Linh Ứng
Quán Thế Âm
(Quyển 1)
HT Thích Tịnh Từ
Mục
Lục
(1) NAM MÔ HẮC RA ÐÁT NA ÐA RA DẠ DA (NAMMO RATNATRAYAYA)
Tay lần tràng hạt châu
Quán âm rất nhiệm mầu
Ai thường cầu lễ niệm
Thân tâm hết khồ sầu.
LỜI ÐẦU CHUYỆN
Bồ Tát Quán Thế Âm, hình ảnh rất thân
thiết, gần gũi đối với mọi tầng lớp quần chúng, nhất là những người Á Ðông.
Nhiều người chưa quy y Tam Bảo, chưa trở thành Phật tử chính thức, cũng
thường xưng niệm danh hiệu và thỉnh tôn tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát để
phụng thờ lễ bái hằng ngày trong nhà.
Bồ Tát Quán Thế Âm là người đắc đạo và đã thành Phật trong quá khứ
lâu xa, có tên là Chánh Pháp Minh Như Lai. Ngài vì tình thương và hạnh
nguyện cứu khổ chúng sanh nên đời đời hóa hiện nhiều thân tướng khác nhau
để ban vui, cứu khổ cho mọi loài.
Bồ Tát Quán Thế Âm được gọi là Mẹ Hiền, bà mẹ có tình thương yêu rộng lớn.
Ngài đến với mọi người, mọi loài như đến với những đứa con thơ yêu quý,
không xa lạ, không đối đãi và ngăn cách. Ngài đến với con người, đến với
sự sống như ánh sáng, không khí đến với mọi loài sinh vật trên trái đất.
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
phẩm Phổ Môn, đức Phật Thích Ca có nói đến hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế
Âm:
“Quán Âm vị cổ Phật
Chánh Pháp Minh Như Lai
Hạnh nguyện sâu rộng lớn
Cứu độ khắp mọi loài
Nghe tiếng kêu liền đến
Lợi ích chúng hằng sa
Nếu ai thường xưng niệm
Cảm ứng bất tư nghì.”
Bằng vào hạnh nguyện rộng lớn và thân thiết ấy, Bồ Tát Quán Thế Âm, hiện
thân khắp nơi chốn, trong cõi giới khổ đau, lắng nghe tiếng kêu cầu, liền
hiện thân kịp thời, nhanh tợ vang theo tiếng. Như tình thương của bà mẹ,
khi thấy con thơ lâm nạn, liền ra tay cứu độ, không do dự tra vấn. Vì hành
động thương yêu cứu khổ đầy thiêng liêng, mầu nhiệm của Mẹ mà mọi đứa con
yêu của Mẹ đều kính mến và hằng nhớ tưởng đến Mẹ, thường kêu tên của Mẹ.
Trong tập sách này, chúng tôi ghi thuật lại những mẫu chuyện linh ứng về
đức Quán Thế Âm Bồ Tát do tự thân chứng nghiệm, cùng những mẫu chuyện sưu
soạn và chọn lọc có liên quan đến hạnh nguyện cứu khổ của đức Quán Thế Âm
Bồ Tát. Ngoài các mẫu chuyện linh ứng của đức Quán Thế Âm, chúng tôi còn
có trình bày thêm phần thực tập thiền quán qua đề mục niệm danh hiệu Bồ
Tát Quán Thế Âm và có phần Nghi thức trì tụng phẩm kinh Phổ Môn, nói rõ
hạnh nguyện và năng lực cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm. mỗi phần mẫu
chuyện có phụ bản phóng ảnh tám mươi bốn hình tượng hóa thân của Bồ Tát
Quán Thế Âm, trích dẫn từ kinh Quán Âm Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni, do sa môn Dà
Phạm Ðạt Ma dịch từ phạn ngữ ra hán văn và do pháp sư Thánh Ấn soạn giải.
Ðọc tập sách này, mà bạn khởi phát được niềm tin sâu vững nơi Bồ Tát Quán
Thế
Âm, nguyện nổ lực cần mẫn trên tiến trình học hạnh yêu thương và giúp đỡ
người thân đồng loại, đó chính là nhờ công năng quán chiếu tu tập hạnh
lành của bạn theo tinh thần Từ Bi của đức Quán Thế Âm. Riêng quý vị đã có
sẵn tín tâm, duyên lành với hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm, sau khi đọc
xong tập sách này, chắc quý vị có thêm kinh nghiệm và tư liệu sống thực để
hằng truyền phổ sâu rộng về công đức, hạnh nguyện thù thắng của đức Quán
Thế Âm Bồ Tát. Ngay nơi bản thân chúng tôi, nhờ tin tưởng, xưng niệm,
phụng thờ, lễ bái và thực hành hạnh nguyện thương yêu, lắng nghe đức Quán
Thế Âm Bồ Tát mà mỗi ngày tăng phần an lạc và hạnh phúc. Bằng vào đó mà
chúng tôi tin tưởng vào năng lực cứu khổ mầu nhiệm cùa Bồ Tát Quán Âm một
cách tuyệt đối. Nhờ vậy mà chúng tôi càng thêm vững chí trên đường tu tập
và hành đạo. Mong bạn đọc qua những mẫu chuyện linh ứng Quán Thế Âm sẽ:
·
Thấu rõ hạnh nguyện cứu
khổ sâu rộng, mầu nhiệm của Bồ Tát Quán Thế Âm
·
Tin sâu vào bản thể từ
bi, diệu dụng, hóa hiện độ sinh bất khả tư nghì của Bồ Tát Quán Thế Âm
·
Tin sâu đạo lý nhân quả
và duyên sanh giữa ta và người, giữa hạnh phúc và đau khổ.
·
Hằng phát nguyện hạnh
thực tập và lắng nghe và cứu khổ bình đẳng của Bồ Tát Quán Thế Âm.
·
Hằng chuyên cần và nhất
tâm xưng danh hiệu,lễ bái đức Quán Âm Bồ Tát không hề mỏi mệt.
·
Nguyện cho mọi người, mọi
loài sớm biết thực tập lời di huấn, giới răn, thiền định của Phật dạy để
tiếp xúc được tự tánh thanh tịnh, từ bi, trí huệ ngay trong long thực tại.
·
Hóa thân của Bồ Tát Quán
Thế Âm có mặt khắp mọi nơi và mọi thời. Ở đâu có đau khổ, có hận thù tăm
tối là ở đó có Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
·
Xưng niệm, lễ bái, phụng
thờ Bồ Tát Quán Thế Âm và muốn lời cầu nguyện có hiệu lực ta nên xả bỏ
những tâm lý oán cừu, phiền hận và tham chấp.
·
Phát nguyện làm điều lợi
ích, cứu giúp, ban bố niềm vui cho người; xa lánh những điều ác, tránh sự
giết hại, trộm cướp, gian dối, tà dục. Ðó chính là những điều kiện tốt để
ta có cơ hội tiếp xúc với sự mầu nhiệm, linh cảm của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Ðức Quán Âm Bồ Tát
Ðã thành Phật lâu xa
Vì hạnh nguyện cứu khổ
Hết mọi loài chúng sanh
Trong luân hồi sáu nẻo
Ứng hóa vô lượng thân
Hiện ngàn muôn diệu ứng
Vào khổ cảnh ngục lao
Cứu giải trừ ách nạn
Ðem tin lành muôn nơi
Người tôn xưng Thánh Mẫu
Người gọi đức Quán Âm
Bậc đại hiền tự tại
Chăm kỉnh lể phụng thờ
Chuyên lòng trì danh hiệu
Vượt thoát mọi tai ương.
Thân chúc bạn đọc thường trau dồi hạnh phúc bằng
chất liệu yêu thương, bằng khả năng quán chiếu; hằng đem tâm khách quan,
tha thiết trong việc học hỏi, chiêm nghiệm, thực tập hạnh nguyện ban vui,
cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm để niềm phúc lạc, bình an có mặt đích thực
trong cuộc sống.
Thành kính tri ân quý pháp hữu, quý ân nhân, các
đệ tử thân cận đã hết lòng góp phần tài chánh, đánh máy, trình bày và sữa
soạn kịp thời cho tập sách này có đủ nhân duyên xuất bản như tâm nguyện:
Vì lợi ích tất cả
Vì hạnh phúc nhiều người
Vì đáp đền ơn nặng
Vì cứu khổ muôn loài
Vì dẫn độ quần sanh
Vào biển tuệ Như Lai
Nơi tình thương rộng lớn
Tự tại hằng an vui.
Thích Tịnh Từ.
(2) NAM MO A RI DA -(Nammo arya)-
Quán Âm hiện diện tướng
Ðộ đời chuyển pháp luân
Tay nâng ngọc như ý
Ban vui khắp mọi nhà.
NHIỆM MẦU THAY ÐỨC TIN
|^|
Tôi hồi còn nhỏ học trường tư thục Thiên Chúa
Giáo, trốn nhà vào chùa ở lúc mười bốn tuổi. Bổn sư tôi là Ðại sư Viên
Giác, sáng lập tu viện Giác Hải ở làng Viên Tự, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh
hòa, Nha Trang, thầy tôi rất thương tôi, nhưng người cho tôi là loại trẻ
“cứng đầu”. Thầy tôi tin tưởng vào”mê” Ðức Quán Thế Âm một cách lạ lùng,
còn tôi thì hời hợt với chuyện này. Không phải chỉ lúc mới đi tu trí óc
còn non dại, mà ngay đến khi thọ giới người tu trưởng thành, tôi vẫn quan
niệm Ðức Quán Thế Âm như một hình ảnh biểu tượng về tình thương. Thờ Bồ
Tát Quán Thế Âm chẳng qua là hiếu kính người hiền và nặng lòng tín ngưỡng.
