền. Thuở thiếu niên thường trì tụng Kinh Pháp Hoa, cảm bầy dê
quì mọp nghe Kinh.
Trưởng
thành làm quan coi về thuế vụ cho Văn Mục Vương, nhiều lần lấy tiền công
đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh. Bị phát giác hình quan thẩm định án
tử. Khi áp giải ra pháp trường sắc mặt vẫn bình thản, vì tin rằng do công
đức phóng sinh hồi hướng sẽ được sinh Tịnh độ. Văn Mục Vương cảm động tha
bổng. Ngài xin xuất gia, Vương cho phép, ngài đến Tứ Minh thọ pháp với Tuý
Nham Thiền Sư. Sau tham học với Thiền Quốc sư tỏ ngộ chân tánh được ấn
khả. Ngài tụng Pháp Hoa Sám, thấy Bồ Tát Quan Thế Âm rưới nước cam lồ vào
miệng, được biện tài vô ngại. Ngài tu Thiền nhưng rất mến mộ Tịnh, một hôm
đến thiền viện của Trí giả đại sư làm hai lá thăm: Một đề Nhứt tâm thiền
định, một đề Trang nghiêm Tịnh độ. Sau 7 lần rút thăm đều rút nhằm lá thăm
Trang Nghiêm Tịnh độ. Từ đó ngài tận lực tu niệm hoằng hoá pháp môn Tịnh
độ.
Năm long
Kiến thứ hai, Trung ý vương thỉnh ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu
Trí giác Thiền Sư, ngài trụ ở đây 15 năm, độ được 1700 vị tăng và cư sĩ
qui hướng Tịnh độ rất nhiều. Ngài trứ tác tập Vạn Thiện đồng quy, chủ ý
khuyến tu các pháp lành qui hướng về Tịnh độ, lời văn thiết yếu như sau:
“Sanh về duy tâm Tịnh Độ là phần của bậc liễu đạt tự tâm (...).Người quán
trí cạn, tâm tưởng thô, trần cảnh mạnh, tập khí nặng, cần phải sanh Tịnh
độ, để được nơi duyên thù thắng, nhẫn lực mới dễ thành, mau viên mãn Bồ
Tát Đạo” – Năm Khải Bửu thứ 8, ngày 26 tháng 02, sáng sớm thức dậy, ngài
lễ Phật xong, gọi đại chúng lại răn dạy, dặn dò, rồi ngồi Kiết già thẳng
lưng thị tịch, thọ 72 tuổi.
2.
Danh hiệu và hình tượng biểu trưng
-
Danh hiệu Phật A Di Đà:
Bắt đầu từ tiếng Phạn Brahama, ở Ấn Độ,
nguyên âm đọc là Amita; La tinh hoá là Amitabha. Từ điển Phật học Hán
Việt, dịch là Vô lượng thọ, cộng với 12 danh hiệu trong Kinh Vô Lương Thọ
và giải đến 13 danh hiệu: Vô lượng quang Phật, Vô biên quang Phật, Vô đối
quang Phật v.v... nói lên những đặc tướng của Phật tính. Kinh A Di Đà yếu
giải Sa môn Trí Húc dịch là Vô lượng Thọ, vô lượng quang; dung hội lại có
3 nghĩa: Vô lượng Thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.
Vô lượng
quang, là hào quang thanh tịnh của Phật A Di Đà toả sáng tận cùng mười
phương pháp giới như ánh sáng mặt trời soi rọi bóng đêm. Có người thấy
được người không. Người thấy được do niệm danh hiệu Phật ý thức Thanh tịnh
như hoa sen vượt khỏi mặt nước tham dục tự tâm sáng tõ; người không thấy
được là vì bóng tối vô minh che phủ như mặt trời bị mây áng, hoặc tâm
xoay vòng theo ngũ dục như trái đất xoay vòng lẩn khuất nên có tối, có
sáng khi ẩn, khi hiện.
