DÒNG PHÁP QUÁN THẾ ÂM
Ngọc Nữ
(ghi chép)
--- o0o ---
Phần 04
16. Khổ đế
17. Động tịnh
18. Khẩu nghiệp
19. Nhập thế
20. Nghi
---o0o---
KHỔ ĐẾ
Ðau khổ không phải
là điều xa lạ đối với mọi người và với riêng con. Ðau khổ đã là bạn đồng
hành từ lâu lắm. Như thế thì có gì phải ngỡ ngàng? Đau khổ đến từ người
này hay người khác, từ hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác điều đó có nghĩa
gì đâu. Vì lẽ đơn giản là nó phải đến. Nếu mang hình tướng nào để gây hại
cho sự bình tâm của con, đau khổ sẽ mang hình tướng ấy. Cho nên đừng oán
trách người làm con đau khổ vì họ chỉ là công cụ của một sức mạnh ở ngoài
chính họ, đó là sự đau khổ vẫn hiện hữu nơi thế gian.
Ðau khổ vò xé tâm
can tức một tướng của địa ngục rồi! Thế thì Ðau khổ chính là địa ngục. Ðã
ở trong Ðịa ngục là tận cùng thì còn tự tử để đi đến cõi chết nào khác nữa?
Vã lại Ðau khổ là nghiệp đeo đẳng há phải do người nào mang đến mà có nơi
trốn tránh khỏi mắt nhìn! Chết là không chịu sự tác động của loài người và
cảnh thế gian, nhưng chưa thoát khỏi nghiệp báo. Ðau khổ sẽ mang hình
tướng khác để theo đuổi con, và ở nơi không có thân để chịu quả báo, những
cảnh khổ sẽ nhân lên hằng bao lần để tâm thức phải động và đau đớn như
“một đau đớn cảm được trên thân xác” là những cảnh của Ðịa ngục. Cho nên
phải biết: tự tử để thoát nỗi khổ đang gánh chịu chỉ dẫn đến Địa Ngục cõi
khác mà thôi.
Khi chưa là Phật thì
chưa thể nói được đã thoát khỏi Ðịa ngục. Khi chưa thể nói đã thoát khỏi
Ðịa ngục thì đừng mong không còn đau khổ. Vậy thì đau khổ sẽ theo con cho
đến ngày giải thoát. Cứ mặc nó đến, quan sát nó ở chân tướng chứ không ở
giả tướng. Chân tướng của Ðau khổ khi đến với con là nghiệp. Giả tướng
là người hay hoàn cảnh chẳng thuận lòng con. Ðể hóa giải Ác nghiệp
chính là Thiện nghiệp. Hãy gây lấy thiện nghiệp để thoát khỏi bể khổ trần
gian.
Và điều thiện bậc
nhất là ngay trong lúc này, bây giờ khi con đang khổ sở, hãy niệm Phật.
Niệm Phật thì sẽ
tỉnh táo để thấy được chân tướng của Đau khổ; Ðau khổ tự đến thì tự nó sẽ
đi. Không phải vì con “xua đuổi” mà đau khổ xa lánh con. Bình tâm trước
nghịch cảnh sẽ không cảm thấy đau khổ sâu xa như chính mình đang chịu khổ.
Quán rằng khổ này không cũ nhưng không mới, không tự tánh thì không tha
tánh, không hoàn toàn của con, vì nếu không có ngoại vật tha nhân thì con
không khổ, nhưng không lìa con, vì con cảm thấy nỗi khổ đau rõ ràng nơi
con. Vậy nó ở đâu khi không ở nơi con, không ở nơi người?
Do đó Ðau khổ là
Duyên hiệp thành, theo nghiệp mà đến. Nói nghiệp là nói chính mình, đâu ai
có thể trốn khỏi chính mình? Cho nên đừng tự làm khổ mình. Nghiệp đến
cứ đến, đi cứ đi, được như thế thì đó là tâm không trụ. Tâm không trụ thì
an ổn. An ổn nơi oán hội là thấy Niết Bàn tại thế.