Thầy tôi đã huy động dân làng và Phật tử khắp nơi dựng Quán Âm Ðiện Các ở
trên đỉnh núi Ông Sư tại làng Xuân Tự để phụng thờ, tôi là người hưởng ứng
và săn sóc hương khói một cách bất đắc dĩ.
Năm 1958, tôi không may bị chứng đau đầu thống
trầm trọng. Lý do là tôi ham học và thiếu ngủ. Tôi mê say học kinh điển
như một bộ môn triết lý đầy thú vị. Mặt khác tôi lo học chương văn hóa ở
cấp trung học. Một đêm tôi không ngủ quá ba tiếng đồng hồ. Sau kỳ thi cử
không bao lâu, tôi buông bỏ bút nghiên, sự nghiệp học vấn. Ðầu tôi đau như
muốn vỡ tung từng mảnh và mắt xốn như bị bão cát lùa vào từng cơn. Mũi
chảy ra nước xanh, nước vàng. Tôi bỏ ăn, bỏ ngủ. Bao nhiêu nhà thương, bác
sỉ tây y có tiếng, tôi đều tìm đến. Bao nhiêu thầy giỏi thuốc bắc, thuốc
nam gia truyền tôi đều khẩn cầu, nhưng tất cả đều vô hiệu. Tôi vào Sài Gòn
chữa bệnh, tinh thẩn tôi càng thêm sa sút. Nhiều lần tôi muốn vào trong
lòng đại dương tươi mát để tìm giấc ngủ an lành. Thầy tôi biết rõ tình
trạng đau khổ, bi quan của tôi nên thường ở bên cạnh để săn sóc an ủi. Dồn
hết để lo chữa bệnh cho tôi. Thầy tôi đã nhiều tháng thức trắng đêm với
tôi và hai thầy trò cùng thường di bộ trên bờ biển hóng mát để tôi bớt dau
nhức vì bệnh hành hạ về đêm.
Có một đêm ngồi trên vịnh eo biển
Phan Rang, thầy tôi có vẻ buồn bã lắm, ngưởi bảo tôi rằng: “thầy thương
quý con hơn cả vàng ngọc, nhưng nhiều lúc thầy rất giận con, vì con ngang
ngược, cứng đầu, không chịu nghe lời thầy trì tụng kinh Phổ Môn, xưng danh
hiệu đức Quan Thế Âm Bồ Tát để cầu ngài chữa bệnh cho con”. Ðó là đêm hai
thầy trò chúng tôi ôm nhau mà khóc. Tôi nghe lời thầy tôi như con trẻ tin
lời mẹ dạy. Tôi không còn đi cầu thầy chữa bệnh nữa, trở lại chùa ở Xuân
Tự, nhập thất ba tháng, chuyên trì tụng chú Ðại Bi, kinh Phổ Môn và niệm
danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau ra thất bệnh chẳng thuyên giảm, tôi
vào chùa Ông ở Nha Trang xin tịnh dưỡng tiếp tục nhập thất, lễ sám hối,
chuyên cần trì niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát liên tục không ngớt.
Kỳ diệu thay, sau hai tháng sám hối, nhất tâm xưng niệm danh hiệu NAM
MÔ ÐẠI TỪ ÐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN LINH CẢM ỨNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT,
tôi cảm ứng Mẹ Hiền Quán Âm cứu khổ và dứt trừ cơn bạo bệnh. Thân tâm tôi
nhẹ nhõm như một cuộc tái sanh mới.
Tối đó là ngày rằm, khoảng đầu mùa hè năm 1960,
tôi ngồi thiền và niệm chú Ðại Bi nơi gác chuông Chùa Ông mà có người còn
gọi là Chùa Núi. Lúc đó khoảng hai giờ sáng, tôi thấy một luồng ánh sáng
trên trời cao lùa vào gác chuông, rồi hiện ra một thiên nữ mặc áo trắng
trao cho tôi mười hai viên thuốc tể nhỏ xíu và một bình nước trắng đựng
trong lọ thủy tinh có buộc giải lụa màu xanh. Thiên nữ xoa đầu tôi và nói:
“Ðây là thần dược, ngươi uống xong sẽ hết bệnh, hết khổ. Nhưng nên nhớ khi
khỏe mạnh rồi, lo chăm chỉ hành đạo để cứu người, chớ có để vọng tâm buông
lung, tình đời chi phối.” Lời thiên nữ hiền dịu như lời mẹ hiền, tôi cúi
đầu đãnh lễ tạ ơn và phục mệnh.
Lúc ấy, tôi có cảm giác an lạc lạ lung. Tôi chấp
tay cung kính cầm thuốc bỏ vào miệng uống mà không nói một lời nào. Vị
thiên nữ bảo tôi nằm ngủ để lấy lại sự bình an trước khi người biến vào hư
không. Sau một giấc ngủ dài, tôi thức dậy không cảm thấy đau đầu nữa.
Bệnh tôi chấm dứt hẳn. Hình ảnh người thiên nữ mặc áo trắng kia là ai, tùy
mỗi người đặt tên gọi. Sự “cứng đầu” cùa tôi đã bắt đầu “mềm” từ đó. Tôi
tin tưởng và tích cực tìm hiểu về hạnh nguyện cứu khổ của đức Quán Thế Âm
Bồ Tát, khởi đi từ sự cảm ứng này. Hôm tôi lành bệnh trở lại chùa, trong
bữa cơm liên hoan của đại chúng chào đón và mừng tôi, thầy tôi có tặng cho
tôi bài thơ mà tôi đã nằm lòng:
Thương con như trái tim mình
Thương con vượt thoát ngục hình đớn đau
Quán Âm Bồ Tát nhiệm mầu
Trí bi song vận duyên lành ứng cơ
Tín tâm dứt mối nghi ngờ
Thuyền từ đưa đén bến bờ an vui
Ðường tu mãi tiến chớ lùi
Giới răng gìn giữ ngọt bùi chớ mê
Tịnh thiền định huệ đường về
Ngộ tâm đạt tánh nguyện thề độ sanh
Bồ đề quả kết chóng thành
Nối dòng Phật tổ cứu người trầm luân.
(3) BÀ LÔ YẾT ÐẾ THƯỚC BÁT RA DA
(Avalokiteshavaraya)
Quán Âm ngời tự tại
Hiện thân tướng trì bình
Cứu người lâm bệnh khổ
Tăng phước thọ diên trường.
THOÁT NẠN NƯỚC CUỐN
|^|
Nước trôi song bị chìm
Nhờ sức niệm Quán Âm
Ðược sống lâu thọ mạng
Nhờ Quán Âm thọ trì.
Hồi mới lên 6,7 tuổi, tôi và anh tôi cứ mỗi buổi
trưa cuốituần hay trốn mẹ ra sông để tắm. Một hôm gặp mùa mưa tháng tám,
nước lớn từ trên nguồn tuôn về quá mạnh khiến con đê trong làng bị vỡ, nơi
khúc sông cạn bỗng dưng nước ngập, xoáy sâu và chảy xiết. Cả hai anh em
tôi đều bị cuốn theo dòng nước và vì sức yếu nên hai anh em chúng tôi
không sao gượng nổi để vào bờ. Lúc bấy giờ tôi chỉ kịp nghe tiếng anh tôi
nhắc: “ em ơi! đừng sợ, niệm Phật Quán Âm đi.”, rồi anh tôi mất dạng. Tôi
cũng chìm ngập trong biển nước xoáy. Nhờ lời nhắc niệm Phật Quán Âm của
anh tôi, nên trong ý thức của tôi lúc đó rất bình tĩnh, sáng suốt và tôi
nói thầm trong miệng: “Phật Quán Âm ơi! cứu con với! con mệt lắm rồi…” tôi
cứ lẩm bẩm trong miệng hoài như thế không biết bao nhiêu lần, cho đến khi
không còn biết gì nữa. Tôi đã bị chết trôi? Không, tôi đã được đức Quán
Thế Âm Bồ Tát cứu sống đến bây giờ. Năm nay tôi đã 57 tuổi, kể ra tôi cũng
thọ mạng đấy chứ.
Trong cơn mê man của một giấc ngủ dài,
tôi nghe tiếng một ông lão gọi bên tai tôi: “Này con, thức dậy để đi tìm
anh con vể nhà. Mẹ, ba con, ông bà nội của con đang nóng lòng chờ hai anh
em con về ăn cơm trưa đó.” Qua tiếng gọi, tôi đã tỉnh ngủ. Khi thức dậy,
tôi thấy mình đang nằm trên một cồn cát trắng, sát bên cạnh một vùng nước
mênh mông. Nhìn quanh bốn phía chẳng thấy nhà cửa, chẳng thấy bóng dạng
người qua lại. Nhìn vào thân thể, tôi bỗng thẹn thùng vì thấy mình trần
trục, không có quần áo gì cả. Nhìn vào ngực, tôi bắt gặp cái tượng đức
Quán Thế Âm
Bồ Tát nhỏ mạ vàng mà mẹ tôi đã đeo trong cổ cho tôi ngay hồi tôi mới sinh
được vài tháng. Tôi mĩm cười, cầm cái tượng vân vê trên tay, rồi nói:
“Phật Quán Âm ơi! Anh của con đâu rổi? Nếu anh của con mà bị nước cuốn
trôi thì mẹ , ba, ông bà nội, ông bà ngoại của con khóc đó. Con cũng không
chịu mất đi anh của con đâu. Phật Quán Âm ơi! chỉ cho con biết anh của con
đang ở đâu để con tới dẫn anh con về nhà kẻo mẹ lo. Mẹ thương hai anh em
con lắm đó.”
