Ý nghĩa
Vía Phật -
Bồ Tát trong năm
---o0o---
TỔ SƯ BỒ ĐỀ
ĐẠT MA
(Bodhidharma)
Thích An Hải
1.
Tiểu sử
Nếu tính từ Tổ Sư Maha Ca Diếp đời thứ nhất
truyền xuống Ấn Độ, Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28, sang Trung Hoa, ngài là
vị tổ thứ nhất Thiền Tông, ngài xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XI, khoảng
1000 năm sau Phật Niết bàn.
Ngài là
người của nước Quốc Hương, thuộc Nam Thiên Trúc (De-Khan), Ấn Độ, con thứ
ba của vua Hương Chí dòng Sát Đế Lợi, thuở nhỏ ngài có ý chí siêu việt và
đặc tài hùng biện.
Nhân khi
vua Hương Chí thỉnh tổ thứ 27 là Bát Nhã Đa La vào hoàng cung cúng dường.
Trong số phẩm vật có viên bảo châu, Tổ hỏi ba vị hoàng tử:
-Trên
đời này còn có vật gì quí bằng hạt châu này chăng?-Vương tử Nguyệt Tịnh Đa
La, và con thứ của vua là Công Đức Đa La đều đồng ý cho rằng: “Hạt châu
ấy quí giá cùng tột, không phải trong nhà vua thì khó có được”. -Bồ Đề Đa
La thưa: “Châu này của thế gian chưa đủ làm cao hơn hết, nếu so vơí Pháp
bảo, nó chỉ cứu nghèo đói, không cứu được khổ sinh tử. Aùnh sáng trí tuệ
hơn hẳn ánh sáng bảo châu, vì có trí tuệ người ta mới nhận ra quí báu của
châu. Trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch là hơn hết, như tâm
tổ sư trong sạch sáng tỏ báu kia liền hiện. Những ai có đạo đức thì tâm
cũng quí báu như thế.”
Tổ Sư
khen ngợi tài biện luận của Bồ Đề Đa La và hỏi tiếp:
-Trong
các vật, vật gì không tướng?
-Trong
các vật, chẳng khởi là không tướng.
-Trong
các vật, vật gì là tối cao?
-Trong
các vật, nhơn ngã là tối cao
-Trong
các vật, vật gì tối đại?
-Trong
các vật, pháp tánh là tối đại.
Tổ vui
lòng biết đại pháp sẽ có người xứng đáng nối dõi truyền bá lợi ích chúng
sinh. Một hôm vua Hương Chí hỏi tổ:-“Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại
sao Tôn Giả không tụng?”-Tổ đáp:-“Tôi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào
không ở trong ấm giới, thường tụng kinh này trăm ngàn muôn ức quyển.”
Vua
Hương Chí băng hà hoàng cung đều vang lên tiếng khóc, duy có Bồ Đề Đa La
điềm tỉnh, ngồi nhập định chỗ hoàn linh cửu cha suốt bảy ngày. An táng nhà
vua xong, Bồ Đề Đa La, xin phép mẹ và hai anh đi xuất gia. Thấy cơ duyên
thuần thục, Tổ Bát Nhã độ ngài cho làm đệ tử, thỉnh chư tăng làm lễ thế
phát và truyền giới cụ túc, tổ bảo:
-Đối với
các pháp con đã được thông suốt, nên đổi hiệu là Bồ Đề Đạt Ma. Từ đấy ngài
được thân cận hầu hạ bên thầy.
Bodhidharma :Bồ Đề là đạo chính giác: Đạo thông suốt, giác là ngộ chân
chính, giác ngộ pháp tính. Đạt Ma là pháp, qui tắc, quỹ trì. Qui tắc là
khuôn mẫu, phép tắc; quỹ trì là duy trì tư tưởng, nắm giữ ý tứ. Bồ Đề Đạt
Ma, là nắm giữ phép tắc, ý tứ đạo giác ngộ của chư Phật.
Một hôm
Tổ Bát Nhã Đa La gọi ngài đến truyền pháp yếu và phó chúc:
- Chánh
pháp nhãn tạng của Đức Như Lai lần lược truyền trao, nay trao lại cho
ngươi khéo truyền bá đừng cho đoạn dứt, nghe ta nói kệ:
Tâm địa
sanh như chủng,
Nhơn sự
phục sanh lý.
Quả mãn
Bồ Đề viên.
Hoa khai
thế giới khởi.
Dịch:
Đất tâm
sanh các giống,
Nhơn sự
lại sanh lý.
Quả đầy
Bồ Đề tròn,
Hoa nở
thế giới sanh.