Ðể có đủ lực đạt đến
Niết Bàn; con phải niệm trong đau khổ và Quán trong cảnh nghịch. Tha lực
và tự lực là sức mạnh mãnh liệt đến từ bên ngoài, phát ra từ bên trong khi
hiệp nhất sẽ phá tan xích xiềng của Ðịa Ngục khổ đau.
Ðó chính là giải
thoát. Ðau khổ là nhân đưa đến giải thoát, nên đừng sợ nó, đừng ghét nó,
đừng là kẻ vong ân. Hãy cám ơn Ðau khổ.
Như thế những người
mang Ðau khổ đến cho con chính thật là những vị Bồ tát phát tâm hành
nghịch độ để cho con được quả thiện tròn đầy. Ðó là những Bồ tát trãi thân
làm cầu đường cho chúng sanh đi đến giải thoát.
Và luôn nhớ Chư Bồ Tát không phải chỉ mang Tướng Thiện để độ sanh. Hãy cầu
nguyện cho các vị ấy sớm đắc quả vị Phật, mới trả được ân.
Phải tri ân những
người mang đau khổ đến cho con, hành như thế mới là người trí Huệ; hành
như thế mới là người sống đúng, hành như thế mới là con Phật.
Ðau khổ hay nghiệp
chướng là nhân Bồ Ðề nên con không được khinh, không được hổ thẹn vì nó.
Và cũng chính vì Niết Bàn có nhân ban đầu là phiền não nên con không được
sanh tâm mong cầu tha thiết. Chẳng trụ Ðau khổ, chẳng trụ Niết bàn là chân
thật Niết Bàn, là giải thoát.
Con hãy y theo để
tìm thấy hạnh phúc ngay trong đời, ngay từ giây phút này. Hạnh phúc tìm
thấy nơi không có hạnh phúc, nơi không cho phép hạnh phúc tồn tại, nơi cõi
trần này là hạnh phúc vĩnh cữu vì đã kinh qua đau khổ.
Con hãy cứu mình.
Con,
Mẹ muốn con đi nghe
giảng pháp để tự hiểu rõ mình thêm. Con có thấy là vấn đề của con chỉ có
ta là thấu rõ nhất? Con chưa tìm thấy chính mình, con cũng chưa hiểu lời
Mẹ dạy, nên hoài công đi tìm bên ngoài. Mà Niết Bàn nơi đâu mà con tìm?
Con đường Ðạo là con đường độc hành không thể chia xẻ cùng ai, cứ tìm
người đồng hành là điều vô lý. Chỉ có thể gặp gỡ khi không còn hành. Còn
bây giờ con càng đi xa chỉ càng thêm rối. Hãy tin chỉ những vấn đề của
chính con mới đem giải thoát cho con. Tìm hiểu pháp chỉ làm nặng thêm
chướng ngại. Ðang đi trên con đường chênh vênh lại đèo thêm gánh nặng của
ai khác thì bao giờ mới đến nơi?
Các pháp được thuyết
ra là tùy thuận căn tánh sai biệt của chúng sanh. Bây giờ con lại tìm học
những pháp không dành cho mình, có phải là mất thời gian và chấp pháp
không, pháp Huyễn. Vì thế con nên nhớ rốt ráo Như Lai không có nói gì.
Phải thường xuyên
quán những lời mẹ dạy, không hiểu, quán đến khi nào hiểu, xoay quanh đó mà
phá cái vô minh của mình. Phải tu triệt đễ, phải để cả cuộc đời mình vào
vấn đề muốn hiểu. Dù trái đất có nổ tung, dù mặt trời có tắt lửa, dù thân
này có ra tro bụi, cũng không lay chuyển, như thế mới gọi là thành tâm cầu
Đạo. Còn con rất hời hợt. Học Phật tức cầu Mở, riêng con thì đi tìm trói
buộc.
Thật tâm muốn hiểu
thì trước hết ghi nhớ, sau suy nghĩ mãi về điều ấy. Suy nghĩ mãi tất có
thắc mắc, có vấn đề. Con chưa có đại nghi này, thắc mắc đây không phải
nghi pháp mà là tư duy sâu. Những nghi vấn này đi hỏi các hành giả đi
trước, tìm câu giải đáp rồi y theo đó mà Tu. Tránh những luận bàn vô bổ
với người chẳng phải chân tu chỉ là hý luận.