Vừa réo gọi Phật Quan Âm vài tiếng, tôi ngẩng đầu
nhìn ra phía sóng nước trùng khơi, tôi thấy một con đò nhỏ đang chạy thoăn
thoắt đi về phía tôi. Tôi reo lên mừng rỡ, chờ đợi và nhảy ra con nước ôm
lấy anh tôi khi con đò vừa đến. Anh tôi đã đến trên một con đò nhỏ với ông
lão. “Ồ, Anh ơi! chiếc đò và ông lão đi đâu mất rồi? Sau phút chốc, tôi ôm
anh tôi mừng, tủi tủi; tôi quay lại thì không thấy chiếc đò và ông lão đâu
nữa. Anh tôi cũng ngạc nhiên như tôi, cả hai anh em trố mắt tìm kiếm.
Nhưng, giữa cánh đồng con nước mênh mông, vẫn im lìm không một bong thuyền
đò qua lại. Ông lão chèo đò biến dạng, chiếc đò cũng không còn.
Anh tôi thuật lại rằng khi cơn nước đẩy, anh tôi
không nhìn thấy tôi đâu cả, nên anh tôi la lớn bảo tôi niệm Phật Bà Quán
Âm để được Phật Bà giúp đỡ. Anh tôi biết mình sắp chết đuối và nhớ lời mẹ
dặn là khi gặp tai nạn thì niệm Phật Bà Quán Âm. Lúc đó, anh tôi tin là có
Phật Bà và nghĩ là Phật Bà rất linh thiêng, nên anh tôi không có lo sợ.
Anh tôi nhắm mắt và thầm niệm:
NAM MÔ ÐẠI TỪ ÐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN LINH ỨNG
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Anh tôi niệm tên
của Phật Bà ước chừng được mười lần thì anh tôi chẳng còn hay biết gì cả.
Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trên chiếc giường tre với bộ áo quần
xanh mới, bên cạnh bếp lửa đang nấu nồi cháo trắng sôi sùng sục. Trong nhà
chỉ có một mình ông lão tuổi chừng bảy mươi, tướng mạo rất đẹp, miệng luôn
cười như Phật Di Lạc. Ông lão lấy cháo trộn với đường cát cho anh tôi ăn
một tô lớn rồi ông khen anh tôi ngoan, giỏi, còn nhỏ mà biết tin Phật Bà
Quán Âm. Anh tôi hỏi: “Bác có biết Phật Bà ở đâu không?” Ông lão cười và
chỉ vào trái tim của anh tôi. Ý ông lão nói là Phật Bà ở trong tâm của anh
tôi. Ăn cháo xong, ông lão nói với anh tôi là đi tìm tôi và sẽ đưa cả hai
anh em về nhà. Anh tôi ngồi trên chiếc đò nhỏ và ông lão đưa anh tôi tới
đây gặp tôi.
Tôi bảo anh tôi: “Như vậy ông lão đó chính là đức
Quán Thế Âm Bồ Tát mà anh em mình thường nghĩ và niệm bấy lâu nay.”
Anh tôi gật đầu thốt lên: “ừ hơ, ờ hơ, anh có cảm
giác là ông lão này là lùng lắm, không phải là một người thường…” Mặt trời
chiếu lên cao, anh tôi cởi chiếc áo đang bận trùm lên mình tôi. Hai anh em
tôi dắt nhau về nhà một cách bình an.
Chuyện này xảy ra tại thôn Phường Sắn là một thôn
nhỏ tại làng Long Hưng, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi tôi ra đời và
lớn lên.
Nguyễn Năng Diêu, anh hai tôi ghi lại chuyện này
trong nhật ký của người. Tôi cung kính chép lại nơi đây để cống hiến đến
quý thân hữu xa gần và mong bạn đọc cho anh tôi một lời cầu nguyện. Anh
tôi đã qua đời năm 1961 vì chiến tranh và bom đạn vô tình.
NGUYÊN QUANG
(4) BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA BÀ DA (Bodhisattvaya)
Quán Âm bậc tuệ giác
Ðạt chơn tánh rạng ngời
Lòng từ bi quảng đại
Phổ độ khắp gần xa.
NGƯỜI ÐƯA ÐƯỜNG DẪN LỐI
|^|
Quán Âm người dẫn lối
Ði tìm đại từ bi
Quán Âm thầy thắp sáng
Soi nẻo về thênh thang.
Năm tôi đi tu, đường đi nước bước không rành,
chẳng biết chùa và thầy hiền ở đâu mà tìm kiếm. Mới mười bốn tuổi đầu,
lòng tha thiết quyết chí đi tu, song chưa hề quen biết với bất cứ một vị
thầy hay một sư chú nào trong chùa viện. Ðể thực hiện ý định đi tu của
mình, ngày đêm tôi chỉ biết cầu nguyện và thầm xưng niệm danh hiệu đức Bồ
Tát Quán Thế Âm. Cách niệm tôi tạm trình bày cho có vẽ “tươm tất” như sau:
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con gặp người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con được vào chùa tu học và có cơ duyên trau dồi tình thương cao rộng.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con gặp được vị thầy sáng suốt và hiền đức để được tu tập.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tai ương trên đường đi cầu đạo
giải thoát.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con giữ vững niềm tin nơi bản thân và Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con không bao giờ thối chí trong mọi hạnh lành, đem niềm vui đến cho
nhiều kẻ khác.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con sớm khai mở trí tuệ và có đìều kiện tốt để giúp người thoát khỏi
khổ đau.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con có đủ tâm đại hùng, đại lực để cứu nhân sanh vượt ra mọi ngục
hình tư tưởng trong đời sống.
·
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm,
giúp con mau thành Phật quả để đem đến hạnh phúc, lợi ích cho nhiều người,
nhiều tâm hồn đang bị đọa lạc trong kiếp luân hồi.
Hồi ấy, tôi không thể nói ra thành lời như vậy,
nhưng trong tâm tôi luôn niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và hằng khởi
lên những ý nghĩ tương tợ như thế.
Khuya hôm ấy, khoảng tháng 10 năm 1956, bên ngoài
trời mưa tầm tã, gió nổi tứ bề, cây cảnh ngã đổ, nước lũ tràn khắp đường
sá xóm làng. Lúc khoảng 12 giờ đêm, tôi rón rén mở cửa trốn nhà đi vào Huế
tìm chùa, tìm thầy học đạo. Từ làng ra tỉnh và từ tỉnh Quảng Trị đón xe đò
đi vào Huế đối với tôi lúc bấy giờ là một con đướng thăm thẳm, diệu vợi và
hết sức khó khăn trong việc đi lại, song tôi không hề có chút chần chờ, lo
ngại. Trong cái nãi xách tay của tôi chỉ có hai bộ áo quần màu xám và một
tấm hình Quán Thế Âm nhỏ bằng giấy dán liền trên tấm ván mỏng được một anh
huynh trưởng gia đình Phật tử trong làng cho tôi cách đó hai năm về trước.
Ngoài cái “gia bảo” ấy, trong túi tôi còn có hai chục bạc để đi đường. Số
tiền này đứa em gái đã cho tôi cách đó vài hôm khi em được phần quà thưởng
lệ về việc học giỏi từ ông cậu ruột làm công chức gởi cho.
Ra khỏi nhà, tôi phải đi qua chiếc cầu tre bắc ngang một con sông rộng
chảy qua làng. Rủi ro, cái cầu tre bị gãy và xoáy theo dòng nước chảy xiết
khi tôi đang dò dẫm từng bước một trên chiếc cầu tre lắc lẽo ấy. Thế là
tôi bị trôi sông, cuốn theo dòng thác lũ đưa về xóm Bàu. Nhờ sức niệm Bồ
Tát Quán Âm mà tôi thoát tai nạn nước chìm. Không ngờ trong tai nạn ấy hóa
ra tôi đã đi con “đường tắt”. Con đường từ xóm Bàu lên đường cái quan rất
gần, chỉ đi bộ khoảng hai mươi phút thôi. Trong khi đó nếu tôi không bị
giòng nước cuốn trôi, thì tôi phải đi con đường dài từ làng ra đường cái
quan, lên tỉnh để đón xe đi vào Huế cũng phải mất mấy tiếng đồng hồ. Nhưng
chưa chắc thành công, vì tôi có thể bị người nhà tìm bắt trở lại.
Nước lũ đưa đường chỉ lối cho tôi lên chùa
Nước lũ chỉ nẻo đường tắt đưa tôi về nguồn cội
Nước lũ giúp tôi đi mau tới đích
Và không bị cản, ngăn chướng ngại.