Vô Lượng
Thọ, là thọ mạng của Phật A Di Đàvà nhân dân của ngài vô cùng lâu xa. Ngài
thành đạo trước Phật Thích Ca rất lâu mà hiện tại vẫn còn đang thuyết pháp
và tiếp dẫn người hữu duyên. Ở cõi này thân ngũ uẩn sống trong môi trường
ô nhiễm dễ hư hoại, phúc đức kém, người sống đến trăm tuổi là hiếm. Thế mà
các vị sư thiền định yoga trên núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn, Ấn Độ sống đến ba,
bốn trăm tuổi, thì Cực lạc thế giới liên hoa hoá thân, môi trường tinh
khiết, thức ăn chính là thiền duyệt vi thực, thiền duyệt vi lạc trường thọ
là lẽ đương nhiên.
Vô Lượng
công đức, ngài có nhiều công đức không cùng tận như là trí tuệ, thần
thông, đạo lực, chánh báo ( căn thân) y báo (cảnh giới) trang nghiêm,
thuyết pháp, giáo hoá, tế độ v.v... Trước khi thành đạo, ngài có nhiều
kiếp vì chúng sanh hành Lục độ ba la mật. Có thể nói ngày xưa trên mặt đất
nầy nơi nào cũng có dấu chân hành đạo của ngài. Đến khi kiến tạo Thế giới
Cực lạc Phương Tây xong, ngài tiếp dẫn chúng sinh mười phương thế giới về
nước Phật của ngài định cư, sinh sống tu học thành thanh tịnh đại hải
chúng không thể nghĩ bàn. Hiện nay trên mặt địa cầu có khoảng 6 tỷ người,
Phật giáo đồ khoảng 600 triệu, trong đó số người niệm Phật A Di Đà hành
thiện, bố thí giúp đời hơn 300 triệu người. Các ngành công an, an ninh
trật tự, giáo dục... canh chừng giáo hoá tội phạm của các quốc gia có Phật
giáo đồ Tu tịnh được lợi ích vơi bớt đi gánh nặng không phải là nhỏ !
-
Hình tượng biểu trưng:
Trong
Phật giáo, nơi chánh điện chùa Thiền Tông và các tông phái khác thường thờ
đức bổn Sư Thích ca ngự chánh giữa, bên phải là Phật A Di Đà, bên trái là
Đại Bồ Tát Di Lặc.- Phật Thích Ca là Phật hiện tại, Phật A Di Đà là Phật
quá khứ, Đại Bồ Tát Di Lặc là Phật tương lai. Đối với người dụng tâm hành
đạo giác ngộ, Phật Thích Ca tượng trưng cho bản giác, phật Di Đà tượng
trưng cho thỉ giác, Đại Bồ Tát Di Lặc tượng trưng cho hoạt dụng từ bi trí
tuệ của thỉ bản giác từ pháp tánh Tỳ lô giá na! Thì nơi chánh điện chùa
Tịnh Độ thờ Tam Thánh Tây phương cực lạc. Chính giữa là tượng Phật A Di Đà
đứng trên toà sen, tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đứng trên toà sen bên phải,
tượng Bồ Tát Quan Thế Âm đứng trên toà sen bên trái. Hai vị đại sĩ này
thường phụ trợ Phật A Di Đà giáo hoá, tiếp dẫn chúng sanh. Toàn thân Tây
phương tam thánh đều rực rỡ toả ánh hào quang như sắc vàng Diêm phù đàn.
Đức Phật A Di Đà cao 1 trượng sáu, trên đảnh có tướng nhục kế đỏ tươi như
sen hồng biểu thị cho trí tuệ tuyệt vời sáng suốt. Tướng bạch hào sáng
trắng như ngọc uyển chuyển xoay về bên hữu phóng hào quang. Đôi mắt Phật
sáng ngời như nước biển long lanh, tay trái ngài nâng hoa sen, tay phải
duổi xuống tiếp dẫn.- Bồ Tát Đại Thế Chí đầu đội thiên quang có 500 bảo
hoa, mỗi bảo hoa có 500 bảo đài. Trong mỗi bảo đài hiện rõ tướng quốc độ
tịnh diệu của chư Phật. Nhục kế nơi đỉnh đầu ngài hình hoa bát đầu ma.
Trên nhục Kế có một bình bảo tượng đựng các thứ quang minh hiện thân khắp
mười phương giúp người niệm Phật thu thúc sáu căn đi vào địa vị bất thối
chuyển. Tay trái của Bồ Tát đưa lên ngang ngực hình nửa hoa sen búp, lòng
bàn tay hướng về phía trước như sẳn sàng chào đón chúng sanh tu tịnh, tay
phải hình nửa hoa sen búp lật ngửa trân trọng những ai tìm đến cõi Phật.-
Bồ Tát Quán Thế Âm đầu đội thiên quang bằng chất báu Tỳ Lăng già Mâu Ni,
nơi thiên quang có một vị Phật ngồi nhập định. Tay trái Bồ Tát cầm tịnh
bình trút xuống cõi đời nóng bức, tay phải hình nửa hoa sen búp đưa lên
ngang ngực; tai lắng nghe, xem xét tiếng kêu đau thương của chúng sanh cứu
giúp.
Đối với
hành giả dụng tâm hành đạo, Bồ Tát Đại Thế Chí tượng trưng cho ý chí dũng
mãnh, bồ đề tâm kiên cố niệm Phật thu thúc 6 căn. Đức Phật A Di Đà tượng
trưng cho tâm thanh tịnh toả sáng. Bồ tát Quán Thế Âm tượng trưng cho hoạt
dụng của tâm thanh tịnh trí tuệ từ bi.
Xuất xứ
tượng Tây phương Tam thánh từ pháp quán thứ 13, Phật Bồ Tát của Quán Kinh.
Cũng có
nơi thờ tượng đức A Di Đà Phật đứng lơ lững giữa hư không, phía dưới là
biển cả sóng dậy chập chùng, mắt ngài nhìn xuống, tay trái Kiết ấn, tay
phải duỗi xuống tiếp dẫn. Gọi là tượng Di Đà phóng quang. Căn cứ vào ý
nghĩa tượng trưng nầy bậc Cổ Đức làm kệ khuyến tu:
“Sông ái
sóng cao ngàn thước
Bể khổ
dậy muôn trùng
Muốn
thoát luân hồi khổ
Phải gấp niệm A Di Đà!”
- Phật,
Bồ Tát ngự trên hoa sen tượng trưng cho tâm vô nhiễm, tác pháp thanh tịnh
lợi ích chúng sanh, như hoa sen “ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” -
Nhưng hoa sen trên đời này phải chịu quy luật vô thường sinh diệt, dù tươi
đẹp, có hương thơm cũng phải tàn héo. “Hoa nở để rồi tàn, trăng tròn để
rồi khuyết, người hợp để mà tan.” Hoa sen ở thế giới cực lạc là tinh tuý
của bảy báu: Vàng, ngọc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não... lưu
xuất từ tánh chân như diệu dụng. Cho nên nói hoa sen trong cỏi hồng trần
cũng chỉ mang ý nghĩa biểu trưng mà thôi!
3.
Niệm Phật hiệu quả hiện tiền
Ảo và thật là hai vấn đề khó phân tách.
Giống như Trang Chu mộng thấy mình hoá bướm, thức dậy không biết ông là
bướm hay bướm là ông. Nhưng nếu chịu sưu tầm nghiên cứu, tư duy có biện
chứng thì người ta có thể thuyết minh được. Pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu
sinh cực lạc thế giới có ba thành phần: -Tịnh độ truyền thống, Tịnh độ
nhân gian, Tịnh độ tâm. Tịnh độ nào vừa dẫn cũng lấy tâm làm chủ. Nơi đây
vấn đề hiện thực liên quan đến Tịnh độ nhân gian. Trong Tịnh độ nhân gian
có hai yếu tố: Thứ nhất, bậc đại thiện trí thức rao giảng, kêu gọi những
người tu tịnh nhóm họp định cư lại thành một tập thể xã hội. Nơi ấy Tam
quy ngũ giới được duy trì nghiêm túc, nhất quán, không có phần tử nhiễm ô
bất tịnh; tức không có ba đường dữ địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh là tham
sân si mạn nghi; ngũ trược giảm thiểu tối đa, ác thế không có. -Kế đến là
người tu tịnh độ niệm Phật nhất tâm định tỉnh ứng xử, đối phó hằng ngày
với sinh hoạt rối ren, biến động có hiệu quả tốt.
Ví dụ, một học sinh học bài lâu thuộc, em
liền cầu đức Phật A Di Đà gia hộ, rồi cung kính niệm danh hiệu ngài liên
tiếp trong mười phút, sau đó em học thuộc bài nhanh chóng. -Một thương gia
sắp sạt nghiệp vì thua lỗ, lo sợ buồn rầu, thay vì dùng gian kế cũng cố sự
nghiệp, ông cầu Phật gia hộ rồi niệm danh Phật A Di Đà liên tiếp ngày đêm
đến khi tâm ổn định ông giải quyết vấn đề ổn thoả, hợp lý đạo và pháp luật
qua kiểm soát của trọng tài kinh tế, tuy có nghèo hơn trước rồi từ từ khắm
khá. -Một ông bác sĩ phục dược sai lầm bệnh nhân chết ngay trong phòng
điều trị; hoảng hốt, lo toan, nhưng ông dám chịu trách nhiệm, không nhờ
một luật sư nguỵ biện trước toà, vị bác sĩ này cầu Phật A Di Đà gia hộ cho
tai qua nạn khỏi rồi niệm danh hiệu Phật liên tiếp cho đến khi tâm an ổn
nhẹ nhàng. Ít ngày sau, thân nhân người bệnh chết nộp đơn xin bãi nại. Ta
có thể giải thích em học sinh tâm phân tán không thuộc bài, niệm phật tâm
tập trung học bài mau thuộc? Ông thương gia niệm Phật tâm định tỉnh sáng
suốt giải quyết việc thương hiệu thuận tiện? Vị bác sĩ ăn năn niệm Phật
tinh chuyên, tâm hiền hậu hiện lên nét mặt cảm hoá được người; Hay cả ba
người nầy niệm Phật được Phật gia hộ? –Điều quan trọng xin đừng quên hiệu
quả của niệm Phật nhất tâm, tâm người niệm và tâm Phật chan hoà cảm ứng.
Pháp môn niệm Phật hiệu quả hiện tiền
trong Tịnh độ nhân gian còn nhiều, quí vị hãy thực hiện niệm Phật để có
kinh nghiệm phong phú.
4.
Tâm linh diệu dụng
Nếu Kinh tạng Nguyên thỉ dùng Giới - Định
-Tuệ làm thể chất (cốt tuỷ), thì các Kinh điển đại thừa đều lấy thực tướng
làm thể chất. Đặc biệt trong các Kinh Tịnh độ thực tướng được phát triển
cùng cực vi diệu qua sự mô tả cảnh giới, nhân dân và pháp tu tịnh ở cực
lạc thế giới: Đất bằng vàng, thảo mộc bằng châu, liên hoa hoá thân, ao
thất bảo, nước bát công đức... hàng xóm là thánh nhơn, bồ tát, Phật, chư
thượng thiện nhơn câu hội về một xứ an dưỡng tu học. Chim, nước, rừng cây,
tiếng gió đều phát ra tiếng pháp: Ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát
thánh đạo phần và các môn chánh định tam muội ba la mật khác.
Tâm người ta có ba phần: Một là trung tâm
điều phối máu luân lưu cơ thể là trái tim. Hai là tâm vọng tưởng như khỉ
vượn leo trèo khó đứng yên. Ba là chân tâm thực tướng. Nơi người thực
tướng gọi là pháp thân, nơi cảnh vật gọi là pháp tính. Gọi chung là pháp
tính thân. Pháp tính thân chan hoà khắp nơi, khắp chốn như chân không
trong vũ trụ.
Thực ra, chơn vọng tâm chỉ là một thể tánh
đối với người có thâm độ công phu tịnh niệm luyện thành một khối nhất như.
Theo Trí Húc Đại Sư, viết trong quyển Phật
thuyết A Di Đà kinh yếu giải, thể chất của thực tướng chẳng phải yên lặng
(tịch), chẳng phải soi sáng (chiếu), thường soi mà vắng, thường vắng mà
soi. Tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, nên gọi Thường tịch quang độ.
Suy rộng ra, trong thực tướng có hai đức:
Một đức thuộc về phần tính, “Bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh”. Một đức
thuộc về phần tu, tức vừa tịch vừa chiếu gọi pháp thân. Vừa chiếu vừa tịch
gọi báo thân. Vừa tịch vừa chiếu nội quan được thọ dụng thân. Tịch chiếu
tiến dần lên giúp đời gọi Ứng hoá thân.
Tam thân Phật A Di Đà, nhân dân và cảnh
giới cực lạc cũng từ chơn tâm phát sinh.
Trong quyển sách Đường về cực lạc, có ghi
lời dạy của Diên Thọ Đại Sư như sau:
“Nếu tâm niệm thanh tịnh thời đài vàng hoa
báu, hoá sanh nơi Tịnh độ. Còn tâm niệm nhơ đục thời gò nổng hầm hố, thọ
thai nơi cõi ô uế. Đây đều là “quả đẳng luân”, cảm lấy “duyên tăng
thượng”. Cho nên nhơn cùng quả, rời ngoài tâm nguyên, không có tự thể
riêng khác. Muốn đặng quả báo thanh tịnh thời phải thực hành nhơn thanh
tịnh. Như nước thời tánh chảy xuống, lửa thời tánh bốc lên, tất nhiên như
vậy!”
Như thế, người tu tịnh hay tu pháp môn nào
trong Phật giáo cũng phải công phu niệm Phật, hành thiền, quán tưởng trong
khuôn khổ Giới-Định-Tuệ để ngộ chân tánh là điều trọng yếu!
5. Phật A Di Đà như một tấm gương soi:
Xét về mặt thế gian Sa Hoàng cải trang
thành thường dân du học các nước văn minh về xây dựng nước Nga hùng mạnh
một thời. Tổng thống Lý Quang Diệu, cha già dân tộc Singapor đã kêu gọi
nhân tài nước nhà ở các nước văn minh trên thế giới rút tinh tuý văn minh
về biến đảo quốc không quá 7 triệu dân thành một nước đoàn kết, tiên tiến,
hưởng thụ tiện nghi khoa học đỉnh cao. Bác Hồ, cha già dân tộc Việt Nam,
một thân một mình rời bến Nhà Rồng ra đi du học trên thế giới rèn luyện
tài đức trở về giúp dân thoát khỏi ách nô lệ của Thực dân đế quốc xây dựng
độc lập tự do hạnh phúc cho nước Việt Nam. Thì về mặt xuất thế gian đức
Phật A Di Đà rút tinh tuý 210 ức Thế giới Tịnh độ của chư Phật kiến tạo An
dưỡng Quốc thành Cực lạc thế giới cũng không có chi lạ.
Đối với toàn thể nhân sinh thế giới ngày
nay, trong đó có Phật giáo đồ Việt Nam, tiểu sử nói về thân thế, sự nghiệp
của Phật A Di Đà qua ý chí hướng thượng, phấn đấu cùng cực phi thường như
một tấm gương soi. Đã là một vị Chuyển luân thánh vương phúc đức, trí tuệ,
quyền oai và sự huởng thụ tột đỉnh mà ngài xét đến qui luật vô thường của
kiếp sống tìm cách vươn lên, không phải cho riêng ngài mà cho toàn thể
quốc dân trong nước và chung cho tất cả chúng sinh nhàm chán cõi đời Ngũ
trược ác thế khắp mười phương thế giới.
Khi ngài thành tựu quả Phật, làm giáo chủ
cực lạc thế giới đứng duỗi tay tiếp dẫn chúng sinh, thân sắc vàng ròng,
hào quang tõ rạng. Người ta dễ liên tưởng đến một vị sư được cúng dường
hậu hỉ, sắc mặt hồng hào làm Phật sự nên quên đi một vị Bồ tát tăng khổ
hạnh áo thâm vá đùm vá đụp trăm khiếp nghìn đời, chắt mót từng chút phúc
tuệ cho mình, cho đệ tử và cho tất cả chúng sanh!
Chí nguyện ngài cao xa, tâm Phật thanh
tịnh bao la, đạo lực thần thông quảng đại. Bi trí thiết tha vì chúng sanh
nhân loại. Ngài không bao giờ ở yên hưởng thụ quả vị Phật, vẫn tiếp dẫn
chúng sanh niệm Phật hướng về cực lạc thế giới.
Chúng ta, là một công dân Phật tử yêu nước
có tài đức, đủ điều kiện du học hải ngoại phải làm sao? Lo hưởng thụ riêng
mình hay lo phục vụ tổ quốc, là một tu sĩ Phật giáo Việt Nam, chúng ta
phải làm gì cho đạo pháp dân tộc? Câu giãi đáp thông thường là tuỳ theo
đạo đức, trí thức và năng lực của mỗi người. Nhưng hãy nhìn lên, Kia! Là
một tấm gương soi lớn!
6. Nhận Định
Đức Phật A Di Đà thành đạo trước Phật
Thích Ca 10 kiếp. Thời đức Phật Thích Ca chữ viết chưa có người phát minh!
Cũng có thể thời đức Phật A Di Đà thành đạo, có chữ viết ghi thành tiểu
sử; trãi qua các cuộc đại chấn của quả địa cầu chữ viết mất đi. Hơn nữa,
ngài là một vị Phật quá khứ lâu xa, giai đoạn tu nhơn ở cõi Ta Bà thời Vua
Chuyển luân Thánh vương, tuổi thọ loài người rất cao, như Phật Thế Tự Tại
Vương trụ thế đến 12 kiếp, giai đoạn cuối kết Phật quả Kiến tạo Cực lạc
thế giới ở phương tây (phương tây có nhiều cõi chúng sanh và cõi Phật)
cách xa quả địa cầu chúng ta 10 muôn ức Phật độ. Mỗi Phật độ một triệu
ngàn triệu thế giới tinh cầu làm sao người viết sử nơi đây ghi nhận được!
Nếu người tin đức Phật Thích Ca lịch sử
truyền bá pháp tu tại Ấn Độ và thánh chúng của ngài có thật, nên quy y Tam
bảo. Trong đó, đức Phật Thích Ca có tuyên thuyết về pháp tu Tịnh độ giới
thiệu đức Phật A Di Đà, làm sao dám lấy tâm phàm xét đến Phật trí không
tin được? Vị Tỳ kheo Bồ Tát nào muốn thành Phật cũng phải nghiêm trì giới
luật trăm đời nghìn kiếp mới thành Phật. Đã là Phật, phải nói chơn thật
ngữ, khuyên bảo chúng sanh không vọng ngữ.
Qua Kinh pháp lưu truyền của Phật Bổn Sư
Thích Ca, người tin có đức Phật A Di Đà, thì cũng tin được Nhân dân và
Cảnh giới cực lạc. Đọc quyển Đường về cực lạc, Mấy điệu sen thanh, sự tu
tịnh độ chứng đắc của người xưa và người tu tịnh độ thời nay phút lâm
chung xả bỏ thân phàm biết trước ngày giờ, có hương thơm ánh sáng, biện
minh cho việc tiếp dẫn của Phật A Di Đà là thật thì pháp môn Tịnh độ càng
thêm được xác chứng.
III. KẾT LUẬN
Đức Phật A Di Đà, nhân dân thế giới cực
lạc có thật hay chỉ là huyền thoại biểu trưng cho chơn tánh, thì pháp môn
niệm Phật từ xưa đến nay cũng đem lại nhiều lợi ích cho chúng sanh.
Nếu ta tin đức Phật A Di Đà có thật, lại
để cho tâm nhiễm ô bất tịnh, cũng không làm nên tích sự gì! Nếu người tin
đức Phật A Di Đà là hình tượng biểu trưng cho chơn tánh rồi hạ thủ công
phu tu niệm cho tâm vô nhiễm tương tự Phật trí sẽ được nhiều phúc lạc và
ảnh hưởng tốt đến xã hội. Còn như bàn cãi suông có được gì ngoài hơn thua
buồn phiền nhân ngã! -Những ai tin được pháp môn Tịnh độ kết quả hữu hiệu
phát bồ đề tâm, với tín nguyện niệm Phật cho tâm an lòng tịnh cũng không
lỗi lầm gì, lại có thêm phúc trí, vì pháp môn tịnh độ vào cửa bằng đức
tin. Ai vào ra được sẽ trở nên hiền thánh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Niềm tin
là mẹ sanh công đức”; phải vậy!
Trong khi sưu tầm tài liệu tham khảo,
chúng tôi thấy có nhiều Kinh sách nói về tiền thân đức Phật A Di Đà, sanh
ở cõi nước, thân thế, pháp hiệu, quy y với mỗi vị Phật khác nhau như Kinh
Pháp Hoa, phẩm hoá Thành Dụ thứ 7, Kinh Đại thừa phương đẳng tổng trì,
Kinh hiền kiếp, Kinh quán Phật Tam muội, quyển thứ 9; Kinh Như huyển Tam
Ma địa vô lượng Ấn pháp môn, Kinh Nhất hướng xuất sanh Bồ Tát v.v... Để
tránh phân tâm cho người đọc tiểu sử ngài, chúng tôi chỉ sử dụng Kinh Bi
Hoa, Kinh Vô Lượng Thọ, Văn khố từ bi âm, Phật học phổ thông, quyển nhứt;
Phật thuyết A Di Đà Kinh yếu giải, Đường về cực lạc v.v...
Tiểu sử ngài như một câu chuyện cổ tích
hay đẹp, nội dung nghĩa lý thâm thuý, tình đại bi chan hoà, ánh sáng trí
tuệ toả chiếu qua từng chi tiết sáng tõ bổn nguyện (48 điều nguyện). Những
ai muốn làm được như ngài nên nghiên cứu Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng
Thọ, Phật thuyết A Di Đà Kinh, Thủ Lăng Nghiêm Kinh, kinh Hoa Nghiêm phẩm
phổ hiền hạnh nguyện và Vãng sanh Tịnh độ luận của Thiên Thân Bồ
Tát...Tinh tấn tu Tịnh độ sẽ thành tựu như ý nguyện bởi lực gia trì hộ
niệm của đức A Di Đà Phật.
---o0o---
[Mục Lục ][
01][
02][
03][
04][
05][
06][
07][
08][
09][10]
[11][12][13][14][15][16][17][18][19]
---o0o---
Source: www.chuyenphapluan.com
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-2-2005