Khi lãnh
thụ bài kệ nói pháp và y bát, ngài Bồ Đề Đạt Ma trở thành vị tổ thứ 28
Thiền Tông, một pháp tử chân truyền, Tổ Bát nhã dặn dò:
-Con tạm
giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa, mới là duyên lớn. Song đợi ta
diệt độ 60 năm sau sẽ đi. Nếu đi sớm, có điều không tốt.
Những
việc kiết hung về sự giáo hoá ở Trung Hoa, ngài cầu xin tổ chỉ dạy, Tổ
dùng những lời sấm ký tiên đoán, xong rồi hiện các thứ thần biến thị tịch.
Ngài và các đệ tử quyến thuộc làm lễ trà tỳ nhục thân sư phụ, lượm xá lợi,
xây tháp cúng dường.
Vâng lời
tổ dạy, ngài ở tại nước nhà giáo hoá chúng sinh, vị huynh đệ với ngài là
Phật Đại Tiên cùng chung sức với việc hoằng pháp độ sinh. Người ta nói:
“Hai ngài là hai vị hoạt Phật mở cửa cam lồ tấm mát thế gian nhiệt não!”
Vua
Nguyệt Tịnh băng, con vua là thái tử Dị Kiến nối ngôi, không bao lâu sau
vua lại tin theo ngoại đạo bài bác Phật giáo. Ngài cho đệ tử là Ba La Đề
đến cung vua nhiếp hóa. Sau khi trở về phật giáo, vua Dị Kiến mới biết Ba
La Đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho người thỉnh ngài về hoàng cung
giáo hóa một thời gian; thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, ngài đem lời
huyền ký của Tổ Bát nhã Đa La thuật lại cho vua biết. Vua không thể can
ngăn, đành sắm một chiếc thuyền buôn cho thủy thủ đưa ngài vượt biển sang
Trung Hoa; vua và quần thần, đệ tử tiển đưa ngài đến cửa biển: ngài ở trên
thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời Lương,
niên hiệu phổ thông năm thứ nhất (520 sauTC),ngày 21/09 năm canh tý, quan
Thứ Sử tỉnh này ra đón tiếp ngài, dâng sớ về triều tâu lên Lương Vũ Đế,
vua được sớ sai sứ lãnh chiếu chỉ thỉnh ngài về Kim Lăng ( kinh đô nhà
Lương) cúng dường, vua Vũ Đế hỏi:
-Trẩm từ
lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều, vậy có công đức
gì không? Sư đáp: “đều không có công đức, tại sao ? Bởi vì những việc vua
làm là nhân hữu lậu, chỉ có tiểu quả trong vòng Nhân - thiên như ảnh tuỳ
hình, tuy có phúc đức nhưng không phải thật.” Vua hỏi:
-Thế nào
là công đức chân thật?-Sư đáp: Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng,
như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc xây chùa, chép
kinh, độ tăng cầu được. - Vua hỏi
-Thế nào
là Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa? - Sư đáp:
-Một khi
đã tỉnh rõ, thông suốt rồi, không có chi gọi là Thánh
( Quách
Nhiên Vô Thánh).
-Ai đang
đối diện với trẩm đây?
-Tôi
không biết.
Vua Võ
Đế không lãnh ngộ được, lòng không vui, lui về nghỉ, sư biết tâm vua không
kết hợp pháp mình, vì vậy đến ngày 19/10 năm ấy, sư qua Giang Bắc, đến 23
tháng 11, sư sang Lạc Dương. Đến đời Hậu Ngụy, vua Hiếu Minh, năm Thái Hòa
thứ 10, sư lên Tung Sơn, vào chùa Thiếu Lâm, ngồi ngó vách, trọn ngày làm
thinh. Người đời không hiểu gì cả, gọi sư là “Bích Quán Bà La Môn”, nghĩa
là ông Bà La Môn ngó vách.
Về sau
vua Lương Võ Đế được Chí Công Hòa thượng, một cao tăng đắc đạo, cho biết
Bồ Đề Đạt Ma là Quán Âm Đại Sĩ truyền tâm ấn Phật, lời thầy nói là chân
lý, vua Vũ Đế cho sứ đến chùa Thiếu Lâm thỉnh cầu, thì Tổ Sư Đạt Ma đã
nhập thất. Mẫu đối thoại kỳ đặc trên được Đức Lục Tổ quyết Nghi cho Vi Thứ
Sử, Pháp Bửu Đàn Kinh, phẩm III như sau: “....cất chùa, chép kinh, độ tăng
bằng cách đãi chay làm phước là phước đức, công đức phải thấy trong bản
tánh mình. Phước đức và công đức khác nhau”, rõ là vua Lương Vũ Đế không
am tường phật lý.
Có vị
tăng tên Thần Quang, học thông các kinh sách, giỏi lý diệu huyền, nghe
danh ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà ngài vẫn ngồi im
lặng ngó vào vách. Quang nghĩ: “Người xưa xả thân cầu đạo, nay ta chưa
được một trong muôn phần của các ngài”. Hôm ấy nhằm tiết mùa đông ( mùng 9
tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài trời
chấp tay hướng về ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, gương mặt
Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài thương tình xoay ra hỏi:
- Ông
đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì ?
Thần Quang thưa:
- Cúi
mong Hoà thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng sinh.
- Diệu
đạo của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, nhẫn
được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay, huống là dùng chút công nhỏ
này cầu làm sao được pháp chân thừa ?
- Thần
Quang nghe sư quở, tự lấy dao bén chặt đứt cánh tay trái, để tỏ lòng thành
khẩn cầu đạo, Tổ sư biết đây là pháp khí (một khí dụng tốt để truyền bá
chánh pháp) nên nói:
- Chư
Phật ban sơ phát tâm cầu đạo dám bỏ thân, ông nay chặt tay trước mặt tôi,
vậy ông muốn cầu gì ?
- Pháp
ấn của Chư Phật con có thể được nghe chăng?
- Pháp
ấn của Chư Phật không thể từ người khác mà được.
- Tâm
con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.
- Ngươi
đem tâm ra đây ta an cho.
- Con
tìm tâm không thể được.
- Ta đã
an tâm cho ngươi rồi.
- Thần
Quang nhơn đây được giác ngộ, ngài đổi tên Thần Quang là Huệ Khả. Từ đây
kẻ tăng người tục đua nhau yết kiến ngài, tiếng tâm vang dậy. Vua Hiếu
Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen cầu thỉnh, ngài đều từ chối. Nhà vua càng
kính trọng, sai sứ đem lễ vật cúng dường: Một cây tích trượng, hai y kim
tuyến, một bình bát,.....thấy vua có lòng thành ngài phải nhận. Ngài mở
cửa phương tiện nói pháp để giáo hóa môn đồ, người người cảm mến qui y Tam
Bảo.
Chín năm
trôi qua, kể từ khi đến Trung Quốc, sư có ý muốn hồi hương, nên gọi các đệ
tử đến nói:
- “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy
nói cho ta nghe sở đắc của mình.
Đạo phó
ra bạch:
-“Theo
chỗ thấy của con, muốn thấy đạo, phải chẳng chấp văn tự, cũng chẳng lìa
văn tự.
Sư đáp:
- Ông
được lớp da của tôi rồi.
Tổng Trì
Ni nói:
- “Chỗ
giải của con, như Tổ A-Nan mừng vui thấy nước Phật A Súc Bất động được một
lần, sau không còn thấy lại nữa. - Sư nói: - Bà được phần thịt của ta!
Đạo Dục
thưa:
- Bốn
đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, chỗ của con không một pháp nào
khá được.
Sư nói:
- Ông
được bộ xương của tôi rồi !
Sau
cùng, tới phiên Huệ Khả, Huệ Khả lễ bái sư rồi đứng im lặng ngay tại chỗ,
không bạch, nói gì cả. Sư bảo:
- Ông
được phần tuỷ của tôi.
Ngài gọi
Huệ Khả đến dặn dò:
- Xưa
Như Lai trao “chánh pháp nhãn tạng” cho ngài Ca Diếp, từ đó Chánh pháp
được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ông, ông khá nắm giữ,
luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc ông nên
khá biết.- Huệ Khả bạch:
- Xin
thầy từ bi chỉ bảo mọi việc.
Tổ bảo:
- Trong
truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao cà sa để định tông
chỉ. Đời sau có người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói: “Ta người Ấn, ông là
người Hoa, căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy gì để minh chứng?”Ông gìn giữ
pháp y này đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hoá không bị trở ngại. Hai
trăm năm sau ta diệt độ, y bát dừng không truyền, vì lúc đó Phật pháp
thạnh đấu tranh, người hiểu đạo nói lý rất nhiều, người hành đạo và thông
lý rất ít. Tuy nhiên người thầm thông lặng chứng cũng có, vậy ông nên cố
xiển dương đạo pháp, đừng khinh người chưa ngộ. Hãy nghe ta nói kệ:
Ngô bổn
lai tư thổ
Truyền
pháp cứu mê tình
Nhất hoa
khai ngũ diệp
Kết quả
tự nhiên thành
Nghĩa:
Ta sang
đến cõi này
Truyền
pháp cứu mê tình
Một hoa
nở năm cánh
Nụ trái
tự nhiên thành
Sư lại nói thêm: “Ta có bộ kinh Lăng Già 4
cuốn, nay cũng giao luôn cho ông, đó là đường vào tâm giới, giúp chúng
sinh mở được kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn đến phương đông này, thấy
Xích Huyện Thần Châu (Trung Quốc), có đại thừa khí tượng, nên vượt qua
nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nay được ông để truyền thọ y pháp, chí ta đã
toại ! Nói xong, sư cùng đệ tử đến chùa Thiên Thánh, lưu lại ba hôm. Có
người tên Thành Thái, tự Dương Huyễn Chi, sớm mộ phương tu thành phật đến
hỏi:
- Nghe sư bên Tây Thiên, thừa tiếp pháp Ấn
làm tổ, vậy xin dạy cho con biết đường đưa đến tổ vị như thế nào ?
Sư đáp:-
Sáng tỏ Phật tâm, nói làm phù hợp đó gọi là tổ.
- Ngoài
ra còn gì không ?
- Nên
sáng tâm người, biết rành kim cổ, chẳng chán có không, đối đáp chẳng nắm,
chẳng hiền, chẳng ngu, không mê không ngộ; giải được như thế đáng xưng là
tổ.
Thành
Thái lại hỏi:- Đệ tử thành tâm quy y Tam bảo đã mấy năm rồi, nhưng trí tuệ
còn mù mờ, chân lý chưa rõ. Cúi xin Sư từ bi khai mở đường tu cho gần với
Phật tổ. Ngài vì ông nói kệ:
Diệc
bất đổ ác nhi sanh hiềm
Diệc
bất quán thiện nhi cần thố
Diệc
bất xả trí nhi cận ngu
Diệc
bất phao mê nhi tựu ngộ
Đạt
đại đạo hề quá lượng
Thông
phật tâm hề xuất độ
Bất dữ phàm thánh đồng triền
Siêu
nhiên danh chi viết tổ.
Dịch
nghĩa:
Cũng
đừng thấy dữ mà sanh chê
Cũng
đừng thấy lành mà ái mộ
Cũng
đừng bỏ trí mà gần ngu
Cũng
đừng vứt mê cầu ngộ
Được
vậy thì:
Đến
đại đạo to vô lượng
Thông
phật tâm muốn cứu độ
Chẳng
cùng phàm thánh sánh vai
Vượt
trên đối đãi gọi đó là tổ
Thành
Thái, nghe kệ nửa vui nửa xót bạch:
- Xin
Sư ở lâu nơi thế gian để hoá độ chúng hữu tình.
Sư
nói:- Ta sắp đi đây, không thể ở lâu; người đời căn tánh muôn sai, ta đã
gặp nhiều hoạn nạn rồi.
Thành
Thái:
- “Ai
làm hại sư, xin cho biết, đệ tử nguyện trừ.”
Tổ
nói:
- Ta đã
đem bí mật của Phật ra truyền để lợi ích chúng sanh, nay hại người để mình
an, làm sao có lý ấy đặng ?
- Sư chẳng nói thì lấy gì tiêu biểu cho sức
thông biết khắp cùng của sư ?
Sư đọc
một bài kệ sau đây có tính cách như một bài sấm:
Giang
tra phân ngọc lãng
Quản
cự khai kim toả
Ngũ
khẩu tương cộng hành
Cữu
thập vô bỉ ngã
Dịch:
Thuyền lướt, chia sóng ngọc
Đuốc
nêu, mở khóa vàng
Năm
miệng ta cùng khứ
Chín,
mười hết ta, chàng.
Thành Thái không hiểu gì cả, chỉ gắn ghi
vào lòng rồi tạ từ lui gót.
Bài
sấm của sư đương thời không ai độ được, nhưng về sau có phần ứng nghiệm.
Dưới thời nhà Ngụy kẻ anh tài chống lại Thiền môn rất nhiều, nào là Quan
Thống Luật Sư, Lưu Chi Tam Tạng ... thấy Sư lấy tâm làm trọng, các vị đã
cùng Sư luận nghị mấy phen nhiệt liệt, trong khi ấy xa gần, sư đều cho nổi
lên một trận huyền phong và đổ xuống một trận mưa pháp, chan hòa ban rảii
khắp nơi, sự thành công vẻ vang này kích thích kẻ ác gia tâm làm thuốc độc
hại sư.
Trên
thực tế, sư đã bị thuốc 5 lần, đến lần thứ 6, thấy sứ mệnh hoằng hóa đã
hoàn thành, công việc truyền pháp cũng đã có người, sư không tự cứu nữa,
ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là ngày mùng 9 tháng 10 năm Bính Thìn, nhằm
niên hiệu Đại Thông năm thứ 2, nhà Lương ( 529 TC), ( năm Thái Hòa thứ 19,
đời Hiếu Minh Hậu Ngụy). Đến ngày 28 tháng chạp cùng năm, nhục thể của Sư
được nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ. Đúng như lời sấm của sư,
câu “Ngũ khẩu tương cộng hành”, vì ghép chữ ngũ (五) trên chữ khẩu (口),
thành chữ ngô (吾), câu này có nghĩa là “Ta sẽ đi”. Còn câu chót “Cửu thập
vô bĩ ngã”. Sư nói trước ngày viên tịch: mồng 9 tháng 10.
Ba năm
sau, Tống Vân qua nhà Ngụy, đi sứ Tây Vức về, gặp Sư Đạt Ma tại ngọn núi
Thông Lãnh, thấy Sư tay cầm một chiếc dép, một mình đi mau như bay, Tống
Vân hỏi:
- Sư đi
đâu đó ?
Sư đáp:
-Ta về Tây phương - Sư lại nói thêm
- Chủ
của ông đã chán đời rồi.
Tống Vân
sững sờ, từ giã ngài về phục mạng thì ra vua Minh Đế đã băng hà, Hiếu
Trang Đế lên ngôi, ông đem việc ấy tâu lại, vua lệnh mở cửa tháp dở nấp
quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc
đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên
năm thứ 15, nhằm năm Đinh Mão (728, sau TC) môn đồ đòi chiếc dép về chùa
Hoa Nghiêm, đến nay không biết còn mất ở đâu.
Vua
phong ngài hiệu Viên Giác Thiền Sư, pháp hiệu Không Quán.
Theo
truyền thuyết, Ngài vượt sông Dương Tử trên một lá lau, tích này về sau
trở thành một chủ đề ưa thích của hội họa thiền.
Tác phẩm
của ngài:
- Đạt Ma
Hoà Thượng Tuyệt Quán luận
- Nam
Thiên Trúc, Bồ Đề Đạt Ma Thiền Sư quán môn (Đại thừa pháp luận)
- Thiếu
thất lục môn tập
- Thích
Bồ Đề Đạt Ma vô tâm luận
- Thiền
Môn Nhiếp yếu
-Thiếu Thất Dật thư..vv..
Từ điển
Phật học Huệ Quang:- “Theo sự khảo cứu các tư liệu đào được ở Đôn Hoàng,
các học giả cho rằng: Trong các tác phẩm để lưu truyền học thuyết của Đạt
Ma xưa nay hình như chỉ có Luận Nhị Nhập tứ hạnh là bộ luận mang tư tưởng
chân chính của Bồ Đề Đạt Ma”.
2.
Hình ảnh biểu trưng
Nói đến
Bồ Đề Đạt Ma, là người ta nghĩ ngay đến một vị Sư hình tướng dậm vỡ, mặc
áo tràng màu đen, quần nâu, trên vai quảy một chiếc gậy treo tòn ten một
chiếc dép, mặt mày nghiêm khắc, râu ria xồm xàm, đôi mắt sáng quắc tinh
anh, đứng trên một lá lau phiêu diêu trên sóng gió. Hình tượng này được
thờ kính trang nghiêm nơi hậu tổ phía sau chính điện thờ Phật của đại đa
số chùa chiền Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản..vv..biểu tượng ngài là một vị
tổ sư quan trọng trong các vị tổ được truyền y bát thay Phật hoằng hóa
chúng sinh.
Sông
biển là môi trường sinh sống của các loài thủy tộc hiền và dữ, nơi có sóng
to gió lớn đe dọa mạng sống con người. Theo Kinh Đại Bát Nhã, phẩm Thường
Đề bồ Tát, “Sông biển cũng thường phát sanh châu ngọc. Châu ngọc không từ
đâu đến, cũng không đi về đâu, chân tâm thanh tịnh của Phật và chúng sanh
cũng thế.” Cây bồ đề giác ngộ phải bám sâu vào mãnh đất khổ đau mới đứng
vững giữa cuộc đời nhiều giông gió hứng chịu nắng mưa che bóng mát cho
người. Ngài đứng trên sóng gió oai nghi hùng dũng, điểm tựa là cành lau
nhỏ bé nói lên người giác ngộ giải thoát thân thể nhẹ nhàng, như hoa sen
tự tại trên ao hồ tỏa ngát hương thơm. Chiếc gậy tượng trưng cho thiền
pháp, gậy thiền. Một chiếc dép tượng trưng cho giáo lý không hai, chúng
sanh là Phật.
Nhà họa
sĩ, điêu khắc kết hợp ý nghĩa biểu trưng, việc ngài mới đến Trung Hoa, vua
Lương Vũ Đế, một đại cư sĩ xây cất nhiều chùa, độ nhiều chúng tăng, hiểu
giáo nghĩa uyên bác, giảng pháp hay đến chư Thiên rắc hoa cúng dường, mà
chưa thật chứng, nên bái thỉnh tổ sư giải đáp câu hỏi:- “Thế nào là đệ
nhất nghĩa thánh đế? -Sư đáp:- Một khi đã tỉnh rõ thông suốt rồi, không có
chi gọi là thánh”. (Quách nhiên vô thánh). Vua Vũ Đế không lãnh hội được,
lòng không vui. Sau đó Tổ sư đứng trên một lá lau vượt sông Dương Tử vào
đất Ngụy lên núi Thiếu thất, ngồi nhìn vách chùa Thiếu Lâm đến chín năm.
Đoạn cuối đời sau khi ngài thị tịch khoảng ba năm, sứ giả Tống Vân thấy sư
ở núi Thông Lãnh tay cầm một chiếc dép đi về hướng tây như bay. Biểu tượng
ấy nói lên tư tưởng ngài nhất quán, trước sau như một là: “Thiền tổ sư
truyền ngoài giáo điển, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
3.
Ý nghĩa hiện thực
Ước mơ
lớn nhất của đời người là sống an tâm hạnh phúc. Qua sự giải đáp khai thị
cho sư Thần Quang Huệ Khả về yếu chỉ của Thiền Tông Tâm ấn, chúng ta thấy
rõ hiện thực tâm lý của Phật giáo đồ trưởng thành là an tâm trong sinh tử.
Lịch sử con người từ thuở hồng hoang đến nay văn minh tiến bộ, có phải
luôn luôn khủng hoảng trong hòa bình và trong chiến tranh ! Chiến tranh
thì sợ nghèo đói huỷ diệt sinh mạng, của cải. Kẻ thắng kiêu hãnh, người
bại hổ người. Hòa bình thì tranh giành địa vị, khủng bố tâm lý cạnh tranh
sang hèn vinh nhục. Chung quy cũng vì sự tham muốn hưởng thụ quá đáng của
một số người ích kỷ. Tám điều khổ của Diệu Đế thứ nhất, phàm nhân không ai
tránh khỏi.
Muốn
hết khổ được an tâm người ta thực hiện nhiều phương cách kinh tế, khoa
học, văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, quân sự.vv..nhưng được
gì?- khổ đau, hoảng loạn, bất an vẫn tồn tại trong cuộc sống. Trong đạo
Phật, các phương pháp tu hành của nhiều tông phái, cuối cùng cũng đến an
tâm trong sinh tử. Riêng ý của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma là phải nhìn xuyên thấu
tâm mình. Tâm chúng sinh có chơn và vọng. Biết được chơn vọng thực tướng,
thực tính vẫn là “không”, siêu khỏi nhận thức này thì thành Phật. “ Chẳng
cùng phàm thánh sánh vai, vượt lên trên mới gọi là tổ”. Tổ hiểu biết như
Phật, an tâm hạnh phúc.
4.
Ý nghĩa tâm linh
Ngài
sinh ra đã có túc nghiệp tốt. Phúc đức lớn được sinh vào cung vua làm
Hoàng Thái Tử, sống trên nhung lụa học hành chu đáo, được bái kiến Tổ sư
Bát Nhã Đa La, cúng dường nghe pháp buổi đầu tiên là trí tuệ phát sáng.
Tiến trình tư tưởng tâm linh ngài trong suốt nhạy bén từ thuở còn niên
thiếu khi bàn về giá trị bảo châu và trí tuệ:- “Có trí tuệ người ta mới
nhận ra bảo châu quý báu. Trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch
là hơn hết. Như tâm Tổ sư trong sạch sáng tỏ báu kia liền hiện”. Rồi ngài
so sánh vật có tướng và vô tướng:- “Tâm chẳng khởi là vô tướng”. Cuối cùng
Bồ Đề Đa La cũng giải được câu hỏi tối yếu của Tổ sư:- “Trong các vật pháp
tánh là tối đại”. Nghiên cứu qua đoạn tiểu sử này chúng tôi có cảm nghĩ
ngài đã ngộ đạo trước khi xuất gia được truyền tâm ấn Phật !
Ngài cũng là người con chí hiếu. Khi phụ
hoàng qua đời khác, ngài nhập định nâng đở thần thức cha sinh vào cõi lành
đến 7 ngày đêm, không mời thỉnh chư tăng tụng kinh niệm Phật cầu siêu theo
lẽ thường trong phật giáo tín ngưỡng.
Nhận
thức rõ nỗi khổ của chúng sanh và tâm an lạc xuất thế, ngài không lưu
luyến ngai vàng ngôi báu, quyết chí xuất gia tu học, xứng đáng được truyền
tổ vị, lãnh thọ Y bát làm chứng tín truyền pháp độ sanh.
Tâm lý
ngài được biểu lộ siêu thoát khẳng định qua mẫu đối thoại với vua Lương Vũ
Đế: “Một khi đã tỉnh rõ, thông suốt rồi, không có chi gọi là thánh”. Đối
với Thần Quang, ngài không luận giải “tính không” mà chỉ thẳng chân không
diệu hữu là như thế: “Ngươi hãy đem tâm ra đây ta an cho – Con tìm tâm
không thể được – Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Nét đặc sắc của Bồ Đề Đạt Ma
qua sự khai thị giáo huấn là như thế đó. Vì phân biệt, luận giải, chứng
minh dễ làm người nghe rơi vào thiên chấp, không thể lãnh hội làm sao sống
với tâm linh siêu việt như Phật. Mà tâm linh này ai cũng có, sở dĩ người
ta cam phận làm chúng sinh vì không chịu học hỏi, khai thác, sử dụng mà
thôi.
5.
Tiểu sử đời Ngài rất có ý nghĩa soi gương
Đối với
người muốn tìm kiếm hạnh phúc siêu thế. Ngài đã tìm được hạnh phúc ấy và
sống như thực suốt cả cuộc đời trên nhân gian này.- Đã xuất thế ly trần,
ngài vẫn còn quan tâm đến người cháu là Dị Kiến, làm vua không chánh kiến
ảnh hưởng xấu đến quốc dân, nên tìm cách giáo hoá. Tám mươi tuổi còn lên
thuyền vượt biển sang Trung Hoa tìm mảnh đất tốt cho hạt giống bồ đề nẩy
nở. Nhờ công đức truyền bá của ngài và những truyền nhân nối tiếp, ngày
nay khắp nơi trên thế giới ít nhiều gì cũng có người tu tập thiền pháp
sống an tâm hạnh phúc. Tâm từ bi trí tuệ của ngài biểu hiện rõ nét khi
nghe Thành Thái nguyện trừ kẻ làm hại sư -Sư nói: “ Ta đã đem bí mật của
Phật ra truyền để lợi ích chúng sinh, nay hại người để mình an, làm sao có
lý ấy đặng!”
Trong
số các tác phẩm của ngài lưu thông xưa nay, được dịch ra nhiều thứ tiếng
Anh, Pháp, Việt, Nhật..vv..Phổ thông nhất là bản pháp luận Nhị Nhập Tứ
Hạnh, cũng gọi là Nhị Chủng Nhập, hai yếu tố chính nhập đạo thiền, tổng
quan được các pháp tu của Phật giáo như sau:
-
Lý nhập: là mượn giáo để ngộ vào Tông, tâm Tông. Tin sâu tất cả
chúng sanh đều cùng một chân tánh, vì khách trần bên ngoài, vọng tưởng bên
trong che lấp nên chân tánh không hiển lộ được. Nếu bỏ vọng về chân, tinh
thần ngưng trụ như vách đá, không phân biệt ta-người, thánh phàm một bậc
như nhau; cũng không lệ thuộc văn giáo, ngầm hợp với lý vô vi vắng lặng
hồn nhiên gọi lý nhập.
-
Hạnh nhập: Cũng gọi Tứ hạnh nhập: 1- Báo oán hạnh:-
Người tu hành gặp khổ không buồn. Dù hiện tại mình không có lỗi, lãnh quả
khổ là do sai lầm nhiều kiếp trước. Chấp nhận nương theo đó tu gọi là Hạnh
trả oán. 2-Tuỳ duyên hạnh:- Chúng sanh do nghiệp chuyển
thành, chẳng có cái tôi tự chủ, nên gió vui chẳng động, lặng lẽ tùy thuận
hành đạo. Gọi Tùy duyên hạnh. 3- Vô sở cầu hạnh:- Mê đắm
tham trước gọi là cầu. Kinh nói: “Còn cầu còn khổ, hết cầu mới được
vui”.Bậc trí ngộ được lẽ chân, chuyển ngược thế tục, tâm an trụ vô vi,
thân hình tùy nghi vận chuyển, gọi hạnh Không cầu mong. 4- Xứng pháp
hạnh:- Lý thanh tịnh của tự tánh gọi là pháp. Tin hiểu được lẽ ấy,
mọi hình tướng hóa thành không; hết nhiễm trước, hết chấp hai bên. Kinh
nói: “Pháp không có chúng sanh, hãy lìa chúng sanh cấu, pháp không có
tướng ngã, hãy lìa ngã cấu”. Bậc trí tin hiểu như thế tùy xứng theo pháp
hành động, gọi Xứng pháp hạnh.”
Lý
nhập liên quan đến đốn ngộ, hạnh nhập là nội dung của tiệm tu. Tiệm tu đốn
ngộ, đốn ngộ tiệm tu bao gồm Yếu chỉ Thiền tông tâm pháp. Pháp thiền này
nhiều thành phần xã hội trong các quốc gia trên thế giới ai cũng có thể tu
được!- Có một số người biết ngài chín năm ngồi nhìn vách đá (cữu niên diện
bích), cho rằng oai nghi lẫm liệt ấy khó tu theo là thiếu nghiên cứu, tư
tưởng ngài rất thoáng tùy theo căn cơ hướng dẫn chúng sanh tu tiến đến nơi
an lạc nội tâm.
6.
Nhận xét
Tôn giáo
nào trên thế giới cũng có giáo điều, tín ngưỡng, thần thoại. Đạo Phật cũng
thế, nhưng Tổ sư Đạt Ma, truyền nhân trứ danh của đức Phật, pháp tu của
ngài luôn được trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật soi sáng một thứ nội lực kỳ đặc
phá tan các chướng ngại tri kiến, phiền não; khẳng định đạo Phật là một
tôn giáo không tôn giáo. Kể từ khi ngài xuất gia tu học, nhận lãnh y bát,
truyền bá phật pháp đến khi viên tịch, trí tuệ siêu nhân toả sáng qua
phong cách hành sử giản dị, uy đức tự tại.
Nếu nói
tín ngưỡng, Phật giáo đồ tin tưởng ngưỡng mộ ngài là người tu hành nghiêm
túc, thẳng thắng, hiền thiện minh triết.- Thần thoại, việc ngài qua sông
trên một lá lau, bị đầu độc sáu lần không chết, sau khi viên tịch thân xác
vùi sâu trong lòng đất còn hiện thân tướng quảy một chiếc dép nơi đầu gậy
Thiền gác trên vai đi như bay trên ngọn thông lãnh..vv..Đối với một tu sĩ
Phật giáo có thâm độ công phu phát triển thần thông không phải là chuyện
lạ. Nhưng các nhà viết truyện, làm phim thấy lạ tô vẽ gần như hoang tưởng-
Giáo điều, ngài không để lại một điều răn cứng ngắt nào ngoài những bản
pháp luận khuyến tu dạy tu. Nhưng truyền thống Phật giáo tu Thiền hay tu
pháp môn nào cũng có giới pháp. Thọ trì giới pháp cũng do tự nguyện.
Tuy khẩu
hiệu của Ngài như một lá cờ phất thẳng là: “Giáo ngoại biệt truyền, trực
chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Ngài không rơi vào cực đoan thiên
chấp, những thiền bản của ngài rất thích hợp với kinh điển Phật giáo, nhất
là kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật, Lăng Già Tâm Ấn .v.v…
Tóm lại,
thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, phong cách của ngài rất xứng đáng cho người
có hoài bão lớn soi gương sống thiền an tâm hạnh phúc cho bản thân, thân
quyến và chúng sinh nhân loại hoàn thiện tư cách hiền thiện, minh triết,
an lạc.
Tham khảo theo:
- Pháp Bửu Đàn Kinh - HT Minh Trực.
THPG. HCM. 1994
- Sử 33 Vị Tổ Thiền
Tông Ấn Hoa - HT. Thanh Từ. Tu viện Chơn Không xb.1971
- Sáu cửa vào Động Thiếu Thất - Bản dịch
Trúc Thiên. THPG. HCM.1997
- Từ Điển Phật học Huệ Quang tập I - NXB. TP Hồ
Chí Minh. 2002
- Từ Điển Phật Học Hán Việt - NXB. Khoa Học Xã Hội.
Hà Nội 1998
- Từ Điển Minh Triết Phương Đông - NXB. Khoa Học
Xã Hội. Hà Nội1997
(Bouddhisme - Hindonissme - Taoisme - Zen. Robert
lafont - Paris 1991)
- Tiểu sử sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma - Chánh Trí
---o0o---
[Mục Lục ][
01][
02][
03][
04][
05][
06][
07][
08][
09][10]
[11][12][13][14][15][16][17][18][19]
---o0o---
Source: www.chuyenphapluan.com
Trình bày: Linh Thoại
Cập nhật: 01-2-2005