Lên xe đò vào Huế, ông tài xế thấy tôi còn nhỏ quá nên không lấy tiền. Khi
xuống tại bến đò, tôi đang lay hoay tìm kiếm đường lên chùa, thì một bà cụ
nói là bà ở trước chùa Báo Quốc, rồi bà tự động kêu xe xích lô bảo bác tài
xế đưa tôi về chùa ấy. Lên đến cửa chùa, tôi lấy hai chục đồng bạc trong
túi trả bác xích lô, bác nói là bà cụ khi nãy đã trả tiền xong rồi. Thế là
gia tài số tiền mặt ấy tôi vẫn còn giữ hoài trong túi không bao giờ tiêu
xài. Bà cụ thuê xe và chỉ đường lên chùa cho tôi là ai, tôi không biết rõ
lai lịch?
Sau này tôi nghiệm lại, tôi mới biết đây là sự chỉ điểm của thánh hiền và
sự mầu nhiệm đưa đường chỉ lối của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Chùa Báo Quốc tại Huế là một viện Phật học, đào tạo chư Tăng và nhân sự
Phật Giáo tài đức để hoằng pháp, lợi sanh dưới sự dám viện của hòa thượng
Thích Trí Thủ. Khi vừa bước chân lên cổng chùa thì tôi liền được sư chú
Tâm Hòa tiếp đón rất niềm nở như người nhà, khiến tôi hết sức ngạc nhiên.
Vì dường như việc tôi đến đây sư chú có linh tính biết trước rất rõ ràng.
Sư chú Tâm Hòa dẫn tôi vào phòng khách và nói cho tôi biết: “Có đại sư
Thích Viên Giác sáng lập và Trú trì tu viện Giác Hải ở tỉnh Khánh Hòa, Nha
Trang đã đến đây ba hôm để đợi em đó. Em có phải từ tỉnh Quảng Trị vào và
đang đi tìm thầy, tìm chùa để xuất gia học đạo không?”
Tôi chỉ cuối đầu dạ và chưa kịp nói thì sư chú Tâm Hòa nói tiếp: “Ðại sư
Viên Giác cho tôi hay là được Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ điểm nên ngài đến
chùa Báo Quốc từ Nha Trang để nhận một chú bé đem về chùa nuôi. Ngài bảo
tôi ra đứng trước của Tam Quan suốt cả buổi chiều nay để đợi em. Em hãy
vào trong để ra mắt vị thầy của em”.
Nghe sư chú Tâm Hòa nói, lòng tôi sung sướng vô vàn, tràn ngập hạnh phúc
và nhẹ nhỏm như mình đang bay trên một không gian vô tận.
Bước chân vào phòng, tôi thấy một vị thầy mặc áo nâu rộng, thân thể gầy ốm
nhưng đôi mắt rất sáng. Thầy trạc tuổi 40 đang ngồi kiết già vững chải,
quay mặt về phía cửa chính như đang chờ đợi một người. Ngài chờ đợi tôi,
đó là đứa bé mới 14 tuổi đầu, bỏ nhà, bỏ cha mẹ đi tìm thầy khai mở tâm
linh.
-Con muốn tìm thầy để được tu tập phải không? – ngài nhìn tôi hỏi.
Tôi cúi đầu trả lời:
-Thưa thầy dạ phải.
-Con đi tu để làm gì?
-Thưa thầy, con đi tu để làm giảng sư để dạy cho cái tâm của con trở nên
hiền lành và dạy cho người khác bớt đau khổ nhờ cái tâm sáng suốt.
Nghe xong, ngài cười và không hỏi thêm gì nữa. Tôi được sư chú Tâm Hòa và
Ðiệu Trí giúp Ngài chuẩn bị việc làm lễ xuống tóc cho tôi. Sau khi
cạo tóc và măc y phục của chú tiểu vào mình, tôi thấy mình là một con
người mới. Sáng hôm sau mới khoảng ba giờ khuya, thầy trò tôi ra sân ga
trở về tu viện Giác Hải Nha Trang. Cuộc đời tôi thay đổi từ đó. Ðời tôi đã
có vị thầy đưa đường chỉ lối, đó là đại sư Viên Giác, vị bổn sư của tôi,
nuôi dưỡng tâm tôi khôn lớn.
Sau này tôi mới rõ, thầy tôi lập chùa Giác Hải được ba năm, dựng trên núi
Ông Sư, làng Xuân Tự ở quận Quảng Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thầy có nuôi vài
ba chú tiểu nhưng tất cả đều bỏ về nhà. Thầy tôi bèn tụng kinh Phổ Môn để
nhờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát tìm giúp thầy tôi một chú tiểu có nhân duyên và
căn khí để nối chí thầy tôi hoằng pháp trong tương lai. Nhờ đức Quán Thế
Âm điểm hóa và thầy trò chúng tôi đã gặp nhau. Tôi được xem như đệ
tử lớn của thầy tôi. Tâm ý giữa hai thầy trò chúng tôi rất tương đắc.
Quán Âm Bồ Tát rất nhiệm mầu
Thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu
Khắp xứ người cầu đều cảm ứng
Biển trần qua lại độ quần mê.
Năm 1975 tôi qua Mỹ học, thầy tôi không vui lắm vì người lúc nào cũng muốn
tôi ở bên cạnh để lo việc chùa viện và giao phó hoằng pháp, nuôi Tăng độ
Chúng của thầy tôi. Song thấy chí xuất dương của tôi đã quyết nên thầy tôi
không ngăn cản. Bao nhiêu tình thương và ánh sáng soi đường, thầy tôi gói
trọn cho tôi trong bài kệ:
Trái đất quê hương mẹ
Trong tim có quê hương
Mầu nhiệm trong tỉnh thức
Thực tại nẻo quay về.
Nguyên Nguyện.
(5) MA HA TÁT ÐỎA BÀ DA – (Mahasattvaya) –
Quán Âm trì mật chú
Biến nước tịnh cam lồ
Diệt trừ tham sân hận
Mở trói buộc ưu phiền.
THOÁT NẠN TRÊN BIỂN CẢ
|^|
Gia đình tôi gồm có bảy người, hai vợ chồng và năm đứa con nhỏ cùng vượt
biển trên một chiếc thuyền nhỏ đánh cá với năm mươi hai người cùng xóm.
Chổ khởi hành là cửa biển Thuận An, Huế vào tối hai mươi tháng tư âm lịch
năm1979.
Ðó là một đêm tối trời và đầy kinh hãi, vì chúng tôi vừa cho tàu khởi hành
vừa được bốn mươi phút thì bị tàu biên phòng Bình Trị Thiên phát giác và
đuổi bắt. Chúng tôi ai cũng hoảng sợ, không còn đủ bình tĩnh để tính toán
và nghĩ rằng, phen này tất cả đều bị bỏ tù, vì đây là lần vượt biên thứ ba
bị phát giác của chúng tôi.
Trong khi nhiều người đang bối rối thì bác Tư Hiền, chủ bán tiệm vải ngày
trước ở chợ Ðông Ba, hô to như ra lệnh cho mọi người trong tàu yên lặng,
và bác bảo mọi người chắp tay thành kính niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ
Tát. Không ai bảo ai, mọi người răm rắp niệm Nam Mô Cứu Khỏ Cứu Nạn Linh
Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát râm lên cả một góc trời, theo sự hướng dẫn của bác
Tư Hiền giữa sóng nước mênh mông. Lạ thay, thình lình một cơn mưa nặng hạt
đổ xuống tầm tã trên biển cả. Trong màn đêm dày đặc, sấm chớp nổi lên giữ
dội, thét gào như cơn thịnh nộ của những vị hung thần. Kỳ diệu thay, trong
lúc đó con tàu nhỏ của chúng tôi chạy vi vút như tên bay, hướng ra khơi
bởi một sức mạnh phi thường nào đó, ngoài sự kiểm soát tay lái của tài
công. Tài công hôm đó là anh Thông và tôi là người phụ tá cùng chấm địa
bàn tay lái của anh. Cùng trong lúc ấy anh cảm thấy như đang rơi vào trong
giấc ngủ, nằm kê đầu trên một thác nước chảy róc rách trên một sườn núi. Ở
đây có nhiều khóm trúc và trên các cây cổ thụ xinh đẹp, treo sà xuống
nhiều giò phong lan đủ màu, tỏa hương thơm ngát.
Trong khi đó, tiếng mọi người trên tàu vẫn tiếp tục niệm danh hiệu Ðức
Quán Thế Âm Bồ Tát. Ước độ mười phút sau, thì tàu chúng tôi vượt ra khỏi
hải phận của công an kiểm soát biên phòng mà chúng tôi không hề hay biết.
Thoát nạn, con tàu nhỏ của chúng tôi chạy thẳng vào đảo Hải Nam chỉ hơn
bốn ngày sau. Thức ăn nước uống trên tàu còn hơn một nữa, vì vật thực
chúng tôi chuẩn bị cho mọi người có thể sống đến ba tuần lễ trên đường
lánh nạn.
Khi tàu ra khỏi hải phận, chúng tôi những người cùng đi hôm đó tôn bác Tư
Hiền là mẹ đỡ đầu tinh thần. Bác Tư Hiền khiêm tốn không chịu, nhưng vì
chúng tôi năn nỉ và trình bày chi tiết về sự quan trọng của đời sống tâm
linh, nên bác Tư Hiền vui vẻ nhận lời. Mà bác Tư Hiền làm mẹ đỡ đầu tinh
thần cho chúng tôi là xứng lắm, vì bác đã trên sáu mươi tuổi, vóc dáng
phương phi, nụ cười hoan hỷ, lời nói lúc nào cũng từ tốn, sắc sảo và đầy
trìu mến. Hơn nữa, bác Tư Hiền đã quy y Tam Bảo năm giới, và thọ thập
thiện, và thọ Bồ Tát Giới với hòa thượng Quy Thiện từ lúc bác mới ba mươi
mốt tuổi. Hòa thượng đặt cho bác cái pháp danh là Thiện Yên. Vị bổn sư
không phải đặt pháp danh cho bác theo dòng kệ mà đặt theo tâm địa hiền
lành và bình yên của bác. Về sau chúng tôi thường gọi bác là cụ Thiện.
Cụ Thiện Yên đã ăn chay trường trên ba mươi năm kể từ ngày thọ Bồ Tát
giới. Hằng ngày cụ thường trì tụng kinh Pháp Hoa, mà phẩm Phổ Môn cụ nằm
lòng như kinh tụng mỗi ngày. Cụ không những tự mình tu hành tinh tấn, mà
lúc nào cũng vui vẻ khuyên bảo con cháu, người xa kẻ gần, làm lành lánh
dữ. Vì cụ Thiện Yên là người đỡ đầu tinh thần cho chúng tôi nên chúng tôi
đều lắng nghe lời dạy của cụ là phải ăn chay mỗi tháng sáu ngày và cách tu
tập hàng ngày là lấy yếu chỉ kinh Phổ Môn làm đề mục trì tụng, sống theo
hạnh từ bi, lợi người, cứu khổ của đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Cụ Thiện Yên sống với đứa cháu nội làm nha sĩ ở bên Thụy Sĩ. Chúng tôi cả
nhà may mắn được tàu Cao Ủy đưa về Hồng Kông tạm trú sáu tháng, và sau đó
được chú em bảo trợ qua Mỹ, đã có nhà ở tại một thành phố nhỏ cận
Monterey, tiểu bang Calofonia.
Gia đình chúng tôi mua vé máy bay mời cụ Thiện Yên, bà mẹ đỡ đầu tinh thần
của chúng tôi qua Mỹ thăm hai lần. Cụ Thiện Yên cũng có đi Pháp, Cannada,
đi Úc… thăm bởi những đứa con tinh thần của cụ bảo trợ tài chánh.
Chúng tôi đến Mỹ và thỉnh tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát về thờ ngay trong
nhà. Trong nhà mỗi tuần tụng kinh Phổ Môn một lần và hàng ngày mỗi người
đều trì niệm danh hiệu đức Phật A Di Ðà và đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng
tôi hết lòng tri ân và kính trọng cụ Thiện Yên như hình ảnh của một vị Bồ
Tát, vì không những nhờ ảnh hưởng tu hành của cụ mà chúng tôi được thoát
nạn; xa hơn, chính nhờ sự hướng dẫn của cụ mà cả gia đình chúng tôi biết
hòa hợp, biết thương yêu và đùm bọc lẫn nhau một cách tốt đẹp trong nếp
sống mới.
Quảng Ðại
Nguyễn Thanh Hậu
(6)
MA HA CA LÔ NI CA DA – (Mahakarunikaya)
Quán Âm hiện thân tướng
Mã minh hưng đại thừa
Ma quân là chấn nhiếp
Hằng tự giác, độ tha.
CỨU CON THOÁT NẠN GIAO THÔNG
|^|
Trong chánh điện chùa Từ Quang tại San Francisco,
đối diện với tượng thờ đức Bổn Sư Thích Ca là Quan Âm Các. Ðiện này làm
bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất đẹp, những đường nét uốn cong, chạm trổ rất
công phu. Tượng đức Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen cũng chạm trổ bằng gỗ
trầm hương và thếp vàng lá. Ðây là một bảo vật vô giá về mặt tinh thần,
được Hòa Thượng Nhất Văn, vị sư người Tàu liên lạc thỉnh từ Ðài Loan. Ðiện
Thờ đức Quán Thế Âm được thỉnh về tôn trí tại chùa vào tháng 2 năm 1978.
Kinh phí lá 9 ngàn năm trăm Mỹ kim, do gia đình đạo hữu Nguyễn Thị Quy,
pháp danh Quảng Lạc phát tâm cúng dường.
Hồi mới lập chùa Từ Quang, đạo hữu Quảng Lạc có
nói với tôi rằng: “Bạch thầy, Ðức Quán Thế Âm linh hiển lắm, gia đình ba
mẹ con của con sống sót trên đất khách quê người, lập nghiệp nên nổi là
chính nhờ Ðức Quán Thế Âm cứu thoát mọi tai nạn. Ngài đã thường báo cho
con nhiều điềm mộng dị thường. Hồi mới qua, con đi làm thuê đầu tắt mặt
tối, đứa con trai đầu lòng của con mười hai tuổi đi học và đi bỏ báo, cháu
gái út mới hai tuổi, phải nhờ hàng xóm coi chừng và trả tiền rất đắt. Tiền
bạc thiếu kém, nhưng không đáng ngại, về mặt tinh thần của con thì lại quá
trống trải buồn thảm, xuống dốc vô cùng trước nếp sống khác biệt mọi thứ.
Nhưng may nhờ nhớ lơì mẹ con ngày xưa dặn là hễ có tai nạn nên nhất tâm lễ
niệm, phụng thờ Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát thì được giải cứu. Con đã làm theo
và đã phát tâm thờ Phật Quán Thế Âm, tụng kinh Phổ Môn, bái sám hàng ngày
nên cả nhà con đều được hạnh phúc và bình yên. Nay con xin phát nguyện và
mong thầy hứa khả hoan hỉ thỉnh tôn tượng Ðức Quán Thế Âm về thờ ở chùa
nhà để Phật tử đến chùa có cơ duyên lễ bái và phát tâm tu tập theo hạnh từ
bi của Ngài, phí tổn bao nhiêu cũng được, đình con xin nhất tâm tùy hỷ
cúng dường.”
Ðó là nguyên do Ðiện Các Quán Thế Âm tại chùa Từ
Quang được thỉnh về thờ. Rất nhiều câu chuyện Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát hóa
hiện cứu nguy ba mẹ con đạo hữu Quảng Lạc trong những lúc hiểm nghèo mà
đạo hữu đã kể cho tôi nghe. Ðây là câu chuyện Ðức Quán Thế Âm cứu đúa con
trai gia đình thoát nạn lưu thông vào năm 1981 trên đường đi Nevada.
Thành, con trai của đạo hữu Quảng Lạc, hôm đó
buồn mẹ bỏ nhà đi chơi một tuần lễ chưa về. Mẹ ở nhà lo lắng và nóng ruột
quá, ăn không được, ngủ không yên, bèn đóng cửa tiệm ăn mấy hôm để tĩnh
tâm tụng kinh và cầu nguyện cho Thành trở lại nhà. Linh tính cho đạo hữu
Quảng Lạc cảm thấy có điều chi chẳng lành xảy ra cho đứa con trai duy nhất
của mình. Thành đã bỏ nhà đi chơi nhiều lần, nhưng chưa có khi nào tâm
thần đạo hữu Quảng Lạc bồn chồn, lo lắng nhu lần này. Vì không an tâm nên
đạo hữu Quảng Lạc thức suốt nhiều đêm để niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ
Tát. Trước bàn Phật, đạo hữu Quảng Lạc mệt quá và thiếp đi chốc lát. Trong
lúc đó, có một em bé trai độ mười lăm tuổi, bận áo màu xanh trông rất đẹp,
tự xưng là đạo sĩ của Ðức Bạch Y đến báo mộng cho đạo hữu Quảng Lạc biết
là Thành, đứa con trai của bà đã bị tai nạn xe hơi và đã được cảnh sát đưa
vào nhà thương lớn nhất tại thành phố Nevada. Và, em bé trai bận áo xanh
còn báo mộng cho đạo hữu Quảng Lạc luôn cả số đìện thoại của nhà thương
nữa. Giật mình thức dậy, đạo hữu Quảng Lạc cuống cuồng, khóc lên ầm ĩ và
quá sợ nên không dám gọi điện thoại, dù đạo hữu Quảng Lạc nhớ rõ số điện
thoại em bé trai đã cho trong mộng. Thay vì liên lạc ngay để biết hư thực
việc tai nạn xe hơi của con mình, đạo hữu Quảng Lạc với kéo tượng
Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát thờ trên bàn cao xuống sàn nhà “hạch tội” Ðức Quán
Thế Âm. Ðạo hữu kêu gọi tên Ngài không ngới rồi nói: “tại sao Mẹ Hiền
không cứu sống con của con. Con chỉ có một đứa con trai duy nhất mà thôi.
Tại sao nó phải chết sớm, chết một cách oan uổng như vậy?...” Ngay khi đạo
hữu Quảng Lạc đang “đối chất” với pho tượng đức Quán Thế Âm thì có đìện
thoại reo từ cục cảnh sát Nevada gọi về báo tin tất cả chi tiết tai nạn
lưu thông của Thành cho đạo hữu Quảng Lạc biết. Tình trạng tai nạn của
Thành vô cùng nguy khốn. Khi nghe tin sét đánh xác thực này, đạo hữu Quảng
Lạc ngất xỉu nhiều lần trong đêm. Và trong con mê đạo hữu Quảng Lạc thấy
rõ ràng, một người thiếu nữ mặc áo trắng xinh đẹp đến vỗ vai an ủi và báo
cho đạo hữu Quảng Lạc hay là mạng sống của Thành đã được cứu thoát, đừng
quá đau khổ, lo âu. Người áo trắng nói: “Nhờ phúc đức của mẹ biết làm lành
và lễ niệm Ðức Quán Thế Âm mà con được nhờ”.
Sáng hôm sau, đạo hữu Quảng Lạc mua vé máy bay
cấp tốc đến thành phố Nevada tìm con trai trong một tâm tư hết sức bình
tĩnh. Bước vào phòng cấp cứu, bà trông thấy một cơ thể bất động bó vải
trắng nằm sóng sượt trên giường. Chung quanh có bác sĩ và nhiều y tá túc
trực săn sóc. Hồ sơ bác sĩ cho hay là Thành đã bị thương tích toàn cơ thể,
và nhiều đốt xương sườn bị rạn gãy, bệnh nhân có thể ở đây từ năm đến sáu
tuần lễ mới biết kết quả tốt hay xấu. Dẫu Ðức Quán Thế Âm, hiện thân là
người áo trắng đã báo cho đạo hữu Quảng Lạc là con trai sẽ thoát hiểm,
bình an trong tai nạn này, nhưng khi nhìn tình trạng mê man và thân thể
bất động của con, đạo hữu Quảng Lạc lại hết sức lo lắng và rối loạn tinh
thần nên réo gọi, kêu cầu Ðức Quan Thế Âm không ngớt.
Vì tiệm ăn quá đông khách, Ðạo hữu Quảng Lạc ở
lại nhà thương với con ba hôm rồi lại phải về San Francisco xếp đặt công
việc để yên tâm săn sóc con trai. Kỳ lạ thay, đạo hữu Quảng Lạc về nhà
chưa đầy ba hôm, thì liền sau đó, Thành, con trai của bà cũng về nhà. Lúc
về nhà, Thành tìm không thấy mẹ, cậu ta liền chạy đến chùa Từ Quang lễ tạ
Ðức Quán Thế Âm và tìm mẹ. Hôm ấy, đạo hữu Quảng Lạc mua lễ vật đến chùa
nhờ tôi cầu an cho Thành. Không ngờ, vừa tụng kinh Phổ Môn xong, thì Thành
lù lù mở cửa đi ngay vào chùa, mỉm cười và dòn dã chào hỏi mọi người một
cách tự nhiên như không có tai nạn gì xảy ra cho Thành cả. Mẹ của Thành cứ
trân tráo nhìn con trai như vừa sung sướng, vừa tưởng Thành như một bóng
ma hiện hình ban ngày.
Thành kể lại là trong khi chán nản, uống rượu say
lúy túy, lái xe chạy quá tốc độ nên xe đâm vào núi và bị ép nhẹp như một
đống sắt vụn. Trong lúc đó, Thành cảm thấy như một bàn tay vô hình nào ôm
Thành ra khỏi xe và đặt Thành nằm bên lề đường. Nhờ vậy mà cảnh sát phát
giác và đưa Thành đến nhà thương cấp cứu. Các nhân viên cảnh sát địa
phương cũng vô cùng thắc mắc đìều này và tìm không ra câu trả lời, nên lúc
Thành bình phục bị hỏi cung khá rắc rối. Cuối cùng, Thành bị cảnh sát phạt
80 dollars về tội lái xe quá tốc độ. Ông Brian, nhân viên cảnh sát nói:
“Mừng cho bạn thoát nạn dị thường”.
Ba mẹ con đạo hữu Quảng Lạc hiện vẫn ở tại vùng
Bay Area bắc Califonia. Cả nhà vẫn phát tâm tu học tinh tấn và rất ưa làm
phước bố thí. Hàng năm các ngày lễ vía Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, gia đình
đạo hữu Quảng Lạc đều lo hoa trái cúng Phật, thiết lễ trai tăng cúng dường
rất chu đáo làm cơm khoản đãi cả chùa.
Tôi xin nhất tâm tùy hỷ ghi lại câu chuyện nầy ra
đây để ấn chứng công đức gia đình đạo hữu Quảng Lạc và gây thêm đức tin
lành cho mọi người Phật tử xa gần về sự linh cảm của Ðức Quan Thế Âm Bồ
Tát.
(7)
ÁN – (OM)
–
Quán Âm hiện thân tướng
Quỷ vương độ quần tà
Thủ pháp trì mật ngữ
Án ma hàng phục ma.
GIẢI TRỪ VONG NHẬP
|^|
Bà Trần Thị Tuyết Hạnh, năm mươi bảy tuổi, bị lâm
bệnh ngay khi vừa nhập trại tỵ nạn ở đảo Phi Luật Tân. Bác sĩ chiếu khám
cho bà nhiều lần và đưa bà ra khỏi trại để chụp hình nữa mà vẫn không tìm
ra căn nguyên bịnh lý. Bà Hạnh đau rất kỳ cục, bà không chịu ăn uống và
không ngủ trên cả tháng mà sức vóc không hề hấn gì. Mặt bà đỏ gay, con mắt
láo liên và về chiều thì mí mắt sụp xuống, buồn rầu khóc thảm, làm nhảm kể
lể những chuyện đau buồn. Vì lý do mắc bệnh kỳ dị nên ban điều hành trại
thương lượng co quan lo hồ sơ định cư cấp tốc cho gia đình bà Hạnh nhập
cảnh Hoa Kỳ sớm để có thể đủ điều kiện thuốc thang trị liệu bệnh tình cho
bà.
Khi đến vùng San Francisco, người nhà cấp đưa bà
Hạnh đến nhà thương trị liệu, song các bác sĩ giỏi đều bó tay chứng bệnh
“không chịu ăn, không chịu uống”, mà vẫn sống như thường của bà Hạnh. Hai
tháng trôi qua, bệnh tình không thuyên giảm, người nhà vẫn tiếp tục đưa bà
Hạnh đi khám bác sỉ cho có lệ và để ai nấy yên lòng.
Một hôm có cụ Lành đưa đường, chồng bà Hạnh đem
vợ đến chùa Từ Quang gặp tôi để nhờ giúp đỡ. Mới nhìn qua nét mặt, khí sắc
của bà Hạnh là tôi biết ngay bà bị âm khí ám nhập. Tôi đưa ngay bà lên
chánh điện để “tra vấn” cái vong linh đang nhập trong người bà. Bà Hạnh
nhìn tôi với vẻ sợ hãi và run cầm cập như đang ở giữa băng tuyết. Bà cúi
đầu khóc thút thít, nghẹn ngào và biểu lộ sự tức tối, uất ức. Tôi gạn hỏi
hoài mà vong nhập kia không chịu “khai báo” một chút tung tích gì. Tôi bèn
gọi các chú trong chùa trợ niệm và lấy chiếc mõ nhỏ đặt ngay trên đầu bà
Hạnh tụng chú Ðại Bi thì bà Hạnh nhắm nghiền hai mắt, tóc trên đầu bà bay
ngược như một cơn bão thổi mạnh, hai tay bà chấp lại như một búp sen và
miệng the thé nói một giọng con gái độ mười chin, hai mươi tuổi.
Tiếng người con gái này nói mình đã chết trên
biển cùng mẹ ruột và nhiều người vì gặp bão, nên tàu chìm. Tôi hỏi các chi
tiết khác thì vong linh nói mà phát âm không rõ, chỉ thốt lên the thé kêu
đói, than lạnh rồi vật lăn giữa điện Phật bất tỉnh. Tôi và những người có
mặt thấy thế xúc động quá, liền khai kinh Phổ Môn tụng cầu an cho bà Hạnh
và liên tục niệm danh hiệu Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát; đồng lúc tụng niệm tôi
lấy nước thờ trên bàn Phật và đọc thần chú Quán Âm, Tâm Kinh Bát Nhã rồi
đem cho bà Hạnh uống. Khi bà Hạnh vừa uống xong ly nước thì liền tỉnh dậy
và bà vội vàng nhảy tới bàn thờ vong, đưa tay bốc thức ăn bỏ vào miệng
ngồm ngoàm như kẻ bị đói lâu ngày. Ăn đã đời, bà quơ tất cả đồ cúng nào là
chuối, bánh, trái cây, khoai, bắp… trên bàn thờ cô hồn bỏ vào trong túi
áo, lận trong lưng quần và trải tà áo tràng mà bà đang mặc gói tất cả thức
ăn, chui vào trong góc bàn thờ linh và tiếp tục ăn như ma quỷ. Bà còn khóc
và la lên là có nhiều người đang dành ăn và đánh tháo bà.
Thấy hình ảnh kỳ quái của bà Hạnh, ai cũng sợ và
nhiều người bỏ chạy xuống lầu. Tôi bình tĩnh niệm chú Chuẩn Ðề và dùng lời
nhỏ nhẹ, ngọt ngào kêu bà Hạnh ra ngoài và quỳ giữa chánh điện. Tôi lại
tiếp tục “vấn cung” vong linh đang nhập vào trong bà Hạnh một lần nữa. Lúc
này, vong linh mới nói rõ tên tuổi, ngày chết là nhu cầu muốn được nghe
kinh siêu độ. Tôi liền viết bài vị thờ ngay lúc ấy, kêu các vị dưới bếp
nấu cơm chay cúng vong và tôi khai kinh Di Ðà cầu siêu hôm đó, có gần một
trăm Tăng Ni và Phật tử, vì hôm đó là nhằm lễ sám hối Bố tát gần đến mùa
Vu Ln Rằm tháng bảy.
Sau khi tụng kinh Di Ðà, niệm danh hiệu Phật, đến
chổ quy y linh ký tự, thì bà Hạnh ngã xuống đất bất tỉnh. Ðộ chừng mười
phút sau, bà Hạnh tỉnh dậy và trở lại người bình thường như mình đã ngủ
một giấc thật dài. Gia đình bà Hạnh và mọi người hôm đó đều cảm kích và vô
cùng mừng rỡ khi thấy bà Hạnh bình phục. Tôi bảo cụ Ðức Hạnh, cô Thanh
Tịnh nấu cháo trắng để bà Hạnh ăn kẻo nhịn đói lâu ngày ăn cơm vào nặng
bao tử, và đưa bà vào phòng nghỉ. Ngay tối hôm đó, bà Hạnh đòi về nhà vì
thấy đã khỏe hoàn toàn. Sáng hôm sau, tự bà Hạnh và cả nhà đến chùa lễ tạ
và xin quy y.
Hôm chứng kiến lễ đưa vong linh cô gái Việt Nam
chết trên biển ra khỏi người bà Hạnh và ký tự vong linh bất hạnh ấy tại
chùa Từ Quang, cụ Tâm Huy chép miệng thành thơ rằng:
Pháp Phật nhiệm mầu
Cứu người khổ đau
Quan Âm linh hiển
Hạnh nguyện thâm sâu.
(8)
TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ - (savalavati)
–
Quán Âm thị hiện thân tướng
Uy Tứ Ðại Thiên Vương
Hùng phục như oán tặc
Cùng các loài thiên ma.
CẦU NGUYỆN NHƯ Ý
Tôi tên là Tống Ngọc Lê, pháp danh Thanh Nhẫn
hiện ở tại San Jose. Tôi nghe lời mẹ dạy nên thường đi chùa lễ Phật, nghe
quý thầy giảng đạo và biết ăn chay kỳ từ thuở còn bé. Mẹ tôi cũng bày cho
tôi cách ngồi thiền, tụng kinh và niệm Phật. Mẹ tôi hay nhắc nhở, có khi
rầy la, vì tôi ngồi thiền cứ ngủ gục hoài. Tụng kinh và niệm Phật. Mẹ tôi
hay nhắc nhở, có khi rầy la, vì tôi ngồi thiền cứ ngủ gục hoài. Tụng kinh
và niệm Phật thì tôi thích hơn. Mẹ tôi biết ý nên khuyên tôi tụng kinh Phổ
Môn để làm yếu chỉ tu học . Sau một thời gian tụng kinh, tôi có đọc 108
danh hiệu Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát. Hồi còn trẻ, tôi tụng kinh niệm Phật
không đều, bữa siêng, bữa nhác; nhưng bây giờ thì đã thuần thục rồi. Tôi
thường tụng kinh, niệm Phật hang ngày không hề bỏ sót.
Ngược dòng thời gian, năm tôi hai mươi tuổi bị bệnh nặng, người nhà đưa
tôi vào nhà thương Phúc Kiến ở chợ Lớn cấp cứu. Tôi bị bệnh thường hàn
nhập lý và lên cơn sốt dữ dội. Tôi bị mê man suốt hai ngày đêm. Các bác sĩ
cho người nhà tôi biết là bệnh khó chữa trị, kinh mạch xáo trộn, độc tố đã
nhiễm vào tim. cả nhà tôi ai cũng khóc, song mẹ tôi rất bình tĩnh và
khuyên mọi người đem tâm thành niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tiếp
niệm danh hiệu Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ
Tát luôn trọn ngày và trọn đêm dậy cả một góc nhà thương. Ngay đêm đó,
khoảng hai giờ sáng, tôi đang trong cơn mê mà cảm nghe như có dòng suối
nước chảy, có tiếng chim hót và tiếng chuông chùa. Tôi thấy mình bước chân
lên từng cấp của một cảnh nguy nga, hùng vĩ trên một ngọn núi cao. Trước
cổng lên núi và chùa có đề ba chữ Phổ Ðà Sơn, bên bờ biển Nam Hải, nơi mà
Ðức Quán Thế Âm thường cư ngụ. Trong chùa có khoảng vài trăm người đang
ngồi thiền, xây mặt ra hướng biển Ðông. Người nào cũng có tóc và mặc áo
nhiều mà rất đẹp nên tôi không nhận biết họ là đàn ông hay đàn bà. Riêng
tôi thì được một người đàn bà mặc áo trắng dẫn vào trong một ngôi nhà
tranh nhỏ, nằm giữa khóm trúc nên thơ. Trong cái thất ấy có đến hai co
thanh nữ mặc áo xanh; nét mặt cô nào cũng rất đoan trang và vui vẻ. hai vị
này cho tôi biết người mặc áo trắng là thầy của họ mà người xưng là Bạch Y
Quán Thế Âm. Tôi mừng quá liền cúi xụp lạy, nhưng Ðức Bạch Y đưa tay cản
lại không cho lạy. Ngài bảo một cô Thanh y rót nước trong bình tịnh thủy
cho tôi uống. Uống xong, tôi cảm thấy khỏe khoắn vô cùng, tâm thần nhẹ
nhàng và đầy sung sướng. Tôi bèn ngỏ lời Bạch Y Quán Âm đại sĩ và hai tiểu
đồng rối rít. Kế đó, tôi đột nhiên mở mắt và thấy nhiều người đang đứng
chung quanh giường và niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm. Hai hôm sau thì tôi
xuất viện, vì bệnh tình của tôi khỏi hẳn. Ðiều này khiến cho các bác sĩ
trong bệnh viện vô cùng kinh ngạc về bệnh trạng của tôi. Mẹ tôi bảo cho họ
hay rằng, tôi được cứu thoát căn bệnh ngặt nghèo là nhờ sự mầu nhiệm của
Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi cũng tin như vậy, và câu chuyện này đã gây tín
tâm rất nhiều cho tôi và mọi người trong gia đình thân nhân của tôi
Tôi là con dâu trưởng sinh sống với chồng tôi nhiều năm mà không có con.
Chồng tôi thì thương tôi hết mực, song những người thân phía chồng tôi nói
vào nói ra làm cho tôi rất buồn tủi. Họ bảo tôi rằng: “Ðàn bà chi mà không
biết sanh đẻ”.
Thay vì giận, đau buồn, khóc lóc, tủi hổ thân phận thì tôi lại vui và âm
thầm trì tụng kinh Pháp Hoa, niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm và mong có
được một đứa con gái ra đời cho vui nhà.
Ðiều mơ ước lại đến, sau suốt nhiều năm tu tập và cầu nguyện, một đêm tôi
thấy mình trở lại núi Phổ Ðà vào viếng thăm chổ sơ sài của Ðại Sĩ Bạch Y
Quán Thế Âm ở. Tôi mới bước chân nửa thềm đá cao, thì thấy hai thanh nữ
hầu Ðức Quán Thế Âm bước lại gần tôi và trao cho một bé gái nhỏ xinh xinh.
Tôi tỉnh dậy và bắt đầu có thai từ đó.
Con tôi ra đời đã đem lại cho tôi và chồng tôi một niềm vui rất lớn. Bé
Hiền năm nay đã tám tuổi. Cháu rất ngoan hiền, học giỏi và chí mực hiếu
thảo. Cả nhà, các bác, các chú, bà ngoại, bà nội hai bên ai cũng thương
cháu.
Trong kinh cứu khổ có bài kệ mà tôi thấy rất hợp với hoàn cảnh của tôi:
Người vô tự quạnh hiu sau trước
Sửa tất lòng tác phước khẩn cầu
Từ bi linh hiển pháp mầu
Cho trai hiển đạt gái cầu hiền lương.
Cuối năm 1979, gia đình tôi rời khỏi Việt Nam vượt biên ra nước ngoài. Khi
tàu rời bến được độ hai ngày đêm thì máy bị chết. Mọi người trên tàu đều
bối rối, lo âu. Nước biển, sóng gợn ì ầm át cả tiếng khóc của trẻ con,
tiếng cãi vả của nhiều người với chủ tàu là “ lấy tiền người ta mà làm ăn
bê bối”. Riêng tôi ngồi nhìn đứa con đang ngủ trên tay và định tâm niệm
Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát. Kỳ lạ thay, vài
tiếng đồng hồ sau thì con tàu chúng tôi nổ máy và chạy khoảng bốn tiếng
đồng hồ thì gặp tàu tuần tiễu của hải quân Trung Hoa Quốc Gia giúp đưa
chúng tôi vào địa phận Hồng Kông. Nếu không có chiếc tàu cứu khổ này thì
chúng tôi đã đắm xuống biển 150 mạng vì con tàu bị chết máy, vừa bị sóng
đánh mạnh nên thân tàu bị bể và nước tràn vào ầm ầm không sao tát ra kịp.
Khi được đến Mỹ, gia đình tôi ở một ngôi nhà không đủ phòng rộng rãi,
nhưng tôi quyết sắp xếp để nguyên một căn phòng có nhiều ánh sáng, đẹp làm
nơi tĩnh tâm và thờ phượng Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi có làm bài thơ tám
câu để tạ thâm ân cứu khổ của mẹ hiền Ðức Quán Thế Âm như sau:
Quán Âm Bồ Tát Ðấng Mẹ Hiền
Cứu khổ muôn loài hạnh vô biên
Ứng thân diệu dụng vô cùng tận
Ðại nguyện từ bi rải mọi miền.
Con xin sám hối những sai lầm
Tinh tấn tu học để thanh tâm
Ngày đêm thiền tịnh không lơ đễnh
Giác ngộ chân tâm đẹp sáng ngời.
(9)
SỐ ÐÁT NA ÐÁT TÃ - (Sudhanatasya)
–
Quán Âm hiện thân tướng
Bộ Lạc Tứ Thiên Vương
Khiến cải ác theo thiện
Học tu đạo nhất thừa.
HẦU BỒ TÁT QUAN THẾ ÂM
|^|
Sống một đời lương thiện
Thác theo hầu Quán Âm
Mẹ hiền thương con trẻ
Thường đêm ngày chở che.
Mẹ tôi đã qua đời cách đây gần năm mươi năm về
trước, vì một cơn bệnh ngặt nghèo. Năm qua đời, mẹ tôi mới ba mươi hai
tuổi, tôi mới lên sáu bảy tuổi đầu. Chúng tôi có bốn anh em. Anh cả và hai
em gái. Sau khi mẹ qua đời, chúng tôi được Dì Út săn sóc. Dì Út bây giờ
còn sống và rất khoẻ, dù tuổi Dì đã hơn tám mươi. Chúng tôi xem Dì Út như
mẹ yêu, nên mỗi mùa Vu Lan đến, tôi và mấy anh em tôi đều cài bông hồng
màu đỏ lên áo.
Ðêm qua, chủ nhật ngày 27 tháng 7 năm 1997 tôi mơ
thấy mẹ đến thăm tôi. Gặp lại mẹ, tôi mừng lắm. Mẹ tôi cũng mừng và cả hai
đều xúc động đến chảy cả nước mắt. Mẹ tôi còn trẻ và đẹp lắm. Vóc dáng
trông rất mảnh mai, dung nghi đỉnh đạc. Mẹ tôi khoẻ, nhan sắc hồng hào,
tướng mạo đoan trang, thanh nhã như một bà tiên.
Ðêm qua nằm mơ thấy mẹ về
Mẹ về như cánh hạc sơn khê
Thiên y lộng ngọc bay trong gió
Mỉm cười nụ hoa tiên mẹ vỗ về.
Tôi hỏi lâu nay mẹ ở đâu?
Quán Âm Bồ Tát mẹ theo hầu
Cõi phàm qua lại quê Cực Lạc
Ði đứng tùy duyên với phép mầu.
Từ ngày mẹ tôi qua đời cho đến nay, lần đầu tiên
tôi nằm mơ thấy người. Ðúng là giấc mơ, nhưng giấc mơ thật kỳ lạ. Ðêm ấy
ba lần thức giấc, ba lần tôi thấy mẹ tôi khi vừa nhắm mắt trở lại. Hình
ảnh mẹ tôi hiện ra như ban ngày và vẫn tiếp dẫn cùng câu chuyện. Tôi nhớ
rất rõ từng lời nói, từng cử chỉ, từng câu nhắc nhở, khuyến khích, hỏi han
của mẹ.
-
mẹ từ đâu tới?
-
Ðủ duyên thì tới, chẳng
chổ tới, chổ về.
-
Mẹ lâu nay làm gì?
-
Mẹ theo hầu Ðức Quán Thế
Âm Bồ Tát.
Thấy tôi phân vân, và có vẻ nghi ngờ, mẹ tôi nhìn
tôi mỉm cười chậm
Rãi nói:
Thật ra các cõi giới khác nhau đều do tâm sở duyên và sở hiện, chứ chẳng
phải đâu xa. Tâm vui thì cảnh giới vui, tâm buồn thì cảnh giới buồn. Tâm
tương hợp và tạo nên mọi cảnh giới, mọi hiện tượng trong trời đất.
“ từ khi mẹ tắt hơi thở, ai cũng nghĩ là mẹ đã mất. Kỳ thực, mẹ vẫn sống
và còn có duyên lành theo hầu Ðức Quán Thế Âm đi lại khắp nơi để độ người,
giúp kẻ lầm than, lâm hoạn nạn. Con là người có nhiều tai kiếp, nhưng lúc
nào Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát và mẹ cũng luôn luôn có mặt bên cạnh con để hộ
trì cho con, giúp sức cho con lập nên chí nguyện lớn, làm lợi ích cho
nhiều người.”
“Thưa mẹ, mẹ nói là Bồ Tát Quán Thế Âm và mẹ luôn luôn có mặt bên cạnh để
hộ trì cho con lập nên chí nguyện.”
“Quả như vậy, vì con là hài nhi của Ðức Quan Thế Âm gởi cho mẹ săn sóc; do
đó, Ðức Quan Thế Âm và mẹ vẫn có liên hệ với con trên suốt hành trình tu
tập, phụng sự của con.”
“Thưa mẹ, mẹ có thể chứng minh và nói rõ hơn điều này cho con nghe được
không? Con xin thất lễ với mẹ là nếu con có Ðức Quán Âm, có mẹ nâng đỡ,
thì con không bao giờ gặp đủ mọi gian nguy, bệnh tật, tai ách, chướng nạn
trong cuộc đời đi tu, hành đạo của con?
“Con nên trầm tư, hồi tưởng lại vài sự việc nguy biến xẩy ra trong đời
con, mà con vẫn được bình yên vô sự. Hơn nữa, tu tập mà không gặp khó
khăn, chướng nạn thì do đâu mà lập chí? Mẹ muốn thuật lại một vài việc cho
con nhớ:
1-
Năm con trốn nhà đi tu,
nửa đêm hôm ấy trời mưa to và bão lụt, nước ngập lối đi. Khi con vừa leo
lên chiếc cầu nhỏ để qua sông thì chiếc cầu tre ấy bị nước cuốn trôi, con
chìm trong biển nước mênh mông với thân hình chú bé mười bốn tuổi. Ai đã
đưa con lên cồn cát, dẫn tới đường cái quan và cho xe đón vào chùa Báo
Quốc, Huế mà không tốn tiền lệ phí?
2-
Con vừa đến chùa Báo Quốc
là có sư tổ khai sơn chùa Giác Hải, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên đứng
đợi con tại cửa Tam Quan chùa. Tối đó, người làm lễ xuống tóc cho con và
khuya hôm ấy, hai thầy trò đón tàu lửa về Nha Trang. Ai đã xếp đặt việc ấy
cho con?
3-
Chiều ngày 18 tháng 8 năm
1959, con bị té từ trên cây dừa lửa cao vút phía bên trái cổng chùa Giác
Hải, thôn Xuân Tự, Nha Trang, Khánh Hòa. Dưới gốc dừa chất từng đống đá tổ
ong để xây trường học, thế mà khi con té xuống đầu, mình và toàn thân của
con không bị một chút thương tích nào, con tưởng con là hình đồng da sắt
hay sao?
4-
Thời gian con học nội trú
bốn năm tại chùa Linh Quang, Huế. Ðó là ngày 20 tháng 05 năm 1968, con bị
đau thương hàn nhập lý đưa vào bệnh viện, các bác sĩ đều bó tay và đã đưa
con qua nhà xác. Sau đó vài phút, hóa thân thứ bốn mươi sáu của Ðức Quan
Thế Âm và mẹ đã đến mang con trở lại phòng điều dưỡng, khiến cho quý thầy,
chư vị Tăng Ni và các bác sĩ, y tá tại bệnh viện Huế đều hết sức kinh ngạc.
Con còn nhớ chuyện ấy không?”
Nghe đến đây, tôi không còn ngạc nhiên và nghi
ngờ gì về lời nói và việc làm của mẹ tôi nữa. Vì những điều mẹ tôi nhắc
lại cho tôi nghe, đều hoàn toàn đúng như sự thật. không phải khi đang đối
diện với mẹ tôi trong mộng, mà ngay trong khi thức giấc, tôi kiểm chứng
lại những lời mẹ tôi kể không sai điểm nào, dù các việc xảy ra trong quá
khứ tôi hầu như quên hết từ lâu.
Nằm mơ thấy mẹ về thăm
Tỉnh rồi như huyễn tháng năm miệt mài
Ngủ thức quả giấc mộng dài
Ðâu là chân cảnh là đài gương trong?
Bâng khuâng ấp ủ trong lòng
Trình ra thay giọt lệ lòng trầm tư
Nhân duyên có tự bao chừ.
Chân thân như thể thái hư sạch làu
Bây giờ cho đến ngàn sau
Tình thương của mẹ nhiệm mầu vô song
Năm mươi cách bóng mẹ hiền
Ðược duyên gặp mẹ thỏa lòng con thơ.
(10) NAM MÔ TẤT CÁT LẬT ÐỎA Y MÔNG A RỊ DA – (Namaskrittva
naman arya) -
Tướng Long Thọ Bồ Tát
Quán Âm thị hiện thân
Hàng phục như tà phái
Hiển lý tánh chơn không.
CẦU SINH CON GÁI TOẠI Ý
|^|
Quán Âm chuy