Phải tự cảnh giác,
thức không rời Mẹ, trong cảnh quán thế gian như huyễn mà an trụ nơi phật,
pháp, Tăng. Tinh thần kiên cố quyết đi đến nơi vui vì nghe pháp, vui vì tu
pháp, vui gặp thiện tri thức. Không nhìn lỗi người, lỗi mình lo sửa thì
được mẹ khen và được vui an rốt ráo sẽ định tâm.
ĐỘNG TỊNH
Xúc động trước vẻ
đẹp của một áng mây trôi, hay một chiều vàng rực nắng; xúc động trước một
vẻ kiều diễm của một con người, có gì khác nhau không? Và có phải là Ðộng
tâm? Nếu là động thì làm sao sống giữa đời mà không động?
Ðang khi phiền muộn,
con có bao giờ thấy cảm hết vẻ tươi tắn của một đóa hoa vừa nở, lắm khi
lại thấy hoa lạc lỏng nở chẳng hợp thời. Và lúc vui, thì hình như gió cũng
biết hát, không trung nở hoa. Thế thì tâm động có cảnh, chẳng phải ngoại
vật khiến con sinh tâm, tức Ðộng, mà tâm đã có tướng Ðộng tự bao giờ.
Ngoại vật theo tâm
mà góp phần làm mờ Tri Kiến.
Vậy phải chăng lúc
không vui, không buồn? là lúc Tâm không động? Chẳng phải đâu con. Nhân của
động đã ngự nơi Tâm từ bao kiếp và hiện mang tướng giả không động. Người
học Ðạo nên e sợ trạng thái này của Tâm. Tưởng chừng như yên ả, nhưng chỉ
cần ngoại vật đủ lực là châm ngòi cho sự bùng nố của Tâm chúng sanh. Vì đã
tạm lắng một thời gian, nên con dễ lầm lẫn sự dộng tâm này là ứng tâm,
theo sự vật mà hiển lộ và đổ lỗi hoàn toàn cho ngoại vật. Thật nguy hiểm
vô cùng.
Như thế thì sự kềm
chế Thân tâm không đưa đến giải thoát và chưa là Phật thì sẽ mãi động tâm
ư?
Vạn vật theo tướng
Tâm mà hình thành, Tâm lành, thấy cảnh lành, Tâm ác thấy cảnh ác, Tâm tịch
liêu thấy cảnh bôn ba, Tâm tham đắm thấy cuộc đời đáng sống và muôn vàn
tướng khác của Tâm tạo nên muôn vàn sai biệt của cuộc đời. Hoá hiện vô
cùng, Tâm bao trùm vạn vật. Vậy thật tướng của Tâm là gì? Thật tướng của
Tâm là không tướng. Cho nên (sự ham thích) thế gian, theo cảm thọ của mắt,
hay tai, hay mũi, hay xúc, ... chuyển tướng không của Tâm thành có. Nghiệp
theo đấy mà thành.
Ðể ngăn ngừa sự biến
động này, giới được hình thành. Nhưng con chớ nghĩ giới là kiềm chế Thân,
Tâm; giới là cấm ngăn. Thật ra giới chính là luật tồn tại của Tâm vô
tướng. Giới là điều con lẽ ra đã hành mà con chưa hành. Giải thoát không
có tướng, nên giới không có tướng nhất định.
Tâm không có tướng,
nên Bồ Tát dùng Đại Bi tâm mà tu tại thế gian. Nói thế gian, thật ra cũng
chẳng phải thế gian. Mọi sự vật cứ theo duyên hình thành và hoạt diệt,
chẳng có thật tướng, Tâm Ðại bi thì hiện thế giới từ bi. Chỉ có Tâm Bồ Tát
và Tâm Phật mới có thể vào viên tịch, thật chứng tánh không của Tâm nên
Ðại Bi Tâm là Tịnh Tâm.
Trong Tịnh tâm, đối
cảnh có vui, buồn, yêu, ghét, cũng chỉ là động giả mà thôi. Ðộng trong
cảnh tịnh thật ra chẳng phải động nếu không nghe thấy các cảnh động này
thì đâu có Quán Thế Âm Bồ Tát.
Này con, cầu vòng
ngũ sắc có tội gì mà con không được thấy đó là cảnh đẹp của Trời Ðất, vì e
sợ động tâm? Thấy vẻ đẹp của một người và tán thán phước báo của họ, mong
cầu họ hành thiện để được thêm hạnh phúc trong đời này và đời sau thì có
phải động tâm đâu? Cảm mến một hành động đẹp trong đời, trân trọng một tâm
hồn hướng thiện, đó không phải động tâm hay bất bình đẳng, tâm hồn ấy được
quả lành của thiện nghiệp.
Mở Tâm Ðại bi, gây
lấy đạo nghịệp, con sẽ thấy mở ra một thế giới huyền diệu, an lành, vĩnh
viễn xa lìa dau khổ, vì đã xa lìa ích kỷ, bản ngã, hờn ghen. Nắng sẽ thật
sự là nắng, ngày cứ đến, đêm cứ đi, trăng sao cứ xoay vần hiện diện, vạn
vật cứ tự nhiên biến chuyển và con; con sẽ hạnh phúc tự nhiên.
KHẨU NGHIỆP
Lời nói không thể
thấy, không thể cầm nắm được, hình như không có tướng, thế mà tự xưa nay
đã gây nên biết bao nụ cười và nước mắt. Có phản ứng tức có tác nhân. Nói
đến nhân là nói tướng. Vậy tướng của lời nói là gì?
Người nóng nảy thì
hay nói lời xúc xiễm, người dối trá thì lời nói trơn tuột, chẳng thể bắt
bẽ họ, nhưng cũng không thể hiểu tâm họ ra sao? Người thâm hiễm thì nói
xúc phạm đến kẻ khác bằng giọng nói như hiền từ, ... tất cả ngôn ngữ này
đều phát sinh từ một gốc, đó là Tâm, và do đó tướng của ngôn ngữ là Tâm.
Tâm Phật thì lời nói là pháp thiện, Tâm chúng sanh thì lời nói thành ác
nghiệp.
Tâm chúng sanh có
muôn ngàn tướng thì lời nói cũng gây muôn ngàn nghiệp báo.
Nên quan sát ngôn
ngữ của một người là quan sát tâm người ấy. Cách biểu lộ Tâm ở mỗi người
mỗi khác, cho nên gọi mỗi người có một ngôn ngữ riêng cũng đúng. Con hãy
hiểu họ theo Tâm, đừng chỉ nghe hời hợt bằng tai. Ðó là quan sát âm thanh.
Khi con “không thích
lắm” một điều gì, con thường nói “rất ghét” điều ấy. Ở một người chính
chắn hơn, họ sẽ nói “không chú ý lắm”. Nếu chỉ hiểu theo cái nghe của tai
thì hai lời nói này là 2 sở thích khác nhau. Từ đó gây biết bao điều ngộ
nhận.
Ðể quan sát được âm
thanh như thật, con không thể dùng cái nghe của tai. Con hãy nghe bằng
Tâm. Dùng Tâm mà hiểu tâm, mà tâm nào có thể hiểu tất cả các thứ tâm của
chúng sanh? Ðó là tâm Phật.
Con không thể thấy
tất cả các tâm của người đối thoại, chắc chắn con không thể hiểu hết lời
nói của họ. Cho nên chớ vội phản ứng theo cái nghe của riêng mình.
Lời nói là Tâm, cho
nên Tâm ác sinh lời nói ác. Dù được ẩn giấu, dù người không phát hiện, hay
không phản ứng thì điều ác đã sinh, vẫn đem lại quả báo Ác cho con.
Câu nói dân gian
“Khẩu xà tâm Phật” là sai hoàn toàn, Phật chẳng bao giờ nói lời độc ác,
hại người, là tính cách các con dùng để tả Rắn. Ở mỗi người có cách nói
thương khác nhau, có cách biểu hiện Từ Bi khác nhau. Như hạnh sai biệt của
các Bồ Tát, thị hiện là Phán quan cũng xét xữ công minh, khó có thể gọi là
Ác tướng.
Như câu chuyện Lưu
Bình–Dương Lễ, lời nói Ác xuất phát từ tâm lành đem lợi cho người nghe.
Chẳng thể nói là Ác khẩu được. Ðó chính là lời của Bồ Tát. Đó là nghịch độ
.
Chư Tổ mắng chửi đệ
tử từ tâm không, để giáo hóa nhẫn hạnh hay khai ngộ Chân tánh, chẳng thể
gọi là Ác khẩu. Nhưng người tự cho mình có Tâm lành, nên buông lời không
kềm chế, mỗi lời nói gây hại cho kẻ khác không kể xiết, lại ngụy biện bằng
câu “Khẩu xà Tâm Phật” thì khẩu nghiệp ấy thật khôn lường. Từ Tâm Phật thì
lời ấy dù thế nào cũng mang lợi cho người nghe. Ngược lại, chỉ gây hại đó
gọi là Ác khẩu. Và Tâm Ác sinh tướng Ác, sinh khẩu Ác, sinh nghiệp Ác,
sinh Ác báo.
Con hãy cẩn thận lời
nói. Lời nói là hơi thở từ miệng. Mà sống chết theo từng hơi thở ra vào,
cho nên sống chết cũng theo từng lời nói mà đến đi.
NHẬP THẾ
Con thường hỏi làm
sao ứng dụng pháp vào đời sống hằng ngày, để hài hòa với mọi người mà
không mất Ðạo Tâm. Con hãy nghe kỹ và cố gắng hành theo đây thì được an
vui.
Cuộc đời là nơi
tranh danh, đoạt lợi, nếu con thuận theo chiều quay đó thì trái Ðạo, là
đau khổ, mà quay ngược lại thì không được chấp nhận trong đời và va chạm
lắm khi còn mạnh hơn khi cùng người tranh đoạt, cũng Ðau khổ vô cùng, như
thế, tu tại thế là không thể được ư?
Chẳng phải không
được, đó chỉ vì con không tu phương tiện, Với người thế con dùng Tâm không
tranh mà ứng thế. Con làm việc, buôn bán,... để sinh sống. Ðó là Chánh
Nghiệp. Những nghề nghiệp ấy không đòi hỏi nơi con sự nối dối hay độc ác
có chủ ý với đồng nghiệp mới phát đạt, không tranh, con làm hết khả năng
bằng Tinh Tấn, không phải Tâm muốn trội hơn người, mà Tâm hướng đến sự
Toàn thiện, thì quả lành phải đến, đó là Tự tại giữa đời. Tâm không tranh,
con không có ý muốn trội hơn người khác về học vấn, về đạo đức, về nhan
sắc, ... con bình thường tu Trí huệ, tu Trì giới, tu Thiền Ðịnh, nghi dung
tề chỉnh thì dù được báo lành hơn người, cũng chẳng bị người ghét.
Tâm không tranh, con
không tìm mọi cách chứng minh người sai và con đúng, thì không có oán đối.
Người cầu Ðạo mong mõi được nghe khuyết điểm của mình, nên Chư Sư mới
thuyết. Nhưng với người chưa sẵn sàng, lại khơi đến Ngã của họ thì khác gì
đem ngọc ném xuống bùn, chỉ làm họ sinh thêm tà kiến. Ðó là thuyết pháp
trái thời. Là vô minh. Chính mình vô minh, làm sao đem ánh sáng đến cho
người khác!
Tâm không tranh, có
gặp kẻ Ác cũng chẳng khác gặp người lành. Con có mãy may tranh cãi với họ
đâu? Với kẻ quá đối nghịch, còn càng vững tâm, tin tưởng vào lời Phật
thuyết là có nghiệp báo trước sau; thì sự không tranh ấy có nội lực của
thế giới không tranh, là Phật lực chuyển đổi hiện tượng hay bản chất của
mầm mống bất thiện kia.
Không tranh thì gia
đình hoà thuận, không có ý nghĩ về thiệt thòi, về hơn kém, siêng năng làm
theo bổn phận là tu tinh tấn, là tu Nhẫn nhục, là tu Từ giới, là tu Trí
huệ.
Tóm lại, để vào đời,
con dùng tâm không tranh làm phương tiện. Con sẽ thắng thế gian. Con sẽ là
người mạnh mẽ vượt lên trên cuộc đời và điều khiển cuộc đời theo tâm của
mình mà không rời Định, Huệ.
NGHI
Bao nhiêu là ngộ
nhận, bao nhiêu là ác nghiệp, bao nhiêu là địa ngục trong một chữ Nghi?
Chẳng phải vì thế mà Nghi là một trong các thứ độc cần loại bỏ khỏi Tâm đó
ư? Nhưng, với con...
Nghi, đó có phải bức
tường thành bảo vệ tình cảm của con khỏi những thương tổn và mất mát? Ðó
có phải là trí khôn tránh cho con những sai lầm và thất bại trong đời?
Nghi có phải là người bạn đồng hành đáng tin cậy hơn bất cứ ai?
Con thường cho rằng
ngày xưa, vì không nghi ngờ mà con đã gặp một sự phản bội gây nên bệnh
trạng tinh thần trong suốt thời hoa niên. Nếu con nghi thì nỗi thất vọng
sẽ không lớn.
Không đâu–Dù không
bất ngờ, con cũng sẽ không bao giờ đương nỗi sự việc kia. Chỉ có Trí
huệ và sức kham nhẫn mới giúp con qua được Nghiệp báo. Phải–Đó là gì?
Nếu không là Nghiệp báo? Ðột nhiên tình ruột thịt hóa ra thù hận. Lẽ ra
con phải nghĩ: “Ðây là điều hết sức bình thường. Vì đây là dư báo đời
trước, vì điều này không xảy ra cho người khác, mà xãy đến cho mình, chắc
hẵn mình có dự phần gieo nhân ở một thời gian quá khứ, tiền kiếp chẳng
hạn. Bây giờ, ẩn nhẫn cho điều báo ác kia qua, vì nhân đã gieo có thời
gian mới đến, thì khi đủ thời hạn cũng sẽ đi”. Nếu con đã Nghi ngờ, con
còn khổ hơn, vì suốt lúc quả bất thiện chưa kịp đến, chính con đã nghiền
ngẫm nó rồi.
Tâm có Nghi, nên con
tưởng rằng Nghi sẽ hóa giải Ác nghiệp cho con. Từ một vài lần bị mất niềm
tin do vô minh, con không hoàn toàn tin vào bất cứ ai.
Này con, nhưng trong
suốt thời gian sống không tin tưởng, con có bao giờ thực sự hạnh phúc, hay
thanh thản nhờ áo giáp Nghi tình?
Không, chưa bao giờ
con thấy lòng an ổn. Như thế thì Nghi đâu giúp gì được cho con. Nếu nghi
là đã được phòng ngừa thì luật nhân quả chẳng tác động đến người đa nghi
ư?
Vì Nghi nên con nhìn
mọi sự qua Nghi kiến, làm lớn thêm vô minh và Ác nghiệp.
Ðức Phật có nói đừng
tin lời Phật vì lý do “đó là Phật thuyết” chẳng phải bảo rằng hãy Nghi ngờ
lời Phật nói, nếu phải Nghi thì tất cả lời nói bảo đừng tin, con cũng nên
nghi nốt.
Ngài muốn phá chấp
cho con, muốn con thật chứng những chân lý kia mà nói thế. Con hãy tin và
tự tìm hiểu vì sao mà Ngài thuyết như đã thuyết. Phật đã vượt qua sanh tử
để thấy những điều Ngài đã thấy, để nói những điều Ngài đã nói, phần con,
con chưa có khởi hành và đến đích, con nên tin vào lời Người đã qua bờ
kia; không phải như những giáo điều, mà là những kinh nghiệm sống. Nếu
không, đó là tự con đã bằng Phật, vậy hãy chứng tỏ điều đó qua Đạo nghiệp
của mình.
Thế thì, điều đầu
tiên làm hành trang để đến giải thoát là Tin.
Ðừng sợ bị thất vọng
vì tin người. Có nhân quả, có Nghiệp báo trước sau vô cùng công bằng và
chính xác.
Hơn nữa, Tin đã là hạnh phúc, đã là yên ổn. Nếu sự vật diễn ra không như
con muốn con vẫn cứ tin. Tất cả chúng sanh sẽ thành Phật, đừng vì giây
phút này mà phạm lỗi lầm không tin vào vô biên.
Cõi này là Dục giới,
nên tất nhiên người cõi đời này đều mang sẵn tánh dục theo mình tự thuở
lọt lòng. Nhưng Ðức Thích Ca cũng thành Phật ngay tại cõi này nên đây cũng
chính là Phật quốc.
Người có trí huệ thì
vượt lên tánh dục, lòng ham muốn của mình điều khiển nó, thay vì để nó ngự
trị và điều khiển họ. Tại sao phải vượt lên Tánh Dục? Vì nô lệ bất cứ một
thú vui nào là bất an và cứ phải tìm kiếm nó. Đó là xa lìa giải thoát.
Gìải thoát chẳng phải là điều ràng buộc mới, bắt con xa lìa dục vọng, mà
là sự an ổn tự nhiên đến, khi con không tìm cầu thú vui.
Cho nên, là người,
ai cũng có dục, nhưng người cầu Ðạo thì hẵn là ít dục hơn và ít bị tác
dộng bởi dục vọng của người khác vì tâm không bỏ ngõ. Con đừng vì vài
trường hợp ngoại lệ mà không tin vào Ðạo. Đó là Nghi. Vì sao trong trăm
nghìn người Tinh Tấn, con chỉ thấy kẻ thụt lùi! Vì sao trong trăm nghìn đệ
tử Phật, con chỉ muốn nghĩ đến Đề Bà Ðạt Đa?
Nghi là chướng Thánh
Ðạo, nên người Nghi là kẻ tiểu nhân, là tự khinh mình và khinh thường
người.
Có những điều mà con
chỉ có thể hiểu bằng Tâm nếu không nghi, vì ngũ quan không đủ tinh tế để
giúp con thâu nhận.
Con có bao giờ nghĩ
rằng mắt con chưa hề cho con một hình ảnh thật của bất cứ sự vật nào? Con
không thấy lưng của người đối diện cùng lúc với mặt bằng mắt trần, không
thể thấy trọn vẹn dáng vẻ cái bát ăn cơm vì nhìn từ mỗi phía đều khác.
Nhưng tổng hợp những cái thấy đó lại, con cảm được hình dáng sự vật. Với
tâm Nghi, đoan chắc cái nhìn này là đúng hoặc là sai, con sẽ chẳng bao giờ
biết được cái bát tròn hay không tròn.
Vì thế, mà cái con
thấy bằng mắt, nghe bằng tai, thật ra là cái cảm bằng Tâm.
Tâm nghi là vạn vật
đáng ngờ.
Tâm không Nghi, vạn
vật hiện tướng như nó đang là. Ðó gọi là Linh Cảm.
Nước chảy xuôi từ
cao xuống thấp là điều thường thấy, nhưng nếu thấy điều ngược lại, con chớ
vội cho điều tin trước là sai, hoặc điều thấy sau là sai. Cả hai thái độ
đều là Nghi tình, đều không đúng. Con thấy sự việc như nó xảy ra và tìm
hiểu, đó là Trí huệ. Phàm sự vật gì có tướng đều có hoại, có tướng chảy
xuôi tất có tướng không chảy xuôi. Biết điều này trước ngũ quan, trước khi
mắt thấy, tai nghe, đó là Linh Cảm. Cho nên Bồ Tát Linh cảm cái vui của
chúng sanh trước khi chúng sanh vui, linh cảm tiếng khổ của chúng sanh
trước khi chúng sanh khổ.
Thần lực của Tín tâm
không thể nghĩ bàn, con hãy thôi nghi.
--- o0o ---
Mục lục
| Phần 01 | Phần 02
| Phần 03 | Phần 04
| Phần 05
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |