DÒNG PHÁP QUÁN THẾ ÂM
Ngọc Nữ
(ghi chép)
--- o0o ---
- Phần 05 -
21. Tuyệt đối
22. Nhân đạo
23. Dục giới
24. Hạnh phúc
25. Hoa
26. Địa ngục
27. Bệnh khổ
28. Biệt ly
---o0o---
TUYỆT ĐỐI
Đi tìm tuyệt đối...
Ðôi khi như thoáng bắt gặp rồi thất vọng, con hoài nghi sự hiện hữu của
Thiện tánh và từ đó mất Tín tâm, con hãy thử theo Mẹ tìm xem tuyệt đối ở
đâu.
Một tình cảm tuyệt
đối đến chết không phai, có phải là một tình yêu tuyệt đối? Ở người này
như thế là trọn vẹn, nhưng với người khác, kiếp này ngắn ngủi, họ muốn
cùng nhau đi đến thiên thu, hoặc kẻ kia, chỉ mong sống trong hiện tại, duy
nhất với nhau là đủ, là tuyệt đối. Ở trong tình yêu nam nữ, tuyệt đối đã
có nhiều tướng khác nhau, trong những tình cảm khác, như tình mẫu tử, hiếu
đễ, tình bạn hữu, tình đồng bào, tướng của tuyệt đối càng nhân lên thiên
hình vạn trạng–Và một người muốn đi tìm tuyệt đối trong tất cả các mối
liên hệ nhân duyên ở đời, càng khó thực hiện ước mơ tuyệt đối của mình.
Trọn vẹn cho tình yêu nam nữ tất khó có thể tuyệt đối trong tình mẫu tử,
hay hiếu để vì thời gian và không gian, vì thân tướng mà con mang không
cho phép con vừa xã thân cho người này lại vừa có mặt nơi khác với người
kia.. và người đi tìm tuyệt đối bổng trở thành người phiêu lưu nhất.
Có những người đi
tìm Tuyệt đối bằng phương pháp loại trừ. Tình yêu không phải là điều tuyệt
đối, tình mẫu tử cũng được phân tích và loại trừ... cùng nhiều điều khác
nữa. Có người bi quan hơn cho rằng điều Ác là tuyệt đối, vì điều Ác ngự
trị thế gian. Ðiều thiện thì ở đâu đó ngoài trái đất.
Thế thì tuyệt đối ra
sao? Có tướng nào hay không hiện hữu?
Con đang đứng trên
mặt đất. Bầu trời trên đầu bên phải, bên trái, cũng là phải trái của mọi
người trên trái đất, dù ở xứ nào. Cá sống trong nước, phía trên có lẽ được
tả khác hơn và loài có cánh hình dung mặt đất và bầu trời khác con nhiều.
Tất cả những cái nhìn nhận này đều lấy Tâm trái đất làm chuẩn, giả dụ
không lấy tâm trái đất làm chuẩn con sẽ có cái nhìn khác hẵn. Ðứng phía
này quả đất có thể là đứng “dưới quả đất”, không phải trong lòng đất hoặc
ở cánh phải hay trái quả đất, nếu lấy một nơi nào đó trên quả đất làm
chuẩn mực.
Như thế, ngay cả
những điều tưởng như tuyệt đối cũng chỉ đúng theo tầm nhìn của loài người,
hay của loài sống ngay trên mặt đất. Ðó là Bản Ngã của mỗi loài. Ở trong
mỗi người, ngã càng biến tướng tuyệt đối theo bản sắc của mình đến vô cùng.
Vậy muốn thấy tuyệt
đối, chỉ có cách duy nhất là thoát khỏi Bản Ngã. Trong vô ngã sẽ thấy điều
chân thực. Vì thế mà Tuyệt đối thật sự hiện diện, không phải chỉ là một
ước mơ, nhưng để ngộ chân lý muôn đời bất diệt, con phải quên mình. Khi
tất cả đã im lắng, khi những xôn xao của Tâm đã tan biến trong bình an,
khi con đã xã sự tìm kiếm tuyệt đối, khi con không còn gì, là lúc con Ngộ
hình tướng thật của tuyệt đối.
Tuyệt đối, hay vĩnh
cữu hay chân lý, ... dù con gọi bằng ngôn từ nào, vẫn chỉ là một và tồn
tại ngoài thấy-nghe của Ngã.
Phật đã chứng minh
Ngài không có bản ngã mà đại thể ở trong Ngài, nên con có thể tin lời Phật
là tuyệt đối.
Thí dụ Luật nhân quả
thô thiển hay vi tế, con có thể nghiệm thấy bằng kinh nghiệm của mình,
rằng Nhân quả hay luân hồi quả báo là có thật. Vậy nhân quả báo ứng là
chân lý, là tuyệt đối không bao giờ sai chạy.
Từ bi, tâm bình đẳng
thương kẻ oán người thân như nhau là thứ tình cảm tuyệt đối mà hành theo
sẽ chẳng bao giờ làm con khổ như tình yêu nam nữ. Tâm Hỉ Xã là con đường
mà càng đi, con càng hạnh phúc. Bây giờ, con hãy đi tìm tuyệt đối.
NHÂN ÐẠO
Con thường nghe
“nhân đạo”, khi nói đến một người có hành động giúp đở kẻ hoạn nạn. Giúp
người đau khố, đó là đạo làm người hay là Ðạo của con người.
Con người phải nghĩ
đến nhau, đến cộng đồng loài người, tức là tự con người đã có Ðạo. Và sống
hợp với Ðạo của chính mình đã là điều chưa mấy ai thực hiện được. Tôn
giáo chỉ là sự tìm kiếm bên ngoài, trở lại với chính mình và tìm những qưi
luật để đạo tồn tại được nơi mình, là chân chánh tu hành Phật đạo.
Phải, vì điều Thiện, Từ bi là gì, nếu không phải là nhân đạo? Cho nên
chẳng tìm Ðạo mà thấy Ðạo, hay nói Phật ngự nơi tâm chẳng cần tìm đâu xa
cũng đúng.
Con đừng nên nghĩ
chỉ mến người lành và ghét kẻ ác. Mến người lành là kẻ trí, nhưng
thương kẻ chắng lành, không bỏ mặc họ với nhân quả đớn đau, đó là người có
lòng nhân đạo. Con chưa thương được người đã gây ác nhân và đang thọ ác
báo hay người đang tạo tác ác nghiệp cho bản thân, con chưa là người nhân
đạo, đừng nghĩ đến tâm lượng từ bi của Bồ Tát. Chưa nhân đạo, chưa làm
người, thì chưa thể tu Tứ vô lượng tâm của Bồ Tát. Từ - Bi - Hỉ - Xã lúc
này chỉ là ngôn từ, hiệu đính cho một bản ngã hẹp hòi.
Nhân đạo nghĩa là
làm điều tốt nhất cho một người, mà không hại đến người khác, ở mỗi người,
tùy hoàn cảnh, đòi hỏi một tướng biểu lộ lòng nhân khác nhau, nên Tâm
quyết định tướng của lòng nhân đạo. Vì thế, mà ở người này đòn roi làm
tỉnh ngộ, ở người kia là sự cảm thông... hay một cộng đồng với bao nhiêu
sinh mạng phải được xem trọng hơn chỉ một người, như câu chuyện Ðức Phật
một thuở nọ trên sông.
Để thực hiện lòng
nhân nơi mình, trước tiên con khoan hoặc chẳng bao giờ phê phán. Làm phán
quan khi chính con chưa hết Ngã, là uốn sự việc theo ý mình, nên tướng
công bằng giai đoạn sẽ là nhân bất thiện trong trường đoạn luân hồi
và con nên nhớ quả báo ác là điều tốt nhất làm
người si tỉnh ngộ, không nên hình dung đó là sự trừng phạt của Thượng Ðế
hay của một đấng chí tôn nào.
Vì con người tự có
Ðạo nơi mình, nên luật nhân quả nhân đạo hơn cả những luật lệ con thấy ở
cộng đồng loài người, do loài người đặt ra. Tại sao? Luật pháp chỉ có
quyền và chỉ xét xử trên tướng, mà luật Nhân quả lại xét từ Tâm. Từng
mỗi ý nghĩ cũng có quả báo, nên chính xác vô cùng. Vì thế, mà con đừng
ghét người làm con đau khổ. Họ sẽ có quả báo của hành động ấy dù không đến
từ con. Vã lại, nếu họ làm con buồn mà vui lòng người khác thì chưa hẵn
không tốt với con đã là bất nhân!
Cũng chính vì dây
chuyền nhân quả không dứt, khó phân này, mà con đừng bao giờ nghĩ rằng
mình đang làm điều tốt. Con chỉ nên nghĩ “Tôi cố gắng làm điều mà theo cái
nhìn bây giờ tôi cho là nhân đạo nhất, ý thức rất rõ rằng việc làm và ý
tưởng này chưa hoàn toàn”.
Như thế là đi trên
con đường vô ngã mà không hay. Con hãy cố gắng trở thành người Nhân đạo.
DỤC GIỚI
Ta Bà thế giới là
Dục giới. Dục thường được hiểu là, ham muốn của thể xác, nhưng thật ra đó
chỉ là một phần nhỏ của tánh Dục ẩn tàng trong mỗi người. Vậy Dục là gì?
Một người yêu tranh
vẽ quên cả thời gian mà sống trong tác phẩm yêu thích của mình đó là một
tướng của Dục tánh đấy! Qua mắt mà những màu sắc và tư tưởng chuyên chở
trong một họa phẩm đến với người xem, tạo nên một cảm giác thõa mãn tâm
linh. Cũng thế, qua (xúc, vị thanh, hương) các giác quan khác như tai,
lưỡi, mũi, thân, hoặc chỉ do ý tưởng mà yêu thích một thứ gì đó đều là Dục
tánh: chính Dục tánh này, đậm nhạt ở mỗi căn trần khác nhau. Tạo nên
nghiệp sát: yêu thích giết chóc; nghiệp đạo: thích thú trong hành động
chiếm đoạt của cải người khác công khai hay thầm lén; nghiệp dâm: sự ham
muốn của xúc giác hay nói cách khác, một sự thoả mãn nào đó về phần mình,
qua trung gian của ngoại vật hay con người ngoài nào, chính là sự thoả mãn
của Ngã. Như thế, thì Dục chẳng gì khác hơn Bản Ngã.
Thế nên vấn đề phải
truy xét và hoá giải, chẳng phải là một hình bóng nào, một tài sản nào,
nói chung sự kiện bên ngoài mà từng động niệm của Tâm khi đối cảnh là
tướng của Ngã hay Dục.
Vì thế, thấy người
dâm dục, tức là mình có dục cảm; thấy người sân hận là con còn nhân sân
hận; thấy người ngu si là con chưa trí huệ.
Con sinh ra trên
mãnh đất này hay trên một nơi nào khác trên trái đất, cũng nằm trong Dục
giới. Con còn đau khổ vì còn Ngã hay Dục, thì mọi người đều đau khổ như
con vì còn Ngã. Thấy mình khổ mà chẳng hay người cùng khổ là sự khuếch đại
Bản Ngã. Tức là mình Dục. Và khi đấy con là người khổ nhất loài người,
chưa tùng có ai khổ như con là lúc thấy mình vĩ đại nhất, trên hết trong
loài người, thật là Ngã mạn...
Cho nên có Ngã thì
thấy mọi người đều Ngã, vô Ngã thì thấy pháp giới thường trụ.
Và Dục giới không còn dấu vết, gọi là Tịnh Ðộ.
Thoát khỏi Dục giới,
mênh mông bao trùm Trời Ðất, chẳng phải bằng cái chết, chẳng phải bằng
cách ẩn náu nơi thâm sơn cùng cốc tuyệt bóng người, chẳng phải bằng biến
đổi, tẩy sạch mọi người mọi vật khỏi Dục của họ, mà chính là thay đổi cái
nhìn của mình.
Là người khai sáng
một thế giới mới, với cái nhìn tinh khôi chưa từng bị đục nhiễm, thuần
nhất một màu thanh tịnh; Dục vọng chung quanh dù có bốc cao như lửa đỏ hay
gầm thét như thác ghềnh, cũng không thể nào lay chuyển được một quốc độ.
Ðó là Tịnh độ nơi Tâm. Ðó thật sự là Tịnh độ.
Cho nên Tịnh độ là thế giới cực lạc cách trần bằng tâm tưởng mà Tâm thì
không hạn lượng, có thể ly Dục giới nên đến Tịnh độ chẳng phải chờ qua một
kiếp người.
Nhưng yêu thích Niết
Bàn, hay Tịnh cảnh vẫn là Dục, vì còn yêu ghét phân chia. Chẳng yêu Niết
Bàn mà thiệt trụ Niết Bàn, không hay biết mình thật trụ Niết Bàn mà thật
biết mình không còn đau khổ, không còn đau khổ nên Dục giới hiện tướng
đồng Tịnh Ðộ là thật chứng Niết Bàn.
Vẫn người và cảnh ấy
xưa kia gây đau khổ, mà nay người và cảnh ấy chẳng buộc Tâm con, chỉ là
hình ảnh mà không còn tác động, thì tâm đã tách dần Dục giới rồi.
Tình yêu trai gái
bao giờ cũng đi liền với thể xác và sự gần gũi thân mật nhất, vì đó là
cách biểu hiện chiếm hữu gần đạt đến sự chiếm hữu của tâm linh. Nếu có
cách biểu hiện nào khác hơn, tỏ rõ hơn sự chiếm hữu tức thủ, Hữu ấy; thì
dục tánh sẽ biểu lộ qua tướng đó.
Thế nên, Dục giới
thật sự nằm nơi Tâm mỗi người, Tâm đắm nhiễm càng bao la, thì Dục giới
càng rộng lớn vô bờ và chẳng có hành động nào thật sự là Dục hay chẳng Dục,
tướng dục nằm nơi Tâm kẻ ấy. Yêu một người thì đến cả ánh mắt cũng có Dục,
không yêu thì cả cái nắm tay cũng không Dục tánh.
Ðó là Dục của Ái.
Còn dục của Dục thì càng biến tướng không lường. Vì vậy mà con đừng nên
phán đoán theo hình tướng, đừng cho rằng người dục hay không dục, mà hãy
nhìn lại xem mình có dục hay không. Nếu con muốn nhìn thấy chính mình dục
hay không dục, hãy tìm con đường duy nhất là ly Ngã. Chính khi thực hiện
ly Ngã là con đã xa lìa Dục giới. Con hãy thật hành.
HẠNH PHÚC
Hạnh phúc phải chăng
là những nụ cười, niềm vui không tắt? Hạnh phúc có phải là một sự đánh đổi
hay nằm trong tay một ai đó mà mỗí phán quyết là định nghiệp của đời con?
Hạnh phúc thật ra là gì?
Con một lần nhìn lại
đờì mình, tự hỏi mình có hay không hạnh phúc? Và để nước mắt rơi thương
mình bất hạnh. Và để nói rằng hạnh phúc thật mong manh. Phải chăng con đã
tìm thấy hạnh phúc, bằng xương thịt hoá thân là những người con thương yêu,
mà nay thay đổi khiến con không còn nhận ra bóng hình của hạnh phúc?
Nếu đó là hạnh phúc
đích thực, thì dù mang tướng nào bản chất vẫn không hề thay đổi. Có nghĩa
là vĩnh viễn mang lại niềm vui trọn vẹn cho con. Nếu hạnh phúc ấy, còn có
thể không là hạnh phúc, người hay cảnh hạnh phúc ấy chưa thuộc về con, thì
chưa là chân hạnh phúc. Nói cách khác, hạnh phúc đến từ bên ngoài, dù thọ
lượng bao nhiêu cũng có ngày không còn tướng đến. Vì có đến tất có đi, có
tướng là có hoại. Hạnh phúc nào từ chính mình phát ra nuôi dưỡng mình, làm
ánh sáng cho mình, hoàn toàn thuộc về mình, không có ngày bị một hoàn cảnh
nào một con người nào mang đi, là hạnh phúc vĩnh viễn vượt thời gian.
Vậy thì, hạnh phúc
có phải là sự ích kỷ, thương yêu chính cái tôi của con? Không đâu con,
chính sự chia hai này, Tôi và ý thức về tôi, làm mất đi hạnh phúc. Tôi,
Ngã của con được chia hai, mang hai bộ mặt và bộ mặt này được che dấu hay
không đem đến sự thoả mãn cho bộ mặt kia, thay thế cho Hạnh phúc đến từ
người khác. Nhưng đâu chỉ là dối gạt chồng lên dối gạt, tự tâm mình chứng
kiến từng giờ sự vô vị của thứ Hạnh phúc bình an giả tạm này. Hạnh phúc là
một trạng thái cho nên không thể chỉ dùng lý trí mà đến được trong hạnh
phúc. Một trạng thái thì tùy duyên mà có sắc thái.
Nếu hạnh phúc không
là Tôi chia chẽ, không là người hay hoàn cảnh nào thì Hạnh phúc ở đâu?
Trước hết, tạm tìm
xem trạng thái hạnh phúc có thể mang tướng biểu lộ nào. Ðó là trạng thái
vui vẻ, tràn đầy và không bao giờ mất hay giản đoạn. Như vậy, hạnh phúc
phải mang một tướng tuyệt đối nào đó rồi. Và chính vì lý trí không là hiện
thân của hạnh phúc nên trạng thái biết mình hạnh phúc trong hạnh phúc là
Tỉnh thức trong hạnh phúc. Hay Tỉnh thức (của Chân Hạnh phúc).
Sự Tỉnh thức trong
một niềm vui bất tận hay an lạc, không hề bị bất cứ điều gì chi phối, niềm
vui hoàn toàn thuộc về mình, dù chính con không hề có ý thức sở hữu chính
là thấy pháp thân của mỗi người và sống trong hạnh phúc, chính là sống với
pháp thân mình. Sống với pháp thân là sống với Phật tánh. Bất cứ một người
nào còn đau khổ, đều muốn đến với hạnh phúc, dù mình họ chưa rõ chân dung,
muốn hạnh phúc là muốn đến với pháp thân của mình và trong vô tận thời
gian, có tướng đi tất có tướng đến, mỗi người sẽ đến với Phật tánh của
mình.
Sau bao nhiêu cuộc
bôn ba giữa những đỉnh non hay vực thẳm của Tâm mình, con hãy tìm bóng mát
bình yên của hạnh phúc chân như là Pháp thân bất diệt, bằng con đường bao
hành giả đã đi qua, sau khi đã trên khổ đau và hạnh phúc như con bây giờ.
Hãy đi đến đích. Hạnh phúc bất tận (hiện hữu từ kiếp sống chết này sang
kiếp sống chết khác), phải chăng là pháp thân Như Lai bất diệt đó ư?
Vậy thì Phật quốc
chẳng ở đâu xa, con đã đến với cả một thế giới hạnh phúc, bình yên. Làm
sao để sống được với Pháp thân? Thường hạ Tâm mình, thường kính trọng
người. Hành trì một thời gian con sẽ ly dần tánh chúng sanh, là nguyên
nhân của mọi đau khổ. Khi ấy, ánh sáng của pháp thân sẽ từng bước theo
nhịp tâm mà soi đường hạnh phúc. Con sẽ là nguồn sáng chan hoà cùng muôn
ánh sáng của hằng hà sa số Phật tâm mang chân hạnh phúc lan tỏa từ tâm
mình xoa dịu bao nỗi đau tràn thế.
Con hãy tin và tìm
hạnh phúc bằng mọi nổ lực của con.
HOA
Hoa! chính là vị Bồ
Tát hoá thân làm đẹp mắt mọi người, dẫn những ai chuộng sắc trần vào đạo.
Vẻ đẹp của Hoa không
có gì tục tằn của xác thịt, vẻ đẹp của Hoa không có mùi quyến rũ của tội
lỗi. Vẻ đẹp của Hoa là hiện thân của vô thực, sự huyền diệu của ánh nắng
kết tinh thành màu sắc.
Hoa là Từ bi, một
đời tặng hết dịu dàng và an ủi cho chúng sinh.
Hoa là Hỉ xã, sau
khi đem giọt nước mát của chân mỹ đến đã đi ngay, không bận tâm đến kiép
sống vô thường.
Hoa là Bồ Tát dạy
con tâm vô trụ, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây
phút ấy trôi qua đau khổ, địa ngục của giận hờn và lo toan. Mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đóa
hoa khiêm cung bên lề đường không một người để mất, rực rỡ trong những khu
vườn cùng muôn chăm sóc của con người, hay lẻ loi đơn côi nơi đồng hoang
vắng.
Hoa vẫn bình đẳng
trãi rộng từ bi, không phân biệt đắn đo về lẽ thâm tình của mình sẽ đến
với ai và được tiếp nhận hay không?
Con hãy sống trong
vô trụ, trãi rộng từ bi đến mọi người, không phân biệt tình cảm của người
đối với con ra sao. Không luận thời gian, không gian. Không cần được đền
đáp. Không cần được hiểu và thông cảm. Hãy để đóa hoa tâm được nở, đừng để
Ngã của con làm khô cằn mãnh đất, vốn đã được gieo giống Phật, thì mọi sự
phân định phải trái chính là bản Ngã.
Con có quyền tu, thì
kẻ khác cũng có quyền không tu. Con không được tự cho rằng mình Tu nên
đúng hoàn toàn. Thêm vào đó, người Tu mà không chuyển đổi Tâm kẻ khác
theo đường Ðạo thì phải tự trách mình. Vã lại, nếu con thật sự hết
lòng cầu giải thoát hãy tự giải thoát mình khỏi cảnh khổ hiện tại, đừng
qui lỗi cho kẻ khác về nỗi khổ của mình.
Tu là tìm giải thoát.
Giải thoát là gì? Là
sự bình an của con trước mọi điều thuận nghịch của hoàn cảnh mà con đang
sống thay vì đi tìm giải thoát. Bình an nơi sự thay đổi hoàn cảnh.
Hãy nhìn thực tại
của Tâm mình và giải quyết.
Hãy nhìn xuống!
Hãy hạ Tâm mình!
Hoàn toàn được mọi
người khen tặng là điều không thể có. Nhưng hoàn toàn bị chê bai cũng là
điều không thật.
Nghĩ rằng mình bị
mọi người chú ý để chê bai cũng chính là Ngã đấy. Muốn thấy ánh sáng chân
lý đưa con ra khỏi vô minh, phiền não, con hãy học hạnh Từ - Bi - Hỉ - Xã
của Hoa.
Hoa phải là Tâm con.
Chư Phật mười phương đều nói đến giải thoát hoá sanh nơi hoa sen trong ao
báu, chẳng phải là không nguyên do.
Cho nên, Hoa mang
tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của đại từ, giây phút đi qua trần thế
bên giọt nắng cõi Trời soi vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự
chứng. Như hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi tâm
con.
Ðiều thiện có thể
mang tướng đến và đi mà trong tâm thức của con, con không bao giờ quên
điều thiện có thật, hiện hữu rõ ràng khi con đối diện với khổ đau.
ĐỊA NGỤC
Ðịa ngục!
Chúng là hình bóng
của đau khổ và Địa ngục đã đương nhiên trở thành một đối tượng cẩn mật
trong trái tim trí tuệ của Ðịa Tạng Vượng Bồ Tát với thệ nguyện vang lừng
3 cõi:
“Ðịa ngục vị không –
thệ bất thành Phật
Chúng sanh độ tận –
phương chứng Bồ Ðề”
Ðịa ngục! Hôm nay,
ta sẽ giảng cho con nghe thế nào là Ðịa ngục?
Khi một chúng sanh
trong một phút giây nào đó chợt thấy mình có mặt giữa cuộc đời chợt nhìn
lại mình trên hành trình sinh tử, và bắt đầu băn khoăn về thân phận thì
cũng từ lúc ấy Ðịa ngục là hình ảnh rõ ràng dần trong ý thức. Ðó là những
ý niệm mơ hồ đậm nhạt về nỗi đau khổ xen lẫn trong chập chùng niệm tưởng
trong biết bao ước mơ về danh lợi, hạnh phúc.
Phải chăng ý thức
con người tạo nên Ðịa ngục hay tôi khổ chỉ vì tôi cho rằng đời là bể khổ.
Xa hơn nữa, có phải chăng ở thế giới bên kia các thảm cảnh dầu sôi, lửa
bỏng chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng phóng đại? và tại sao ở các cõi
trời phi tưởng, Địa ngục vẫn theo đuổi chúng sanh như hình với bóng? Vậy
thì địa ngục khởi đầu và kết thúc nơi đâu? Thật có hay không thật có hoặc
do phủ nhận, xác nhận mà địa ngục tồn tại hay diệt vong? Con ơi! Dù cho
con chưa một lần nghĩ đến, Ðịa ngục đã sừng sững nơi tâm tư bao giờ, âm ỉ
trong những nổi buồn không tên, thiêu đốt tâm hồn trong dục vọng, vang
động không nguôi trong biết bao điều dang dở của cơn mộng đời. Và không
chỉ thế, còn vây hãm lấy con ngay cả trong niềm vui tưởng chừng như bất
tận. Con đã từng nghe về các cõi Trời, thọ mạng chúng sanh nơi ấy dài
không kể xiết, hoan lạc chẳng lúc nào vơi. Nhưng là gì, nếu không là Ðịa
ngục khi nỗi lo âu về tương lai bất ổn của niềm hoan lạc ấy vẫn thường
trực ẩn núp trong lòng. Vì có thọ mạng dài nào mà không kết thúc. Như vậy,
địa ngục là biểu tượng của đau khổ. Nhưng con hiểu Ðịa ngục theo nghĩa nào?
Nước mắt ta không
ngừng tuôn rơi, dù chỉ còn một sinh linh phải đọa đày. Không có Địa ngục
nào được xem là nhẹ, không có khổ đau nào không đáng kể, không một chúng
sanh nào ở nơi bất kỳ cảnh giới nào mà không hít thở bầu không khí bất an,
vô thường.
Vô lượng chúng sanh
không thể chỉ hiểu là vô lượng sinh mệnh, mà còn phải hiểu là vô lượng
sinh tử xảy ra trong một kiếp sống. Thế nên khi nói một chúng sanh được
thành Phật, vô lượng chúng sanh được giải thoát chính là nói về thật nghĩa
bình đẳng.
Địa ngục ở đâu? Ở
nơi nào mà con trụ tâm, dù con trụ vào Niết Bàn tối thượng. Khi tâm con-dòng
sinh hóa thường hằng ngưng đọng lại, tâm ấy đã xa lìa tự tánh của muôn
pháp, tâm ấy hóa thành chủ khách, mở đầu cho một chuỗi niệm tưởng hư vọng
đăng đẳng liền nhau muôn kiếp sống. Trụ tâm là Ngã, vừa là nguyên nhân,
vừa là hậu quả của Ngã. Chủ thể mà con tưởng lầm là mình, chỉ là màn sương
khói vô minh che phủ chân tánh. Khách thể mà con tưởng lầm là khác mình
thật ra chỉ là muôn vàn ảo ảnh biến hiện trong màn vô minh ấy. Chủ thể và
khách thể đoạn diệt, thăng trầm theo nghiệp quả. Từ đó cái mà người ta gọi
là định mệnh của con chính là định mệnh của Nghiệp và Nghiệp là sản phẩm
của trụ tâm, của tâm bất định, tâm phân biệt. Nghiệp là Ngã đấy.
Trong vòng lẫn quẫn
mê lầm đó, Ðịa ngục hiện diện trong mỗi thân phận chúng sanh dù khắt khe
nhưng rất công bằng. Cho nên, hiểu Ðịnh mệnh như người đời thường hiểu là
sai lầm vô cùng lớn. Từ đó, nãy sinh 2 thái độ, hoặc đối kháng, đấu tranh
để vượt qua số phận bằng tất cả sức lực bình sinh mà thắng hay bại đều đắp
đổi bằng mất mát của mình hay của kẻ khác. Ðó là Ác, được ngụy trang bằng
ngôn từ hoa mỹ, được bào chữa bởi mọi điều nhân danh. Không ai mà không
thích cuộc đời, đã cướp đoạt của mình sự trong sáng ban sơ. Nhưng dòng đời
tự nó vẫn luôn luôn tuôn chảy theo quy luật tự nhiên của vũ trụ mà vũ trụ
là chí thiện. Đấu tranh, đối kháng như thế, không phải là sinh tồn mà là
tự hũy. Ðó là chấp Đoạn. Hoặc xuôi tay theo định mệnh, như thể định mệnh
là một thành lũy nặng nề, kiên cố, vây chặt thân phận tối tăm, bé nhỏ của
mình. Tôi sinh ra đời như thế, lìa đời cũng sẽ như thế, chẳng có gì đáng
vui hay đáng buồn. Tôi và Ðau khổ chấp nhận nhau như là một đôi bạn song
hành?
Nhưng có thật đó là
sự an ổn hay không? Ðó là an ổn thua vì không thể thắng. Ðó là chấp nhận
một kiếp sống lê thê, lưu đày, chấp nhận chết vĩnh viễn–Trong khi chết là
điều không thể có, cũng là Ác vì kẻ ấy đã phủ nhận sự hiện diện thiêng
liêng của mình, đồng thời phủ nhận cả thế giới chung quanh. Ðó là chấp
thường.
Khác với thái độ của
một người thức tỉnh, không chấp nhận sự phi lý muôn thuở của thân phận
mình trong luân hồi, nghiệp quả. Dành tất cả nổ lực cho một hành trình về
phía mặt trời, dưới giông tố tơi bời của Nghiệp, dành đời mình cho bao
cuộc hoá sinh, để đi đến cuộc hoá sinh vĩ đại cuối cùng là giải thoát.
Hai thái độ trên, do
đó đều không ổn thoả, đều là vong thân, đều là nền tảng của bao nền triết
học hiện thời, không có định mệnh, chỉ có định nghiệp, Ðịnh nghiệp là Ngã,
Ngã là huyễn mộng. Hiểu như thế, thay vì phải gian truân vô ích vì nhân
thế, con sẽ định hướng cuộc đời, xứng đáng với sự có mặt của mình. Không
ai có thể chạy trốn Ðịnh nghiệp, làm sao có thể chạy trốn chính mình, cũng
không ai có thể phán xữ, hay đặt để cho ai một Ðịa ngục, nếu tâm người đó
không sẵn sàng bước vào. Lại càng không một ai có thể cứu thoát cho ai.
Cuối cùng, Địa ngục cũng không là nơi giam giữ chúng sanh đời đời như
nhiều người thường thấy nghĩ. Hình ảnh ma vương, quỷ vương canh giữ tội
nhân, cùng những khổ hình nơi 12 cửa ngục, chính là sự phóng rọi, biến
hiện và trói buộc của Nghiệp cảm. Mỗi người đều có một ngài Diêm chúa nơi
tâm mà không tự biết, đó là sự lên tiếng mãnh liệt của Chân tánh, sự phán
xét sau cùng của Chí thiện.
Như xưa kia, miếng
cơm tự tay Bồ Tát Mục Kiền Liên đến miệng Thanh Đề hoá thành viên sắt lửa,
nhưng vào giây phút này đây, một Thanh Ðề nào đó đang phải chịu khổ hình
nặng hơn, miếng cơm sẽ thành quả cầu gai lửa, không thể nhã ra mà phải
nuốt vào, nuốt đến đâu, cái nóng bén nhọn chạy đến đó, quả cầu gai lửa lại
hoá thành vô số quả cầu gai lửa khác cào xé và thiêu đốt toàn thân. Khi
cơn nóng ấy tạm ngưng, cơn đói khủng khiếp lại dâng lên khiến tội nhân lại
đòi ăn cơm, để chịu khổ hình tiếp tục. Nhưng cơm từ đâu mà có? Cũng như
các khổ hình kia, cơm từ vọng thức, từ tham lam độc ác hoá thành. Ðiều đó
cho con thấy, Nghiệp cảm của chúng sanh trong thời mạt thế sâu dầy biết
bao.
Sao gọi là Ðịa ngục
vô gián? Vì Ngã vô gián hay niệm tưởng mê vọng vô gián. Khi Ðức Thế Tôn
thuyết về Ðịa ngục Ngài phương tiện phân biệt các cảnh giới mê ấy cùng các
tội hình nặng nhẹ cốt để chúng sanh biết ghê sợ tội lỗi nơi mình mà từng
bước hành thiện. Mục đích tối hậu của Ngài khi thị hiện nơi thế gian này
là khai thị nghĩa rốt ráo của Địa ngục, khai thị tri kiến giải thoát giải
quyết tận gốc rễ biển sợ hãi trong tâm tưởng chúng sanh.
Ðịa ngục là huyễn
mộng vì Ngã huyễn mộng, thật tánh địa ngục là không, liễu ngộ thật nghĩa
Ðịa ngục là liễu ngộ Niết Bàn. Thâm quán Ðịa ngục là bắt đầu hành trình về
cõi Phật, là hành thâm Bát nhã Ba la mật, chính là nội quán.
Niết Bàn vô tướng,
nên Ðịa ngục vô tướng. Niết Bàn không xứ sở, nên Ðịa ngục không xứ sở. Lại
nữa, vì sao khi con niệm Ðịa ngục, Ðịa ngục hiện tiền. Khi con niệm Niết
Bàn, Niết bàn lại không hiện hữu? vì niệm chính là Ngã. Vô niệm là nơi
niệm mà không trụ cũng không lìa là vô ngã. Diệt Ngã là diệt mọi ý niệm về
Ngã, phi Ngã, diệt cả ý niệm diệt. Ngã diệt tận, địa ngục liền diệt tận.
Ðó là đại định.
Không phải tâm phân biệt thiện ác mà là tâm vượt qua, là tâm chí thiện nơi
con, thể nhập vào đại dương mênh mông đồng nhất thể, bình đẳng với chư
Phật, cũng là chư Phật tận độ chúng sanh. Khi ấy, dù con sống nơi Ðịa ngục,
tâm thường lìa Ðịa ngục. Hiện tướng hoà cùng muôn khổ lụy của chúng sanh.
Tâm thường lìa phiền não, vì con không còn có ý lựa chọn cho mình một định
nghiệp, nên không một định nghiệp nào trói buộc được con.
Tâm thường lìa Địa
ngục, không trụ Niết bàn, tâm vô trụ là Ðại Bát Niết Bàn.
Con hãy thâm quán
Ðịa ngục–Quán đến bao giờ không còn thấy Địa ngục, không còn người quán,
không còn thấy quán và không quán, khi ấy Địa ngục trong con hoá hiện Niết
bàn, khi ấy khổ đau không bến bờ hạn lượng của chúng sanh nơi con hoá
thành công đức vô lượng vô biên, được chư Phật 10 phương đồng khen ngợi.
Chính là đại nguyện
của ta đã thành tựu vậy.
Tâm không vạn sự đều
không
Tâm chơn vạn Pháp
cũng đồng qui chơn!
(Pháp Bảo Ðàn Kinh)
BỆNH KHỔ
Con luôn luôn bị dằn
vật vì thân bệnh. Từ lâu mang theo người hành trang đau khổ của bệnh tật
và trông chờ vô cùng ngày được giải thoát khỏi căn bệnh của mình: Con chờ
đợi gì? Phép lạ chăng? Một môn thần dược được tình cờ mách bảo hay một
thầy thuốc thượng thặng mà tài ba sẽ thay đổi mệnh đời con?
Không! Mẹ có thể nói
ngay rằng, sự mong chờ ấy chính là môi trường tạo bệnh, không thể mang lại
sự lành mạnh mà con cầu. Con mong chờ ngày được thoát bệnh sẽ làm việc này,
việc nọ, sẽ hạnh phúc, sẽ vui. Nếu ngày ấy không đến thì con sẽ không bao
giờ được vui trọn vẹn. Nếu ngày ấy đến, thì đau khổ đã qua của con, có
phải đã trở thành thừa thãi? Ðâu có lẽ do con đã khổ đau vì bệnh mà bệnh
hết? Cho nên, người có lý trí không hành xử như thế.
Lại nữa, có gì đảm
bảo được rằng khỏi chứng bệnh này, con sẽ không vướng chứng bệnh khác? Như
thế thì, niềm vui được khỏi bệnh, không hoàn toàn trọn vẹn.
Phiền muộn, ưu tư
thì con không buồn thở, biếng ăn, từ suy nhược tinh thần, bệnh đã có môi
tlường để sinh trưởng. Thái quá trong 1 sinh hoạt nào đó cũng sinh bệnh.
Có những thói quen gây nên bệnh tật cũng như có những môi trường sống tạo
mầm cho bệnh: Ðó là thân nghiệp, đó là ý nghiệp, khiến con phải vương vào.
Mà nghiệp là do tâm hỗn loạn tạo thành. Như thế thì bệnh là do tâm, do
hành tưóng của tâm huân tập từ bao kiếp, con mang thân bệnh ngày nay.
Cho nên bệnh là do
con, mà hết bệnh cũng là do con, không vì thuốc hay là thầy thuốc. Có
những người thác vì một căn bệnh nhẹ, lại có người được chữa lành khỏi căn
bệnh hiễm nghèo. Ðấy không phải là do Tâm ư? Nếu bệnh chỉ thuần ở thân
tướng, thì theo qui luật của vật chất, bệnh nhẹ không thể gây tử vong và
bệnh nặng ắt khó lành.
Bấy nhiêu điều đã
nói rằng thân bệnh là do tâm bệnh hiện hành. Tâm bệnh gì? Ðó là trong
cuộc đời huyễn mộng lai thấy mình có thật. Vì thấy mình có thật, nên con
có giận, ghét, buồn, thương. Tâm hỗn loạn như thế, làm sao khí huyết điều
hòa? Không điều hoà ắt có bệnh.
Vậy thì ở nơi giải
thoát không thể có tật bệnh. Nhưng tại sao Ðức Phật lại thị hiện có thân
bệnh? Phật thị hiện có thân bệnh không khác Phật thị hiện nhập Niết Bàn.
Vì thị hiện có tướng nên thị hiện hoại tướng. Ở nơi có tướng hay hoại
tướng, tâm Như Lai đồng bất động. Nên ở con bệnh là khổ, nơi Đức Phật bệnh
nào có khiến Ngài rời chánh định, sinh khổ trí như con! Cho nên nói Như
Lai ở nơi vô thường mà thoát sinh, bệnh, lão, tử là sự giải thoát ngay
trong đời.
Con phải hiểu rõ căn
bệnh để trị dứt gốc bệnh. Gốc bệnh ở đâu? nơi tâm con.
Con có thấy bầu trời
những ngày không mây và nắng dịu bao la xanh ngát một màu. Tâm con không
vẩn đục bởí tham, sân, si cũng trong sáng bao la như thế.
Bệnh là dị tướng làm
hỏng sự thuần khiết của tâm như mây đen làm hỏng bầu trời quang đảng.
Nhưng ngoài bầu trời tươi đẹp ấy còn có một bầu trời tươi đẹp mãi, bất
diệt. Đó là bầu trời cõi không có thời gian.
Niết bàn vượt ngoài
tâm tưởng và ý thức hành thiện. Nơi ấy không đau khổ nào đến được và nơi
ấy không phải cao hơn, không phải thấp hơn đau khổ, nơi ấy không có tướng,
chỉ nơi ấy là không có bệnh khổ.
Con hãy an tâm về
bệnh trạng của mình. Chưa được giải thoát tức còn nghiệp chướng. Chưa giải
thoát tức có bệnh. Ðó là lẽ tự nhiên, thì trong bệnh khổ lại chồng thêm
nỗi khổ tâm về bệnh làm gì? Muốn mau khỏi bệnh phải tự quán tu tâm là điều
mà con thường nghĩ chẳng liên quan đến bệnh tật của con. Chính sự điều
phục tâm mình, tấn tu là cách chữa bệnh hay nhất. Tấn tu trong khi bệnh
thì nghiệp bệnh mau được hóa giải. Con hãy điều phục tâm mình khi có bệnh,
đó mới thật là niệm Ðức Phật Dược Sư.
--- o0o ---
Mục lục
| Phần 01 | Phần 02
| Phần 03 | Phần 04
| Phần 05
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |